Bài báo cho rằng: “Hỗ trợ phát triển dựa vào cộng đồng” là phương pháp giúp cụ thể hóa quy chế Dân chủ ở cơ sở, trong đó các Tổ chức hỗ trợ từ bên ngoài sẽ thảo luận với chính quyền và n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THẮM
CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THẮM
CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3BẢN CAM KẾT
Tôi cam kết luận văn thạc sỹ này của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Lê Hồng Huyên là một công trình nghiên cứu độc lập Các trích dẫn sử dụng trong luận văn có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về các nghiên cứu của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Thắm
Trang 4
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báo về tài liệu, tư liệu của Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Phòng Tổng hợp, Văn phòng Bộ Xây dựng
Đặc biệt, xin chân thành cám ơn Hội đồng khoa học, Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu sơ bộ của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho ý kiến bổ sung, sửa đổi để tôi hoàn thiện cuốn luận văn này
Trang 5
MỤC LỤC
Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT VÀ THỰC TIẾN CỦA CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI
4
1.2- Sự cần thiết khách quan của chính sách nhà ở xã hội 13
1.4- Chính sách nhà ở xã hội của một số nước châu á và một số gợi ý
đối với Việt nam
25
Trang 63.1.2- Kết quả phát triển nhà ở xã hội đến năm 2014 42
3.2- Chính sách phát triển nhà ở và nhà ở xã hội của Việt Nam 48
3.2.2- Tạo lập môi trường pháp lý về phát triển nhà ở xã hội 60 3.2.3- Tổ chức thực thi chính sách phát triển nhà ở xã hội 63 3.2.4- Kiểm tra và giám sát các hoạt động tạo lập nhà ở xã hội 70 3.2.5- Trực tiếp tham gia xây dựng các công trình nhà ở xã hội 71
3.3- Những thành tựu, hạn chế trong chính sách và thực thi chính
sách nhà ở xã hội thời gian qua, những vấn đề cần giải quyết trong
thời gian tới
Chương 4- MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
78
4.2.1- Phát triển nhà ở xã hội là trách nhiệm của Nhà nước, của doanh
nghiệp, của xã hội và của người dân
79
4.2.2- Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển,
đồng thời có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách
xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở
79
4.2.3- Phát triển nhà ở xã hội phải tuân thủ pháp luật về nhà ở, quy hoạch, kế
hoạch, bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
80
4.2.4- Phát triển nhà ở xã hội trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn lực,
đặc biệt là tài nguyên đất đai;chú trọng phát triển nhà chung cư, nhà ở để
80
Trang 7cho thuê, kể cả khu vực nhà nước và tư nhân
4.2.5- Phát triển nhà ở xã hội phải gắn với sinh kế của người dân 80
4.3- Một số giải pháp cơ bản về xây dựng chính sách và thực thi
chính sách nhà ở xã hội
81
4.3.1- Nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách nhà ở xã hội 81
PHỤ LỤC
Trang 8Phần mở đầu: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
1.1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhà ở là một trong những nhu cầu tối thiểu, cơ bản của con người Ph Ăng-ghen từng viết “con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và v.v được”1 Nhà ở vừa là nơi cư trú, nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, là môi trường văn hoá, giáo dục, tổ ấm hạnh phúc của mọi gia đình; vừa là thước đo sự phồn vinh và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, phần lớn hiến pháp của các nước trên thế giới đều quy định về quyền có nhà ở của con người, của công dân Ở Việt Nam, từ bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) đều quy định về nhà ở, quyền có nhà ở của mọi người; đặc biệt, khoản
3, điều 59 Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”2
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng trong việc tạo dựng nhà ở cho các đối tượng khó khăn trên cả hai phương diện: một
là, ban hành hệ thống pháp luật, chính sách nhằm khuyến khích mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức tham gia phát triển nhà ở; hai là, trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách Ở các thành phố lớn, có mật độ dân
số cao như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, chính quyền thành phố
đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề nhà ở cho các đối tượng chính sách
Tuy nhiên, với chi phí bình quân để xây dựng m2 nhà ở tại các đô thị, các khu công nghiệp khoảng 10 đến 14 triệu đồng như hiện nay, để có một
Trang 9căn hộ 40 - 50 m2 cho một gia đình thì người dân phải bỏ ra từ 500 đến 700 triệu đồng Trong khi người lao động, người làm công ăn lương với tiền lương chưa đảm bảo mức sống tối thiểu, không có tích lũy, thì việc có một căn hộ để
an cư vẫn là giấc mơ xa vời
Nhìn tổng thể vấn đề nhà ở cho người dân cả nước nói chung và nhà ở cho các đối tượng chính sách như cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách; người lao động thuộc các thành phần kinh tế có thu nhập thấp đang là những yêu cầu bức xúc Giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân nói chung và các đối tượng chính sách nói riêng cần có chính sách cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của từng khu vực Trong đó, nhà nước là người kiến tạo bằng hệ thống chính sách và cung ứng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng; doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội của mình là người thực thi; người dân vì lợi ích trực tiếp của mình thì, một mặt, lao động với năng suất cao để tăng thu nhập, có tích lũy, mặt khác lựa chọn hình thức phù hợp với nguồn lực của mình để tạo lập nhà ở
Nhằm làm rõ hơn cơ sở lý thuyết và thực tiễn của chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam, đánh giá thực trạng về chính sách nhà ở xã hội rồi từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề nhà ở xã hội tại Việt Nam, học viên chọn đề tài “Chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế
1.1.2 Sự phù hợp của tên đề tài với chuyên ngành đào tạo?
Nghiên cứu chính sách của Nhà nước đối với nhà ở xã hội cũng chính
là nghiên cứu quản lý về vấn đề kinh tế, tức là nghiên cứu các chính sách huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực đất đai, tài chính, nhân lực nhằm tạo lập các điều kiện để cho mọi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia phát triển nhà ở cho đối tượng chính sách Thực chất là nghiên cứu vai trò của Nhà
Trang 10nước đối với vấn đề nhà ở của người dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây chính là vấn đề quản lý kinh tế - xã hội phù hợp với chuyên ngành đào tạo
1.1.3 Câu hỏi của học viên đối với vấn đề nghiên cứu:
Với tên của đề tài luận văn đã nêu, câu hỏi nghiên cứu bao gồm:
(1) Chính sách nhà ở xã hội là gì và bao gồm những nội dung gì?
(2) Chính sách nhà ở nói chung và chính sách nhà ở xã hội nói riêng ở Việt Nam từ 2005 đến nay như thế nào và việc thực thi các chính sách đó ra sao?
(3) Để giải quyết các vấn đề còn bất cập trong chính sách hiện tại, thời gian tới cần phải làm gì và làm như thế nào?
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp chính sách nhằm phát triển nhà ở xã hội đến năm 2020 ở Việt Nam
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Trình bày có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách nhà ở
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: chính sách và việc thực thi chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: chủ yếu nghiên cứu ở Việt Nam, có tham chiếu một
số nước Châu Á
Trang 11+ Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2014; đề xuất giải pháp đến năm 2020
2005-1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thông dụng sau đây:
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp mà tác giả dùng để thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về nhà ở xã hội và chính sách xã hội
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Do không có thời gian tiến hành khảo sát, điều tra thực tế nên tác giả kế thừa và sử dụng các báo cáo kết quả thực tế của Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, các báo cáo tổng hợp của Văn phòng Bộ Xây dựng để dùng làm tư liệu thực tế để thực hiện luận văn
1.5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu giới thiệu luận văn và tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1- Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của chính sách nhà ở xã hội Chương 2- Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3- Thực trạng chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam
Chương 4- Giải pháp chủ yếu tiếp tục hoàn thiện chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
THỰC TIẾN CỦA CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI
1.1- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1- Các công trình đăng trên sách báo, tạp chí
Có rất nhiều bài báo viết về nhà ở và nhà ở xã hội trên các loại báo và tạp chí, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ nêu một số bài tiêu biểu:
(1)- Lê Hải, 2015 Những kinh nghiệm phát triển nhà ở xã hội của Singapore3
Bài báo nhận định Chiến lược phát triển nhà ở xã hội của Singapore thành công dựa trên ba nhân tố quyết định
Trước hết, Singapore đã thực hiện chính sách một cơ quan duy nhất
chịu trách nhiệm về nhà ở xã hội để phân bổ và quy hoạch nguồn lực hiệu quả hơn Việc này vừa giúp cho HDB có khả năng bảo đảm quỹ đất, nguyên liệu
và nguồn nhân lực cho các công trình xây dựng quy mô lớn, vừa bảo đảm tiết kiệm chi phí song lại đạt kết quả cao nhất
Thứ hai, áp dụng phương thức tiếp cận tổng thể đối với nhà ở Từ quy
hoạch, thiết kế cho đến thu hồi đất và xây dựng, thông qua phân phối, quản lý, bảo trì, các nhiệm vụ liên quan đến nhà ở nằm trong một tổng thể trọn vẹn, liền mạch
Cuối cùng là có sự định hướng cũng như hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ
về lĩnh vực tài chính và pháp lý đã giúp cho chương trình nhà ở xã hội đi đúng lộ trình và đến được với người dân có nhu cầu thực sự
3
http://www.vietnamplus.vn/nhung-kinh-nghiem-phat-trien-nha-o-xa-hoi-cua-singapore/304194.vnp
Trang 13(2)- Chinhphu.vn, 28/02/2015 Xây nhà ở xã hội - Trọng tâm chính
Bài báo đã chỉ rõ, hiện nay, khoảng 330 triệu hộ gia đình trên toàn thế giới đang phải sống trong các khu nhà ổ chuột hoặc phải chi số tiền quá lớn trong thu nhập của mình cho vấn đề “nơi ăn chốn ở” Tới năm 2025, con số này thậm chí có thể tăng lên 440 triệu hộ gia đình, tức 1,6 tỷ người Do đó, nhà ở xã hội là một chủ đề trọng tâm mà các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới luôn phải quan tâm
(3)- Phạm Thái Sơn, 2014 Nhà ở xã hội tại Việt Nam: quan niệm,
lý hoặc mất cân bằng trong phát triển nhà ở xã hội ở nước ta như số nhóm đối tượng thụ hưởng ngày càng được bổ sung nhưng song song với điều đó là các điều kiện tiếp cận quỹ nhà này ngày càng cụ thể và khắt khe Ngày càng khắt khe hơn với các nhóm đối tượng thụ hưởng nhưng lại cung cấp ngày càng nhiều ưu đãi hơn đối với chủ đầu tư nhằm khuyến khích sự tham gia cao nhất của các thành phần kinh tế vào phân khúc thị trường này Ưu đãi đầu tư nhiều nhưng hiệu quả xây dựng nhà ở xã hội lại không được như mong muốn, thể
4 quoc-gia/221178.vgp
http://baodientu.chinhphu.vn/Quoc-te/Xay-nha-o-xa-hoiTrong-tam-chinh-sach-cua-nhieu-5 niem-chinh-sach-va-thuc-tien.html
Trang 14http://ashui.com/mag/chuyenmuc/bat-dong-san/10853-nha-o-xa-hoi-tai-viet-nam-quan-hiện ở số lượng dự án được đăng ký cũng như một tỷ lệ rất thấp các dự án đã khởi công và số căn nhà ở xã hội đã hoàn thành và đưa vào sử dụng
Thông qua những thay đổi, điều chỉnh và bổ sung trong chính sách nhà
ở xã hội, có thể thấy việc xây dựng và vận hành thị trường nhà ở xã hội là một quá trình động và vẫn luôn tiếp diễn, trong đó các nhà quản lý cũng lắng nghe những phản hồi và nhu cầu từ các bên tham gia nhằm có được những bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, do vẫn bị ảnh hưởng bởi tư duy bao cấp
về nhà ở cũng như bị hạn chế bởi những định chế khác nằm ngoài vấn đề nhà
ở xã hội như chế độ sở hữu, quy định về tình trạng cư trú…, các thay đổi và điều chỉnh này đôi khi lại không mang tới được những kết quả phát triển và khuyến khích nhà ở xã hội như mong muốn
Nhằm phát triển hơn nữa nhà ở xã hội trong tương lai, trong thời gian tới về phía cơ quan quản lý thì Chính phủ và các chính quyền địa phương cần đẩy mạnh triển khai công tác quy hoạch nhằm có được về quỹ đất dành cho nhà ở xã hội, phân bổ đúng nguồn ngân sách theo quy định dành cho quỹ nhà
ở này Để thực sự khuyến khích chủ đầu tư từ các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà ở xã hội, các bước thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa và việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư cần được hỗ trợ để hiện thức hóa hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở những cam kết trên văn bản Đối với người dân thì cần phải bỏ đi những ràng buộc không hợp lý như về tình trạng cư trú, đồng thời định lượng rõ hơn các yêu cầu về điều kiện nhà ở hiện tại cũng như điều kiện kinh tế và thu nhập hộ gia đình để người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận quỹ nhà ở xã hội
Trang 15(4)- Trần Thị Kim Xuyến, Phạm Thị Thùy Trang, 2014 Những vấn đề
Bài báo chỉ ra: sự phân tầng về mức sống và sự khác biệt trong lợi thế
về nhà ở, tại thành phố Hồ Chí Minh, người nghèo thường sống trong các ngôi nhà đơn sơ tại những địa bàn cơ sở hạ tầng còn yếu kém; từ nghiên cứu của mình các tác giả cho rằng nhà ở cho người thu nhập thấp đang là vấn đề thời sự vì trên thực tế hiện nay kết quả của các chương trình nhà ở không đến được với người có thu nhập thấp Nhóm tác giả trích dẫn khuyến nghị của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), có 7 trụ cột cho chính sách nhà ở: (i) Cải thiện quyền sở hữu (ii) Phát triển tín dụng bất động sản (iii) Triển khai hệ thống hỗ trợ có định hướng tốt (iv) Mở rộng nguồn cung cấp đất đô thị (v) Cung cấp khung pháp lý cho việc phát triển đất và bất động sản (vi) Làm nổi bật tính cạnh tranh của nghành kinh doanh bất động sản (vii) Phát triển khung thể chế cho chính sách nhà ở cấp quốc gia
Đây là những gợi ý tốt, tác giả luận văn sẽ kế thừa trong quá trình hoàn thành luận văn
(5)- Lê Thị Mai, 2014 Vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo: lý thuyết,
thực tế và hướng tiếp cận
Bài viết dựa trên dữ liệu của một số kết quả nghiên cứu đã thực hiện về vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống tốt hơn và bền vững Để đóng góp vào việc chia sẻ những thách thức và sáng kiến nhằm cải thiện môi trường sống, chia sẻ những điểm tương đồng giữa các quốc gia đang phát triển và phát triển, nội dung bài viết tập trung vào khía cạnh lý thuyết, thực tiễn và hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề đô thị hóa, nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống bền vững của một số quốc gia
6 Kỷ yếu Hội thảo “Nhà ở khu dân cư nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh và những giải
pháphướng đến môi trường sống tốt hơn trong tương lai”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh và Tổ chức Rosa Luxemburg Stiftung tổ chức, 2014
Trang 16Bài viết đóng góp vào việc chia sẻ tri thức, nâng cao nhận thức tạo nên sự thay đổi xã hội bằng những giải pháp hữu ích trong phân tích thực tiễn và xây dựng chính sách
(6)- Nguyễn Thị Hồng Xoan, Trần Thị Anh Thư, Nguyễn Xuân Anh,
2014 Nghèo đói, nhà ở và vấn đề môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh
Bài báo đã phân tích và nhận định có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa nghèo đói, nhà ở và vấn đề môi trường sống ở khu vực đô thị Người nghèo
do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên phải chấp nhận sinh sống trong các không gian nhà ở chật hẹp, thiếu vệ sinh Môi trường sống của khu dân cư bị ô nhiễm bởi lối sống tạm bợ và bừa bãi, cũng như bị ảnh hưởng nặng nề của tình trạng ô nhiễm đô thị do quá trình đô thị hóa quá nhanh ở thành phố này Người nghèo có thể xem là nạn nhân, chịu thiệt thòi nhất của tình trạng ô nhiễm không khí, tiếng ồn, rác và nước thải Người nghèo trên địa bàn khảo sát khi không có lựa chọn nào khác, họ đành phải tìm cách thích ứng với điều kiện sống hiện tại Thái độ “lạc quan” gắn liền với các phương thức thích nghi
và khai thác các “điểm mạnh” từ cộng đồng dân cư nghèo như tính cố kết cộng đồng cao, có thể kiếm sống từ chính tại nơi cư ngụ
Đối với người nghèo đô thị, tạo dựng nhà ở là một quá trình chứ không phải điều kiện Để có được một ngôi nhà, họ phải tích lũy và xây dựng trong nhiều năm Như vậy, có thể xem nhà ở như là một chỉ báo để xác định tình trạng nghèo của họ Do đó, để góp phần nâng cao điều kiện sống của những
hộ nghèo, chính quyền địa phương cần phải có những chính sách thích hợp nhằm cải thiện nhà ở của họ Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng, trong nhiều năm, chính quyền chỉ tập trung giải quyết các vấn đề nhà ở cho những hộ có
hộ khẩu thường trú hoặc những hộ bị ảnh hưởng bởi chương trình cải tạo và chỉnh trang đô thị Còn n hững hộ nghèo đô thị với thu nhập thấp, và người nhập cư đã không được quan tâm đến một cách đúng mức
Trang 17(7)- Lê Thị Thủy, 2014 Hỗ trợ phát triển dựa vào cộng đồng - Bài học
thành công từ các dự án nhà ở của Hiệp hội các đô thị Việt Nam
Bài báo cho rằng: “Hỗ trợ phát triển dựa vào cộng đồng” là phương pháp giúp cụ thể hóa quy chế Dân chủ ở cơ sở, trong đó các Tổ chức hỗ trợ (từ bên ngoài) sẽ thảo luận với chính quyền và người dân để xác định những khó khăn, vướng mắc và tìm kiếm giải pháp, với nguyên tắc chủ đạo là phát huy các mô hình sẵn có tại địa phương theo hướng chuyển đổi cách tiếp cận (từ chỗ chính quyền/Đoàn thể… chăm lo cho người nghèo sang hỗ trợ các sáng kiến/giải pháp của công đồng) để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghèo đói và phát triển đô thị, trong đó có vấn đề nhà ở của người nghèo/thu nhập thấp
Trong quá trình đồng hành cùng các đô thị thành viên hỗ trợ người nghèo/thu nhập thấp cải thiện nơi ở, Hiệp hội các Đô thị Việt Nam (ACVN)
và các bên liên quan xác định những khó khăn/rào cản khiến cho người dân không có cơ hội cải thiện nơi ở của mình, gồm 3 nhóm: (i)Người dân không thể cải thiện nhà ở do vướng “quy hoạch treo”; (ii)- Nhà ở hiện tại của người dân có diện tích “dưới chuẩn” theo quy định của Bộ Xây dựng; (iii)Các khu dân cư tự phát lấn chiếm đất công/ven kênh rạch Nhằm giúp tháo gỡ các khó khăn nêu trên, ACVN đã cùng với chính quyền một số thành phố thử nghiệm một cách tiếp cận mới, trong đó khuyến khích người dân sinh sống trong các khu quy hoạch treo/khu tập thể cũ có diện tích căn hộ “dưới chuẩn/ khu dân
cư lấn chiếm đất công chủ động bàn bạc giải pháp và tìm kiếm sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng để cùng giải bài toán “an cư” và đã đạt được các thành công bước đầu, từ đó chính quyền các đô thị có những thay đổi về chính sách
để việc hỗ trợ người nghèo/thu nhập thấp cải thiện/tạo lập nơi ở phù hợp đem lại hiệu quả tích cực hơn Bài báo cũng giới thiệu kinh nghiệm thành công của
03 đô thị đại diện cho 03 vùng địa lý: (i) Cộng đồng khu dân cư 5, xã Vân
Trang 18Phú, TP Việt Trì thương thảo với chính quyền thành phố và chủ đầu tư để gỡ
“quy hoạch treo” (dự án trường Đại học Hùng Vương); (ii) Người dân khu tập thể Hữu Nghị, phường Cửa Nam, TP Vinh sử dụng các giải pháp kỹ thuật để giải bài toán “căn hộ có diện tích dưới chuẩn”; (iii) Chính sách “tạo điều kiện” của chính quyền TP Tân An giúp người dân lấn chiếm đất công/ven kênh rạch có nơi ở ổn định
1.1.2- Luận án tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ
(1) - Luận án tiến sĩ kinh tế Phạm Văn Bình (2013), Chính sách thuế nhà ở, đất ở tại Việt Nam
Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa những đặc trưng, nội dung cơ ban của chính sách thuế nhà ở, đất ở; lý giải cơ sở đánh thuế nhà ở đất ở; đưa ra tiêu chí đánh giá chính sách thuế nhà ở đất ở, kinh nghiệm của một số quốc gia, vùng lãnh thổ về vấn đề này để làm căn cứ cho việc phân tích, bàn luận
về chính sách thuế nhà ở đất ở tại Việt Nam
Về thực tiễn: Luận án đã phân tích thực trạng chính sách thuế nhà ở, đất ở, nhất là các chính sách bộ phận của chính sách thuế nhà ở, đất ở và đánh giá chính sách thuế theo các tiêu chí, làm rõ những thành công và hạn chế của chính sách thuế nhà ở, đất ở của Việt Nam; từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhà ở, đất ở của Việt Nam đến năm
2020
(2) - Luận án tiến sĩ của Đinh Trọng Thắng, 2012, Đại học Kinh tế
quốc dân Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các kênh huy động vốn đầu tư
nhà ở đô thị Việt Nam
Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung các vấn đề lý luận về phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị; xây dựng khung phân tích để đánh giá tác động của các nhân tố và điều kiện đến sự hình thành và phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị Việt Nam; luận án đã đánh giá thực
Trang 19trạng phát triển, cấp độ phát triển, điều kiện phát triển và các chính sách phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị Luận án đã cập nhập, mô hình kinh tế lượng để đánh giá các nhân tố tác động đến sự lựa chọn kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị cấp hộ gia đình ở Việt Nam, mà theo tác giả ở mức thu nhập 15 triệu đồng/người/tháng là ngưỡng đủ khả năng tiếp cận các khoản vay thế chấp mua nhà ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã
dự báo và đề xuất lộ trình phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị tại Việt Nam dựa trên việc đánh giá điều kiện và nhân tố phát triển Từ đó,
đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chính sách nhằm tạo dựng và phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị tại Việt Nam trong thời gian tới
(3)- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hoàng, 2009, Đại học Kinh tế quốc dân Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở, đất ở
đô thị (ứng dụng tại Hà Nội),
Về lý luận, luận án đã hệ thống hóa và đưa ra phương pháp luận về nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở đất ở đô thị Hà Nội;
Về thực tiễn, luận án đã phân tích, đánh giá có hệ thống tình hình hoạt động của thị trường nhà ở đất ở đô thị Hà Nội, luận án đã nghiên cứu năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở đất ở đô thị; chỉ ra những khiếm khuyết của thị trường nhà ở, đất ở cũng như hạn chế yếu kém của quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở, đất ở đô thị Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý thị trường nhà ở, đất ở đô thị Hà Nội
(4)- Luận án tiến sĩ của Đỗ Thanh Tùng, 2008 Đại học kinh tế quốc dân Chính sách tài chính nhà ở trên địa bàn đô thị Hà nội
Cuốn luận án giới thiệu cơ sở khoa học về chính sách tài chính nhà ở, kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam trong chính
Trang 20sách tài chính nhà ở Thực trạng tài chính nhà ở trên địa bàn Hà Nội, cách tạo lập vốn , phân phối, sử dụng vốn và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách nhà ở, để từ đó đánh giá đúng thực trạng chính sách nhà
ở trên địa bàn thành phố Hà Nội và có những cách hoàn thiện hiệu quả nhất
(5)- Luận văn thạc sĩ, của tác giả Nguyễn Thị Hằng, 2013 Đại học Quốc gia Hà Nội Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam
Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp Phân tích thực trạng sử dụng giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng giải pháp tài chính để phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam: chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách giá, thành lập quỹ tiết kiệm nhà ở
(6)- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Anh Khoa, 2008 Đại học Quốc gia
Hà Nội Phát triển dịch vụ cho thuê nhà ở tại các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam
Luận văn đã Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ cho thuê nhà ở, vai trò của Nhà nước trong việc hình thành hệ thống dịch vụ cho thuê nhà ở Giới thiệu về dịch vụ cho thuê nhà ở của một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm về khuyến khích phát triển dịch vụ này mà Việt Nam có thể tham khảo Khái quát về quá trình phát triển các khu công nghiệp tập trung ở nước ta Nghiên cứu thực trạng dịch vụ cho thuê nhà ở tại các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất của một số tỉnh thuộc vùng kinh
tế trọng điểm từ năm 1990 đến nay Phân tích các yếu tố tác động đến nhu cầu nhà ở và việc cung cấp nhà ở cho thuê tại địa bàn nghiên cứu Nêu một số đánh giá tổng quát về dịch vụ này, những thành tựu đạt được, tồn tại và bất cập trong phát triển dịch vụ cho thuê nhà ở tại các khu công nghiệp tập trung
Trang 21Đưa ra các quan điểm cơ bản: cần phát triển các khu đô thị, khu nhà lưu trú cho công nhân gần kề với các khu công nghiệp, khu chế xuất Bên cạnh việc huy động mọi nguồn lực xã hội, Nhà nước cần nắm giữ vai trò chủ đạo trong dịch vụ phát triển nhà ở cho thuê Kiến nghị các giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách nói chung ( quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng, huy động vốn ); các giải pháp liên quan đến doanh nghiệp và chính quyền các cấp sở tại, nhằm khuyến khích phát triển dịch vụ cho thuê nhà ở tại các khu công nghiệp tập trung, góp phần giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở, đảm bảo ổn định dân sinh xã hội
(7)- Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan, 2008 Đại học Quốc gia Hà Nội Những khía cạnh về quyền sử dụng đất gắn với quyền sở hữu nhà ở theo pháp luật Việt Nam
Luận văn đã trình bày các vấn đề chung về quyền sử dụng đất và quyền
sử dụng đất gắn liền với quyền sở hữu nhà ở Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sử dụng đất gắn liền với quyền sở hữu nhà ở trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Đất đai 2003, Luật nhà ở 2005, Luật Kinh doanh bất động sản 2006 cùng các văn bản hướng dẫn và phân tích mối liên
hệ giữa chúng Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất gắn liền với quyền sở hữu nhà ở như: những thay đổi về sở hữu và những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; hoàn thiện các quy định pháp luật hiện nay về cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; thị trường bất động sản và những yêu cầu đối với việc chuyển quyền sử hữu nhà và chuyển quyền sử dụng đất gắn với nhà ở; hoàn thiện các quy định của pháp luật về giao đất cho tổ chức kinh
tế trong nước xây nhà để bán hoặc cho thuê
Trang 22(8)- Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thanh Tùng, 2002 Tín dụng ngân hàng với việc phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn đô thị Hà Nội
Tác giả đã đề cập Lý luận cơ bản về nhà ở cho người thu nhập thấp và tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho người thu nhập thấp tại đô thị.Thực trạng nhà ở cho người thu nhập thấp và tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn đô thị Hà Nội.Một số giải pháp đẩy mạnh tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho người thu nhập thấp
Ngoài ra còn nhiều bài báo, luận văn, luận án, các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách nhà ở và nhà ở xã hội đã công bố ở trong và ngoài nước mà tác giả chưa nêu ở đây hoặc chưa tiếp cận được
Trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ quản lý kinh tế định hướng ứng dụng, tác giả cố gắng hệ thống hóa lý thuyết và thực tiễn về chính sách nhà ở
xã hội đã được nêu trong các bài báo, các luận văn, luận án Từ đó xây dựng khung lý thuyết chính sách nhà ở xã hội để làm khung phân tích, đánh giá Trên cơ sở phân tích đánh giá chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam, tác giả đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới Tác giả luận văn xin phép và xin cám ơn các nhà khoa học là tác giả các công trình mà luận văn đã sử dụng
1.2- Sự cần thiết khách quan của chính sách nhà ở xã hội
1.2.1- Nhà ở và nhà ở xã hội
Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu
cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân
Nhà ở là một trong những sản phẩm chủ yếu của hoạt động xây dựng
Đó không chỉ là không gian cư trú, nơi đảm bảo môi trường sống, tái tạo sức lao động mà còn là môi trường văn hoá, giáo dục, là tổ ấm hạnh phúc của mọi gia đình, là thước đo sự phồn vinh và tiến bộ xã hội Đối với mỗi quốc gia,
Trang 23nhà ở không chỉ là nguồn tài sản có giá trị mà nó còn thể hiện trình độ phát triển, tiềm năng kinh tế và góp phần không nhỏ làm thay đổi diện mạo đô thị
và nông thôn Có nhà ở thích hợp và an toàn là một nhu cầu thiết yếu, là nguyện vọng chính đáng của mỗi công dân, trong đó có các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, các đối tượng có khó khăn về việc làm và thu nhập
Theo từ điển mở Wikipedia: Nhà ở xã hội là một loại hình nhà ở thuộc
sở hữu của cơ quan nhà nước (có thể trung ương hoặc địa phương) hoặc các loại hình nhà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối tượng được
ưu tiên trong xã hội như công chức của nhà nước chưa có nhà ở ổn định, người có thu nhập thấp và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường
Về sở hữu, nhà ở xã hội có thể thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu của các
tổ chức phi lợi nhuận hoặc của doanh nghiệp nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận
Đối tượng được ở nhà ở xã hội tùy theo quy định của pháp luật của từng nước, nhưng nhìn chung thường là các viên chức nhà nước, người nghèo, người có thu nhập thấp
Viên chức nhà nước, những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước (tiền thuế của dân) nên họ thường là những người có mức sống trung lưu; mặt khác, họ thực hiện công vụ của Nhà nước giao cho, do đó, để công chức thực thi công vụ một cách toàn tâm, toàn ý, Nhà nước phải tạo chổ ở họ
Người nghèo, người có thu nhập thấp thường không có tích lũy hoặc tích lũy, trong khi đó, nhà ở là là tài sản có giá trị lớn nên họ không thể tự tạo lập nhà ở Do đó, để công dân có nhà ở, Nhà nước cần phải hỗ trợ họ bằng các chính sách, chương trình nhà ở xã hội
Trang 241.2.2- Điều ước quốc tế về nhà ở và nhà ở xã hội
Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của con người được các tổ chức quốc tế quy định trong các điều ước
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền về các quyền cơ bản của con người
được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp; Ðiều 25, khoản 1 ghi rõ:
“Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức
khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà
ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp,
đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.”
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, theo Nghị
quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc được thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập có hiệu lực
từ ngày 3/01/1976, tại Điều 11 Khoản 1 có ghi: “Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được có một mức sống thích
đáng cho bản thân và gia đình mình, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, nhà
ở, và được không ngừng cải thiện điều kiện sống Các quốc gia thành viên
phải thi hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm việc thực hiện quyền này, và vì mục đích đó, thừa nhận tầm quan trọng thiết yếu của hợp tác quốc
tế dựa trên sự tự do chấp thuận
Công ước về quyền trẻ em, theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989
của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990, Điều 27, khoản 3 tiếp tục nhấn mạnh về quyền có nhà ở: “Các quốc gia thành viên, phự hợp với điều kiện của nước mình và trong phạm vi các phương tiện sẵn có của mình, phải thi hành các biện pháp thích hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ và
Trang 25những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em thực hiện quyền này, và trong trường hợp cần thiết, phải thực hiện những chương trình hỗ trợ và gíup đỡ vật
chất, đặc biệt là về dinh dưỡng, quần áo và nhà ở
Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông
qua theo Nghị quyết A/RES/45/158 ngày 18/12/1990, tại điều 43, khoản 1, tiếp tục nhấn mạnh Người lao động di trú được đối xử bình đẳng như công
dân của quốc gia nơi có việc làm liên quan đến: (d) quyền có nhà ở, kể cả
quyền sử dụng các chương trình nhà ở và xã hội, và được bảo vệ khỏi việc
bóc lột liên quan đến tiền thuê nhà
Như vậy, xét về luật pháp quốc tế thì quyền có nhà ở, kể cả nhà ở xã hội đã được tổ chức đã được tổ chức lớn nhất của Thế giới là Đại hội đồng Liên Hợp Quốc quy định rõ ràng Công ước Theo đó, các nước tham gia các công ước quốc tế đều phải có trách nhiệm tạo lập nhà ở cho người dân, trong
đó có nhà ở xã hội cho công chức nhà nước, người nghèo, người có thu nhập thấp nhằm đảm bảo quyền con người cho công dân của mình
1.3- Chính sách nhà ở xã hội
1.3.1- Khái niệm và vấn đề của chính sách nhà ở xã hội
Chính sách nhà ở xã hội là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, giải pháp,
công cụ mà Nhà nước tác động vào các mối quan hệ và hoạt động của các chủ thể là Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và hộ gia đình để huy động, phân bổ,
sử dụng các nguồn lực đất đai, lao động, vốn tài chính, khoa học và công nghệ nhằm phát triển nhà ở xã hội cho người dân được thể chế bằng pháp luật
Vấn đề chính sách nhà ở xã hội là một bộ phận của các vấn đề nhà ở,
đó là những sự khác biệt, mâu thuẫn hay khoảng cách giữa thực tại nhà ở của
Trang 26hộ gia đình với mong muốn hoặc nhu cầu của họ và cần được giải quyết thông qua các chính sách nhà ở xã hội của nhà nước
Đó là sự khác biệt về tổng cầu và cơ cấu cầu về nhà ở xã hội của đối tượng chính sách với khả năng cung và cơ cấu cung về nhà ở xã hội của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cần được giải quyết bằng chính sách của nhà nước
1.3.2- Nội dung chính sách nhà ở xã hội
Chính sách nhà ở xã hội là chính sách của Nhà nước để giải quyết vấn
đề chính sách Nội dung chủ yếu của chính sách nhà ở xã hội bao gồm:
1.3.2.1- Định hướng phát triển nhà ở xã hội
Định hướng phát triển nhà ở xã hội là việc Nhà nước xác định các mục
tiêu, yêu cầu cần đạt được trong nhiệm vụ phát triển nhà ở xã hội và các nguồn lực để thực hiện định hướng đó Định hướng phát triển nhà ở xã hội bao gồm chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển nhà
ở xã hội
* Chiến lược phát triển nhà ở xã hội
Chiến lược là một bộ phận của chiến lược phát triển nhà ở, là các quan
điểm, mục tiêu cần đạt được và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra cho việc phát triển nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng trong một khoảng thời gian dài Nội dung chủ yếu của chiến lược bao gồm:
- Quan điểm về phát triển nhà ở xã hội
Quan điểm phát triển nhà ở xã hội là cách xem xét, nhìn nhận, đánh giá
về việc phát triển nhà ở xã hội đặt trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn nhất định Quan điểm phát triển nhà ở xã hội cho biết vị trí của việc phát triển nhà ở xã hội trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội; trách nhiệm của nhà nước, tổ
Trang 27chức, doanh nghiệp, người dân trong phát triển nhà ở xã hội; phát triển nhà ở
xã hội gắn với phát triển bền vững
- Mục tiêu phát triển nhà ở xã hội
Mục tiêu phát triển nhà ở xã hội là những chỉ tiêu cần đạt được của chiến lược
Xét về thời gian, mục tiêu có thể là dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Thông thường mục tiêu của chiến lược thường đề ra cho từng thời kỳ từ 5 năm trở lên với các chỉ tiêu rất cụ thể cho từng thời kỳ Các chỉ tiêu cần đạt tới trong từng thời kỳ thường là: (1)- Diện tích sàn nhà ở xã hội tính cho một người (m2/người); (2)- Mức độ kiên cố của công trình; (3)- Trang thiết bị nội thất tối thiểu
- Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện
Nhiệm vụ của chiến lược là những công việc mà Nhà nước phải làm bao gồm xây dựng cơ chế, chính sách và ban hành thành luật để các chủ thể Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình huy động và sử dụng tối ưu nguồn lực (đất đai, tài chính, lao động, ) mà mình có để phát triển nhà ở xã hội
Giải pháp chiến lược là các thức huy động, phân bổ và sử dụng cụ thể các nguồn lực về đất đai, quy hoạch - kiến trúc, tài chính, tín dụng, thuế; cách thức phân loại và tiêu chí phân loại đối tượng chính sách để lựa chọn đúng đối tượng được thụ hưởng nhà ở xã hội
* Quy hoạch nhà ở xã hội
Quy hoạch nhà ở xã hội là cụ thể hóa một bước chiến lược nhà ở xã hội, bao gồm một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu đề ra
Quy hoạch nhà ở xã hội phải dựa trên quy hoạch phát triển nhà ở và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia cùng thời kỳ Điều đó có nghĩa
Trang 28là dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành quy hoạch phát triển nhà ở toàn quốc; trên cơ sở quy hoạch phát triển nhà ở toàn quốc, xây dựng và ban hành quy hoạch phát triển nhà ở xã hội, bao gồm nhà ở xã hội cho khu vực đô thị, cho công nhân các khu công nghiệp tập trung, cho học sinh sinh viên các trường đại học và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
* Kế hoạch trung hạn phát triển nhà ở
Kế hoạch trung hạn phát triển nhà ở xã hội là việc cụ thể hóa các mục tiêu
và biện pháp đã lựa chọn trong chiến lược, thường có thời hạn từ 3 - 5 năm
Kế hoạch 5 năm phát triển nhà ở xã hội xác định hệ thống các mục tiêu, chỉ tiêu về nhà ở, các chính sách phân bổ nguồn lực, cho các chương trình, dự
án phát triển nhà ở xã hội Nội dung cơ bản của việc lập kế hoạch 5 năm đối với di chuyển lao động ra nước ngoài làm việc gồm:
Một là, xác định nhiệm vụ tổng quát và các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển
nhà ở xã hội trong kỳ
Hai là, xác định các chương trình, dự án cho phát triển nhà ở xã hội
Ba là, xây dựng các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm
* Kế hoạch hàng năm về phát triển nhà ở xã hội
Kế hoạch hàng năm là cụ thể hóa kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch trung hạn, là cơ sở để chỉ đạo và điều hành các quan
hệ và hoạt động phát triển nhà ở xã hội trong năm
Nội dung của kế hoạch hàng năm là xác định các chỉ tiêu định lượng, bao gồm: số lượng các dự án triển khai hoặc hoàn thành trong năm, cơ cấu căn hộ trong từng dự án; cơ cấu dự án trong từng vùng, địa phương; phân công, phân cấp thực hiện,vv
* Dự án nhà ở xã hội
Trang 29Dự án đầu tư xây dựng nhà ở là tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở xã hội, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định
Như vậy, dự án nhà ở xã hội là các đề xuất rất cụ thể bao gồm địa điểm
dự án, diện tích đất, vốn sử dụng, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đối tượng và điều kiện được thụ hưởng dự án Đây là nơi thực thi trên thực tế chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội; là nơi đối tượng chính sách và chủ đầu tư trực tiếp đối diện nhau trong thực thi chính sách
1.3.2.2- Tạo lập môi trường pháp lý về phát triển nhà ở xã hội
Để phát triển nhà ở xã hội một cách hiệu quả, đúng định hướng đã xác định, Nhà nước phải tạo lập các yếu tố môi trường chủ yếu sau đây:
* Tạo lập khuôn khổ pháp luật về phát triển nhà ở theo định hướng chiến lược đã xác định
Trên cơ sở quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển nhà ở, Nhà nước xây dựng, ban hành và thực thi hệ thống luật pháp liên quan đến nhà ở xã hội như: Hiến pháp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, vv… Hệ thống Luật pháp phải tạo thành một hệ thống nhất điều chỉnh toàn bộ các quan hệ và hành vi của các chủ thể tham gia vào phát triển nhà ở xã hội trong nền kinh tế thị trường
Bằng hệ thống pháp luật, Nhà nước xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức, quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình và người dân; Nhà nước quy định những hành vi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được làm, những hành vi bị cấm và các hình phạt trong phát triển nhà ở xã hội
Trang 30- Duy trì ổn định môi trường kinh tế vĩ mô là Nhà nước dùng các công
cụ chính sách nhằm hạn chế lạm phát, thất nghiệp, v.v Kinh tế vĩ mô ổn định giúp các chủ thể tham gia phát triển nhà ở xã hội tin tưởng vào mục tiêu
sẽ đạt được và hiệu quả hoạt động của mình Lạm phát, thất nghiệp là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc làm và thu nhập của các đối tượng của chính sách nhà ở xã hội Do đó, nếu Nhà nước duy trì ổn định môi trường kinh tế vĩ mô sẽ tạo điều kiện cho đối tượng chính sách và chủ đầu tư các dự
án nhà ở xã hội thực hiện dự án một cách trôi chảy Ngược lại sẽ gây ra các
- Nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước
Chính sách nhà ở xã hội là chính sách đối với những người có thu nhập thấp, người nghèo Việc xác định đúng ai là người thu nhập thấp, ai là người nghèo phụ thuộc rất lớn vào các văn bản quy định tiêu chuẩn, cách thức xác định của các cơ quan nhà nước Vì vậy, năng lực của cán bộ hoạch định chính sách có vai trò quyết định đến hiệu lực của chính sách, cán bộ hoạch định chính sách có kiến thức thực tế phong phú, sẽ xây dựng chính sách sát với thực tế, người dân dễ tiếp cận, cơ quan xét duyệt xác định đúng đối tượng dễ dàng hơn Đặc biệt, đội ngũ cán bộ cơ sở tham gia quá trình xác định đối
Trang 31tượng thụ hưởng phải thực sự công tâm, không nhũng nhiễu, thì thời gian và tiền bạc của dân cũng sẽ được tiết giảm trong quá trình tiếp cận và hưởng thụ chính sách nhà ở xã hội
1.3.2.3- Tổ chức thực thi chính sách phát triển nhà ở xã hội
Tổ chức thực thi chính sách phát triển nhà ở xã hội là quá trình các cơ
quan nhà nước đưa chính sách, pháp luật về nhà ở xã hội vào cuộc sống
* Cơ quan quản lý nhà nước về Xây dựng chịu trách nhiệm:
- Hướng dẫn, đôn đốc việc triển khai thực hiện chính sách, chương trình phát triển nhà ở xã hội của các địa phương; đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xây dựng đô thị, pháp luật về nhà ở xã hội phù hợp với định hướng chiến lược phát triển nhà ở và tình hình thực tế Nghiên cứu,
đề xuất hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến phát triển nhà ở; xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ cải thiện nhà ở cho từng nhóm đối tượng chính sách xã hội gặp khó khăn về nhà ở Xây dựng chính sách nhà ở cho thuê, đề án tạo nguồn vốn để phát triển nhà ở xã hội; xây dựng
hệ thống chỉ tiêu thống kê về nhà ở, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách và quản lý nhà nước;
- Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển nhà ở, các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phát triển nhà ở cho từng nhóm đối tượng cụ thể tại các địa bàn trọng điểm theo thẩm quyền và phân giao trách nhiệm cho các địa phương; chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát việc tổ chức thực hiện công tác quy hoạch, các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương
- Giao nhiệm vụ và chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có chức năng đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà ở tham gia các chương trình,
đề án, dự án, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội tại các địa bàn trọng điểm
Trang 32- Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy, mô hình phát triển và quản lý sử dụng nhà ở, hệ thống quản lý nhà nước về nhà ở các cấp cho phù hợp trong từng thời kỳ phát triển
* Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường:
Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai để thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở của các tầng lớp dân cư
* Trách nhiệm của cơ quan Kế hoạch và Phát triển:
- Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư để đơn giản hóa thủ tục đầu tư nhà ở, ban hành hướng dẫn cụ thể việc thực hiện đầu tư phát triển nhà ở theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT)
và hình thức hợp tác công tư (PPP); bổ sung danh mục các dự án phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, nhà
ở cho thuê theo quy định của pháp luật về nhà ở thuộc danh mục dự án khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư;
- Lập kế hoạch bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật để thực hiện các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch nhà ở
* Trách nhiệm của cơ quan Tài chính:
- Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về tài chính, thuế liên quan đến phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thu nhập thấp, nhà ở cho thuê, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp; nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế nhà ở nhằm hạn chế đầu cơ; hướng dẫn, đôn đốc các địa phương thành lập và quản lý hoạt động của Quỹ phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; ban hành hướng dẫn cụ thể về các cơ chế, chính sách tài
Trang 33chính liên quan đến việc thực hiện đầu tư phát triển nhà ở theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) và hình thức hợp tác công tư (PPP);
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền đối với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, đề án,
dự án, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội
* Trách nhiệm của cơ quan Nội vụ:
Xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý và phát triển nhà ở từ trung ương đến địa phương để thực hiện có hiệu quả việc phát triển và quản lý nhà
ở và nhà ở xã hội
* Trách nhiệm của cơ quan Lao động và Xã hội:
Phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ cho các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, người có công với cách mạng cải thiện nhà ở
* Trách nhiệm của Ngân hàng Trung ương:
- Xây dựng, ban hành và hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách về tín dụng nhà ở; quy trình cho vay thế chấp, giải chấp nhà ở;
* Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
- Tổ chức chỉ đạo phát triển nhà ở trên địa bàn theo quy định của pháp luật về nhà ở; xây dựng; tổ chức triển khai thực hiện công tác quy hoạch, chương trình phát triển nhà ở của địa phương;
- Xây dựng và đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở, đặc biệt là chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
và hàng năm của địa phương và tổ chức triển khai thực hiện;
Trang 34- Bố trí quỹ đất để đáp ứng nhu cầu phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở
xã hội, nhà ở cho các đối tượng có thu nhập thấp, người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội trên phạm vi địa bàn;
- Thành lập và đưa vào hoạt động Quỹ phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở;
- Thực hiện bố trí vốn từ ngân sách của địa phương để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho các đối tượng có thu nhập thấp, người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội theo quy định của pháp luật trên phạm vi địa bàn;
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nhà ở trên địa bàn
1.3.2.4- Kiểm tra và giám sát thực hiện chính sách nhà ở xã hội
* Nội dung kiểm tra và giám sát thực hiện chính sách nhà ở xã hội của Nhà nước bao gồm:
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo định hướng, kế hoạch, quy hoạch, chương trình, dự án để điều chỉnh các sai lệch;
- Kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, chính sách, pháp luật để đảm bảo hiệu lực của pháp luật;
- Kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác để đảm bảo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình nhà
ở xã hội;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước đối với chính sách phát triển nhà ở xã hội để đảm bảo trách nhiệm trong quản lý;
- Kiểm tra, giám sát tính hợp lý của các công cụ chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi để phát triển nhà ở xã hội một cách bền vững;
- Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc lựa chọn đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội
Trang 35* Các tổ chức xã hội dân sự giám sát việc thực hiện pháp luật về nhà ở; vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, hỗ trợ các chương trình xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội; người có thu nhập thấp, người nghèo gặp khó khăn về nhà ở; tham gia tư vấn, phản biện và tích cực thực hiện các chính sách về nhà ở
1.3.2.5-Tham gia xây dựng các công trình nhà ở xã hội
- Nhà nước trực tiếp làm chủ đầu tư một số dự án phát triển nhà ở xã hội tại những vùng khó khăn để bán hoặc cho thuê đối với các đối tượng chính sách
- Nhà nước đầu tư một phần vốn mồi với một tỷ lệ nhất định của dự án, kêu gọi doanh nghiệp và tổ chức bỏ vốn đầu tư các dự án nhà ở xã hội với các
ưu đãi về thuế, giá trị quyền sử dụng đất
1.3.3- Các nhân tố tác động đến chính sách nhà ở xã hội
Có nhiều nhân tố tác động đến chính sách nhà ở xã hội, nhưng nhìn chung có 3 nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến chính sách nhà ở xã hội: Môi trường chính sách; đối tượng chính sách và năng lực của tổ chức hoạch định chính sách
1.3.3.1- Môi trường chính sách
Môi trường chính sách là toàn bộ các yếu tố vật chất và phi vật chất bao quanh chính sách, đó là các yếu tố về tự nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội và tư duy của con người
Môi trường chính sách nhà ở xã hội là các điều kiện về đất đai, không gian tự nhiên, mật độ dân cư, trình độ phát triển khoa học và công nghệ; thu nhập của người dân, ngân sách quốc gia, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nhận thức của người dân và ý chí của nhà nước thể hiện ở hiến pháp, pháp luật đối với vấn đề nhà ở xã hội
Trang 36Như đã nói trên, Chính sách nhà ở xã hội là tổng thể các quan điểm,
mục tiêu, giải pháp, công cụ mà Nhà nước tác động vào các mối quan hệ và hoạt động của các chủ thể là Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và hộ gia đình
để huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực đất đai, lao động, vốn tài chính, khoa học và công nghệ nhằm phát triển nhà ở xã hội cho người dân được thể chế bằng pháp luật Do đó, đất đai, không gian tự nhiên, nguồn lực tài chính, trình độ phát triển khoa học và công nghệ, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là những điều kiện tiên quyết khi hoạch định chính sách Mặt khác, quan điểm, mục tiêu của nhà nước cần đạt tới của chính sách nhà ở xã hội phụ thuộc vào nhận thức và ý chí của nhà nước
1.3.3.2- Đối tượng của chính sách
Đối tượng của chính sách nhà ở xã hội là những chủ thể thụ hưởng chính sách và các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp nhà ở xã hội, cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực nhà ở xã hội
Đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã những người không tự tạo lập được nhà ở do hạn chế hoặc không có các nguồn lực đất đai, tài chính, lao động, công nghệ,v.v Đó là người lao động làm công hưởng lương có thu nhập thấp, học sinh, sinh viên các trường đại học, người có hoàn cảnh đặc biệt,v.v
Đối tượng thu hưởng càng lớn, càng đa dạng, chính sách nhà ở xã hội đòi hỏi nguồn lực càng lớn; mức độ tương hợp với các đối tượng càng khó
Các doanh nghiệp và tổ chức cung ứng nhà ở xã hội cũng là đối tượng chính sách nhà ở xã hội Số lượng và chất lượng nhà ở xã hội và các dịch vụ liên quan phụ thuộc chủ yếu vào số lượng doanh nghiệp và tổ chức tham gia
và năng lực, trình độ của doanh nghiệp và tổ chức Mức độ cạnh tranh càng
Trang 37hoàn hoàn hảo giữa các doanh nghiệp, tổ chức cung ứng nhà ở xã hội thì số lượng và chất lượng nhà ở xã hội, các dịch vụ cũng sẽ tăng lên
Chính sách nhà ở xã hội chịu tác động mạnh mẽ của cả người thụ hưởng chính sách và người cung cấp nhà ở và dịch vụ liên quan đến nhà ở xã hội
1.3.3.3- Năng lực của tổ chức hoạch định chính sách
Năng lực là phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao
Năng lực của tổ chức hoạch định chính sách là tổng hợp những phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo ra cho tổ chức đó khả năng hoạch định chính sách với chất lượng cao
Năng lực của tổ chức hoạch định chính sách nhà ở xã hội thể hiện ở chổ khả năng lựa chọn đúng các vấn đề cần giải quyết của chính sách thông qua việc quan sát, thu thập thông tin, xử lý thông tin; đề ra các mục tiêu và giải pháp chính sách đáp ứng yêu cầu của các đối tượng chinh sách nhà ở xã hội
1.4- Chính sách nhà ở xã hội của một số nước châu Á và một số gợi
ý đối với Việt nam
1.4.1- Chính sách nhà ở xã hội của một số nước châu á
1.4.1.1- Chính sách nhà ở xã hội của Singapo
Singapore được xem là quốc gia châu Á giải quyết thành công nhất chương trình nhà ở cho người thu nhập thấp Mô hình nhà ở xã hội thu nhập thấp này hầu như đều do Nhà nước đảm nhận thông qua một cơ quan chuyên trách có tên gọi là Cơ quan phát triển nhà ở xã hội (HDB)
Trước khi có được những thành công về chính sách phát triển nhà ở xã hội như hiện nay, Singapore trong những năm 1960 cũng đối diện với tình cảnh thiếu nhà ở nghiêm trọng, người dân phải sống trong tình trạng quá tải,
Trang 38điều kiện sống hết sức tồi tàn Để tập trung cho chiến lược phát triển nhà ở, Chính phủ Singapore năm 1960 đã quyết định thành lập HDB, với nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng cuộc khủng hoảng nhà ở "đảo quốc Sư tử" này
Trong vòng chưa đầy ba năm sau khi thành lập, HDB đã xây dựng 21.000 căn hộ và đến năm 1965, tổng cộng 54.000 căn hộ nhà ở xã hội đã được xây xong, vượt mục tiêu 50.000 căn trong chương trình xây dựng 5 năm đầu tiên Với chiến lược đúng đắn khi tiếp cận nhà ở chất lượng với giá phải chăng, chỉ trong vòng 10 năm Chính phủ Singapore đã nhanh chóng giải quyết xong khủng hoảng nhà ở của mình Hiện nay, khoảng 85% người dân Singapore sống trong các căn hộ do HDB xây dựng, so với con số 9% vào năm 1960, trong đó 94% người dân sở hữu những căn hộ này, chỉ có khoảng 6% còn lại là đi thuê
Chiến lược phát triển nhà ở xã hội của Singapore thành công dựa trên
ba nhân tố quyết định
Trước hết, Singapore đã thực hiện chính sách một cơ quan duy nhất
chịu trách nhiệm về nhà ở xã hội để phân bổ và quy hoạch nguồn lực hiệu quả hơn Việc này vừa giúp cho HDB có khả năng bảo đảm quỹ đất, nguyên liệu
và nguồn nhân lực cho các công trình xây dựng quy mô lớn, vừa bảo đảm tiết kiệm chi phí song lại đạt kết quả cao nhất
Thứ hai, áp dụng phương thức tiếp cận tổng thể đối với nhà ở Từ quy
hoạch, thiết kế cho đến thu hồi đất và xây dựng, thông qua phân phối, quản lý, bảo trì, các nhiệm vụ liên quan đến nhà ở nằm trong một tổng thể trọn vẹn, liền mạch
Cuối cùng, là có sự định hướng cũng như hỗ trợ mạnh mẽ của chính
phủ về lĩnh vực tài chính và pháp lý đã giúp cho chương trình nhà ở xã hội đi đúng lộ trình và đến được với người dân có nhu cầu thực sự
Trang 39Nhằm đa dạng hóa về nhà ở xã hội, năm 2005, Chính phủ Singapore đã cho triển khai Chương trình Thiết kế, Xây dựng và Bán Singapore cũng đưa
ra các kiểu căn hộ nhà ở xã hội phong phú từ 1 phòng cho tới 5 phòng để đáp ứng nhu cầu của người dân ở từ người độc thân cho tới các hộ gia đình lớn (ba thế hệ)
Theo số liệu thống kê, số các căn hộ nhà ở xã hội có 4 phòng do HDB bán ra chiếm số lượng nhiều nhất (41,2%), tiếp đó căn hộ có 3 phòng (24,2%) Theo thiết quy định, tất cả các khu nhà ở xã hội đều phải bảo đảm các dịch vụ cần thiết về giáo dục, y tế, rèn luyện sức khỏe, giao thông công cộng, mua sắm cho người dân sống ở trong khu vực đó Ví dụ, theo quy định, tất cả các khu nhà ở công cộng đều có các bến xe công cộng trong phạm
vi 400 m
Do việc mua nhà ở xã hội có sự ưu đãi của chính phủ, Singapore đưa ra cũng như thực hiện rất chặt chẽ các điều kiện và quy định đối với người được mua, sử dụng các căn hộ loại này Theo quy định, những hộ gia đình được mua nhà ở xã hội trước hết vợ và chồng phải là công dân Singapore hoặc một người là công dân Singapore và người còn lại có thẻ cư trú dài hạn, thu nhập của hộ gia đình hàng tháng không quá 8.000 SGD
Chính phủ Singapore cũng đưa ra một số quy định nhằm tránh tình trạng đầu cơ Chính phủ quy định, những người mua nhà ở xã hội không được bán hoặc cho thuê các căn hộ này trong vòng 5 năm kể từ ngày mua
Dù đã bán cho người dân, song trên thực tế các khu nhà ở xã hội này vẫn thuộc quyền quản lý của chính phủ, mà cơ quan quản lý trực tiếp là HDB HDB có trách nhiệm quản lý, duy trì, bảo dưỡng đối với các khu nhà này
Hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, HDB cũng tập trung chú trọng xây dựng những khu nhà ở xã hội mới hiện đại hơn với các
Trang 40dịch vụ tốt hơn Những khu nhà ở xã hội mới này không khác gì so với những nhà ở cao cấp
Nhìn chung, với tầm nhìn xa và có quy hoạch rất tốt trong việc xây dựng các khu nhà ở xã hội, Chính phủ Singapore một mặt đã giải quyết tốt vấn đề nhà ở của người dân và phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác giữ được quỹ đất cho tương lai cũng như phục vụ cho các mục đích khác7
1.4.1.2- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau hơn 30 năm cải cách mở cửa, đời sống của nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là ở các đô thị đã thay đổi căn bản, đây là điều kiện hết sức thuận lợi
để phát triển nhà ở Bắt đầu năm 1998, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định ngưng cấp nhà ở phúc lợi mang tính hiện vật, thực hiện tiền tệ hoá và thương phẩm hoá việc phân phối nhà ở Quyết định này đã đánh dấu một thời kỳ mới trong đầu tư xây dựng nhà ở Khắp các đô thị, các nhà đầu tư tập trung vào thành lập các dự án xây dựng và phát triển nhà ở Tuy nhiên, những năm gần đây, thị trường nhà ở của Trung Quốc không mấy lạc quan, nhà thương phẩm xây dựng xong không bán được Theo số liệu thống kê năm từ 1999, cả nước
có 101,71 triệu m2 nhà bị ứ đọng, trong đó có đến 61% vốn đầu tư vào nhà ở
là vốn vay từ ngân hàng Chỉ tính riêng năm 2002, đã có khoảng 95 tỷ USD chảy vào lĩnh vực nhà đất, tăng 30% so với năm 2001 Tỷ lệ tăng trưởng về nhà ở tại Trung Quốc tăng bình quân hàng năm khoảng 30% Mặc dù nhà ở được xây dựng nhiều nhưng số hộ gia đình gặp khó khăn về nhà ở lại tăng lên Ước tính mức tăng mỗi năm khoảng 0,4 triệu hộ Ở các thành phố, thị trấn hiện có khoảng 6 triệu hộ có diện tích nhà ở mới đạt mức 6m2/người Tại Thượng Hải, giá nhà trung bình được rao bán khoảng 9.475 NDT/m2; tại Bắc Kinh 6.000 NDT/m2 và tại Quảng Châu với giá bán xấp xỉ 7.383 NDT/m2 Theo thống kê, có tới 70% người dân ở các đô thị của Trung Quốc không thể
7 vietnamplus.vn/nhung-kinh-nghiem-phat-trien-nha-o-xa-hoi-cua-singapore/304194.vnp