Đề tài nghiên cứu nhằm 3 mục tiêu: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTMCP Á Châu; đánh giá rủi ro tín dụng tại NHTMCP Á Châu dựa trên kết quả của nghiên cứu thực nghiệm; đưa các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu.
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Trương Thị Hồng
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này là bài nghiên cứu của chính tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và được thu thập từ những nguồn chính thống và đáng tin cậy
TP Hồ Chí Minh, tháng năm 2014
VÕ NGỌC QUYỀN
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
I Lý do chọn đề tài 1
II Phạm vi nghiên cứu 2
III Đối tượng nghiên cứu 2
IV Mục tiêu nghiên cứu 2
V Phương pháp nghiên cứu 2
VI Câu hỏi nghiên cứu 2
VII Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Rủi ro tín dụng 4
1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng 4
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong Basel 5
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng 7
1.1.4 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 9
1.1.5 Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng 9
1.1.6 Hậu quả của rủi ro rín dụng 12
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 14
1.2.1 Yếu tố vi mô 14
1.2.2 Yếu tố vĩ mô 17
1.3 Các bài nghiên cứu trước đây 19
1.4 Mô hình nghiên cứu 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 29
2.1 Thực trạng về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu 29
Trang 52.1.1 Hoạt động tín dụng 29
2.1.2 Phân tích rủi ro tín dụng tại ACB 35
2.1.3 Đánh giá chung về hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng 39
2.1.4 Chính sách và quy trình cho vay của ACB nhằm hạn chế rủi ro tín dụng 42
2.2 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 49
2.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 49
2.2.2 Kết quả thực nghiệm 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 60
3.1 Định hướng kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu từ năm 2014 đến năm 2020: 60
3.2 Kiến nghị từ kết quả nghiên cứu 60
3.2.1 Phát triển đồng đều giữa các vùng miền 61
3.2.2 Cơ cấu lại danh mục sản phẩm tín dụng 65
3.2.3 Rà soát lại danh mục khách hàng 67
3.2.4 Xây dựng mức lãi suất linh hoạt, phù hợp 70
3.3 Giải pháp hỗ trợ từ phía ban, ngành liên quan: 71
3.3.1 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước: 71
3.3.2 Kiến nghị đối với các Bộ ngành có liên quan: 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
DADT: Dự án đầu tư
DNL: Doanh nghiệp lớn
DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DUREE: Thời hạn khoản vay
EFA: Phân tích nhân tố
GRP: Nhóm nợ
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
OBJ: Mục đích khoản vay
TAI: Quy mô doanh nghiệp
TXI: Lãi suất
VIL: Vùng miền khoản vay
XNK: Xuất nhập khẩu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Vốn huy động và tổng dư nợ ACB từ 2006 -2013 31
Bảng 2.2 Tỷ lệ các nhóm nợ xấu /tổng nợ xấu của ACB 35
Bảng 2.3 Tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại ACB Đơn vị tính: triệu VND 37 Bảng 2.4 Cơ cấu vay theo đối tượng khách hàng Đơn vị tính: triệu VND 37
Bảng 2.5 Cơ cấu vay theo thời hạn vay Đơn vị tính: triệu VND 38
Bảng 2.6 Cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ Đơn vị tính: triệu VND 39
Bảng 2.7 Thống kê mô tả dữ liệu 49
Bảng 2.8 Hồi quy với hai biến độc lập là DUREE và TXI 53
Bảng 2.9 Bảng tính tác động biên của DUREE lên Yi* theo mô hình (3) 53
Bảng 2.10 Bảng tính tác động biên của TXI lên Yi* theo mô hình (3) 54
Bảng 2.11 Kết quả hồi quy với các biến độc lập DUREE, TXI, VIL, TAI, OBJ 56 Bảng 2.12 Tác động biên giữa các vùng miền 57
Bảng 2.13 Tác động biên giữa các mục đích cho vay 58
Bảng 2.14 Tác động riêng phần giữa các nhóm doanh nghiệp 58
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1 Phân loại rủi ro tín dụng 7
Hình 1.2 Hình thức của rủi ron tính dụng 8
Hình 2.1 Tình hình huy động vốn của ACB từ 2006 - 2013 30
Hình 2.2 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế (%) 33
Hình 2.3 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế (%) 34
Hình 2.4 Tần số của biến VIL – đại diện cho các vùng miền 50
Hình 2.5 Tần số của biến OBJ – mục đích khoản vay 51
Hình 2.6 Tần số của biến TAI – quy mô doanh nghiệp 52
Hình 2.7 Ước lượng xác suất phân loại nợ trung bình của một khoản vay có thời hạn 12 tháng 55
Trang 8MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Hệ thống tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một đất nước nào Đặc biệt đối với Việt Nam, hệ thống ngân hàng chủ yếu là nơi để khơi thông luồng vốn, giúp cung và cầu vốn gặp nhau, hỗ trợ cho chính sách đầu tư phát triển đất nước của chính phủ
Trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, quy mô ngày một phát triển lớn mạnh đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ trong công tác quản trị rủi ro tín dụng để đảm bảo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được hiệu quả, phát triển bền vững Như vậy, trước hết các ngân hàng thương mại phải xác định chính xác các yếu tố tác động lên rủi ro tín dụng – được đo bằng tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng nợ trong hạn của ngân hàng Reinhar & Rogoff (2010) chỉ ra rằng tỷ lệ nợ quá hạn được sử dụng như là một chỉ báo cho khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng được các nhà quản lý quan tâm để điều hành hoạt động ngân hàng (Louzis, Vouldis ,& Metaxas , 2012)
Trên cơ sở xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích và đánh giá được tính phù hợp của quy trình quản
lý rủi ro tín dụng hiện hành đang được áp dụng tại ngân hang TMCP Á Châu Sau
đó, dựa trên các phân tích và kết luận về quy trình quản trị rủi ro hiện hành, nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng
Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logit,
mô hình này có thể chỉ cho chúng ta thấy được các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất xảy ra nợ xấu đối với một khoản nợ nhất định và tiên đoán được xác suất đó Tuy nhiên, sử dụng mô hình nhị phân sẽ không phân tích được xác suất mà khoản nợ đó nằm trong một nhóm nợ là bao nhiêu và không chỉ ra được khi các yếu tố ngoại sinh thay đổi thì xác suất thay đổi nhóm nợ của khoản nợ đó là bao nhiêu Chẳng hạn, sử dụng mô hình logit, nếu một công ty có ROE là α% và tỷ suất sinh lợi trên doanh thu là β%, ta có thể tính ra được khả năng công ty đó xảy ra nợ xấu là 70% Tuy
Trang 9nhiên, con số 70% này không cho thấy được khoản nợ của công ty này sẽ có xu hướng nằm trong nhóm nợ nào và khi ROE hoặc tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thay đổi thì khoản nợ này sẽ có xu thế chuyển sang nhóm nợ nào nhiều hơn
Để giải quyết được những khuyết điểm của mô hình nhị phân khi nghiên cứu
về xác suất xảy ra nợ xấu tại một ngân hàng thương mại, tác giả đề xuất sử dụng mô hình ordered probit
II Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu thực hiện trong phạm vi Ngân hàng TMCP Á Châu trong khoảng thời gian 2011 – 2013
III Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp
IV Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTMCP Á Châu
- Đánh giá rủi ro tín dụng tại NHTMCP Á Châu dựa trên kết quả của nghiên cứu thực nghiệm
- Đưa các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu
V Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến xác xuất xảy ra rủi ro tín dụng của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Á Châu Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu sẽ đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
VI Câu hỏi nghiên cứu
Thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố được đưa ra với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng theo một mô hình xác định
Trang 10Bài nghiên cứu nhằm giúp trả lời câu hỏi:
- Yếu tố nào có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại NH TMCP Á Châu?
- Ngân hàng TMCP Á Châu nên làm gì để giảm thiểu rủi ro tín dụng?
- Câu hỏi nghiên cứu
VII Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thiết kế thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương
mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chương 3: Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Á Châu
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm rủi ro:
Mọi người đều phải thừa nhận rằng môi trường sống của chúng ta đầy rẫy những rủi ro Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi ngành, mọi lĩnh vực Rủi ro có thể xuất hiện một cách bất ngờ ở mọi lúc, mọi nơi Tùy theo cách tiếp cận, ta có những định nghĩa khác nhau về rủi ro Nhưng nhìn chung, có thể chia làm 2 quan điểm:
Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người cũng ngày càng nhiều và đa dạng, và xuất hiện những rủi ro mới, chưa từng
có trong quá khứ
Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác định xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là
sự bất trắc chứ hông phải rủi ro Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được
Rủi ro được xem như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào đó với trọng
số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn Do vậy, độ lệch chuẩn hay phương sai (bình phương độ lệch chuẩn) chính là thước đo của rủi ro
Trang 12Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời
cơ Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những
cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro
1.1.1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phải sinh ra từ hoạt động tín dụng của ngân hàng
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoạc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợ gốc hay lãi khi khoản nợ đến hạn
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, có thể kết luận: “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.”
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong Basel
Theo hiệp ước Basel II của Ủy Ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng, trong đó tách biệt rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng đồng thời lượng hóa 02 loại rủi
ro này Việc lượng hóa rủi ro tín dụng hay ước lượng mức độ tổn thất tín dụng dựa vào 04 nhân tố chính bao gồm (i) Xác suất không trả được nợ của khách hàng – PD,
Trang 13(ii) Tỷ lệ mất vốn dự kiến – LGD, (iii) Dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ – EAD và (iv) Thời hạn vay thực tế – EE Trong đó, xác suất không trả được nợ là yếu tổ đầu tiên và rất quan trọng để ngân hàng tiếp cận và ước lượng các nhân tố khác trong mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
Dựa trên kết quả xếp hạng nội bộ, các ngân hàng có thể sử dụng mô hình để ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng (Probability of Default) Đây chính là nhân tố đầu tiên và quan trọng cấu thành rủi ro tín dụng mà các ngân hàng phải có để xây dựng mô hình ước lượng mức vốn theo quy định
Với việc ước lượng mức độ tổn thất không dự tính được trong khoảng thời gian nhất định sẽ giúp ngân hàng xác định lượng vốn cần thiết để đối mặt với rủi ro Theo đó, các ngân hàng sẽ ước lượng mức vốn kinh tế để bù đắp mức độ tổn thất không dự tính được trên cơ sở lý thuyết phương pháp VaR (Value at Risk) và các tham số chính cấu thành rủi ro tín dụng như sau:
PD (Probability of Default): Xác suất khách hàng không trả được nợ trong
12 tháng tới
LGD (Loss Given Default): Tỷ lệ mất vốn dự kiến
EAD (Exposure of Default): Dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ
M (Maturity): Thời hạn
Đối với phương pháp cơ bản, ngân hàng chỉ ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng trên cơ sở thông tin nội bộ và phải được cơ quan quản lý ngân hàng phê duyệt Còn tỷ lệ mất vốn dự kiến (LGD) và thời hạn vay (M) sẽ do
cơ quan giám sát ngân hàng quy định Trong khi đó, đối với phương pháp cao cấp toàn bộ các tham số này sẽ do bản thân ngân hàng ước lượng và cũng phải được cơ quan giám sát ngân hàng phê duyệt chấp thuận trước khi đưa ra áp dụng
Phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ đưa ra khái niệm tổn thất mất vốn do khách hàng không trả được nợ (EL) Theo quy định của Basel II, tổn
Trang 14thất tín dụng của một danh mục tín dụng có thể phân chia thành 02 loại là (i) Khoản
tổn thất dự tính được – EL và (ii) Khoản tổn thất không dự tính được – UL Trong
đó, khái niệm EL ở đây là mức tổn thất trung bình dự tính được qua số liệu thống kê
trong quá khứ vì ngân hàng không biết chính xác 100% khách hàng nào là khách
hàng xấu và khoản vay nào không thể trả được trong 12 tháng tới Đối với mỗi
khoản vay hay mỗi khách hàng, khoản tổn thất dự tính – EL được sẽ xác định như
sau: EL=PD* LGD* EAD
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Hình 1.1 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là
do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách
hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ Trong đó:
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết
định cho vay
- Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức
đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài san đảm bảo
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro lựa
chọn Rủi ro bảo đảm nghiệp vụRủi ro
Rủi ro danh mục
Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung
Trang 15- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỉ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tính dụng mà nguyên nhân phát sinh
do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
- Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Các hình thức của rủi ro tín dụng:
Hình 1.2 Hình thức của rủi ron tính dụng
Rủi ro tín dụng
Nợ quá hạn phát sinh
Không thu đủ lãi
1.Lãi treo đóng băng
2 Miễn giảm lãi
Không thu đủ vốn (mất vốn)
1 Nợ không
có khả năng thu hồi
2 Xóa nợ
Trang 161.1.4 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Là loại rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối
với khách hàng
Khả năng xảy ra tổn thất khi người đi vay không trả được nợ, hoặc trả nợ
không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng
Tồn tại khách quan và gắn liền với các hoạt động của ngân hàng và là rủi ro
chủ yếu của rủi ro ngân hàng
1.1.5 Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là những khoản nợ không hoàn trả đúng hạn, không được phép
và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009),
về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận Theo Ngân hàng Nhà nước (2005, 2007), nợ xấu (Non Performing Loan -NPL) của tổ chức tín dụng là các khoản nợ thuộc các nhóm
3, 4 và 5 Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ, các khoản nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại Nợ quá hạn được phân loại theo thời gian, và được phân chia theo thời hạn thành các cấp độ quá hạn như sau:
Phân loại theo phương pháp định lượng (Xem phụ lục A)
Nhóm 1: Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
Nhóm 2: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Nhóm 3: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Nhóm 4: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Nhóm 5: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Trang 17Phân loại theo phuơng pháp định tính
Theo phương pháp này, nợ cũng được phân thành năm nhóm tương ứng như năm nhóm nợ theo cách phân loại nợ theo phương pháp định lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng được NHNN chấp thuận Các nhóm nợ bao gồm:
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất
cao
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là không còn
khả năng thu hồi, mất vốn
Tỷ lệ nợ quá hạn
Chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ nợ quá hạn là tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn X 100%)/Tổng dư nợ
Trong đó: Tổng dư nợ gồm
- Các khoản cho vay, ứng trước thấu chi và cho thuê tài chính
- Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá
- Các khoản bao thanh toán
- Các hình thức tín dụng khác
Trang 18Tỷ lệ nợ quá hạn<5% được coi là bình thường
Tỷ lệ nợ quá hạn từ 5% đến 10% được coi là không bình thường
Tỷ lệ nợ quá hạn từ trên 10% đến 15% được coi là cao
Tỷ lệ nợ quá hạn trên 15% đến 20% được coi là quá cao, báo động đỏ, nguy cơ khủng hoảng rất lớn
1.1.5.2 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn, nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng nặng nề đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, do đó cần được theo dõi quản lý thật chặt chẽ Nợ sấu bao gồm:
- Nợ quá hạn thuộc nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn
- Nợ quá hạn thuộc nhóm 4 - Nợ nghi ngờ
- Nợ quá hạn thuộc nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn
Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu so với tổng dư nợ ở thời điểm so sánh Tỷ lệ nợ xấu cho thấy mức độ nguy hiểm mà ngân hàng thương mại phải đối mặt, và do đó phải có biện pháp giải quyết, nếu không muốn ngân hàng của mình gặp tình huống nguy hiểm
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu/Tổng dư nợ
Theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam, theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN, tỷ lệ nợ xấu không được vượt quá 5%
Trang 191.1.5.3 Dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu đồng vốn huy động được sử dụng để cho vay đối với nền kinh tế Dư nợ trên vốn huy động còn gián tiếp phản ánh khả năng huy động vốn của ngân hàng Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ vốn huy động tham gia vào
dư nợ ít, khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa được tốt
Dư nợ trên vốn huy động = Dư nợ x 100%/Vốn huy động
1.1.5.4 Chỉ tiêu hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ cao cho thấy công tác thu nợ đang tiến triển tốt, rủi ro tín dụng thấp Chỉ tiêu này còn biểu hiện khả năng thu hồ nợ của ngân hàng từ việc khách hàng cho vay
Hệ số thu nợ = (Doanh số thu nợ x 100%)/Doanh số vay
1.1.5.5 Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ cho vay x 100%)/Tổng tài sản có
Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn, nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng khá cao
1.1.6 Hậu quả của rủi ro rín dụng
Đối với ngân hàng:
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi, thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào
Trang 20đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả là làm quy hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút,
uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu, có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ đưa đến bờ vực phá sản, nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng
Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín
Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản
Đối với nền kinh tế:
Hoạt động của ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức, lĩnh vực trong nền kinh tế, vì vậy khi một ngân hàng gặp khó khăn hay bị phá sản, người gửi tiền hoang mang, ồ ạt rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn
Ở mức độ thấp, rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế
Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân
Trang 21hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước
Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động doanh nghiệp do không có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu làm cho giá cả hàng hóa tăng, thất nghiệp, gây mất trật tự xã hội, kinh tế suy thoái Rủi ro tín dụng có thể gây nên khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đế kinh tế khu vực và thế giới
Như vậy, rủi ro tín dụng của một ngân hàng có thể xảy ra với nhiều mức độ khác nhau, nhẹ thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận do không thu hồi được lãi vay, nặng hơn ngân hàng không thu được vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao làm cho ngân hàng bị lỗ hoặc mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho ngân hàng bị phá sản, ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải thận trọng và có giải pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
tố ngành không bền vững dễ làm cho các khoản cấp tín dụng đối với nhóm đối tượng tập trung này trở thành nợ xấu dây chuyền
- Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, quy trình quản trị rủi ro chưa hữu hiệu, chưa chú trọng đến việc phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ Các các phân vùng địa lý khác nhau, việc áp dụng chính sách chưa nhất quán do thể chế làm việc, tác phong, năng lực nhân sự ở các vùng khác nhau
Trang 22- Rủi ro phát sinh từ việc thực hiện các thủ tục bảo đảm tiền vay, đi từ khâu thẩm định giá trị tài sản cho đến khâu ký kết hợp đồng hoặc kiểm soát tài sản đảm bảo Công tác định giá tài sản bị sai lệch hoặc bị cố tình làm cho sai lệch: vì áp lực chỉ tiêu mà ngân hàng định giá tài sản không phù hợp và cao hơn nhiều so với giá thị trường Do vậy, khi tình hình kinh tế xấu đi, nhiều tài sản giảm giá dẫn đến nguy
cơ mất vốn Quản lý tài sản không chặt chẽ, đặc biệt là động sản và hàng hoá, cũng dẫn đến thất thoát tài sản của ngân hàng
Nhân sự
Năng lực dự báo, phân tích, thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu nhất là đối với các ngành đòi hỏi chuyên môn cao Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay là đúng đắn nhưng thiếu kiểm tra, giám sát sau cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích mà ngân hàng không kịp thời ngân chặn Thiếu kiểm soát tín dụng hoặc thất bại trong quá trình giám sát tín dụng (kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay)
Rủi ro đạo đức
Ngoài ra, vấn đề phẩm chất của một số cán bộ tín dụng, sử dụng, đãi ngộ cán
bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng dẫn đến rủi ro tín dụng Ví dụ, cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay hoặc thiếu thông tin về khách hàng, thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời để xem xét trước khi cấp tín dụng
Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo taì chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều
Trang 23nơi ) từ đó phân tích được khả năng quản lý và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không
1.2.1.2 Các yếu tố từ phía khách hàng vay
Khả năng kinh doanh, quản trị
- Khả năng kinh doanh và điều hành yếu kém, không đưa ra các đối sách kịp thời và thích hợp trong giai đoạn mà nền kinh tế biến động phức tạp không ngừng Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
Rủi ro đạo đức
- Thiện chí trả trợ của khách hàng không cao, thiếu hợp tác trong việc cung cấp thông tin kịp thời để cùng ngân hàng bàn đối sách khi tình hình kinh doanh gặp khó khăn
- Một số đối tượng khách hàng cố tình lừa đảo, có hành vi vi phạm pháp luật
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh
cụ thể, khả thi, nếu không kiểm tra, phân tích xem xét có thể bị rủi ro Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản ngân hàng tuy không nhiều, nhưng không phải không có, thậm chí có những vụ việc phát sinh hết sức nặng nề và nghiêm trọng, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
Tình hình tài chính
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, cơ cấu tài chính thiếu cân đối là đặc điểm chung của hầu hết các doanh ngiệp Việt Nam Công tác quản lý tài chính kế toán còn tùy tiện, thiếu đồng bộ, mang tính đối phó, làm cho thông tin ngân hàng có được không chính xác, chỉ mang tính chất hình thức Do đó khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu
tính thực tế và sai lệch quá nhiều , rủi ro xảy ra là đương nhiên
Trang 24- Doanh nghiệp cùng lúc vay nhiều ngân hàng, làm cho việc theo dõi, quản lý trở nên phức tạp, khó theo dõi được dòng tiền, dẫn đến việc vốn vay chồng chéo và
mất khả năng thanh toán dây chuyền
1.2.2 Yếu tố vĩ mô
Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng thất thường ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng
Thứ nhất, thay đổi trong các chính sách điều hành chung của chính phủ, như chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ Các vấn đề về chính sách vĩ mô của chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung
và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng Trong một nền kinh tế, chính phủ ra đưa ra các chính sách tiền tệ và ngân hàng là đơn vị thực hiện các chính sách đó Tuy nhiên, những chính sách đó có thể có lợi cho ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trứ bắt buộc… nó làm thay đổi mọi kế hoạch của ngân hàng Khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc cho vay Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho ngân hàng là rất khó, và rủi ro tín dụng cao lên
Thứ hai, nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, khi hệ thống pháp luật
ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở
Trang 25thì hoạt động của ngân hàng cũng gặp nhiều rủi ro Mặt khác, khi mà các quy định
về quy trình trong hoạt động tín dụng không được quy định chặt chẽ và hợp lý Nó sẽ không chỉ gây khó khăn cho hoạt động tín dụng, mà còn tạo khả năng rủi ro xảy
ra Khi mà quy định hợp lý và chặt chẽ nó sẽ hạn chế được những trường hợp xấu trong hợp đồng tín dụng
Thứ tư, yếu tố chính trị và xã hội tác động tới hoạt động tín dụng của ngân hàng Chúng ta đã từng chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế của Thái Lan khi có đảo chính trong nội bộ chính phủ Khi mà tình hình chính trị bất ổn làm sáo trộn mọi vấn đề trong xã hội và cả các hoạt động tín dụng tại ngân hàng Tình trạng này làm cho các doanh nghiệp sản xuất bị gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, như vậy khả năng thanh toán cho ngân hàng là không thể Vì vậy rủi ro tín dụng khi
mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao, tuy nhiên nước ta là một nước có nền chính trị xã hội tương đối ổn định
Thứ năm, chu kỳ kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng Trong thời kỳ suy thoái, sản xuất vượt quá nhu cầu dẫn tới hàng tồn kho lớn, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp không phát triển được Hơn nữa nếu ngân hàng bỏ qua các nguyên tắc tín dụng thì lại càng làm giảm chất lượng tín dụng Ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu tín dụng tăng và rủi ro ít,
do đó chất lượng tín dụng cũng tăng Tuy nhiên trong thời kỳ này có những khoản vay vượt quá quy mô sản xuất cũng như khả năng quản lý của khách hàng nên những khoản vay này vẫn gặp rủi ro
Ngoài ra, còn có một số yếu tố bất khả kháng thuộc về môi trường tự nhiên Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất ), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản.Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Trang 261.3 Các bài nghiên cứu trước đây
Trên thế giới, các nước sử dụng nhiều hệ thống phân loại nợ khác nhau Ví
dụ như ở Anh, các ngân hàng thương mại không bị bắt buộc phải áp dụng một hệ thống phân loại cụ thể nào nhưng Ngân hàng trung ương đòi hỏi họ phải có một quy trình quản lỷ rủi ro tín dụng phù hợp và phải đánh giá các khoản vay thường xuyên
Ở Pháp, Ngân hàng trung ương quy định rõ ràng các thuộc tính của một khoản nợ bình thường và nợ xấu, sau đó, các ngân hàng thương mại dựa vào đó để xây dựng
hệ thống phân loại cho riêng mình Brazil áp dụng hệ thống phân loại nợ bao gồm 9 nhóm nợ trong khi ở Cộng hoà Séc, các khoản nợ được phân thành 5 nhóm dựa trên
số ngày quá hạn và việc đánh giá lại tình hình tài chính của khách hàng Tương tự như vậy, ở Trung Quốc và Singapore, các ngân hàng thương mại được định hướng phân loại các khoản cho vay của mình theo 5 nhóm Việc phân loại nợ không những giúp các ngân hàng xác định được các khoản nợ xấu, nợ quá hạn để chủ động trong việc quản lý rủi ro tín dụng mà còn cần thiết cho việc trích lập dự phòng rủi ro để
xử lý tổn thất do các khoản nợ xấu mang lại Ở Việt Nam, quyết định NHNN cũng hướng dẫn việc trích lập dự phòng cho các khoản nợ từ nhóm 2 trở đi,
493/2005/QĐ-có nghĩa là thời gian quá hạn của một khoản nợ càng dài, số tiền trích lập dự phòng cho khoản nợ đó càng tăng Số tiền trích lập dự phòng được hạch toán thẳng vào chi phí của Ngân hàng nên điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận hoạt động của ngân hàng đó một khi nợ xấu tăng cao Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu về các yếu
tố tác động lên việc phân loại nợ của các ngân hàng thương mại, sử dụng cả dữ liệu định lượng và định tính
Các nhà nghiên cứu tại Ngân hàng trung ương Slovenia đã thiết lập một mô hình rủi ro tín dụng, trong đó, Kavcic và cộng sự (2005) sử dụng dữ liệu về chất lượng tín dụng của các công ty tư nhân để xây dựng mô hình ordered probit với hiệu ứng ngẫu nhiên để tính toán được xác suất một khoản nợ sẽ được phân vào một nhóm nhất định là bao nhiêu Nghiên cứu này chú trọng vào đánh giá tác động của lãi suất khoản vay, thời hạn khoản vay và tỷ giá lên xác suất xảy ra nợ xấu Một
Trang 27công trình tương tự cũng được thực hiện bởi Hollos và Papp (2007) với bộ dữ liệu
về tài chính của hộ gia đình với các biến : thu nhập của hộ gia đình, tính chất các khoản nợ và các vấn đề trong việc hoàn trả lấy từ một cuộc khảo sát của Ngân hàng trung ương Hungary Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng xác suất phân loại các khoản nợ rất nhạy cảm với sự biến động của lãi suất Kết của nghiên cứu của họ cũng được Ngân hàng Magyar Nemzeti sử dụng để đánh giá tác động của biến số vĩ mô lên hệ thống ngân hàng Hungary
Ngoài ra, các nghiên cứu sau đây cũng chỉ ra được mối liên hệ giữa các biến định tính như thể chế, chính sách và trình độ quản lý nội bộ của ngân hàng lên xác suất phân loại nhóm nợ của các ngân hàng thương mại Oriana và cộng sự (1997) cho thấy ở các nước đang phát triển, sự can thiệp của chính phủ vào ngành tài chính
có tầm quan trọng hơn ảnh hưởng của lãi suất và cung tiền Bên cạnh đó, Honohan (1997) cũng nâng cao vai trò của quản trị vi mô đến hiệu quả của lĩnh vực ngân hàng Trong một nghiên cứu khác, Caprio và Klingerbiel (1996) xác định các yếu tố như: quản trị kém, giám sát và điều tiết yếu, sự can thiệp của chính phủ và quản trị doanh nghiệp không tốt là những nguyên nhân chính gây nên phá sản của 68 ngân hàng trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước Các nghiên cứu của Garber (1998)
và Mishkin (1999) chỉ ra rằng quản trị kém và việc đưa ra những quyết định cho vay không phù hợp đã dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Chile năm 1982-1983, Thổ Nhĩ
Kỳ năm 1994 và Mexico năm 1995
Trong một số nghiên cứu gần đây hơn, Emawtee Bissoondoyal-Bheenick & Sirimon Treepongkarun (2009) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến việc xếp hạng công ty sử dụng dữ liệu từ Moody’s and Fitch và Standard and Poor ở Anh và
Úc Nghiên cứu của họ cho thấy các yếu tố định lượng phản ánh chất lượng tài sản, rủi ro thanh khoản, số lượng vốn sẵn có và khả năng hoạt động có tầm ảnh hưởng lớn đến quyết định xếp hạng công ty hơn là các yếu tố vĩ mô và các yếu tố rủi ro của thị trường Bebczuk & Sangiácomo (2008) sử dụng mẫu nghiên cứu hơn 192.000 công ty từ năm 1988 – 2005 ở Ac-hen-ti-na đã cho thấy đồ thị biểu diễn nợ xấu và quy mô khác hàng vay đi theo một hình chữ U ngược và qua các mô hình định
Trang 28lượng các tác giả đã kết luận bên cạnh các yếu tố như tài sản bảo đảm, số tiền vay, loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đến xác suất xảy ra nợ xấu thì các mục đích vay khác nhau dẫn đến xác suất xảy ra nợ xấu hoàn toàn không giống nhau Trong nghiên cứu đó, Bebczuk & Sangiácomo (2008) chỉ ra xác suất nợ xấu sẽ cao hơn khi khoản cho vay đó là tín dụng thấu chi, ngược lại, xác suất này sẽ giảm đối với một khoản vay là chiết khấu chứng từ có giá và cho vay cá nhân Trong nghiên cứu
về vấn đề nợ xấu trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và tài chính ở miền Nam sa mạc Sahara những năm 1990, Fofack (2005), bằng các nghiên cứu thực nghiệm của mình đã chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa trong nợ xấu giữa các nước Châu Phi từng là thuộc địa của Pháp và các nước Châu Phi khác Ogden Jr., Rangan, & Stanley (1989) sử dụng mô hình hồi quy bậc 2 đối với các biến độc lập đưa đến kết quả thực nghiệm là các danh mục đầu tư được đa dạng hoá theo khu vực địa lý có rủi ro thấp hơn từ 50% đến 90% so với các danh mục không được đa dạng hoá Điều này chứng tỏ rằng ở các khu vực địa lý khác nhau, khả năng xảy ra rủi ro cũng khác nhau một các có ý nghĩa
Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về rủi ro tín dụng ở Việt Nam đã chỉ
ra được các yếu tố ảnh hưởng lên xác suất xảy ra rủi ro Phạm Phú Nhân (2011), bằng cách sử dụng phương pháp phân tích các nhân tố Explore Factor Analysis (EFA) và kiểm định Cronbach Alpha, tác giả tổng hợp các nhân tố chính và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng rủi ro tín dụng tại các NHTM gồm có 5 nhân tố chính: áp lực chỉ tiêu; quy định quản lý tài sản tại địa phương; khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soát thiếu chặt chẽ; ảnh hưởng môi trường kinh tế vĩ mô; chính sách cho vay thiếu khoa học Trong một nghiên cứu khác, Lương Thị Kim Thuận (2011) đã chỉ ra được các yếu tố tác động đến xác xuất xảy ra rủi ro tín dụng tại Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam bao gồm: Chỉ số thanh toán nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và số tiền vay trên tổng giá trị tài sản đảm bảo Mai Thuỳ Dung (2011), qua nghiên cứu về rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã
Trang 29chỉ ra rằng các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đến từ phía khách hàng, ngân hàng và cả môi trường kinh tế
Ưu điểm của các bài nghiên cứu ở Việt Nam là đã xây dựng được mô hình định lượng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logit, mô hình này có thể chỉ cho chúng ta thấy được các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất xảy ra nợ xấu đối với một khoản nợ nhất định và tiên đoán được xác suất đó Tuy nhiên, sử dụng mô hình nhị phân sẽ không phân tích được xác suất mà khoản nợ đó nằm trong một nhóm nợ là bao nhiêu và không chỉ ra được khi các yếu tố ngoại sinh thay đổi thì xác suất thay đổi nhóm nợ của khoản nợ đó là bao nhiêu Chẳng hạn, sử dụng mô hình logit, nếu một công ty có ROE là α% và tỷ suất sinh lợi trên doanh thu là β%, ta có thể tính ra được khả năng công ty đó xảy ra nợ xấu là 70% Tuy nhiên, con số 70% này không cho thấy được khoản nợ của công ty này sẽ có xu hướng nằm trong nhóm nợ nào và khi ROE hoặc tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thay đổi thì khoản nợ này sẽ có xu thế chuyển sang nhóm nợ nào nhiều hơn
Để giải quyết được những khuyết điểm của mô hình nhị phân khi nghiên cứu
về xác suất xảy ra nợ xấu tại một ngân hàng thương mại, tác giả đề xuất sử dụng mô hình ordered probit
1.4 Mô hình nghiên cứu
Theo Basel II, việc lượng hóa rủi ro tín dụng hay ước lượng mức độ tổn thất tín dụng dựa vào 04 nhân tố chính bao gồm (i) Xác suất không trả được nợ của khách hàng – PD, (ii) Tỷ lệ mất vốn dự kiến – LGD, (iii) Dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ – EAD và (iv) Thời hạn vay thực tế – EE Trong đó, xác suất không trả được nợ là yếu tổ đầu tiên và rất quan trọng để ngân hàng tiếp cận và ước lượng các nhân tố khác trong mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng Nghiên cứu đề xuất sử dụng mô hình ordered probit do biến được hồi quy là nhóm nợ của một khoản vay phân loại dựa theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHN Như vậy, biến phụ thuộc sẽ nhận các giá trị:
Trang 301 nếu khoản nợ thuộc nhóm 1
2 nếu khoản nợ thuộc nhóm 2
3 nếu khoản nợ thuộc nhóm 3
4 nếu khoản nợ thuộc nhóm 4
5 nếu khoản nợ thuộc nhóm 5
Như vậy, nếu một khoản nợ thuộc nợ nhóm 1, xác suất không trả được nợ của nhóm nợ đó là thấp nhất Khi khoản nợ nằm ở các nhóm nợ tiếp theo, xác suất không trả được nợ tăng dần, xác suất không trả được nợ của nợ nhóm 5 là cao nhất Điều này đồng nghĩa với rủi ro tín dụng của nợ nhóm 1 là thấp nhất và rủi ro tín dụng đối với nợ nhóm 5 là cao nhất
Các biến độc lập được đưa vào trong mô hình để nghiên cứu dựa trên cơ sở các nghiên cứu đã được thực hiện Do hạn chế về mặt thu thập dữ liệu, nghiên cứu đưa một số biến đại diện cho các yếu tố vi mô Cách thu thập dữ liệu của nghiên cứu này là dữ liệu chéo, do vậy, việc đưa các biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, cung tiền… không phù hợp
dự kiến
thuộc DUREE Biến định
lượng
Số tháng phát vay +
TXI Biến định
lượng
Lãi suất của khoản vay +
OBJ Biến định tinh Mục đích khoản vay ( Cho vay vốn
lưu động, cho vay đầu tư dự án, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu)
N/A
VIL Biến định tính Khoản vay đó được giải ngân tại
vùng nào (Bắc, Trung, Nam)
N/A
TAI Biến định tính Quy mô doanh nghiệp có khoản vay
đó (DN lớn, DN vừa và nhỏ, DN khác)
N/A
𝑌𝑖 =
Trang 31Lãi suất cho vay là một trong những yếu tố kinh tế quyết định chính của các khoản nợ xấu Có bằng chứng thực nghiệm của mối tương quan giữa lãi suất và nợ xấu (Nkusu 2011; Adebola, Yusoff, & Dahalan, 2011; Louzis, Vouldis và Metaxas, 2011; Berge và Boye, 2007) Sự gia tăng lãi suất làm suy yếu khả năng thanh toán khoản vay của khách hàng vay do nợ xấu và nợ xấu đang tích cực tương quan với lãi suất (Nkusu, 2011) Theo đó lãi suất là có liên quan đóng vai trò rất quan trọng trong tốc độ tăng trưởng nợ xấu ở một đất nước / nền kinh tế Hoque và Hossain (2008) đã kiểm tra vấn đề này và theo họ nợ xấu liên quan chặt chẽ với lãi suất cao làm tăng cường gánh nặng nợ của khách hàng vay Espinoza và Prasad (2010) đã kiểm tra các yếu tố quyết định kinh tế vĩ mô của nợ xấu trong hệ thống ngân hàng ,theo họ lãi suất cao làm tăng giá trị mặc định cho khoản vay nhưng họ không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê Bloem và Gorter (2001) đã nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề nợ xấu, theo họ thay đổi thường xuyên trong chính sách lãi suất làm tăng các khoản nợ xấu Asari và cộng sự (2011) cũng cho thấy mối quan hệ đáng kể giữa giá trị mặc định của khoản vay và lãi suất, họ cũng thấy sự gia tăng trong giá trị mặc định cho vay cũng gây ăn mòn tài sản của các ngân hàng và xói mòn sau đó vốn Theo Dash và Kabra (2010) với các ngân hàng chính sách cho vay với lãi suất cao chịu nợ xấu lớn hơn Collins và Wanjau (2011) cũng cho thấy lãi suất là một yếu tố chính thúc đẩy nợ xấu
Keeton và Morris (1987) đã tiến hành một nghiên cứu ở Mỹ để xác định các yếu tố đang gây ra nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng của nước này bằng cách lấy dữ liệu 1979-85 và theo họ hiệu suất kém của lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng cùng với bối cảnh kinh tế / các điều kiện nghèo là những yếu tố chính gây ra nợ xấu
Kalirai và Scheicher (2002) được tìm thấy lãi suất cho vay, sản xuất của ngành công nghiệp, trở lại thị trường chứng khoán và chỉ số niềm tin kinh doanh là những yếu tố để xác định mức độ chất lượng cho vay tại Úc trong khi tiến hành một nghiên cứu lấy dữ liệu từ giai đoạn 1990-2001
Trang 32(Guida & Maggi, 2009) chỉ trích các nghiên cứu trước vì không đưa phân vùng địa lý vào để nghiên cưú các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu (Guida & Maggi, 2009) nghiên cứu tính co dãn của chi phí đến nợ vay ở các vùng khác nhau của Italie và đưa ra hàm ý chính sách cho ngân hàng trung ương để giúp các chi nhánh ngân hàng ở các vùng khác nhau cungf đạt được mục đích kiểm soát nợ xấu Nghiên cứu này chỉ ra vai trò đặc biệt của các khía cạnh địa lý được tìm thấy có liên quan đến việc chuyển đổi và chức năng dự toán chi phí nợ xấu Điều này cho phép cân nhắc hiệu quả của việc quản lý chi phí
Dựa trên dữ liệu hàng năm từ 1998-2005 từ văn phòng tín dụng (Central de Deudores) do Ngân hàng Trung ương quản lý, (Bebczuk & Sangiácomo, 2008) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của khoản cho vay thương mại (chia theo quy mô khách hàng vay và cơ cấu sở hữu của ngân hàng) để xác định các yếu
tố kinh tế, vĩ mô và các yếu tố kinh tế vi mô ảnh hưởng đến chất lượng danh mục đầu tư cho vay Mẫu bao gồm hơn 192.000 doanh nghiệp
Kết quả chính như sau: (1) Không thể hiện một mối tương quan cao với chu
kỳ kinh doanh, mặc dù tương quan này suy yếu tạm thời trong cuộc khủng hoảng 2002-2003; (2) Mặc dù tỷ trọng nợ xấu đã trở lại mức trước khủng hoảng, tỷ lệ của khách hàng không có khả năng trả nợ vẫn tăng cao Trong năm 2005, khoảng 1 trên
3 khách hàng vay phải đối mặt với vấn đề trả nợ Con số này là 1 trên 5 vào năm
1999, với tối đa là 1 trên 2 năm 2003; (3) Về quy mô của khách hàng vay, nợ xấu dường như theo một hình chữ U ngược, với các giá trị cao hơn xung quanh các khoản vay của khác hàng quy mô trung bình; (4) Khách hàng vay trong năm 2000
và 2001 đã thể hiện một danh mục đầu tư chất lượng tốt hơn so với người đi vay khác, dẫn đến bác bỏ giả thuyết của rủi ro đạo đức liên quan đến sự mong đợi của các gói cứu trợ của chính phủ; (5) Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng công tăng gấp đôi với các ngân hàng tư nhân và nước ngoài trung bình cho 1999-2005 Đáng chú
ý, tuy nhiên, từ năm 2002 các ngân hàng nước ngoài có tỷ lệ khách hàng vay không thực hiện trả nợ cao hơn so với các ngân hàng công, và cả hai đều trên các ngân hàng tư nhân
Trang 33Các biến số khác nhau được sử dụng để ước tính khả năng không trả được
nợ Tập hợp các biến giải thích trong nghiên cứu này bao gồm: (a) Tổng số nợ với
hệ thống ngân hàng; (b) Mức độ tài sản thế chấp trên tổng số nợ; (c) Số lượng các ngân hàng cho vay đối với khách hàng vay; (d) Các loại tín dụng (phân biệt trong trường hợp tín dụng ngắn hạn và dài hạn); (e) cơ cấu sở hữu Ngân hàng (tư nhân, nhà nước, và nước ngoài); (f) lĩnh vực hoạt động của khác hàng vay; và (g) Biến giả thể hiện năm
Để nghiên cứu được xác suất các khoản nợ nằm trong nhóm nợ nào và để biết được xu hướng chuyển nhóm của khoản nợ đó khi các yếu tố tác động thay đổi, tác giả sử dụng mô hình hồi quy ordered probit có dạng như sau:
Y i*=y1DUREE i+y2TXI i+ aj OBJ ji
Trang 35rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.”
Rủi ro tín dụng của một ngân hàng có thể xảy ra với nhiều mức độ khác nhau, nhẹ thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận do không thu hồi được lãi vay, nặng hơn ngân hàng không thu được vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao làm cho ngân hàng
bị lỗ hoặc mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho ngân hàng bị phá sản, ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải thận trọng và có giải pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
Bên cạnh đó, chương 1 còn tóm tắt lại các nghiên cứu trên thế giới có liên quan và đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á
Cũng trong giai đoạn này, tiền gửi tiết kiệm chiếm trên 50% tổng vốn huy động của ACB, thấp nhất vào năm 2011 là 50% và cao nhất là vào năm 2013 chiếm 75% tổng vốn huy động Bên cạnh đó các hình thức huy động tiền gửi khác cũng được ngân hàng khai thác tuy nhiên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng vốn huy động
Để đa dạng hóa các kênh huy động vốn trong giai đoạn 2006-2013, ACB đã phát hành trái phiếu và các tín chỉ tiền gửi để huy động vốn từ nền kinh phục vụ cho các dự án đầu tư dài hạn của Ngân hàng Kênh huy động này được ngân hàng khai thác triệt để vào giai đoạn 2006-2011, năm 2011-2012 là 2 năm hình thức huy động
Trang 37này chiểm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng với hơn
26%
( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB các năm 2006 đến 2013 Đơn vị: tỷ
đồng)
Hình 2.1 Tình hình huy động vốn của ACB từ 2006 - 2013
Sử dụng vốn là khâu mấu chốt quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng Do vậy sử dụng vốn quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng Cùng với
sự phát triển của nền kình kinh tế trong những năm qua, hoạt động tín dụng của
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi 5,861 11,688 16,755 26,582 38,234 50,708 18,501 3,000
Tiền gửi ký quỹ 638 1,000 4,297 2,561 2,420 6,528 1,069 1,173 Tiền gửi tiết kiệm 22,438 39,892 49,119 66,054 85,491 97,580 104,596 106,697 Tiền gửi có kỳ hạn 1,870 4,213 3,598 7,779 8,550 23,305 7,421 12,302 Tiền gửi không kỳ hạn 4,283 10,121 7,157 10,355 10,391 14,688 13,450 17,972
0 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000
Tình hình huy động vốn của ACB 2006-2013
Trang 38ngân hàng ACB nói chung đã đáp ứng tương đối tốt nhu cầu của khách hàng Trên
cơ sở nguồn vốn huy động, hoạt động cho vay và đầu tư liên tục được phát triển
Vốn huy động/TTS (%) 88.99 87.76 86.58 80.18 89.29 83.45 90.47 90.63
Tổng dư nợ/TTS (%) 42.82 42.45 38.21 46.37 47.61 43.84 64.46 70.99
( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB các năm 2006 đến 2013)
Bảng 2.1 Vốn huy động và tổng dư nợ ACB từ 2006 -2013
Trong năm 2012, mặc dù Ngân hàng trải qua nhiều biến động bởi những khó khăn của khủng hoảng kinh tế và nội tại ACB, tuy nhiên Ngân hàng vẫn duy trì được đà tăng khi tỷ lệ vốn huy động/tổng tài sản là 90.47% và duy trì cho đến hết năm 2013 Có thể thấy tốc độ tăng của tổng vốn huy động gần bằng tốc độ tăng của tổng tài sản tuy nhiên tốc độ tăng của tổng dư nợ có phần tăng mạnh hơn Cụ thể tỷ
lệ tổng dư nợ/tổng tài sản vao năm 2006 là 42% nhưng vào năm 2013 tỷ lệ này đạt tới 71% Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của doan nghiệp ngày càng tăng dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng ngày càng được cải thiện Nhưng tỷ lệ này quá cao sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh khoản khi cần Do đó để duy trì được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cũng như đáp ứng khả năng thanh toán của ngân hàng đòi hỏi phải duy trì tỷ lệ này ở mức phù hợp nhất
2.1.1.2 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian
Nếu phân tích theo thời hạn cho vay thì tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn của ACB là khá cao Trong giai đoạn 2006-2013 dư nợ tín dụng ngắn hạn không có nhiều biến động lớn và luôn duy trì ở mức trên 45%, cao nhất ở năm 2009 là 57,12% và thấp nhất là năm 2008 với 45.77% Bởi vì về khía cạnh thời hạn thì những món vay có thời hạn càng dài thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro Cho nên ngân hàng luôn có xu hướng dịch chuyển tăng tỷ trọng nợ vay ngắn hạn để mau thu hồi, quay vòng vốn nhanh đặc biệt là trong điều kiện kinh tế phát triển nhanh, có nhiều biến động và cạnh tranh như hiện nay
Trang 39( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB các năm 2006 đến 2013)
2.1.1.3 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế (%)
Cơ cấu dư nợ nếu phân loại theo thành phần kinh tế thì đến hết năm 2013 cho thấy: chiếm tỷ lệ cao nhất là khách hàng thể nhân, chiếm 42,49%, kế đến là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chiếm 55,1% và phần còn lại là 2,5% dư nợ cho vay các doanh nghiệp Nhà nước Danh mục cho vay theo nhóm khách hàng của Ngân hàng tiếp tục thay đổi tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước, tăng dần tỷ trọng cho vay đối với thành phần kinh
tế phi Nhà nước nhằm hỗ trợ mạnh nhu cầu về vốn cho sự phát triển Khách hàng của ngân hàng mở rộng và phát triển đến mọi thành phần kinh tế Với chính sách hợp lý, Ngân hàng đã và đang xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng đa dạng, đông đảo, vững mạnh và gắn bó với ngân hàng
Trang 40( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB các năm 2006 đến 2013)
Hình 2.2 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế (%) 2.1.1.4 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành nghề kinh doanh
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy ACB chủ yếu cho vay dịch vụ cá nhân và cộng đồng Những năm vừa qua, theo xu hướng chung các ngân hàng đều hướng tới phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân là chính như: cho vay mua nhà, mua
đồ dùng gia dụng, sửa chữa du lịch…Trong những năm gần đây cùng với sự đi xuống của thị trường bất động sản kết hợp với nhu cầu tiêu của dân cư là rất cao nên