Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.
Trang 1PHẠM THỊ TRỊNH
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ
THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1986
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2021
Trang 2PHẠM THỊ TRỊNH
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ
THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1986
Mã số: 9220121 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS LƯU KHÁNH THƠ
2 TS LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2021
Trang 3trọng gửi lời cảm ơn tới:
PGS.TS Lưu Khánh Thơ và TS Lê Thị Hồ Quang đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu trong suốt qúa trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu
Trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ngành Ngữ văn - Viện Sư phạm xã hội cùng các thầy cô tham gia giảng dạy nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Khóa 2016 - 2020
Sở Giáo dục Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Giáo dục Đào tạo quận Tân Bình, Hiệu trưởng, quý thầy cô giáo trường THCS Âu Lạc, quận Tân Bình đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ để tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và luận án
Nghệ An, tháng 5 năm 2021
Tác giả luận án
Phạm Thị Trịnh
Trang 4hướng dẫn của PGS.TS Lưu Khánh Thơ và TS Lê Thị Hồ Quang Việc giải quyết các vấn đề đặt ra cũng như các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
án là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nghệ An, tháng 5 năm 2021
Tác giả luận án
Phạm Thị Trịnh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 6
6 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài 7
1.1.1 Giới thuyết khái niệm 7
1.1.2 Tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới 14
1.1.3 Một số lý thuyết hữu quan 20
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 29
1.2.1 Những nghiên cứu trong nước 29
1.2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài 43
Tiểu kết Chương 1 46
Chương 2 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI 47
2.1 Bối cảnh lịch sử, văn học Việt Nam sau 1986 47
2.1.1 Về bối cảnh lịch sử 47
2.1.2 Về bối cảnh văn học 49
2.2 Sự tiếp nối và song hành của các thế hệ nhà thơ sau 1986 54
2.2.1 Thế hệ chống Pháp, chống Mỹ 54
2.2.2 Thế hệ Đổi mới 57
2.2.3 Thế hệ tiếp nối Đổi mới 61
2.3 Một số nhà thơ tiêu biểu của thế hệ Đổi mới 63
2.3.1 Dư Thị Hoàn 63
Trang 62.3.4 Nguyễn Quang Thiều 66
2.3.5 Mai Văn Phấn 67
2.3.6 Nguyễn Bình Phương 68
2.3.7 Inrasara 68
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM VỀ SÁNG TẠOVÀ BẢN CHẤT CÁI TÔI TRỮ TÌNH 71
3.1 Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo 71
3.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng quan niệm mới về sáng tạo 71
3.1.2 Sự thay đổi trong quan niệm về thơ và nhà thơ của thế hệ Đổi mới 72
3.1.3 Thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới - từ quan niệm đến sáng tác 90
3.2 Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về bản chất cái tôi trữ tình 92
3.2.1 Tầm quan trọng của việc ý thức về bản chất cái tôi trữ tình 92
3.2.2 Sự thay đổi trong quan niệm về cái tôi trữ tình của nhà thơ thế hệ Đổi mới 95
3.2.3 Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ thế hệ Đổi mới 97
Tiểu kết Chương 3 112
Chương 4 ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NGÔN NGỮ 114
4.1 Những tìm tòi, đổi mới về mặt thể loại 114
4.1.1 Những tìm tòi đa dạng trong hình thức thể loại 114
4.1.2 Thơ tự do 116
4.1.3 Thơ văn xuôi 119
4.2 Những tìm tòi, cách tân về mặt kết cấu 122
4.2.1 Kết cấu mở - kiểu kết cấu phổ biến trong thơ hiện đại 122
4.2.2 Đặc điểm của kết cấu mở trong thơ thế hệ Đổi mới 124
4.3 Những tìm tòi, đổi mới trong ngôn ngữ 136
Trang 7Tiểu kết Chương 4 146 KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử văn học là một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của nhiều thế hệ tác giả Đó cũng là quá trình vận động theo quy luật kế thừa, nối tiếp, cách tân hệ hình thẩm mĩ giữa các thế hệ Mỗi thời kì lịch sử văn học thường có một thế hệ đóng vai trò chủ lực trong việc kiến tạo nên diện mạo và hệ giá trị riêng của thời kì văn học ấy, biểu hiện và thông qua nhiều mối quan hệ: giữa nhà văn
và hiện thực đời sống được phản ánh; giữa tác giả và tác phẩm; giữa tác phẩm
và độc giả… Đó là lớp người cầm bút được kết nối với nhau bởi hệ giá trị chung của thời đại mà họ vừa là kẻ sản sinh, kiến tạo, vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó Nghiên cứu lịch sử văn học từ góc độ thế hệ tác giả, do đó, là một hướng nghiên cứu triển vọng, giúp việc phân định, đánh giá các thời kì lịch sử văn học được chính xác, khách quan, khoa học
1.2 Sau 1986, cùng với chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, những thay đổi to lớn trong bối cảnh văn hóa, chính trị của thế giới và đất nước đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn học, đòi hỏi và thúc đẩy văn nghệ sĩ phải đổi mới tư duy, quan niệm và lối viết Đây là lí do tạo nên những thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện của văn học Việt Nam từ sau 1986 đến nay Văn học Việt Nam giai đoạn này có một lực lượng tác giả đông đảo, bao gồm nhiều thế hệ tiếp nối, song hành, trong đó, nổi bật là lớp tác giả thuộc thế hệ Đổi mới, với nhiều cá tính sáng tạo độc đáo Trong sáng tác của họ, người ta nhận thấy nỗ lực mạnh mẽ nhằm vượt thoát tư tưởng, mô hình phản ánh giáo điều, cứng nhắc và ý thức khẳng định bản sắc sáng tạo cá nhân một cách quyết liệt Đó là những giá trị thẩm mĩ - nhân sinh rất đáng chú ý Cùng với các thế hệ trước và sau đó, các tác giả thế hệ Đổi mới đã có những đóng góp hết sức ý nghĩa trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Trong giai đoạn Đổi mới, thơ Việt Nam đạt được những thành tựu
Trang 9rất đáng chú ý, xét về số lượng, chất lượng tác phẩm, chất lượng đội ngũ, sức ảnh hưởng, tác động tới đời sống văn học… Nhắc đến các tác giả thơ thế hệ Đổi mới là nhắc đến khá nhiều tên tuổi nổi bật và gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả Tác phẩm của họ thể hiện một quan điểm mĩ học mới, rất khác so với quan điểm mĩ học truyền thống Không chỉ dừng lại ở những tìm tòi kĩ thuật có tính manh mún, riêng lẻ, chủ đích của họ hướng tới việc hình thành một hệ hình
tư duy thơ, một “loại hình” thơ hiện đại Những thay đổi trong quan điểm mĩ học và thi pháp thể hiện của họ có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới lớp tác giả kế tiếp Trên thực tế, sáng tác của các tác giả thế hệ Đổi mới cũng đã góp phần tác động, làm thay đổi, mở rộng cách tiếp nhận thơ của người đọc và từ
đó, góp phần hình thành một lớp độc giả tương ứng với loại hình sáng tác hiện đại Dĩ nhiên, với những cách tân, đổi mới ráo riết trong quan điểm và thi pháp, sáng tác của họ cũng đã gây ra những ý kiến tiếp nhận trái chiều gay gắt và không phải lúc nào thơ của các tác giả này cũng nhận được sự ủng hộ Nhưng chính sự tiếp nhận đa chiều này cho thấy sáng tác của thế hệ Đổi mới đã và đang hiện diện như một hiện tượng cần được lưu tâm nghiên cứu, lí giải, đánh giá một cách kĩ lưỡng và khách quan, thỏa đáng hơn
1.4 Hiện tại, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đang
có những thay đổi hết sức căn bản Mục tiêu phát triển năng lực người học và
tính mở là những đặc điểm nổi bật của chương trình này Điều này buộc người
dạy, người học phải hết sức chủ động trong việc mở rộng diện đọc, đánh giá,
lý giải các hiện tượng văn học hiện đại, trong đó có thơ Việt Nam sau 1986 Đây cũng là một lí do khiến tác giả luận án, vốn là giáo viên Ngữ văn ở phổ thông, lựa chọn vấn đề nghiên cứu này Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu
về đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới được vận dụng hiệu quả vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn theo định hướng giáo dục mới của chương trình
1.5 Có thể nói, sáng tạo thơ của thế hệ nhà thơ Đổi mới đã làm phong phú thêm đời sống thi ca Việt Nam đương đại, góp phần đưa thơ ca và tiếng
Trang 10Việt hội nhập vào xu thế phát triển chung của nhân loại Theo chúng tôi, việc tìm hiểu những đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại là rất cần thiết Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, vị trí và đóng góp của thế hệ tác giả này
Đó là những lý do cơ bản thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài Đóng góp
của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986, cụ thể là những tìm tòi, đổi mới trong tư duy, quan niệm và thi pháp
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là những đóng góp nghệ thuật thể hiện qua/ trong tác phẩm của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, đặc biệt tập trung khảo sát sáng tác của các tác giả Dư Thị Hoàn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara Ngoài ra, luận án cũng mở rộng phạm vi khảo sát về các hiện tượng thơ Việt Nam hiện đại khác khi cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, cụ thể trên các phương diện như tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ, hệ thống thi pháp…; trên cơ sở đó, nhận ra những đặc điểm mang tính quy luật trong tiến trình vận động, cách tân của thơ Việt Nam hiện đại và có sự lý giải, đánh giá khách quan, thỏa đáng về vai trò, vị trí
và đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề, cụ thể là những
Trang 11nghiên cứu trong nước và ngoài nước về những đóng góp của các nhà thơ thế
hệ Đổi mới
- Xác định các khái niệm công cụ (tác giả, thế hệ tác giả/ nhà thơ, nhà thơ thế hệ Đổi mới) và phân tích bối cảnh xuất hiện của nhà thơ thế hệ Đổi mới sau 1986;
- Phân tích, đánh giá đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình;
- Phân tích, lí giải đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trên phương diện thể loại, kết cấu, ngôn ngữ…
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp loại hình
Phương pháp loại hình là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách phân chia chúng thành các “loại”, “kiểu” để nhận diện cấu trúc và những quy luật vận động, phát triển của chúng Trong luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân loại và xác định những đặc điểm chung nhất, tạo nên tính chất “loại hình” của các tác giả thơ thuộc thế hệ Đổi mới Nó cũng được sử dụng để đối chiếu, so sánh nét khác biệt và những điểm đặc thù giữa thế hệ Đổi mới với các thế hệ thơ khác Bằng phương pháp này, tác giả luận án sẽ phân loại và xem xét, đánh giá cụ thể, khách quan hơn đối với các loại hình tác giả, tác phẩm
4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Phương pháp cấu trúc - hệ thống là phương pháp nghiên cứu đối tượng trong tư cách một cấu trúc chỉnh thể, chặt chẽ, bao gồm nhiều yếu tố tạo thành Xuất phát từ quan niệm về thơ nói chung, sáng tác thơ của thế hệ Đổi mới nói riêng, là những cấu trúc chỉnh thể, hệ thống, trong luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cấu trúc - hệ thống để phân tích, lý giải mối quan hệ cũng như các yếu tố hợp thành cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật này Trên cơ sở
đó, nhận ra đặc điểm và ý nghĩa, giá trị của các phương diện riêng lẻ và đồng
Trang 12thời, cả toàn bộ hệ thống cấu trúc của nó Tiếp cận từng tác giả, tác phẩm, chúng tôi cũng quan tâm đến tính chỉnh thể cấu trúc của chúng
4.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Đây là phương pháp nghiên cứu văn học bằng cách đặt các hiện tượng văn học trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa…, trên bối cảnh lịch sử sinh thành cụ thể đó để lý giải, đánh giá Nghiên cứu lịch sử của văn học còn có nghĩa là nghiên cứu quá trình hình thành, phát sinh, phát triển của nó, trên cơ sở đó, nhận ra đặc điểm và quy luật vận động nội tại của hiện tượng đó Bám sát các điều kiện về lịch sử - văn hóa đã chi phối đến những biến đổi, vận động của văn học, tác giả luận án cố gắng làm rõ mối quan hệ qua lại và những tác động của bối cảnh xã hội - lịch sử tương ứng đã tạo nên nét khác biệt của thế hệ Đổi mới so với các thế hệ khác trong tiến trình lịch sử của nền thơ Việt Nam
4.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Đây là phương pháp nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp học Luận án
đã vận dụng phương pháp này nhằm đi sâu phân tích những đặc trưng thi pháp trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, cụ thể trên các phương diện quan niệm sáng tạo, hình tượng cái tôi, kết cấu, ngôn ngữ, bút pháp… Phương pháp này cũng giúp tác giả luận án nghiên cứu, tìm hiểu sự tác động, chi phối của quan niệm sáng tạo tới cách thể hiện trong hình thức thơ của thế hệ Đổi mới
4.5 Nhóm thao tác nghiên cứu phân tích - tổng hợp, thống kê - phân loại, so sánh
Đây là nhóm thao tác nghiên cứu giúp tác giả luận án phân tích những điều kiện về bối cảnh lịch sử, các tiền đề văn hóa với những ưu điểm và nhược điểm của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng, tác động, tạo nên đặc điểm quan niệm, cảm hứng và thi pháp trong sáng tác của thế hệ nhà thơ Đổi mới; thống
kê số lượng tác giả, tác phẩm, tần số lặp lại của một số yếu tố, chi tiết nghệ thuật cần thiết; so sánh, đối chiếu giữa các hiện tượng tác giả, tác phẩm trong
Trang 13thơ của thế hệ Đổi mới, giữa sáng tác của thế hệ Đổi mới so với thế hệ trước và sau đó…
5 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tương đối bao quát, hệ thống
về đặc điểm và đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau
1986 trên phương diện hệ hình tư duy, quan niệm sáng tạo và nghệ thuật thể hiện Trên cơ sở xác định những khái niệm công cụ và phương pháp luận nghiên cứu, phân tích, luận giải về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu, luận án góp phần định vị và đánh giá một cách khách quan, thỏa đáng về vai trò và đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận án sẽ được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Bối cảnh xuất hiện của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
Chương 3: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm
về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình
Chương 4: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trên phương diện thể loại, kết cấu, ngôn ngữ
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1.1 Tác giả
Tác giả (tiếng Anh: author; tiếng Pháp: auteur) là khái niệm đã được bàn
đến trong khá nhiều công trình, tài liệu khoa học Hiểu theo nghĩa rộng, tác giả
là người sản xuất ra các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, bao gồm nhiều lĩnh vực như khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật Hiểu theo nghĩa hẹp, khái niệm tác giả thường được đồng nhất với khái niệm tác giả văn học, là người sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ “Tác giả”, cùng với “tác phẩm”, “thể loại”,
“thời kỳ văn học” là những khái niệm then chốt trong phê bình, nghiên cứu lịch
sử văn học
Nói đến tác giả, trước hết là nói đến tư cách người sinh thành, sáng tạo
ra tác phẩm Dấu ấn cá tính của tác giả thể hiện đậm nét trong tác phẩm Chẳng vậy mà ở phương Đông, từ thế kỉ VII, người ta đã khẳng định “văn như kì nhân” (văn như con người viết ra nó) Còn ở phương Tây, ở thế kỉ XVIII, Buffon từng
khẳng định, “phong cách ấy là con người” (dẫn theo [165, 203])
Tuy nhiên, nói đến tác giả còn nói đến tư cách người sáng tạo, người tạo tác ra những giá trị mới, về mặt thẩm mĩ, nghệ thuật Nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, trong Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định:
“Nhìn bề ngoài, tác giả là người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất, tác giả văn học là người làm ra cái mới,
người sáng tạo ra các giá trị văn học mới” [43, 194] Lại Nguyên Ân, trong 150
thuật ngữ văn học, cũng nhấn mạnh, bằng sự sáng tạo cá nhân, bằng bản sắc
riêng, tác giả “là một đơn vị, một điểm tính, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, một gương mặt không thể thay thế, tạo nên diện mạo chung một thời
Trang 15kỳ hoặc một thời đại văn học” Bởi vậy, “trong nghiên cứu văn học sử cụ thể, chẳng những có thể nghiên cứu riêng về từng tác giả văn học mà còn có thể đề xuất phạm trù loại hình tác giả” [6, 295]
Từ góc nhìn của thi pháp học lí thuyết, Trần Đình Sử, trong Dẫn luận thi
pháp học (2017), nói rõ thêm: “Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình
thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới cảm đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật Do vậy, hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại” [165, 206-207] Nhà nghiên cứu cũng phân biệt các khái niệm: tác giả thực tại, tác giả hàm ẩn, mặt nạ tác giả và hình tượng tác giả Từ đó, ông nhấn mạnh vai trò, chức năng và cấu trúc của hình tượng tác giả văn học
Khái niệm tác giả cũng được bàn tới trong nhiều từ điển chuyên ngành, công trình, chuyên luận nghiên cứu, bài báo khoa học, luận văn, luận án khoa học… Trên cơ sở những tài liệu tham khảo, chúng tôi đề xuất cách hiểu về khái niệm tác giả (tác giả văn học) trong luận án như sau:
- Tác giả (còn gọi là nhà văn, nhà thơ ) là người sáng tạo ra các giá trị nhân sinh - thẩm mĩ mới, thông qua tác phẩm ngôn từ Đó là tác giả tiểu sử (hay còn gọi là tác giả thực tại), có tên họ, giới tính, nghề nghiệp, thời gian sống và
sự nghiệp sáng tác…, Đó là người sáng tác và nắm tác quyền về mặt pháp lí đối với tác phẩm Về mặt mĩ học, tác giả là người có khả năng kiến tạo trong tác phẩm một mô hình thế giới nghệ thuật độc đáo, thể hiện tư tưởng và ngôn ngữ mới, mang dấu ấn sáng tạo cá nhân
- Tác giả đồng thời còn được hiểu như một hình tượng tự biểu hiện của người sáng tạo trong tác phẩm Nó thể hiện lập trường tư tưởng, quan niệm thẩm mĩ và nguyên tắc cảm nhận, lí giải của tác giả về thế giới Chân dung tinh thần của tác giả in đậm trong tác phẩm, góp phần tạo nên phong cách, cá tính nghệ thuật của tác giả Tuy nhiên, không thể đồng nhất giản đơn chân dung tác giả - tiểu sử với tác giả hàm ẩn, được biểu hiện trong tác phẩm, như một loại
Trang 161.1.1.2 Thế hệ tác giả/ thế hệ nhà thơ
Trong tiếng Anh, nghĩa gốc của thế hệ (generation) gắn liền với ý nghĩa
“sinh ra, sự phát sinh ra”, bên cạnh các nghĩa phái sinh của nó là sự tạo thành, đời… Trước hết, đây là thuật ngữ dùng để chỉ một lớp người/ sinh vật có những đặc điểm chung về lứa tuổi, cấu trúc sinh học và không gian, bối cảnh sống Nó được phân biệt với lớp trước (đã sinh ra mình) và lớp sau (do mình sẽ sinh ra, tiếp nối mình) Thế hệ là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong đời sống
Từ góc nhìn lịch đại, lịch sử văn học là sự tiếp nối liên tục của nhiều thế
Trang 17hệ cầm bút Thế hệ sau tiếp nối, kế thừa thế hệ trước, từ đó, cách tân, chuyển hóa thành hệ thẩm mỹ mới của thế hệ mình Tuy nhiên, nhìn từ góc độ đồng đại, có thể thấy, ngay trong mỗi một thời kì văn học đều có sự tiếp biến và đồng tồn của nhiều thế hệ khác nhau Mặt khác, trong mỗi một thời kì văn học đều
có một thế hệ đóng vai trò chủ lực Chính thế hệ cầm bút này, với tư cách chủ thể sáng tạo cốt lõi, sẽ tạo nên diện mạo riêng, độc đáo cho thời kì văn học ấy
Một thế hệ tác giả/ thế hệ nhà thơ không giản đơn chỉ là sự gom gộp số lượng của các cá nhân sáng tạo Thay vào đó, việc phân chia, nhìn nhận, đánh giá thế hệ tác giả/ nhà thơ cần dựa vào diện mạo nghệ thuật chung của cả một lớp sáng tác Một thế hệ nhà thơ chỉ được thừa nhận khi họ xác lập được một
hệ giá trị thẩm mỹ mới cùng một diện mạo văn học mới, mang tính khác biệt
so với trước đó Hệ thẩm mỹ ấy được nhìn nhận trong mối quan hệ đan bện giữa hiện thực được phản ánh, chủ thể phản ánh và chủ thể tiếp nhận, thể hiện qua tác phẩm - trung tâm của các mối quan hệ ấy Nó bao gồm “một chuẩn mực đặc thù về cái đẹp, một điệu tình cảm thẩm mỹ nổi bật và một hệ thống thi pháp tương ứng” [130, 8] Hệ thẩm mỹ ấy được tạo ra thông qua sự phủ định và kế thừa những giá trị truyền thống, thông qua trải nghiệm và kiến tạo cái mới Tựu trung, có thể hiểu, thế hệ tác giả/ nhà thơ thực sự “phải là chủ thể cốt lõi của một chặng đường văn học Đó là một lớp người cầm bút được kết nối bởi cùng một hệ giá trị chung của thời mình Họ vừa là kẻ sản sinh lại vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó” [130, 8]
Theo ý Chu Văn Sơn, nhìn vào lực lượng cầm bút của một chặng đường lớn, người ta có thể phân chia thành ba lớp sáng tác: lớp trước, lớp giữa, lớp sau Lớp trước được nhìn nhận trong vai trò chủ lực của chặng trước Họ là đại diện cho một hệ giá trị thẩm mỹ đã được khẳng định, ngự trị trong giai đoạn trước đó Trong số họ, có thể có người đến giai đoạn này vẫn còn sáng tác, thậm chí tỏa sáng Tuy nhiên, về căn bản, độ sung sức của họ đã thuộc về phía trước
Do đó, chủ lực của một chặng đường văn học thường là lớp giữa Họ mang
Trang 18trong mình sứ mệnh xác lập, định hình và hoàn thiện hệ giá trị của giai đoạn mình, thời mình; và trong mối quan hệ với giai đoạn sau, chính họ lại đóng vai trò “tiền bối”, những thành tựu của họ sẽ được giai đoạn sau kế thừa, đổi mới theo một hệ giá trị mới, mang những nét khác biệt so với họ [130, 8-9]
Tuy nhiên, những sự phân định thế hệ tác giả như trên chỉ có tính tương đối Bởi các thế hệ không phải luôn tồn tại trong những môi trường, bối cảnh lịch sử khác biệt Trên thực tế, ngay trong một giai đoạn lịch sử văn học, luôn có
sự tồn tại đan xen, song hành nhiều thế hệ tác giả Ngay trong giai đoạn văn học
do thế hệ này đóng vai trò chủ lực cũng có thể có nhiều tác giả thuộc thế hệ trước hoặc sau đó tham gia sáng tác, thậm chí gây ấn tượng mạnh cho người đọc Song những trường hợp ấy không nhiều, và dù sao hệ hình thi pháp thế hệ mà những tác giả ấy thuộc về vẫn chi phối sáng tác của họ, làm họ khó có thể bứt phá, thay đổi một cách triệt để
Nhìn một cách bao quát, mỗi thời đại văn học luôn tạo ra thế hệ tác giả/ nhà thơ riêng của nó và cùng với thế hệ tác giả ấy là lớp độc giả tương ứng Đó
là lớp tác giả - độc giả của hệ hình tư duy sáng tạo và tiếp nhận mà thời đại ấy tạo ra Do đó, việc nghiên cứu thế hệ tác giả là một hướng nghiên cứu triển vọng, giúp cho việc phân định, đánh giá kết quả nghiên cứu lịch sử văn học được khách quan, khoa học
1.1.1.3 Nhà thơ thế hệ Đổi mới
Trên cơ sở giới thuyết về khái niệm thế hệ tác giả/ thế hệ nhà thơ nói
trên, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày về khái niệm then chốt của luận án - nhà
thơ thế hệ Đổi mới Khái niệm này đã được một số nhà phê bình, nghiên cứu
đề cập đến Sau đây, chúng tôi xin lược trích một số ý kiến tiêu biểu
Trong bản đề dẫn Hội thảo Thế hệ nhà văn sau 1975 (do Trường Đại học
Văn hóa Hà Nội tổ chức, 2016), nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đặt câu hỏi: Thế
hệ nhà văn sau 1975, họ là ai? Và ông khẳng định: Thế hệ nhà thơ Đổi mới là:
“Thế hệ sau 1975, chủ yếu là 5x - 6x Và, thế hệ này thực sự bước lên văn đàn
Trang 19từ sau 1975 Nói “thực sự”, vì ngoài phần đại thể, có thể có người cầm bút từ trước đó Song, quãng trước, họ mới mon men mé ngoại vi, chầu rìa, thậm chí, còn mờ, lạc Phải sau 1975, họ mới đĩnh đạc cất tiếng” [130, 11] Đỗ Lai Thúy cũng khẳng định văn học sau 1975 đã cho ra đời một "thế hệ nhà văn sau 1975" Ông luận giải rõ hơn về thế hệ tác giả này như sau Thứ nhất, có thể hiểu đó là những người cầm bút/ xuất hiện/ công bố tác phẩm chỉ từ sau 1975, nhất là từ sau Đổi mới và Mở cửa 1986 Đa số họ viết theo tinh thần của giai đoạn này Thứ hai, là những nhà văn của các giai đoạn trước đó nay vẫn tiếp tục sáng tác Một số từ giã lối viết cũ, chuyển sang viết mới, thậm chí còn mở đầu cho viết mới, nhưng đa số thì vẫn vẫy vùng thẩm mỹ ở vùng quen thuộc của mình Thứ
ba là những người có các tác phẩm đã viết ở giai đoạn trước, nhưng không được
in, vì "vượt trước thời đại", nay họ vừa sáng tác vừa công bố những "tác phẩm
bỏ ngăn kéo" của mình Như vậy, văn học sau 1975 gồm nhiều thế hệ cầm bút, trong đó những nhà văn chỉ xuất hiện từ sau 1975 là quan trọng nhất” [130, 26]
Với tư cách là người sáng tác cũng là người phê bình đồng thời, đồng thế
hệ, Nguyễn Việt Chiến, trong Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (1975 - 2000),
đã định nghĩa nhà thơ thế hệ Đổi mới là “các nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến (xuất
hiện từ 1975 đến 1990) - đây là những gương mặt thơ tiêu biểu làm nên diện mạo
chính của thời kỳ đổi mới trong thơ Việt Nam đương đại” [13, 12] Mai Văn Phấn
cũng đồng thuận với nhận định của các tác giả trên về độ tuổi và thời điểm xuất hiện của các nhà thơ thế hệ Đổi mới Ông khẳng định, nhà thơ thế hệ Đổi mới
là những nhà thơ “chủ yếu nằm ở thế hệ 5x và 6x Tác phẩm của họ thực sự đã
có vị trí xứng đáng trong lòng người đọc với những đóng góp đáng kể vào đời sống văn học” [138, 368]
Trong bài viết Tư duy thơ Việt Nam sau 1975 qua sáng tác của một số
tác giả thế hệ Đổi mới, Lê Hồ Quang đã nhận định:“Thế hệ nhà thơ Đổi mới”
là thuật ngữ mang tính quy ước, nhằm chỉ một thế hệ nhà thơ Việt Nam đương đại có những đặc điểm sau: về độ tuổi, họ chủ yếu thuộc thế hệ 5x, 6x; xuất
Trang 20hiện và gây chú ý trên thi đàn vào thời Đổi mới (sau 1986); có những cách tân quyết liệt trong quan niệm và thi pháp Xét về mặt lịch sử, có thể nói đây là thế hệ trung gian nối kết giữa thế hệ nhà thơ chống Mỹ và thế hệ tác giả “thơ trẻ” sau này (“thơ trẻ” cũng là một thuật ngữ quy ước, nhằm chỉ thế hệ nhà thơ sinh sau 1975, sống và viết trong thời bình) Là thế hệ trung gian nhưng đồng thời cũng là “thế hệ Đổi mới”, ý thức về vị trí lịch sử đặc biệt của mình giúp họ sớm xác định mục tiêu cách tân thi ca và nhanh chóng nắm bắt những cơ hội sáng tạo mà thời đại mở cửa và hội nhập đã mang lại Đây là một thế hệ tác giả
khá đa dạng, phức tạp và vẫn đang vận động, sáng tạo” [130, 77]
Như vậy, để định danh lớp tác giả thơ Việt Nam giai đoạn hậu chiến và
Đổi mới, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng những cái tên như: nhà thơ Đổi
mới, nhà thơ sau Đổi mới, thế hệ nhà thơ Đổi mới, thế hệ nhà văn sau 1975, thế hệ nhà văn hậu chiến… Những cách định danh này đều dựa trên những căn
cứ nhất định, tuy nhiên, theo chúng tôi, chúng đều có một số điểm bất ổn, chưa
thực thuyết phục Chẳng hạn, cách định danh thế hệ nhà văn sau 1975, thế hệ
nhà văn hậu chiến hàm nghĩa xác định thế hệ này bằng các mốc lịch sử Mặc
dù lịch sử luôn có tác động mạnh mẽ đến văn học song sự vận động, phát triển
và các dấu mốc của văn học không thể đồng nhất với các sự kiện lịch sử Hoặc
cách định danh nhà thơ Đổi mới có thể đưa đến sự nhầm lẫn, ngộ nhận rằng
những thế hệ nhà thơ trước đó không đổi mới, mặc dù trên thực tế không phải như vậy
Do đó, chúng tôi quyết định sử dụng thuật ngữ “nhà thơ thế hệ Đổi mới”
để định danh đối tượng nghiên cứu của mình Cách định danh này trước hết nhằm nhấn mạnh tính cộng đồng, tính tập thể về mặt lịch sử - mĩ học của một lớp nhà thơ cầm bút trong giai đoạn từ sau 1986 đến nay Từ “đổi mới” trong
khái niệm “nhà thơ thế hệ Đổi mới” được dùng theo tên gọi một phong trào xã
hội của Việt Nam xuất hiện vào giữa những năm 80 của thế kỉ XX (phong trào Đổi mới đất nước, được khởi xướng từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
Trang 21thứ VI), nhằm xác định thế hệ cầm bút này trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khác với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của các thế hệ cầm bút đã xuất hiện trước
và sau đó (ví dụ thế hệ nhà thơ chống Pháp, thế hệ nhà thơ chống Mỹ…), chứ không mang hàm nghĩa định giá Đây là lớp tác giả có chung đặc điểm về lứa tuổi, thời gian xuất hiện, quan điểm mĩ học và thi pháp thể hiện Trong luận án,
ở một số trường hợp (ví dụ trong một số tiểu mục hoặc lập luận), để tránh trùng
lặp, dài dòng, chúng tôi sẽ chọn cách diễn đạt rút gọn là thế hệ Đổi mới, nhưng
vẫn với hàm ý chỉ đối tượng nói trên
Trên cơ sở tham khảo, tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước,
chúng tôi xin đề xuất cách hiểu khái niệm “nhà thơ thế hệ Đổi mới” trong luận
án như sau:
“Nhà thơ thế hệ Đổi mới” là một cách định danh mang tính quy ước,
nhằm chỉ thế hệ nhà thơ Việt Nam xuất hiện và thành danh chủ yếu vào thời kỳ Đổi mới (sau 1986) Về độ tuổi, họ chủ yếu thuộc thế hệ 5x, 6x Về thời điểm xuất hiện, họ chủ yếu sáng tác và thành danh từ khoảng sau 1986 đến 2000 Sáng tác của họ thể hiện quan niệm và thi pháp sáng tạo mới, khác biệt so với các thế hệ nhà thơ trước đó Đó là kiểu tư duy thuộc hệ hình hiện đại và hậu hiện đại Thế hệ nhà thơ này hội tụ khá nhiều cá tính nghệ thuật riêng biệt, độc đáo, gây chú ý, ảnh hưởng, tác động khá mạnh mẽ trong giới sáng tác và độc giả Họ được “điểm danh” bởi các nhà phê bình nhạy bén, được ghi nhận, nhắc nhớ, tôn vinh của những người sáng tạo đồng thời, đồng lứa, có ảnh hưởng, tác động tới những cây bút đồng thời hoặc kế tiếp Đây là một thế hệ sáng tác có đội ngũ đông đảo, sức sáng tạo dồi dào, mạnh mẽ Nhiều tác giả của thế hệ này vẫn đang trong thời kỳ sáng tác sung sức và có những đóng góp nổi bật cho thơ Việt Nam đương đại
1.1.2 Tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới
1.1.2.1 Xác định tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới
Theo chúng tôi, có thể nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới theo những tiêu
Trang 22chí dưới đây
Trước hết là tiêu chí về độ tuổi Trừ một số trường hợp đặc biệt, hầu hết
mỗi thế hệ đều có sự gần gũi nhau về khung độ tuổi Nếu thế hệ chống Pháp là +/- 2x, thế hệ chống Mỹ hầu hết là 3x - 4x, thì thế hệ Đổi mới chủ yếu là 5x - 6x Về mặt lịch sử, thế hệ nhà thơ Đổi mới được xem là thế hệ trung gian giữa thế hệ thơ kháng chiến chống Mỹ 1945 - 1975 với thế hệ thơ sau này (những người sinh sau 1975, sống và sáng tác trong thời bình)
Thứ hai, tiêu chí về thời gian xuất hiện Các nhà thơ thế hệ Đổi mới chủ
yếu sáng tác và công bố tác phẩm từ sau 1986 Tuy nhiên, một số trường hợp ngoại lệ đã cầm bút từ giai đoạn trước đó Số lượng sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới được công bố và được độc giả chú ý đón nhận đặc biệt tập trung trong khoảng hơn 10 năm sau Đổi mới Trong thời gian này (khoảng từ 1986 - 2000), thi đàn Việt Nam đánh dấu sự nở rộ của hàng loạt các tác phẩm, tác giả với những bút pháp mới, những cách viết, kỹ thuật mới mẻ Cho đến nay, nhiều tác giả thuộc thế hệ này vẫn tiếp tục viết với nhiều tìm tòi, sáng tạo
Thứ ba, tiêu chí về tính cách tân trong hình thức, kỹ thuật thơ các tác giả thế hệ Đổi mới Thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới, nhìn chung, thể hiện tư
tưởng và nỗ lực cách tân hình thức, kỹ thuật thơ một cách mạnh mẽ Đó là ý
thức phản truyền thống, vượt ra khỏi những quy phạm, những “cái gì đã cũ”,
“cái gì không thật”… để đạt đến những giá trị sáng tạo mới Thơ của các tác
giả này thường hướng đến những tìm tòi thi pháp theo hướng chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại
Trên đây là một số tiêu chí nhận diện thế hệ nhà thơ Đổi mới Việc nhận diện này nhằm đem đến sự khu biệt (có tính chất tương đối) đối với các thế hệ thơ ca trước và sau đó trong lịch sử phát triển thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2.2.2 Xác định tiêu chí nhận diện sự đổi mới, cách tân trong thơ của thế hệ nhà thơ Đổi mới
Để nhận diện sự đổi mới, cách tân trong thơ Việt Nam sau 1986, theo
Trang 23chúng tôi có thể dựa trên một số tiêu chí như sau:
Một là, họ cùng kiến tạo nên một kiểu tư duy và hệ giá trị thẩm mĩ mới, hiện đại Sau 1975, đất nước bước vào giai đoạn hậu chiến và Đổi mới Thực
tiễn đời sống kinh tế - xã hội nhiều biến động của đất nước, sự mở cửa giao lưu thương mại và kinh tế, văn hóa của Việt Nam với thế giới; sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự xuất hiện, phát triển của internet và các trang liên mạng… tất cả đã buộc văn nghệ sỹ không thể tiếp tục nghĩ và viết như trước nữa Hàng loạt các cây bút của thế hệ Đổi mới đã ra sức vượt thoát khỏi
hệ hình thi pháp cũ, và bằng tư duy và bút pháp phi sử thi, họ đã gây nên tiếng
vang với Lối nhỏ của Dư Thị Hoàn, Củi lửa của Dương Kiều Minh, Từ nước,
ngày sinh lại của Nguyễn Lương Ngọc, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang
Thiều… Tuy nhiên, thay vì đứng riêng lẻ, độc lập; họ luôn nỗ lực cùng đồng hành, tìm ra tiếng nói thẩm mĩ chung của thế hệ Trong số những hiện tượng thơ này, có không ít các tác giả vừa là nhà thơ vừa là nhà phê bình xuất sắc (Inrasara, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều…) Bên cạnh việc tiếp thu, học hỏi các hiện tượng thơ đa dạng của Việt Nam và thế giới, họ đọc thơ của nhau, ghi nhận và đánh giá các sản phẩm của nhau Họ trao đổi, tiếp thu, trau dồi và học hỏi với tinh thần cầu thị tích cực, nhằm đưa thơ mình và thơ của thế hệ mình đến đích cao hơn trong hoạt động sáng tạo Có thể nói, bằng sự tương tác, kết nối đầy ý thức ấy, họ đã cùng nhau tạo nên tính
“cộng đồng thẩm mĩ” của thế hệ nhà thơ thời Đổi mới
Hai là sự cách tân, đổi mới về mặt thi pháp Có thể thấy, thơ giai đoạn
này đã phá vỡ thế “độc tôn” của hệ thống thi pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trước đó Sau 1986, nhiều trào lưu, khuynh hướng, phương pháp sáng tác cùng tồn tại Cá tính sáng tạo của nhà thơ được chú ý, coi trọng Điều đó đã làm nên cuộc cách tân thi pháp hết sức mạnh mẽ trong thơ giai đoạn này Thay
vì thứ ngôn ngữ đơn giọng, mang tính “đồng phục”, các nhà thơ thế hệ Đổi mới
đã sản sinh ra những lớp ngôn ngữ đa giọng, đa sắc, “gây hấn”, “thách thức”
Trang 24gay gắt với mĩ cảm truyền thống Thay vì kiểu kết cấu đóng kín thường thấy trong thơ trước đây, giờ đây phổ biến trong thơ là lối kết cấu mở Với lối kết cấu này, các nhà thơ thường có xu hướng giấu mặt triệt để cái tôi trữ tình, đẩy đối tượng mô tả lên bề mặt văn bản; gia tăng các khoảng trắng khoảng trống trong lời thơ, bài thơ;… Từ đó, thơ “chắp cánh” cho trí tưởng tượng, “vẫy gọi” những cách lý giải khác nhau của người đọc, nâng cao vai trò đồng sáng tạo của họ Việc tiếp xúc thường xuyên với những tác phẩm mới góp phần tạo nên thói quen và thị hiếu đọc mới, giúp mở rộng, đa dạng nhãn quan tiếp nhận và gout thẩm mĩ của độc giả, qua đó, dần hình thành nên một lớp độc giả mới, tương thích với lớp tác giả hiện đại
1.1.2.3 Xác định tiêu chí nhận diện tác giả tiêu biểu của thế hệ Đổi mới
Nhận diện những tác giả tiêu biểu là xem xét những thành tựu cá nhân nổi bật trong bối cảnh sáng tạo của cả một thế hệ đông đảo Họ phải là những người tiên phong, thể hiện tinh thần cách tân mạnh mẽ, và sau hết, gặt hái những thành công nhất định, được sự ghi nhận của người đọc, giới chuyên môn, phê bình đánh giá tích cực Dĩ nhiên, việc xem xét, đánh giá các hiện tượng thơ này cần phải xuất phát trên nền bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn học cụ thể
Có thể nói, sau 1986 trong thơ Việt Nam đã xuất hiện một lực lượng sáng tác khá đông đảo Các nhà thơ với ý thức cách tân, khao khát đổi mới đã giúp cho diện mạo thơ Việt trở nên phong phú, đa dạng Tuy nhiên, chính điều này
đã khiến cho việc đánh giá, chọn lọc những cá nhân xuất sắc, tiêu biểu càng trở nên khó khăn hơn Mặt khác, các ý kiến nhận xét, đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào tầm nhìn, năng lực đọc của người đánh giá, nghĩa là khá chủ quan Song, theo chúng tôi, việc nhận diện những gương mặt thơ tiêu biểu của giai đoạn này
có thể dựa vào một số tiêu chí sau đây:
Trước hết, dựa trên thái độ, ý thức cách tân của các tác giả đối với thơ
ca đương đại Thái độ, ý thức ấy buộc phải được cụ thể hóa, đi liền trong các
tuyên ngôn về thơ, những bài phỏng vấn hoặc trong chính tác phẩm của nhà
Trang 25thơ Chẳng hạn, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc khi đề cập đến thái độ dám dấn thân, vượt thoát khỏi những gì đã cũ của thơ ca trước đó, đã được ông cụ thể
hóa bằng một tuyên ngôn thơ nổi tiếng:“đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung
chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu” (Hội họa lập thể) Thái
độ, tinh thần ấy một mặt thể hiện trách nhiệm của người viết đối với nghề, đối với thơ ca nhưng mặt khác, chính nó thể hiện tư duy sáng tạo, phông nền văn hóa và tầm tri thức của tác giả Nó đặc biệt có ý nghĩa đối với thơ ca đương đại, trong bối cảnh hội nhập và giao lưu quốc tế hiện nay, khi nhu cầu học hỏi, tiếp thu và khả năng sáng tạo đáp ứng những đòi hỏi của hiện thực đời sống được đặt lên hàng đầu
Hai là, sáng tạo của họ phải mang tính mới, thể hiện được tư tưởng, mĩ học riêng, và nhờ đó, có ảnh hưởng, tác động tích cực tới đời sống văn học
Cái nhìn mới xuất phát từ hiện thực bên trong và bên ngoài, tạo được niềm đồng cảm từ phía người đọc Nó được thể hiện thông qua sự phản ánh chân thực đời sống, giúp người đọc nhận thấy một phần của các mối quan hệ người, cách ứng
xử của bản thân trước bối cảnh xã hội, thời đại Cái nhìn mới cho phép nhà thơ khái quát những nội dung phản ánh ở chiều sâu, đồng thời nâng lên thành những nội dung phổ quát được nhiều người quan tâm Đây cũng là yếu tố khiến sáng tác của các tác giả này có những ảnh hưởng, tác động tích cực tới những tác giả đồng thời và thế hệ kế tiếp
Dĩ nhiên, về vấn đề cái mới trong sáng tạo cũng cần được nhận thức và
lý giải một cách biện chứng Xét về bản chất, sáng tạo luôn đòi hỏi phải làm ra cái mới Tuy nhiên, mới chưa hẳn đồng nghĩa với hay Điều này càng đúng khi nhìn từ lý thuyết tiếp nhận, khi tùy thuộc vào năng lực và quan điểm của độc giả, cách đánh giá về mức độ và giá trị của cái mới lại càng khác biệt và do đó, hết sức phức tạp Mặt khác, cái mới trong sáng tạo, khi ra đời, bao giờ nó cũng hiện diện như một sự khiêu khích, thách thức, đối đầu với hệ giá trị cũ, đã ổn định Do đó, không phải ngay từ khi mới xuất hiện, cái mới đã được dễ dàng
Trang 26công nhận, chấp nhận Ta có thể lấy không ít ví dụ về điều này trong lịch sử phát triển của thi ca nói chung, thơ Việt Nam hiện đại nói riêng
Ba là, các tác giả phải đạt được thành tựu nổi bật trong quá trình sáng tạo, và được đánh giá, ghi nhận Đây là điểm quan trọng nhất trong tiêu chí
nhận diện gương mặt tiêu biểu của thế hệ Đổi mới nói riêng, của cả nền văn học trong tất cả các giai đoạn nói chung Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, muốn tác phẩm có chất lượng, nhà thơ (người làm công việc sáng tạo nói chung) phải có ý thức “chuyên nghiệp hóa” ngòi bút Không thể chỉ ngồi trông chờ vào bản năng sáng tạo trời cho, cái vốn năng khiếu sẵn có ấy sẽ mai một rất nhanh nếu tác giả không có ý thức trau dồi, học tập, rèn giũa Điều này buộc nhà thơ phải có ý thức và chủ động tìm hiểu, tiếp thu các xu hướng sáng tạo nghệ thuật hiện đại của thế giới; sự vận động của các khuynh hướng, trào lưu thơ; đồng thời biết tạo ra những sản phẩm thật sự có giá trị, in đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân Thành tựu ấy có thể được cụ thể hóa bằng số lượng những bài phân tích, phê bình đánh giá tích cực của giới chuyên môn; nhận được sự chú ý của đông đảo người đọc (cũng theo chiều hướng tích cực, cổ vũ), hoặc đạt được những giải thưởng văn học cả trong và ngoài nước (Dĩ nhiên, giải thưởng chỉ là một trong số các căn cứ đánh giá về thành tựu, đóng góp của các tác giả Bởi trên thực tế, bên cạnh các giải thưởng uy tín, có những giải thưởng chưa thực sự thuyết phục được người tham gia, chứng kiến, gây nên những đánh giá trái chiều, tiêu cực…)
Trên đây là ba tiêu chí cơ bản giúp chúng tôi dựa vào đó để đánh giá những gương mặt tiêu biểu của thế hệ Đổi mới Dĩ nhiên, chúng tôi cũng ý thức rất rõ rằng, các tiêu chí này vẫn chưa thực bao quát được hết các tác giả tiêu biểu của thế hệ Đổi mới trên thực tế Vả chăng, như đã nói trên, việc xác định, lựa chọn này dù sao vẫn có tính chủ quan, nó phụ thuộc nhiều vào tính chất, năng lực đọc, khả năng bao quát tài liệu của chủ thể Trong giới hạn đối tượng
và phạm vi khảo sát của luận án, chúng tôi chỉ dừng lại ở một số tác giả tiêu
Trang 27biểu sau: Dư Thị Hoàn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara
1.1.3 Một số lý thuyết hữu quan
1.1.3.1 Lý thuyết loại hình học tác giả
Loại hình học (typology), là khoa học nghiên cứu về loại hình Bằng tư
duy, nguyên tắc và phương pháp loại hình, nó xác định, phân chia các hiện
tượng thành các loại, kiểu để nhận diện cấu trúc bên trong và tìm ra những quy luật phát triển của đối tượng
Vận dụng lý thuyết loại hình vào nghiên cứu văn học, nhằm phát hiện và
xác lập tính cộng đồng loại hình về mặt văn học - thẩm mĩ, tồn tại qua nhiều
hiện tượng, sự kiện văn học, trong những thời điểm và bối cảnh lịch sử hình thành khác nhau, là một hướng phổ biến trong nghiên cứu văn học hiện đại
Tính cộng đồng ở đây không có nghĩa là sự lặp lại một cách giản đơn về một
số dấu hiệu hình thức của các đối tượng văn học Đó là hiện tượng chúng cùng mang những đặc điểm có tính bản chất như nguồn gốc, cấu trúc, quá trình phát triển, về số phận lịch sử, về hệ thống thể loại miêu tả, về hệ thống thế giới quan
v.v Tất nhiên, xem văn học như là một hiện tượng thế giới, là những cộng
đồng loại hình của từng giai đoạn lịch sử văn học, nhưng lý thuyết loại hình
không loại trừ tính cá biệt và tính đặc thù của văn học
Như vậy, loại hình học văn học là lý thuyết nghiên cứu về những hiện tượng văn học có chung đặc trưng, dù tồn tại trong không gian địa lý và thời gian lịch sử khác nhau, cho phép người nghiên cứu xác định chúng như là một kiểu/ loại văn học, phân biệt với các nhóm, kiểu/ loại văn học khác Nói một
cách ngắn gọn, loại hình học văn học là khoa học nghiên cứu những tương
đồng mang tính quy luật của các hiện tượng văn học
Một trong những người đầu tiên dùng lý thuyết loại hình để nghiên cứu các hiện tượng văn học là nhà nghiên cứu văn học dân gian người Nga
Vladimir Propp với công trình Hình thái học truyện cổ tích (1928) Cùng thời
Trang 28và sau Propp, một loạt nhà nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng lý thuyết loại hình vào nghiên cứu văn học như M.B Khrapchenko, E.M Melentinski, B.L Riptin, Veselovski, V.Todorov, M.Pop, A Dundes Các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã thể hiện rất rõ những vấn đề quan trọng trong
lý thuyết loại hình như: tư duy loại hình, thao tác và phương pháp luận nghiên cứu loại hình, tiêu chí phân loại đối tượng… Lý thuyết này cũng đã được giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam vận dụng vào những năm cuối thế kỉ XX để nghiên cứu một bộ phận văn học, một thể loại văn học, một tác phẩm văn học
cụ thể và trở thành một hướng/ phương pháp nghiên cứu hiệu quả Tác giả văn học, với tư cách chủ thể sáng tạo, là yếu tố không thể thiếu trong việc tạo nên diện mạo chung của một thời kỳ hoặc một thời đại văn học Nghiên cứu lịch
sử văn học, bên cạnh nghiên cứu riêng về từng tác giả, cần nghiên cứu phạm
trù loại hình tác giả, với tư cách những loại hình chủ thể thẩm mỹ, được hình
thành như những sản phẩm xã hội, lịch sử, văn hóa cụ thể Các nhà văn thuộc cùng một loại hình tác giả thường có những điểm chung về cách nhìn đời sống
và con người, quan điểm thẩm mỹ, xu hướng nghệ thuật, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Ở bình diện xã hội học lịch sử: tác giả là một con người xã hội, thuộc một giới, một nhóm xã hội nhất định, có vai trò xã hội - văn hóa nhất định trong các giai đoạn lịch sử Ở bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật: tác giả -
đó là những dấu ấn văn hóa nhân cách hiện diện ở sáng tác Khảo sát tác giả ở bình diện kể trước là một đề tài lớn của sử học Khảo sát tác giả ở bình diện
kể sau là đề tài của nghiên cứu văn học, nó đòi hỏi tập trung chú ý vào tài liệu sáng tác hơn là phương diện con người ngoài sáng tác” [5]
Ở Việt Nam, từ giữa thế kỉ XX, vấn đề nghiên cứu loại hình tác giả đã
được đề cập trong một số công trình phê bình, nghiên cứu như Nhà văn hiện
đại (1942 - 1945) của Vũ Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài
Thanh, Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) của Thanh Lãng… Trong các công
trình này, vấn đề loại hình tác giả được đặt ra và đề cập từ góc độ thế hệ - thế
Trang 29hệ tác giả, thế hệ nhà văn, thế hệ nhà thơ… Cũng cần nhắc đến một số công
trình nghiên cứu bàn sâu về vấn đề loại hình tác giả như Nho giáo và văn học
trung cận đại Việt Nam (1995, Trần Đình Hượu), Loại hình học tác giả văn học − Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995, Trần Ngọc Vương), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (2008, Biện Minh Điền)… Gần đây nhất,
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học Quốc Gia theo
chủ đề Thế hệ nhà văn sau 1975 với hơn 80 tham luận là một minh chứng rõ
rệt về mối quan tâm của giới nghiên cứu về vấn đề loại hình thế hệ tác giả
Như vậy, loại hình học là một lý thuyết nghiên cứu được vận dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu văn học hiện đại, đặc biệt, trong nghiên cứu loại hình tác giả văn học Lý thuyết loại hình học tác giả được tác giả luận án sử dụng
như một điểm tựa về phương pháp luận khi triển khai nghiên cứu về đề tài Đóng
góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986 Trên cơ sở
lý thuyết này, chúng tôi sẽ chú ý tìm hiểu về những dấu hiệu, đặc điểm, phẩm chất chung của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, qua đó cố gắng xác định kiểu/ loại diện mạo riêng của thế hệ tác giả này, trong tương quan đối chiếu, so sánh
để nhận ra sự khác biệt so với các kiểu/ loại thế hệ tác giả trước và sau đó
1.1.3.2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa lịch sử, văn hóa và văn học
Nhìn chung, những lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa lịch sử - văn hóa và văn học đều xuất phát từ quan điểm khoa học nhấn mạnh, coi trọng mối quan hệ biện chứng và sự chi phối, tương tác chặt chẽ giữa hoàn cảnh lịch
sử (bao gồm các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội, tiểu sử tác giả…) và hiện tượng văn học hình thành, phát sinh trong/ trên hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó Trên thực
tế, các lí thuyết, trường phái nghiên cứu về văn học từ góc độ lịch sự phát sinh khá đa dạng, phong phú Và dù đều lấy yếu tố xã hội, tức hoàn cảnh sinh thành tác phẩm (điều kiện lịch sử xã hội, tiểu sử tác giả,,,) làm xuất phát điểm phương pháp luận tiếp cận nhưng mỗi trường phái lại xác định phạm vi và trọng tâm nghiên cứu khác nhau, do vậy mà vẫn có nhiều khác biệt Sau đây là một số
Trang 30giới thuyết giản lược
Từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhà nghiên cứu Nga Khrapchenko nhận định, nếu “đặt ngoài việc nhận thức những ngọn nguồn của đời sống, ngọn nguồn xã hội của sáng tác văn học thì không thể hiểu sau từng tác phẩm nghệ thuật, từng quá trình văn học nói chung” [81, 350] Theo ông, bằng việc tiếp cận, phân tích, lí giải mối quan hệ giữa nhà văn và sáng tác của
họ với đời sống của một thời đại nhất định, hoặc ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, việc nghiên cứu bối cảnh lịch sử phát sinh chỉ ra sự vận động của văn học, sự thay thế của hiện tượng này bằng một hiện tượng khác, những tương tác và mâu thuẫn nội tại giữa chúng, cả sự đấu tranh tư tưởng và thẩm mỹ, sự
kế thừa lịch sử của sự phát triển văn học… [81, 350] Các nhà nghiên cứu marxist đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực đời sống xã hội Tái hiện và lí giải chiều rộng của mối liên hệ giữa nhà văn với thực tại bối cảnh xã hội, họ hướng đến mục tiêu vạch ra sự đa dạng của các xung động đời sống dẫn đến những khái quát nghệ thuật lớn về hiện thực trong sáng tác của nhà văn Tuy nhiên, lý thuyết phản ánh cần phải được nhận thức một cách biện chứng, khoa học Sáng tác của nhà văn không đơn thuần chỉ là sự sao chép, phản ánh hiện thực của xã hội hay thời đại, và theo cách trực tiếp, cơ học Việc nghiên cứu sáng tác của nhà văn từ góc độ lịch sử phát sinh - tức cội nguồn hiện thực xã hội của nó, do đó, cũng không thể đơn giản là sự mô tả, phân tích theo kiểu “chiếu ứng” từ đặc điểm hiện thực xã hội sang tư tưởng, quan niệm sáng tạo mĩ học của nhà văn
Trên cơ sở coi trọng mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm và đặt trọng tâm nghiên cứu vào tác giả, nhà phê bình văn học Pháp Sainte – Beuve cho rằng, nhà văn - con người cá nhân cụ thể là kẻ sáng tạo ra văn chương, tác phẩm văn chương in đậm dấu ấn khí chất, tính tình, thiên hướng giáo dục… của nhà văn, do đó, ông chủ trương nghiên cứu văn học bằng phương pháp tiểu sử Thông qua tác phẩm, nhà nghiên cứu tìm hiểu về tác giả, đúng hơn, “phục
Trang 31dựng” chân dung tâm lý của tác giả Phương pháp này có ưu điểm nhưng cũng
có hạn chế thấy rõ: nó giản lược và đồng nhất nhà văn với tư cách người sáng tạo với con người tiểu sử Tác phẩm văn học không phải mục đích của phê bình văn học mà chỉ là phương tiện nhận thức tâm lí tác giả Trường phái văn hóa - lịch sử do nhà triết học, phê bình văn học Pháp H Taine khởi xướng đã xuất hiện như một sự điều chỉnh, bổ khuyết cho phương pháp tiểu sử Khi nghiên
cứu một nhà văn, Taine đề xuất ba nguyên lý cần áp dụng, đó là chủng tộc, địa
điểm và thời điểm Mọi nhà văn, mọi tác phẩm đều chịu ảnh hưởng của ba yếu
tố này Như vậy, nếu Sainte - Beuve coi tác phẩm như một tài liệu, trong đó in đậm dấu ấn cá nhân người sáng tạo, thì H Taine lại chủ trương tìm kiếm trong
“tài liệu” văn học đó những trạng thái xã hội tương ứng nào đó Theo Đỗ Lai Thúy, “nếu đừng hiểu chủng tộc, địa điểm và thời điểm một cách cứng nhắc và
chật hẹp (bởi nó có thể là dân tộc, môi trường và thời đại) nhất là đừng hiểu
khái niệm “ảnh hưởng” một cách trực tiếp và thô sơ thì lý thuyết của Taine là rất đúng đắn” [131, 41]
L Goldman, chủ soái của trường phái cấu trúc phát sinh, cũng chủ trương tiếp cận văn học từ góc độ xã hội học Ông tìm kiếm nguồn gốc của văn học nghệ thuật trong các yếu tố kinh tế, xã hội và đặc điểm giai cấp, qua các yếu tố
đó để lý giải văn học nghệ thuật Đây là quan điểm nghiên cứu kết hợp giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cấu trúc
Đây chỉ là những giới thuyết hết sức sơ giản và hoàn toàn chưa đầy đủ
về các lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa lịch sử - văn hóa và văn học Tuy nhiên, việc giới thuyết này rất có ý nghĩa với người làm luận án Nó tạo một điểm tựa về mặt phương pháp luận cần thiết khi chúng tôi nghiên cứu về vấn đề đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
Tìm hiểu các lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa lịch sử - văn hóa
và văn học, lựa chọn và kết hợp các quan điểm nghiên cứu nói trên, chúng tôi nhằm mục đích:
Trang 32- Xem xét, phân tích bối cảnh xuất hiện của thế hệ nhà thơ Đổi mới, các yếu tố chi phối, tác động (điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…) dẫn đến sự hình thành các đặc điểm của thế hệ tác giả này
- Tìm hiểu một số yếu tố về tiểu sử, tâm lý, đặc điểm cá tính cá nhân, hoàn cảnh đời sống riêng tư… của nhà thơ, qua đó, phần nào nhận ra sự tác động, ảnh hưởng, cũng như dấu ấn của các yếu tố đó tới phong cách, cá tính sáng tạo của tác giả
- Tìm hiểu những đặc điểm thời đại, bối cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam giai đoạn hậu chiến và Đổi mới (từ 1975 đến cuối thế kỉ XX), tìm hiểu trạng thái tâm lí - xã hội tương ứng, tạo nên diễn ngôn nghệ thuật có tính đặc thù của các nhà thơ thế hệ Đổi mới
1.1.3.3 Lý thuyết thi pháp học
Thuật ngữ “thi pháp học” (póetique, poetics) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (Poietike), nhằm chỉ một lĩnh vực của những quy tắc thuộc về chuyên ngành sáng tác nghệ thuật, được tập trung thể hiện trong công trình Poetica của Aristote ra đời cách đây 2.400 năm Theo nhiều nhà nghiên cứu, thi pháp học
lí thuyết phương Tây xuất hiện từ thời cổ đại Hi Lạp Trong sách Aristote và
văn học cổ đại, T.A Miller cho rằng trước Aristote, thuật ngữ “thi pháp” chỉ
cẩm nang dạy các quy tắc, thủ thuật làm thơ (Pinda), hoặc chỉ triết học về thơ như là sự hoài niệm về một thế giới tuyệt đối (Platon) Còn đến Aristote, “thi pháp học” mới bắt đầu được xem là lí luận về thơ (văn học) [163, 24] Ở Trung Quốc cổ đại, từ đời Đường đã có chữ “thi học” với nghĩa là học vấn về thơ, phép làm thơ… Có thể nói, thuật ngữ thi pháp và thi pháp học đã có từ xa xưa, cả ở phương Tây và phương Đông, như Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam [163, 27]
Như vậy, thi pháp học được hiểu nhiều cách khác nhau, có khi được dùng chỉ toàn bộ nghệ thuật nhưng cũng có khi được hiểu như một loại hình thi ca, hoặc chỉ như phép làm thơ và có khi được hiểu là hình thức nghệ thuật, hình
Trang 33thức thơ Nói đến thi pháp học hiện đại là nói đến nhiều trường phái nghiên cứu lớn trên thế giới Trước hết, cần nói đến trường phái hình thức Nga (thành lập năm 1914), gồm nhiều thành viên như R Jakobson V.Shklovski, B Eikhenbaym, Ju Tynianov, V Girmunski… Đóng góp lớn nhất của trường phái này là chỉ ra tính độc lập của văn học, thể hiện qua thủ pháp lạ hóa và đồng thời, đặt ra nhiều vấn đê lí luận văn học khác Phê bình mới Anh, Mĩ là một trường phái hình thức xuất hiện từ những năm 20, 30 ở Anh, Mĩ, với nhiều tác giả như I.A Richards (Anh), TS Eliot (Mỹ), R,Wellek, A.Warren (Mỹ)… Phê bình mới Anh, Mỹ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ và thủ pháp hình thức văn học, chỉ ra tính đa nghĩa, “trương lực”, “cơ chất” và “sắc thái ngôn từ” của văn học Ngoài ra, còn phải nhắc đến nhiều trường phái nghiên cứu thi pháp học khác như trường phái phân tích hình ảnh khách thể; trường phái phê bình phân tâm học; thi pháp học cấu trúc - kí hiệu học; thi pháp học lịch sử…
Ở Việt Nam, vào khoảng nửa đầu thế kỉ XX, những nghiên cứu về thi pháp thơ đã xuất hiện rải rác trong một số công trình nghiên cứu Cụ thể, ở
miền Bắc là các công trình Bùi Văn Nguyên, Hà Mình Đức, trong Thơ ca Việt
Nam, hình thức và thể loại (1965); ở miền Nam là một số công trình nghiên
cứu vận dụng lý thuyết phương Tây như cấu trúc luận, chủ nghĩa hiện sinh… Tuy nhiên, phải đến cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với sự công bố, giới thiệu các tài liệu, công trình lý thuyết, nhiều công trình
nghiên cứu thi pháp học mới xuất hiện dồn dập như Ngôn ngữ thơ (1978, Nguyễn Phan Cảnh), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985, Phan Ngọc); Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1992, Hoàng Trinh); Con
mắt thơ (1992, Đỗ Lai Thúy);… Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
được xem là người có công đầu đưa thi pháp học trở thành khoa học nghiên cứu văn học ở Việt Nam thông qua hàng loạt các công trình dày dặn, chuyên
sâu Có thể kể đến: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Thi pháp văn học trung đại
Việt Nam (1989), Thi pháp Truyện Kiều (2002);… Có thể nói, đối tượng chiếm
Trang 34lĩnh chủ yếu của thi pháp học hiện đại là các phương diện khác nhau của hình thức nghệ thuật Hình thức nghệ thuật ở đây có thể chia làm hai cấp độ: cấp độ thứ nhất là cấp độ bên ngoài (đó là ngôn từ cùng với các kỹ xảo gieo vần, chia khổ, đặt câu, các biện pháp tu từ, các hình thức quy phạm cố định như thể thơ…) Đây chính là cái vỏ vật chất của hình thức, có thể tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tri giác cảm tính của người đọc Tuy nhiên, bên cạnh cấp độ bên ngoài, hình thức nghệ thuật còn có cấp độ bên trong Đó chính là hình thức tinh thần Nó thể hiện sâu sắc tính tích cực sáng tạo của tác giả, là hình thức của cái nhìn - quan niệm, tư tưởng Đây được xác định là đối tượng chủ yếu của thi pháp học hiện đại Hình thức bên ngoài là cái bao chứa hình thức bên trong Như vậy, các nhà thi pháp học luôn chủ trương đề cao xem xét tác phẩm văn học trong tính chỉnh thể của nó, thay vì tách rời giữa nội dung (đề tài, chủ đề,
tư tưởng) và hình thức (thể loại, kết cấu, ngôn ngữ), họ nghiên cứu các yếu tố của hình thức luôn tác động đến việc khai triển nội dung của chủ thể sáng tạo
và ngược lại
Trong luận án này, chúng tôi áp dụng lý thuyết thi pháp học như một điểm tựa, công cụ phương pháp nhằm tiếp cận đối tượng là các văn bản thơ của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong tính chỉnh thể hình thức của nó Vận dụng lý thuyết thi pháp học, chúng tôi chủ yếu tiếp cận và lí giải các hiện tượng thơ này chủ yếu từ góc độ thi pháp học miêu tả (qua các tập thơ, bài thơ, các cấp độ hình thức của văn bản thơ…) và thi pháp học lịch sử (sự vận động, thay đổi trong quá trình sáng tác của nhà thơ, các hiện tượng thơ thuộc diện khảo sát)
1.1.3.4 Lý thuyết tiếp nhận văn học
Lý thuyết tiếp nhận văn học là một lí thuyết nghiên cứu văn học hiện đại, xuất hiện ở phương Tây từ thập kỉ 60 của thế kỉ XX Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, người đầu tiên đưa ra được mô hình hoàn thiện cho mỹ học tiếp nhận là Hans Robert Jauss, giáo sư giảng dạy văn học tại trường Đại học Konstanz (Đức) Trường phái “mỹ học tiếp nhận” Konstanz còn có nhiều tác
Trang 35giả nổi tiếng như Wolfgang Iser, Manfred Fuhrmannn, Rainer Warning… [17, 218-246] Lí thuyết này có ảnh hưởng lớn đến quan niệm tiếp nhận, đánh giá văn học ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam Đây cũng là một lý thuyết mà chúng tôi sử dụng như một điểm tựa phương pháp luận khi nghiên cứu về đề tài luận án
Ở Việt Nam, vấn đề tiếp nhận đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, đó là với những công trình của Nguyễn Văn Xung, Tam Ích, Lữ Phương, Nguyễn Hiến Lê, Đặng Tiến…
Từ nửa sau những năm 80, là các công trình của Hoàng Trinh, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Dân, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung… Trong những
công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên, đáng chú ý là chuyên luận Từ văn
bản đến tác phẩm văn học (1998) và Tác phẩm văn học như là quá trình (2004)
của Trương Đăng Dung Theo lí thuyết tiếp nhận, văn bản, khi được nhà văn, nhà thơ sáng tác ra, nó đã mang sẵn khả năng phát nghĩa, nó là một “kết cấu mở” Nhưng nghĩa và ý nghĩa của nó như thế nào, đến đâu, còn phụ thuộc vào
“tầm đón nhận” (Jauss) của độc giả Nói thế để chúng ta thấy vai trò quan trọng
và mối quan hệ biện chứng giữa sáng tác và tiếp nhận Một tác phẩm mà không đến với người đọc thì khác gì một “bức thư không có địa chỉ” Hoạt động tiếp nhận của người đọc không chỉ thể hiện khi tác phẩm đó ra đời và tồn tại trong đời sống văn học mà đã xuất hiện ngay trong quá trình nhà văn thai nghén và hình thành tác phẩm
Có nhiều cách phân loại người đọc Dựa trên tính chất của hoạt động đọc/ tiếp nhận, có thể chia ra làm ba loại: người đọc giả định, người đọc thực
tế, người đọc lý tưởng Dựa trên mối quan hệ giữa giữa sáng tác và tiếp nhận của bạn đọc, có thể phân ra làm hai loại chính: Người đọc thực tế và Người đọc tiềm ẩn Người đọc thực tế gồm nhiều tầng lớp, thành phần, nghề nghiệp, nhiều
cá tính, nhiều thế hệ khác nhau vì thế bản thân nhà văn không thể biết hết Người đọc thực tế phải là người đọc tác phẩm đó, đôi khi cầm, nhận tác phẩm
Trang 36mà chưa đọc thì cũng không được xem là người đọc thực tế Người đọc tiềm
ẩn nằm trong tâm tưởng nhà văn Người đọc tiềm ẩn trong tác phẩm, chủ yếu
là một phạm trù mỹ học Người đọc tiềm ẩn có lúc định danh, có khi vô định,
có khi xưng danh cũng có khi vô nhân xưng Vì thế, từ người đọc tiềm ẩn đến người đọc thực tế không thể nào trùng khớp hoàn toàn
Tóm lại, cùng với hoạt động sáng tác, hoạt động tiếp nhận là một khâu quan trọng của quá trình văn học Với tư cách là chủ thể tiếp nhận, sự tiếp nhận của người đọc về một tác phẩm văn học có vai trò rất quan trọng trong việc xác lập, khẳng định giá trị của tác phẩm trong sự tồn tại của nó Lý thuyết mĩ học tiếp nhận cũng là một điểm tựa phương pháp luận quan trọng với tác giả luận
án khi nghiên cứu về đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, bởi trên thực
tế, việc tiếp nhận đối tượng này cũng là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải được cắt nghĩa, lý giải, đánh giá trên/ bằng những cơ sở và phương pháp khoa học
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2.1 Những nghiên cứu trong nước
Cho đến nay, thơ Việt Nam thời hậu chiến và Đổi mới là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong nước Hệ thống các chuyên luận, báo cáo, bài báo khoa học, luận văn, luận án… về đối tượng này rất phong phú Nhìn một cách tổng quát, các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu
về các giai đoạn vận động của thơ Việt Nam sau 1975 đến nay, các đặc điểm nổi bật (về quan niệm, cảm hứng, thi pháp…) và đặc biệt, tập trung vào việc nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu Tuy không nhiều công trình bàn sâu và trực tiếp đến vấn đề đóng góp của thế hệ nhà thơ Đổi mới, nhưng chúng tôi vẫn tìm thấy khá nhiều ý kiến nhận định, đánh giá xác đáng về đề tài này (kết hợp với những chủ đề chính khác) trong nhiều công trình khoa học của các nhà nghiên cứu
Để tiện theo dõi, chúng tôi sẽ chia thành hai nhóm nội dung nghiên cứu
Trang 37sau đây:
- Những nghiên cứu về bối cảnh ra đời và đội ngũ sáng tác của thế hệ Đổi mới
- Những nghiên cứu về đóng góp và hạn chế của thế hệ Đổi mới
1.2.1.1 Nghiên cứu về bối cảnh ra đời và đội ngũ sáng tác của thế hệ Đổi mới
Trong nhiều công trình, khi “điểm danh” đội ngũ nhà thơ hậu chiến và Đổi mới, các nhà nghiên cứu thường sắp xếp theo giai đoạn sáng tác, chẳng hạn đội ngũ sáng tác trong giai đoạn sau 1975, sau 1986…
Lưu Khánh Thơ, trong công trình Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam
hiện đại, tập hợp nhiều bài viết về thơ thời Đổi mới, được công bố từ những
năm 90 của thế kỉ trước, đã nhận xét: “Lớp trẻ xuất hiện sau 1975, đặc biệt từ sau 1986 chiếm số lượng rất đông đảo, tạo thành một mặt bằng mới, rộng rãi cho sự phát triển của thơ hôm nay Hơn nửa số thơ đã xuất bản là của các tác giả thuộc thế hệ này Điểm nổi bật ở sáng tác của họ là sự đa dạng, trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ” [178, 103] Nhà nghiên cứu nhận định: “Thơ đang
có sự vận động cân bằng trở lại trong các mối quan hệ của đời sống Trước kia quên mình đi vì cộng đồng, nay con người có nhu cầu muốn khẳng định mình,
đi sâu vào những tình cảm riêng tư (…) Trở về với chính cuộc sống bên trong,
đó là nhu cầu nội tại thôi thúc của thơ, cũng là mong mỏi, đòi hỏi của bạn đọc” [178, 119]
Trong công trình Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995 (1997), Vũ Tuấn
Anh cho rằng, thơ Việt Nam từ 1945 - 1995 đã trải qua một chặng đường đầy thử thách Ông nhận ra hai bước chuyển mình, vượt thoát từ cái chung đến cái riêng; từ cái riêng mở rộng giao diện quan tâm đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Ông khẳng định, “Bước chuyển giai đoạn của thơ vào những năm 80 không khỏi tạo ra trạng thái mất cân bằng nào đó thể hiện trong diện mạo đa dạng đến phức tạp của nền thơ… Quang cảnh thơ 1995 đã có thể hiện phác họa
Trang 38trên những nét lớn: “Thơ có sự chuyển động rất đáng mừng Đó là mối quan tâm của nhà thơ đối với những vấn đề rộng lớn của đất nước” [1, 201]
Trong công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (1998), Lê Lưu
Oanh nhận xét: “Mười lăm năm thơ ca (1975 - 1990) là một giai đoạn không ngắn trong lịch sử phát triển thơ trữ tình, cần có một cái nhìn bao quát Đây là giai đoạn thơ chưa có tác giả xuất sắc tạo thành những đỉnh cao Nhưng xét chung về tổng thể, đã có những dấu hiệu thay đổi, khác biệt so với thơ ca giai đoạn trước” [134, 13] Nhà nghiên cứu này cũng khẳng định: “Thơ trữ tình sau
1975 là sản phẩm của những kiểu nhà thơ không hoàn toàn như trước Nó đang tìm đường, thử sức, dù chưa định hình, nhưng tràn đầy những dấu hiệu thay đổi trên một nền hình thức chung tương đối cố định (mang cả những truyền thống
thơ cũ và thơ mới)” [134, 142]
Mai Hương, trong tập tiểu luận - phê bình Văn học, một cách nhìn, cho
rằng: “Khởi đầu từ năm 1986, vẫn là những tài năng thơ đã ươm gieo thành công những hạt giống hình thức thơ, nhưng họ đông đảo hơn, trong những xu hướng tìm tòi đa dạng hơn, ý thức bền bỉ hơn… Điều đặc biệt đáng quý là tìm tòi của những nhà thơ hôm nay đã “mỗi người mỗi vẻ”, tuy chưa ai “mười phân vẹn mười”, nhưng bằng thành công của mỗi người, hình thức thơ Việt Nam trở nên giàu có hơn” [63, 20] Tác giả đã khẳng định về đội ngũ đông đảo nhà thơ với những tìm tòi, đổi mới tạo nên một diện mạo mới cho thơ Việt Nam thời
kỳ Đổi mới
Nghiên cứu quá trình vận động của văn học qua những bước ngoặt lịch
sử của đất nước, từ bối cảnh thời thời hậu chiến đến, hòa hợp dân tộc bước sang
thời kỳ đổi mới, “mở cửa”, Mã Giang Lân, trong công trình Tiến trình thơ Việt
Nam hiện đại (2000) cho rằng, đây là “không khí” mới, “điều kiện mới,” đòi
hỏi văn học cũng phải đổi mới Ông viết “Quá trình vận động đó diễn ra qua hai chặng: từ 1975 đến 1985 và từ 1986 đến nay… Thơ Việt Nam sau 1975, đặc biệt là từ 1986 bộ lộ rõ ý thức cá nhân “cái tôi” như bừng tỉnh, “cái tôi” ý
Trang 39thức về mình, về những vấn đề phong phú của cuộc đời” [88, 367]
Inrasara trong tập tiểu luận - phê bình Thơ Việt hành trình chuyển hướng
say (2014), đã đánh giá cao những nỗ lực trong việc cách tân, làm mới thơ ca
của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, đồng thời “gieo” vào người đọc về một hi vọng khởi sáng của thơ Việt đương đại: “Một thế hệ thơ làm việc sáng tạo và sòng phẳng Khi - sau “tiếng kẹt cửa” - một cánh cửa vừa khép lại và cánh cửa mới
hé mở ra Trước sương mù của không gian tự do sáng tạo, họ hoang mang nhưng không sợ hãi, có đôi chút lưỡng lự mà vẫn quyết dấn tới Họ đã làm nên các tác phẩm từ thời đại họ sống Và đặt được những viên đá đầu tiên trên con đường cách tân thơ Hôm nay, cùng với vài gương mặt sáng giá của thế hệ trẻ,
họ vẫn sung sức cho những dự án kế tiếp Họ có đó, đang là tuổi đứng bóng mặt trời của sáng tạo Ai biết chuyện gì sẽ xảy ra, ngày mai?” [70, 31]
Trong bài Dẫn nhập: Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai? (2016), Chu
Văn Sơn đã dẫn ra các cách định danh lớp nhà văn giai đoạn này như “Thế hệ hậu chiến? Thế hệ sau chống Mỹ? Thế hệ đổi mới?” và đi đến một tên gọi giản
dị “thế hệ nhà văn sau 1975” [130, 7] Ông cắt nghĩa, xác định thế hệ nhà văn sau 1975 trên nền tảng giá trị: “Nhờ nguồn sinh lực của của hệ giá trị mới mà diện mạo mới của văn học dần đỏ da thắm thịt Đồng thời, nhờ sức vóc và dung nhan của văn học mà giá trị mới được tôn vinh” [130, 13] Trả lời cho câu hỏi
“Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai?”, ông xác định những đường viền “phổ tuổi” có sự gần gũi, là “mỹ học của cái ngày thường muôn thuở” Ông nhận định sứ mệnh của văn học giai đoạn này là “phát hiện cái bất thường trong cái bình thường là tư duy thẩm mỹ bao trùm của chặng đường này” [130, 13] Phân biệt với “mẫu nhà văn chiến sĩ thời chiến”, ông đưa ra một khái niệm về “mẫu nhà văn kẻ sĩ hiện đại thời bình”, tức là nhấn mạnh vai trò, tư cách, ý thức trách nhiệm của người cầm bút nhằm cất lên tiếng nói phản biện với cái xấu, cái ác giúp cho cộng đồng phát triển
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, trong bài Thời đổi mới: Bước ngoặt lớn
Trang 40của Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX (2016), cũng mạnh mẽ khẳng định: “Thế
hệ nhà văn xuất hiện trên văn đàn sau năm 1975 là lớp người đóng góp lớn nhất cho sự nghiệp đổi mới văn học Họ xuất hiện là để làm mới văn học, là đưa văn học sang giai đoạn mới Họ không có gì để gìn giữ, trì kéo, không có gì để mất
Họ xuất hiện để giã từ những tín điều đã lỗi thời và tiếp thu tìm tòi những nguyên tắc nghệ thuật hiện đại, đi tìm những mĩ học mới và khác làm phong phú cho văn học dân tộc.” [130, 25]
Từ trải nghiệm của một người cầm bút, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, trong
Thế hệ nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã khẳng định một thời đại mới của thi ca
(2016), đã viết, “Thực sự những nhà thơ xuất hiện sau 1975 là một thế hệ đổi
mới quan trọng của văn học đương đại Việt Nam Trong số họ có những người
đã cầm bút từ trước đó, nhưng thành tựu thơ ca chính lại xuất hiện và được ghi nhận sau 1975 Có thể tạm phân định các nhà thơ này theo 2 nhóm: Nhóm thứ nhất: các nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến (xuất hiện từ 1975 đến 1990) - đây là những gương mặt thơ tiêu biểu làm nên diện mạo chính của thời kỳ đổi mới trong thơ Việt Nam đương đại Nhóm thứ hai: các nhà thơ trẻ xuất hiện trong giai đoạn 1990 - 2005 với những tìm tòi, phát hiện bước đầu được ghi nhận” [130, 50] Ông cho rằng, “Trong số những thành tựu nổi bật của thế hệ những nhà thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 là họ đã có những bước chuyển mới rất cơ bản về nội dung phản ánh, về nghệ thuật và thi pháp Thơ của họ gần gũi với cuộc đời hơn, gần với thiên nhiên, gần gũi với tâm sự buồn vui của con người hơn, thơ của họ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân phận Ngòi bút thơ của họ chủ động hơn, tìm tòi vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới” [130, 50]
Văn Giá trong bài Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt sau 1975:
Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều (2016), đã nhận
định: “thế hệ các nhà thơ tiếp liền với thế hệ trước 1975 khá đông đảo, và mỗi