Trên thực tế, nghiên cứu về căn bệnh ung thư hắc tố còn ít, chưa tập trung, chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả sống thêm sau điều trị. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu sau: 1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của UTHT da tại Bệnh viện K từ 2001-2012. 2. Đánh giá kết quả sau phẫu thuật triệt căn và một số yếu tố tiên lượng của UTHT da.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của bệnh nhân
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhận xét: tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 53,1 ± 14,2, tuổi thấp nhất là 10 tuổi và tuổi cao nhất là 85 tuổi, độ tuổi gặp nhiều nhất là từ 40 đến
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới
Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo giới
Nhận xét: trong 94 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu có 47 bệnh nhân nam và 47 bệnh nhân nữ, tỷ lệ nữ / nam là 1/1.
3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp Số BN Tỷ lệ %
Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là ở nhóm làm ruộng với 59,7%, tiếp theo là nhóm công nhân với 26,9%, trong khi nhóm cán bộ, trí thức có tỷ lệ thấp nhất là 13,4% Tuy nhiên, không có sự xác định rõ ràng về mối liên quan giữa nghề nghiệp và nguy cơ mắc bệnh.
3.1.4 Tiền sử bệnh của bệnh nhân và gia đình
Bảng 3.2 Tiền sử bệnh phối hợp của bệnh nhân và tiền sử gia đình
Bệnh phối hợp Số BN Tỷ lệ %
Mắc bệnh ung thư khác 0 0
Mắc bệnh nội ngoại khoa khác (không phải ung thư)
Bố bị ung thư hắc tố 4 4,2
Mẹ bị ung thư hắc tố 3 3,2
Bố bị ung thư khác 5 5,3
Mẹ bị ung thư khác 2 2,1
Bố mẹ không mắc ung thư 80 85,2
Trong nghiên cứu với 94 bệnh nhân, không có trường hợp nào có tiền sử mắc bệnh ung thư khác, chiếm 0% Đáng chú ý, 89 bệnh nhân (94,7%) có tiền sử sức khỏe bình thường Về tiền sử gia đình, có 4 trường hợp có bố mắc ung thư hạch, 3 trường hợp có mẹ mắc ung thư hạch, và 5 trường hợp có bố mắc các loại ung thư khác.
2 trường hợp mẹ bị ung thư khác, nhưng không xác định được sự liên quan giữa tiền sử bản thân và gia đình với nguy cơ mắc bệnh.
Đặc điểm lâm sàng
3.2.1 Thời gian từ lúc có triệu chứng đầu tiên tới thời điểm được chẩn đoán
Biểu đồ 3.3 Thời gian mắc bệnh
Thời gian mắc bệnh trung bình là 8,9 ± 5,0 tháng, với thời gian thấp nhất là 3 tháng và cao nhất là 24 tháng Đặc biệt, khoảng thời gian mắc bệnh từ 7-12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 45,7%.
3.2.2 Những triệu chứng xuất hiện đầu tiên
Bảng 3.3 Những triệu chứng xuất hiện đầu tiên
Triệu chứng đầu tiên Số BN Tỷ lệ %
Loét nốt ruồi chảy dịch, máu 30 31,9
Thay đổi màu sắc nốt ruồi 10 10,6 Đau nhói gan chân 9 9,6
Triệu chứng nốt ruồi to lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,1%, thường phát triển trên những nốt ruồi đã có từ trước Các dấu hiệu đi kèm bao gồm nốt ruồi to lên, loét, chảy dịch, chảy máu, ngứa, và thay đổi màu sắc, chiếm 82,9% Ngoài ra, có 9,6% trường hợp báo cáo cảm giác đau nhói ở gan chân.
3.2.3 Phân bố bệnh nhân theo màu sắc khối u nguyên phát
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo màu sắc khối u
Màu sắc khối u Số BN Tỷ lệ %
Nhận xét: khối u màu đen chiếm tỷ lệ cao nhất 60,6%, khối u màu nâu sẫm chiếm 25,5%, khối u không nhiễm sắc chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,7%
3.2.4 Phân bố bệnh nhân theo vị trí của khối u nguyên phát
Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh nhân theo vị trí khối u nguyên phát
Khối u ở chi dưới chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 54,3%, trong đó khối u ở gan bàn chân chiếm 38,4% Tiếp theo, khối u ở vị trí thân mình chiếm 39,3%, trong khi khối u ở vị trí đầu cổ có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,1%.
3.2.5 Phân bố bệnh nhân theo kích thước khối u
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo kích thước khối u
Kích thước u Số BN Tỷ lệ %
Kích thước trung bình của khối u được ghi nhận là 4,2 ± 1,8 cm, với kích thước nhỏ nhất là 1 cm và lớn nhất là 9 cm Đặc biệt, khối u có kích thước từ 3 đến 6 cm chiếm tỷ lệ 57,4%.
3.2.6 Phân bố bệnh nhân theo hình thái khối u
Biểu đồ 3.5 Phân bố bệnh nhân theo hình thái khối u
Theo thống kê, thể loét sùi có tỷ lệ cao nhất với 31,9%, tiếp theo là thể nốt ruồi to với 30,8% Thể loét đơn thuần chiếm 27,7%, trong khi thể sùi có tỷ lệ thấp nhất là 7,4%.
3.2.7 Phân bố bệnh nhân theo nhân vệ tinh quanh khối u
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo nhân vệ tinh quanh khối u
Nhân vệ tinh Số BN Tỷ lệ %
Không có nhân vệ tinh 55 58,5
Nhận xét: có nhân vệ tinh quanh khối u 39 BN chiếm tỷ lệ 41,5%, không có nhân vệ tinh quanh khối u 55 BN chiếm tỷ lệ 58,5%.
3.2.8 Phân bố bệnh nhân theo thể tiến triển bệnh
Biểu đồ 3.6 Phân bố bệnh nhân theo thể tiến triển bệnh
Trong nghiên cứu, thể lan tràn nông chiếm tỷ lệ cao nhất với 30,8% (29 bệnh nhân), theo sau là thể nốt ruồi son ở ngọn chi với 28,7% (27 bệnh nhân) Thể cục chiếm 21,3% với 20 bệnh nhân, trong khi thể nốt ruồi son có 16 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 17% Đáng chú ý, đã có 2 bệnh nhân từng được phẫu thuật cắt u trước đó.
3.2.9 Phân bố bệnh nhân theo vị trí hạch
Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo vị trí hạch
Vị trí hạch Số BN Tỷ lệ %
Trong một nghiên cứu với 94 bệnh nhân có đầy đủ thông tin về tổn thương hạch khu vực, hạch bẹn chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,4%, tiếp theo là hạch nách 21,3%, hạch khoeo 4,2%, và hạch cổ thấp nhất với 1,1% Tỷ lệ này có mối tương quan rõ rệt với vị trí khối u nguyên phát trên lâm sàng.
Đặc điểm cận lâm sàng
Biểu đồ 3.7 Xét nghiệm trước mổ và trong mổ
Nhận xét: trong 94 bệnh nhân có 62 trường hợp chiếm tỷ lệ 65,9% không cần sinh thiết tức thì trong khi mổ mà chẩn đoán dựa vào lâm sàng, có
Trong nghiên cứu về ung thư, có 14 trường hợp nghi ngờ UTHT cần thực hiện sinh thiết ngay trong quá trình mổ, chiếm tỷ lệ 14,9% Ngoài ra, xét nghiệm tế bào trước mổ ghi nhận 10 trường hợp, tương đương 10,7%, trong khi mô bệnh học trước mổ có 8 trường hợp, chiếm 8,5% Tất cả các trường hợp này đều được thực hiện tại các bệnh viện khác trước khi chuyển đến bệnh viện K.
Đối chiếu giữa lâm sàng với di căn hạch qua mô bệnh học
3.4.1 Liên quan kích thước khối u với di căn hạch
Bảng 3.8 Liên quan kích thước khối u với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Nhận xét: kích thước khối u trên lâm sàng có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.4.2 Liên quan loét bề mặt khối u với di căn hạch
Bảng 3.9 Liên quan loét bề mặt khối u với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Nhận xét: loét bề mặt khối u trên lâm sàng có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.4.3 Liên quan nhân vệ tinh quanh khối u với di căn hạch
Bảng 3.10 Liên quan nhân vệ tinh với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Không có nhân vệ tinh 19 36 55 58,5
Nhận xét: nhân vệ tinh quanh khối u trên lâm sàng có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.4.4 Liên quan thể tiến triển bệnh với di căn hạch
Bảng 3.11 Liên quan thể tiến triển bệnh với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Thể nốt ruồi son ở ngọn chi
Nhận xét cho thấy sự tiến triển bệnh lâm sàng không liên quan đến di căn hạch qua mô bệnh học, với sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.4.5 Liên quan kích thước hạch với di căn hạch
Bảng 3.12 Liên quan kích thước hạch với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Nhận xét: kích thước hạch trên lâm sàng có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.4.6 Liên quan giữa di động hạch với di căn hạch
Bảng 3.13 Liên quan giữa di động hạch với di căn hạch
Tính di động của hạch
Có di căn Không di căn
Nhận xét: tính di động của hạch có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.4.7 Liên quan giữa mật độ hạch với di căn hạch
Bảng 3.14 Liên quan mật độ hạch với di căn hạch
Có di căn Không di căn
Nhận xét: mật độ hạch có liên quan với di căn hạch qua mô bệnh học, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Xếp loại giai đoạn bệnh
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tích 94 bệnh nhân và chia họ thành hai nhóm dựa trên mô bệnh học: nhóm bệnh nhân ở giai đoạn đã di căn hạch và nhóm bệnh nhân ở giai đoạn chưa di căn hạch.
Bảng 3.15 Xếp loại giai đoạn bệnh
Giai đoạn bệnh Số BN Tỷ lệ %
GĐ chưa di căn hạch vùng 41 43,6
GĐ đã di căn hạch vùng 53 56,4
Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn chưa di căn hạch khu vực chiếm 43,6% với 41 trường hợp, trong khi tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn đã di căn hạch khu vực là 56,4% với 53 trường hợp.
Phương pháp phẫu thuật
Bảng 3.16 Phương pháp phẫu thuật triệt căn
Phương pháp phẫu thuật Số BN Tỷ lệ
Cắt rộng u + nạo vét hạch khu vực 62 66
Cắt rộng u + nạo vét hạch khu vực + nạo vét chặng hạch kế tiếp
Cắt cụt hoặc tháo khớp + nạo vét hạch khu vực 12 12,8 Nạo vét hạch khu vực đơn thuần (u đã PT trước khi vào viện)
Trong một nghiên cứu, 62 trường hợp phẫu thuật cắt rộng khối u cho thấy tỷ lệ cao nhất là 66% đối với việc vét hạch khu vực, trong khi tỷ lệ vét hạch đơn thuần (đối với những khối u đã được phẫu thuật trước khi nhập viện) chỉ chiếm 2,1%.
Kết quả nghiên cứu sống thêm sau phẫu thuật đơn thuần
3.7.1 Kết quả theo dõi sau phẫu thuật đơn thuần
Bảng 3.17 Kết quả theo dõi sau phẫu thuật
Diễn biến Kết quả theo dõi
BN được theo dõi lâu nhất 146 tháng
BN được theo dõi ngắn nhất 6 tháng
Thời gian theo dõi trung bình 38 tháng
Mất thông tin nửa chừng 0 bệnh nhân
Mất thông tin hoàn toàn 2 bệnh nhân
BN được theo dõi ≥ 5 năm 67 bệnh nhân (72,8%)
Nhận xét: BN được theo dõi lâu nhất là 146 tháng, ngắn nhất là 6 tháng, thời gian theo dõi trung bình là 38 tháng và BN được theo dõi ≥ 5 năm là 67
3.7.2 Tỷ lệ sống thêm 1, 3, 5 năm toàn bộ
Bảng 3.18 Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1, 3, 5 năm
Theo dõi BN sống BN chết BN mất theo dõi
Nhận xét: tỷ lệ sống thêm sau 1 năm 80,1%, sau 3 năm giảm xuống còn
Tỷ lệ sống thêm đã giảm liên tục trong 5 năm, từ 80,1% xuống còn 36,6% trong 3 năm đầu, và sau đó còn 27,1% sau 5 năm Sự giảm sút này cho thấy một xu hướng đáng lo ngại về khả năng sống thêm theo thời gian.
Biểu đồ 3.8 Thời gian sống thêm 5 năm toàn bộ
Tỷ lệ tử vong đã giảm liên tục trong ba năm đầu, nhưng sau giai đoạn này, mức giảm trở nên chậm lại Tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 27,1%.
3.7.3 Tỷ lệ sống thêm không tái phát di căn 1, 3, 5 năm toàn bộ
Bảng 3.19 Tỷ lệ sống thêm không tái phát di căn 1, 3, 5 năm toàn bộ
Theo dõi BN không tái phát di căn
BN tái phát di căn
Tỷ lệ không tái phát di căn (%)
Tỷ lệ không tái phát di căn sau điều trị giảm dần theo thời gian, với 78,3% sau 1 năm, 30,9% sau 3 năm và chỉ còn 25,7% sau 5 năm Ngược lại, tỷ lệ tái phát di căn lại tăng dần theo thời gian sau điều trị.
ST 5 năm TB= 27,1% trong 3 năm đầu là cao nhất, hai năm tiếp theo tốc độ tăng còn nhưng thấp hơn.
Biểu đồ 3.9 Sống thêm 5 năm không tái phát di căn
Nhận xét: tái phát di căn xảy ra chủ yếu 3 năm đầu, đến năm thứ 4, thứ
5 tái phát di căn giảm rõ rệt.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung bệnh nhân UTHT
UTHT không chỉ có sự phân tán về vị trí của u nguyên phát mà còn thể hiện sự phân tán về độ tuổi Biểu đồ 3.1 minh họa sự phân bố theo từng nhóm tuổi khác nhau.
Nghiên cứu cho thấy UTHT phân bố rải rác ở nhiều nhóm tuổi, với tuổi trung bình là 53,1 ± 14,2, trường hợp trẻ nhất là 10 tuổi và trường hợp già nhất là 85 tuổi Nhóm tuổi phổ biến nhất là từ 40 đến 70 tuổi, chiếm 76,5% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Garbe C và cộng sự (1995), với tuổi trung bình là 54,8, trường hợp trẻ nhất là 8 tuổi và trường hợp già nhất là 92 tuổi, trong khi nhóm tuổi gặp nhiều nhất cũng là từ 40 đến 80 tuổi, như nghiên cứu của Masback A và cộng sự.
Theo các nghiên cứu, độ tuổi trung bình của bệnh nhân lần lượt là 53,2 (1997), 54,2 (1999) và 53,6 (2001) Trường hợp trẻ nhất là 11-14 tuổi và trường hợp già nhất từ 79-86 tuổi Nhóm tuổi phổ biến nhất nằm trong khoảng từ 40 đến 70, chiếm tỷ lệ lần lượt 72,4%, 74,8% và 76,6% Điều này cho thấy nhóm tuổi trẻ ít gặp hơn so với nhóm tuổi từ 40 đến 70, phản ánh sự đa dạng về tuổi tác của căn bệnh này.
Biểu đồ 3.2 cho thấy sự phân bố giới tính của 94 bệnh nhân UTHT, với tỷ lệ nam và nữ đều là 50%, mỗi giới có 47 trường hợp, tạo thành tỷ lệ nữ/nam là 1/1 Tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, cụ thể là 1,2 của Bùi Thị Bắc (1999), 1,24 của Đào Tiến Lục (2001), 1,5 của Phạm Hoàng Anh (1999) và 1,4 của Garbe C cùng cộng sự (1995).
Sự chênh lệch này có thể được giải thích bởi việc chúng tôi chỉ chọn nhóm bệnh nhân UTHT thực hiện phẫu thuật đơn thuần, cùng với cỡ mẫu nghiên cứu có thể chưa đủ lớn.
Bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở bệnh nhân làm ruộng với 59,7%, tiếp theo là bệnh nhân làm công nhân với 26,9%, và thấp nhất là cán bộ trí thức với 13,4% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trước đó, cho thấy bệnh nhân nông dân có tỷ lệ mắc bệnh từ 58,5% đến 63,1%, trong khi công nhân và cán bộ trí thức có tỷ lệ mắc thấp hơn Nhiều bệnh ung thư liên quan đến nghề nghiệp do phơi nhiễm môi trường làm việc, đặc biệt là bệnh UTHT liên quan đến bức xạ mặt trời Những người làm việc ngoài trời như nông dân và công nhân có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, điều này phù hợp với các yếu tố nguy cơ đã được xác định.
4.1.4 Tiền sử bản thân và gia đình
Trong nghiên cứu với 94 bệnh nhân, không có trường hợp nào mắc bệnh ung thư khác, chiếm tỷ lệ 0% Chỉ có 5 bệnh nhân mắc bệnh nội và ngoại khoa không phải ung thư, tương đương 5,3%, trong khi 89 bệnh nhân có tiền sử sức khỏe bình thường, chiếm 94,7% Về tiền sử gia đình, có 4 trường hợp bố mắc ung thư họng (UTHT), chiếm 4,2%, và 3 trường hợp mẹ mắc UTHT, chiếm 3,2% Ngoài ra, có 5 trường hợp bố mắc ung thư khác (5,3%) và 2 trường hợp mẹ mắc ung thư khác (2,1%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Bùi Thị Bắc (1999), cho thấy tỷ lệ bố mẹ mắc UTHT là 6,4% và bố mẹ mắc ung thư khác là 7,8%.
Theo nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em có bố mẹ bị ung thư tế bào thận (UTHT) là 5,3% (2001) và 9,5% (Garbe C và cộng sự, 1995), trong khi tỷ lệ ở trẻ em có bố mẹ mắc các loại ung thư khác lần lượt là 6,8% và 11,5% Tuy nhiên, nghiên cứu không xác định được mối liên hệ giữa tiền sử bệnh án cá nhân và gia đình với nguy cơ mắc bệnh.
Đặc điểm lâm sàng của ung thư hắc tố
4.2.1 Vấn đề chậm trễ trong chẩn đoán xác định bệnh
Thời gian có bệnh là khoảng thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên khiến bệnh nhân lo lắng cho đến khi có chẩn đoán xác định.
Biểu đồ 3.3 cho thấy sự phân bố của 94 bệnh nhân UTHT theo thời gian mắc bệnh, với 34,1% (32 trường hợp) mắc bệnh trong vòng ≤ 6 tháng, 45,7% (43 trường hợp) từ 7-12 tháng và 20,2% (19 trường hợp) trên 12 tháng Thời gian chậm trễ trung bình là 8,9 ± 5,0 tháng, dao động từ 3 tháng đến 24 tháng Tỷ lệ này tương tự như nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), trong đó ≤ 6 tháng chiếm 33,8% và từ 7 đến 12 tháng chiếm 46,4%.
Tỷ lệ thời gian chậm trễ trong các nghiên cứu cho thấy rằng hơn 12 tháng chiếm 19,8%, với thời gian chậm trễ trung bình là 9,5 tháng, trong khi kết quả nghiên cứu của Krige J.E và cộng sự (1991) cho thấy ≤ 6 tháng chiếm 68,3%, từ 7-12 tháng là 15,3% và > 12 tháng là 16,4% Thời gian chậm trễ trung bình trong nghiên cứu trước đó là 5,2 tháng, với thời gian sớm nhất là 2 tháng và muộn nhất là 16 tháng.
Sự chậm trễ trong chẩn đoán bệnh UTHT có thể xuất phát từ cả hai phía: bệnh nhân và thầy thuốc Bệnh nhân thường không nhận thức đầy đủ về bệnh và các triệu chứng sớm, dẫn đến việc không đi khám kịp thời Trong khi đó, hạn chế trong công tác chẩn đoán tại các cơ sở y tế cũng góp phần vào vấn đề này Để khắc phục tình trạng trên, cần tăng cường giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh UTHT, đặc biệt là các triệu chứng sớm, nhằm khuyến khích người dân đi khám ngay khi có dấu hiệu bất thường Đồng thời, phát triển mạng lưới phòng chống ung thư tại các tuyến cơ sở để bác sĩ có đủ kiến thức và khả năng nhận diện bệnh UTHT từ sớm.
4.2.2 Những triệu chứng đầu tiên khiến bệnh nhân chú ý đến bệnh
Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh rất quan trọng và bệnh nhân cần chú ý để đi khám bác sĩ kịp thời Khi khám bệnh, bác sĩ cần xem xét đến khả năng mắc UTHT để chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm.
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, 35,1% bệnh nhân nhận thấy sự bất thường khi nốt ruồi lớn lên nhanh chóng, trong khi 31,9% chú ý đến triệu chứng như loét, chảy dịch hoặc chảy máu Ngoài ra, 5,3% bệnh nhân báo cáo có dấu hiệu ngứa, và 10,6% ghi nhận sự thay đổi màu sắc của nốt ruồi Điều này cho thấy bệnh chủ yếu phát triển trên những nốt ruồi đã tồn tại trước đó.
Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy đau nhói ở gan bàn chân lên tới 82,9%, trong khi 9,6% phát hiện có u ở gan bàn chân và 7,5% tình cờ phát hiện nổi u hoặc hạch không rõ nguyên nhân Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), trong đó 33,3% bệnh nhân có nốt ruồi to nhanh, 28,5% bị loét nốt ruồi chảy dịch hoặc chảy máu, và 12% cảm thấy đau nhói ở gan bàn chân Để phát hiện ung thư hắc tố da (UTHT) sớm, người ta có thể dựa vào các dấu hiệu và triệu chứng sớm theo tiêu chí ABCD.
+A: asymmetrical shape = mất tính cân đối của một nốt ruồi hoặc tổn thương sắc tố da cũ hoặc của một vùng da bình thường.
+B: border irigularity = thay đổi bất thường về bờ của tổn thương. +C: colorvaregation = thay đổi màu sắc của tổn thương.
+D: diamter greater than 6mm = đường kính tổn thương > 6mm.
Hoặc dựa vào bảng 7 điểm của Glassgow , :
- Nhóm triệu chứng có giá trị quan trọng là:
+ Thay đổi về kích thước của tổn thương cũ hoặc xuất hiện tổn thương mới. + Thay đổi về hình dạng.
+ Thay đổi về màu sắc là chuyển màu thành màu đen, nâu đen và nâu
- Những triệu chứng ít có giá trị:
+ Đường kính tổn thương > 6mm.
+ Phản ứng viêm tấy tại chỗ.
+ Ngứa gãi, loét chảy dịch, chảy máu.
+ Thay đổi cảm giác tại tổn thương.
Cần tuyên truyền và giáo dục cộng đồng để người dân nhận biết các triệu chứng sớm của bệnh, từ đó nâng cao sự quan tâm khi bệnh mới xuất hiện Nhân viên y tế tại cơ sở cần hiểu rõ các triệu chứng này để có thể nhận diện bệnh UTHT khi bệnh nhân đến khám, từ đó có thái độ xử lý phù hợp hoặc chuyển bệnh nhân đến bác sĩ chuyên ngành ung thư, nhằm tránh tình trạng điều trị không đúng ngay từ lần đầu.
4.2.3 Phân bố màu sắc của khối u nguyên phát
Bảng 3.4 cho thấy khối u màu đen tuyền chiếm tỷ lệ cao nhất với 57 trường hợp, tương đương 60,6%, tiếp theo là khối u màu nâu sẫm với 24 trường hợp (25,5%), và khối u không nhiễm sắc có 11 trường hợp (11,7%) Ngoài ra, có 2 trường hợp (2,2%) khó xác định do đã được cắt tại bệnh viện khác trước khi đến viện K UTHT phát sinh từ các tế bào hắc tố ở da, chủ yếu từ các nốt ruồi, do đó hầu hết các tổn thương có màu sắc từ các nốt sắc tố nguyên phát.
Bảng 4.1 So sánh màu sắc của khối u nguyên phát với các tác giả khác trong và ngoài nước
Tác giả Màu đen Màu nâu sẫm
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với những phát hiện của Urist M.M và cộng sự (1996), Bartoli C và cộng sự (1996), cũng như Đào Tiến Lục (2001) [30], [34].
[67] Chúng tôi có nhận xét UTHT có màu đen tuyền và màu nâu sẫm chiếm đa số, phù hợp với khối u phát triển từ nốt ruồi có từ trước.
4.2.4 Phân bố vị trí của khối u nguyên phát
Biểu đồ 3.4 chỉ ra rằng vị trí chi dưới là phổ biến nhất với 51 bệnh nhân, chiếm 54,3% Thân mình đứng thứ hai với 37 bệnh nhân, tương ứng với tỷ lệ đáng kể.
39,3%, sau đó là vị trí chi trên 5 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 5,3%, vị trí đầu cổ thấp nhất 1 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 1,1%
Bảng 4.2 So sánh phân bố vị trí khối u nguyên phát với một số nghiên cứu khác
Tác giả Đầu cổ Thân mình Chi trên Chi dưới
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ khối u ở vị trí đầu cổ thấp hơn so với các nghiên cứu khác, trong khi khối u ở vị trí thân mình lại chiếm tỷ lệ cao hơn Tỷ lệ khối u ở vị trí chi trên tương đương với kết quả nghiên cứu của Đào Tiến Lục.
(2001) , thấp hơn kết quả nghiên cứu của Garbe C (1995) và Roder D.S
Nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ khối u ở chi dưới cho thấy kết quả tương tự với Đào Tiến Lục (2010) nhưng thấp hơn so với Bùi Thị Bắc (1999) Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ lệ khối u ở chi dưới cao hơn so với kết quả của Garbe C (1995) và Roder D.S (2010) Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn và khác biệt về vị trí địa lý Kết quả cũng cho thấy nguyên phát của u tế bào hắc tố thường xuất phát từ những vùng da tiếp xúc, cọ sát nhiều và phơi nhiễm với bức xạ ánh nắng mặt trời, như da vùng cẳng chân, mu bàn chân và gan bàn chân Chúng tôi nhận thấy rằng u tế bào hắc tố thường gặp ở chi dưới, chiếm tỷ lệ cao hơn so với các vị trí khác trong tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước.
4.2.5 Phân bố kích thước khối u nguyên phát
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kích thước khối u ở bệnh nhân như sau: 26 bệnh nhân (27,6%) có khối u < 3 cm, 54 bệnh nhân (57,4%) có khối u từ 3 đến 6 cm, và 12 bệnh nhân (12,8%) có khối u > 6 cm Hai bệnh nhân không xác định được kích thước khối u do đã cắt ở bệnh viện khác trước khi nhập viện K Kích thước khối u trung bình là 4,2 ± 1,8 cm, với khối u nhỏ nhất là 1 cm và lớn nhất là 9 cm, trong đó nhóm khối u từ 3 đến 6 cm chiếm tỷ lệ cao nhất Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Bùi Thị Bắc (1999) với khối u < 3 cm chiếm 28,4%, từ 3 đến 6 cm chiếm 56,8% và > 6 cm chiếm 14,8%, với kích thước trung bình là 4,1 cm Tuy nhiên, khác với nghiên cứu của Roder D.S và cộng sự (2010), trong đó khối u < 3 cm chiếm 67,4%.
Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân phát hiện ung thư ở giai đoạn muộn cao, dẫn đến khối u lớn chiếm 6% với kích thước 6 cm Ngược lại, ở các quốc gia khác, bệnh nhân thường được chẩn đoán sớm hơn, giúp giảm tỷ lệ khối u lớn.
4.2.6 Phân bố hình thái khối u nguyên phát
Đặc điểm cận lâm sàng của ung thư hắc tố
Biểu đồ 3.7 cho thấy trong số 94 bệnh nhân, có 10 bệnh nhân (10,7%) được làm tế bào trước mổ, 8 bệnh nhân (8,5%) đã sinh thiết tại các bệnh viện khác trước khi nhập viện K, và 14 bệnh nhân (14,9%) được sinh thiết tức thì trong mổ do nghi ngờ ung thư hắc tố (UTHT) Đặc biệt, 62 bệnh nhân (65,9%) không cần sinh thiết tức thì mà chỉ dựa vào chẩn đoán lâm sàng, với kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật đều xác định là ung thư hắc tố UTHT có đặc điểm là các tế bào ung thư dễ dàng tách ra theo đường bạch huyết và đường máu, dẫn đến di căn nhanh chóng Khi khối u có chảy máu hoặc đã can thiệp không triệt để, tế bào ung thư có thể lan rộng giống như việc động vào tổ kiến lửa Do đó, chẩn đoán UTHT chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, và chỉ trong một số trường hợp nghi ngờ, mới thực hiện sinh thiết tức thì trong mổ, không nên làm tế bào hay sinh thiết trước mổ.
Đối chiếu lâm sàng với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
4.4.1 Liên quan kích thước khối u với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.8 cho thấy trong số 26 trường hợp kích thước khối u < 3 cm, có
Nghiên cứu cho thấy 21 trường hợp không di căn hạch chiếm tỷ lệ 80,7% Trong số 54 trường hợp có kích thước khối u từ 3 đến 6 cm, 36 trường hợp đã di căn hạch, tương đương 66,7% Đối với 12 trường hợp có kích thước khối u lớn hơn 6 cm, 7 trường hợp đã di căn hạch, chiếm 58,3% Điều này cho thấy kích thước khối u lớn có liên quan đến tỷ lệ di căn hạch cao, trong khi kích thước khối u nhỏ có tỷ lệ di căn thấp, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này nhất quán với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) và Hsueh E.C cùng cộng sự (1999), khẳng định rằng kích thước khối u càng lớn thì khả năng di căn hạch càng cao.
4.4.2 Liên quan loét bề mặt khối u với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.9 cho thấy trong số 53 trường hợp không loét bề mặt khối u có
Trong nghiên cứu, 39 trường hợp không di căn hạch chiếm tỷ lệ 73,6%, trong khi 34 trường hợp loét bề mặt khối u có tỷ lệ di căn hạch lên tới 87,2% Đặc biệt, 2 trường hợp đã phẫu thuật cắt khối u trước khi nhập viện đều cho di căn hạch 100% Kết quả cho thấy khối u có loét bề mặt có nguy cơ di căn hạch cao hơn, trong khi khối u không loét bề mặt có nguy cơ thấp hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Đào Tiến Lục (2001) và Hsueh E.C cùng cộng sự (1999), cho thấy tỷ lệ di căn hạch tương ứng là 85,2% và 78,8% đối với khối u có loét bề mặt.
4.4.3 Liên quan nhân vệ tinh với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.10 cho thấy trong số 55 trường hợp không có nhân vệ tinh quanh khối u có 36 trường hợp không di căn hạch chiếm tỷ lệ 65,4%, trong số
Trong nghiên cứu có 39 trường hợp có nhân vệ tinh quanh khối u, trong đó có 31 trường hợp di căn hạch, chiếm tỷ lệ 79,5% Kết quả cho thấy, sự hiện diện của nhân vệ tinh quanh khối u liên quan đến tỷ lệ di căn hạch cao, trong khi không có nhân vệ tinh quanh khối u lại dẫn đến tỷ lệ di căn hạch thấp, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này cũng nhất quán với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001) và Hsueh E.C cùng cộng sự.
(1999), có nhân vệ tinh quanh khối u thì cho di căn hạch cao tương ứng là 75,6% và 78,9% ,
4.4.4 Liên quan thể tiến triển bệnh với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.11 cho thấy trong số 29 trường hợp thể lan tràn nông có 18 trường hợp di căn hạch chiếm tỷ lệ 62,1%, trong số 20 trường hợp thể cục có
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ di căn hạch là 50% trong 10 trường hợp, với 7 trong số 16 trường hợp thể nốt ruồi son đạt tỷ lệ 43,8% Đối với 27 trường hợp thể nốt ruồi son ở ngọn chi, tỷ lệ di căn hạch là 48,1%, và 2 trường hợp đã cắt khối u trước khi vào viện có tỷ lệ di căn hạch 100% Sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Kết quả của nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), cho thấy sự khác nhau về thể tiến triển bệnh và di căn hạch nhưng không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nghiên cứu của Balch C.M và cộng sự (1997) cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Điều này có thể do cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn.
4.4.5 Liên quan kích thước hạch với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.12 cho thấy trong số 54 trường hợp kích thước hạch ≤ 3 cm có
Trong nghiên cứu, 39 trường hợp không di căn hạch chiếm 72,2%, trong khi 35 trong số 40 trường hợp có kích thước hạch lớn hơn 3 cm đã di căn hạch, đạt tỷ lệ 87,5% Điều này cho thấy kích thước hạch lớn liên quan đến khả năng di căn hạch cao, ngược lại kích thước hạch nhỏ có tỷ lệ di căn thấp Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đào Tiến Lục.
(2001) và của Hsueh E.C cùng cộng sự (1999), kích thước hạch càng lớn thì khả năng cho di căn hạch càng cao ,
4.4.6 Liên quan giữa di động hạch với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Bảng 3.13 chỉ ra rằng trong số 48 trường hợp hạch di động dễ, có 31 trường hợp không di căn hạch, chiếm tỷ lệ 64,5% Ngược lại, trong số 46 trường hợp hạch di động hạn chế, có 33 trường hợp di căn hạch, chiếm tỷ lệ 71,7% Điều này cho thấy hạch di động dễ có khả năng di căn hạch thấp, trong khi hạch di động hạn chế có khả năng di căn hạch cao, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p.
< 0,05 Nghiên cứu này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Đào Tiến
Theo nghiên cứu của Lục (2001) và Hsueh E.C cùng cộng sự (1999), hạch di động dễ có khả năng di căn thấp, trong khi hạch di động hạn chế lại cho thấy khả năng di căn cao hơn.
4.4.7 Liên quan giữa mật độ hạch với di căn hạch vùng qua mô bệnh học
Trong nghiên cứu về hạch bạch huyết, bảng 3.14 cho thấy trong số 50 trường hợp hạch mật độ chắc, có 44 trường hợp di căn, chiếm tỷ lệ 88% Ngược lại, trong số 44 trường hợp hạch mật độ mềm, chỉ có 38 trường hợp không di căn, chiếm tỷ lệ 86,3% Điều này cho thấy hạch mật độ chắc có khả năng di căn cao hơn, trong khi hạch mật độ mềm có khả năng di căn thấp hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nghiên cứu này cũng đồng nhất với các kết quả trước đây của Đào Tiến Lục (2001) và Hsueh E.C cùng cộng sự (1999), cho thấy mối liên hệ giữa mật độ hạch và khả năng di căn.
Trong nhóm nghiên cứu các bệnh nhân đều được phẫu thuật có tính triệt căn.
Trong nghiên cứu với 94 bệnh nhân, 80 trường hợp đã được phẫu thuật cắt rộng khối u với diện cắt sạch ung thư vi thể Có 12 bệnh nhân phải thực hiện cắt cụt hoặc tháo khớp do u xâm lấn vào xương hoặc mạch máu thần kinh, hoặc có nhiều nhân vệ tinh xa khối u nguyên phát, không còn khả năng bảo tồn Ngoài ra, có 2 trường hợp khối u đã được phẫu thuật cắt rộng tại bệnh viện khác, do đó không cần phẫu thuật lại.
Với 94 bệnh nhân được thực hiện vét hạch vùng, trong đó 18 trường hợp cần vét thêm chặng hạch kế tiếp do nghi ngờ di căn, kết quả mô bệnh học cho thấy không có di căn ở các hạch này Do tính chất ác tính cao của ung thư hạch, việc vét hạch cần loại bỏ các cấu trúc cân cơ dính với khối hạch để tránh làm vỡ hạch và lây lan tế bào ung thư ra tổ chức xung quanh Ung thư hạch thường ít đáp ứng với các phương pháp điều trị bổ trợ như hóa trị, xạ trị và miễn dịch, do đó vai trò của phẫu thuật trở nên quan trọng, và nguyên tắc phẫu thuật ung thư cần được thực hiện một cách triệt để.
4.6 Thời gian sống thêm sau phẫu thuật đơn thuần và một số yếu tố tiên lượng
4.6.1 Thời gian sống thêm 5 năm toàn bộ, 5 năm không tái phát di căn
Bảng 3.18 và biểu đồ 3.8 cho thấy tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 1 năm là 80,1%, sau 3 năm giảm xuống còn 36,6% và sau 5 năm chỉ còn 27,1%.
Bảng 3.19 và biểu đồ 3.9 cho thấy tỷ lệ sống thêm không bệnh sau 1 năm là 78,3%, sau 3 năm giảm xuống còn 30,9% và sau 5 năm chỉ còn 25,7%.
Tỷ lệ sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ giảm liên tục trong 5 năm, với tốc độ giảm cao nhất trong 3 năm đầu Cụ thể, tỷ lệ sống thêm không bệnh giảm từ 100% xuống 30,9% và sống thêm toàn bộ giảm từ 100% xuống 36,6% Sau 3 năm, tỷ lệ giảm vẫn còn nhưng thấp hơn, với sống thêm không bệnh còn 25,7% và sống thêm toàn bộ còn 27,1% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), với tỷ lệ sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ lần lượt là 79,6%, 41,4%, 25% và 89,0%, 50,2%, 25,6% Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi khác với nghiên cứu của Hancock BW (2004) với tỷ lệ sống thêm 5 năm chung là 29,5%, Levis F (2005) là 34,5%, và Charles M (2001) là 35,8% Sự khác biệt này có thể do chúng tôi chỉ nghiên cứu nhóm bệnh phẫu thuật đơn thuần mà không có điều trị bổ trợ miễn dịch, trong khi các nghiên cứu khác có áp dụng điều trị này.
Khác với nhiều loại ung thư khác, ung thư tế bào thận (UTHT) có tỷ lệ tái phát, di căn và tử vong cao nhất trong năm đầu và năm thứ hai sau phẫu thuật, nhưng vẫn có thể xảy ra trong những năm tiếp theo Điều này cho thấy UTHT là một bệnh lý rất ác tính, đòi hỏi sự theo dõi và điều trị liên tục.
4.6.2 Các yếu tố có ý nghĩa tiên lượng
Qua phân tích đơn yếu tố về tỷ lệ tái phát di căn và khả năng sống thêm 5 năm, chúng tôi đã xác định được một số yếu tố có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.
Kết quả điều trị ung thư hạch tuyến tại nhóm khối u có loét bề mặt cho thấy tỷ lệ tái phát di căn cao hơn (75,6%) so với nhóm không có loét (61,2%), với p = 0,037 Ngoài ra, nhóm có loét bề mặt cũng có tỷ lệ sống thêm 5 năm thấp hơn (22,4%) so với nhóm không có loét (37,1%), với p = 0,036 Những phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của Đào Tiến Lục (2001), khẳng định mối liên hệ giữa loét bề mặt và kết quả điều trị.
Tỷ lệ sống thêm 5 năm của bệnh nhân có khối u có loét bề mặt là 80,5%, trong khi nhóm không loét bề mặt chỉ đạt 65,2% Cụ thể, tỷ lệ sống thêm 5 năm chung cho tất cả các giai đoạn ở nhóm có loét bề mặt là 7,11%, so với 42,11% ở nhóm không loét, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Nghiên cứu của Hsueh E.C và cộng sự (1999) cũng cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm của nhóm khối u có loét bề mặt là 39,3%, trong khi nhóm không loét đạt 87%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.