Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu thực sự của bản thân tôi, chưa được công bố ở bất kỳ nơi nà
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ VĂN MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH VẬT THỂ CHAMPA TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ VĂN MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH
VẬT THỂ CHAMPA TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu thực sự của bản thân tôi, chưa được công bố ở bất kỳ nơi nào và được thực hiện trên việc vận dụng các kiến thức
đã được học, nghiên cứu các tài liệu tham khảo, kết hợp quá trình điều tra thực tiễn với sự hướng dẫn khoa học của TS Võ Văn Tuyển để hoàn thành luận văn của mình Số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn và các số liệu trong luận văn đều được dẫn nguồn tài liệu tham khảo
Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Học viên
Ngô Văn Minh
Trang 4Luận văn này là kết quả của bản thân sau một quá trình nỗ lực học tập và nghiên cứu với sự giúp đỡ của thầy cô, đồng nghiệp và người thân
Để có được thành quả ngày hôm nay, lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đền thầy giáo, TS Võ Văn Tuyển, người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã dành nhiều thời gian, công sức trong quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tiếp theo, xin cảm ơn đến Cơ sở Học viện Hành chính khu vực Miền Trung, Khoa Sau Đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính đã giảng dạy tận tình và truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong công tác, họp tập và sự quan tâm, chia sẻ của các bạn cùng học lớp cao học HC 20 T4 cũng chính là động lực giúp tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong quý thầy cô và những người quan tâm đến đề tài có những đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./
Học viên
Ngô Văn Minh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Kết quả và đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 7
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QLNN ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA 8 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8
1.1.1 Di sản văn hóa, các loại hình di sản văn hóa 8
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa 12
1.1.3 Chủ thể và đối tượng QLNN về di sản văn hóa 14
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về DSVH 14
1.2.1 Đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, DSVH 14
1.2.2 Đảm bảo công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH theo đúng định hướng 16
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về DSVH 18
1.3.1 Xây dựng thể chế, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về DSVH 18
1.3.2 Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về DSVH 20
Trang 6trị DSVH 21
1.3.5 Công tác hợp tác quốc tế trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 23
1.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực di sản văn hóa 24
Tiểu kết Chương 1 25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH VẬT THỂ CHAMPA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 26
2.1 Tổng quan về di tích vật thể Champa tại Thừa Thiên Huế 26
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội của Thừa Thiên Huế 26
2.1.2 Tổng quan về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 27
2.2 Thực trạng QLNN về di tích vật thể Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế 57
2.2.1 Việc thể chế hóa, triển khai thực hiện các văn bản QLNN về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 57
2.2.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức QLNN về di tích lịch sử văn hóa, di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 61
2.2.3 Quản lý việc trùng tu, bảo vệ và phát huy giá trị di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 71
2.2.4 Nguồn lực về tài chính và xã hội hóa công tác trùng tu di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 73
2.3 Đánh giá chung về thực trạng QLNN về di tích vật thể Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế 74
2.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 78
Tiểu kết Chương 2 83
Trang 73.1 Yêu cầu của QLNN đối với di tích vật thể Champa trên địa bàn Thừa
Thiên Huế 84
3.2 Giải pháp tăng cường công tác QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 86
3.2.1 Về thống nhất quản lý di tích vật thể Champa 86
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá về di sản, kêu gọi người dân về ý thức giữ gìn di sản 88
3.2.3 Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về văn hóa Champa cho cán bộ làm công tác QLNN về văn hóa, cán bộ làm công tác bảo tồn di tích, các hướng dẫn viên du lịch 89
3.2.4 Đẩy mạnh xã hội hóa về bảo tồn và phát huy giá trị di tích 91
3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý di sản 92
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất đối với các cơ quan QLNN để bảo tồn di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 93
3.3.1 Trùng tu di tích 93
3.3.2 Khai quật phế tích để nghiên cứu và thu hồi hiện vật 93
3.3.3 Tôn tạo và bảo quản tại chỗ 94
3.3.4 Phối hợp quản lý hiện vật Champa trong các sưu tập tư nhân 96
Tiểu kết Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 9Tất cả những đặc điểm trên đây góp phần tạo nên một nền nghệ thuật kiến trúc độc đáo phản ánh đầy đủ và rõ nét văn hóa xã hội Champa Kiến trúc Champa vì thế cũng đa dạng, phong phú
Trong truyền thống văn hóa đa sắc màu của dân tộc Việt Nam, văn hóa của người Chăm chiếm một vị trí quan trọng Là một trong 54 dân tộc sống chung trong cộng đồng trên lãnh thổ dải đất Việt Nam, người Chăm đã tạo nên một nền văn hóa độc đáo, làm nên sự phong phú, đa dạng, những giá trị đặc sắc cho nền văn hóa của nước Việt Nam thống nhất
Những DSVH của người Chăm tạo ra để lại cho đến ngày nay vô cùng phong phú, nhiều loại hình, tạo nên những giá trị văn hóa lớn không những ở Việt Nam mà có tầm cỡ khu vực Đông Nam Á và thế giới Một trong những di tích Chăm để lại - Di tích Mỹ Sơn - được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới
Trang 10Nghiên cứu văn hóa Champa nói chung, di tích Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế nói riêng là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm từ hơn 1 thế kỷ nay
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trên chỉ công bố các kết quả nghiên cứu, các số liệu thống kê về di tích và hiện vật Champa có trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế dưới dạng văn bản Trong khi trên thực tế, di tích và hiện vật Champa ở Thừa Thiên Huế hiện diện rải rác trên một địa bàn rộng lớn, chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Điều này gây nên những khó khăn nhất định trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích và hiện vật Champa, nhất là trong việc đưa các di tích và hiện vật này vào phục vụ hoạt động du lịch, tham quan, nghiên cứu trên diện rộng
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài Quản lý nhà nước về Di tích vật thể
Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế để làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Quản lý công với hy vọng sẽ tập hợp, thống kê đầy đủ các di tích và hiện vật Champa hiện có trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, giúp cho các cơ quan chức năng của tỉnh và các cơ quan quản lý DSVH Champa ở các địa phương trong tỉnh có một công cụ tương đối thuận tiện để quản lý và phát huy giá trị các di tích và di vật Champa này
Chúng tôi cũng hy vọng rằng từ kết quả nghiên cứu của đề tài, với sự góp sức của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý, nghiên cứu và trùng tu tôn tạo các di tích và di vật Champa, đề tài này đề xuất các giải pháp giúp ích cho việc quản lý và bảo tồn và phát huy giá trị các di tích và di vật Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại thành phố Huế, công bố trong cuốn Champa - Tổng mục lục các công trình nghiên cứu, xuất bản vào năm 2002,
Trang 11thì đến thời điểm 2002 đã có 2.278 công trình nghiên cứu (bao gồm: sách khảo cứu, bài báo nghiên cứu, bài viết giới thiệu di tích và hiện vật Champa ) của hơn 1.500 tác giả trong và ngoài nước Trong đó, có hơn 400 công trình khoa học, bài nghiên cứu về văn hóa Champa và các di tích và hiện vật Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Điều này thể hiện sức hấp dẫn của nền văn hóa Champa đối với các học giả trong và ngoài nước và vị trí quan trọng đặc biệt của văn hóa Champa trong nền văn hóa Việt Nam và khu
vực Dáng chú ý là các công trình nghiên cứu sau:
- Về văn hóa Champa nói chung, đáng chú ý là công trình của Lê Đình
Phụng và Nguyễn Xuân Hoa, Văn hóa Champa ở Thừa Thiên Huế (Tài liệu
đánh máy, 2002) Các tác giả đã kết hợp tài liệu thư tịch với tài liệu hiện vật, điền dã, tiến hành khảo tả, nghiên cứu các di tích văn hóa Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế trên các đối tượng: tháp, thành cổ, điêu khắc, văn bia… Năm 1995, nhóm tác giả ở trường Đại học Tổng hợp Huế do Trần Văn
Tuấn chủ trì đã hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Về những DTLS
văn hóa vùng cực Bắc vương quốc Champa (Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp
bộ, Trường Đại học Tổng hợp Huế, 1995) Nghiên cứu trên địa bàn từ đèo Ngang tới đèo Hải Vân (khu vực Bình - Trị - Thiên) Riêng về phần Thừa Thiên Huế chiếm một dung lượng khá lớn, có giá trị tham khảo cao
- Về những hiện vật văn hóa Champa trên đất Thừa Thiên Huế, năm
1997, Bảo tàng Tổng hợp Thừa Thiên Huế (nay là Bảo tàng Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế) đã có đợt khảo sát trên toàn địa bàn, cho biết hiện vật văn hóa Champa hiện còn (thời điểm 1997) được lưu giữ ở nhiều xã thuộc các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy Riêng tại thành phố Huế hiện vật Champa được lưu giữ ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế; Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế; Bảo tàng văn hóa Huế, Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Huế
Trang 12Phan Thuận An có bài viết “Từ các học hội ở Đông Dương đến số tượng
Chàm ở Huế” (Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, tập II) cho biết các học hội
được thành lập thời Pháp thuộc đã có nhiều sinh hoạt văn hóa, học thuật, sưu tầm và bảo quản nhiều hiện vật Champa, nhưng về sau thì một số thất thoát và
hư hỏng
- Mỹ thuật Champa có vị trí đặc biệt trong văn hóa Champa nói chung Đáng chú ý là các bài viết của các tác giả như: của Lê Văn Thuyên, bài “Mỹ
thuật Champa ở Thừa Thiên Huế” (Thông tin Khoa học Công nghệ, Số 1,
1992), phác thảo đặc trưng, diện mạo mỹ thuật Champa trên đất Thừa Thiên
Huế qua các di tích, di vật văn hóa Trần Kỳ Phương, bài “Di tích mỹ thuật
Champa ở Thừa Thiên Huế” (Nghiên cứu và Phát triển, 4-5 (42-43), 2003),
khảo sát các di tích, di vật phát hiện trên phạm vi hai bờ sông Hương, tác giả lần lượt khảo cứu các hiện vật Champa nổi tiếng phát hiện được tại Vân Trạch Hòa, Ưu Điềm, Thanh Phước: pho tượng Nam thần Nham (Giam) Biều, yoni Phước Tích, tháp đôi Liễu Cốc, tháp Mỹ Khánh, Linh Thái và sưu tập hiện vật Champa tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
- Trên bình diện chung về điêu khắc đá, đáng chú ý là luận án của Phạm
Hữu Mý đã nghiên cứu về “Điêu khắc đá Champa” (Luận án Phó tiến sĩ Lịch sử,
Viện Khoa học Xã hội, TPHCM, 1995) Tác giả đã nghiên cứu chuyên sâu về điêu khắc đá Champa trước thế kỷ 17, trên các hiện vật hiện còn ở một số di tích như đền, tháp hay đang tàng trữ tại các bảo tàng trong nước Chủ yếu nghiên cứu
về kỹ thuật, mô típ, các giai đoạn phát triển của điêu khắc đá Champa
Năm 2003, nhóm tác giả Trần Quốc Vượng, Ngô Văn Doanh, Nguyễn
Tiến Đông có bài viết “Về một số tác phẩm điêu khắc đá ở thành Hóa Châu,
tỉnh Thừa Thiên Huế” (Nghiên cứu và Phát triển, Số 4-5 (42-43), 2003)
nghiên cứu một số tác phẩm điêu khắc đá được phát hiện ở thành Hóa Châu
Phạm Hữu Mý có bài viết về “Nhóm hiện vật điêu khắc Champa tại Phòng tư
Trang 13liệu Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Huế” (Những phát hiện mới về
khảo cổ học năm 1995, Viện Khảo cổ học, Hà Nội, 1996), nghiên cứu nhóm hiện vật Champa được sưu tầm và lưu giữ tại phòng tư liệu khoa Lịch sử
Trần Quốc Vượng, Ngô Văn Doanh nghiên cứu “Về tác phẩm điêu khắc đá
Champa ở miếu Kỳ Thạch phu nhân” (Báo Thừa Thiên Huế, 2003), cho rằng
đây là một phù điêu độc đáo không chỉ độc đáo ở Việt Nam mà còn cả ở Đông Nam Á
Đáng chú ý là bệ thờ ở Vân Trạch Hòa được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu, tác giả Lê Đình Phụng có một số bài viết về hiện vật này Đây là một bệ thờ
đẹp hiếm thấy trong nghệ thuật Champa, có niên đại khoảng thế kỷ 9-10 Trần
Kỳ Phương có bài viết khá công phu về “Phù điêu Hộ Thế Bát Phương Thiên
của đế chóp tháp Vân Trạch Hòa và hình tượng Hộ Thế Phương Thiên trong điêu khắc Champa” (Thông tin Khoa học và Công nghệ, Số 3, 2001), nghiên
cứu đế chóp tháp Vân Trạch Hòa
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về di tích, lịch sử, Văn hóa Champa nhưng các nghiên cứu này chỉ nghiên cứu Champa như là đối tượng của ngành văn hóa, lịch sử, nhân chủng học Chưa có đề tài nghiên cứu về di tích Champa ở Thừa Thiên Huế với tư cách là đối tượng của ngành hành chính học trong lĩnh vực QLNN về DSVH
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiệm mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề QLNN về văn hóa, di tích vật thể
Trang 14- Đánh giá thực trạng QLNN về di tích vật thể Champa hiện nay ở Thừa Thiên Huế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị di tích vật thể Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QLNN đối với di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở việc nghiên cứu công tác QLNN, các văn bản QLNN về di tích vật thể Champa của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1993 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn căn cứ vào các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được xác định trong Nghị quyết Trung ương X (khóa VIII) về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Luật DSVH (năm 2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH (năm 2009); các chủ trương, chính sách của Trung ương và của tỉnh Thừa Thiên Huế về bảo tồn,
tu bổ và phát huy giá trị các di tích và di vật Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thống kê
Đề tài đã áp dụng phương pháp thống kê số lượng di tích và di vật Champa Theo đó đã thống kê trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 14 địa điểm là di tích và phế tích Champa, có tổng số 145 di vật Champa hiện trưng bày và lưu giữ tại các cơ sở của nhà nước, các cơ sở thờ tự
Trang 155.2.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu những giá trị về lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, nguồn gốc, xuất xứ của di tích và di vật Champa Đồng thời đây cũng là phương pháp để phân tích thực trạng QLNN đối với di tích và di vật Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
5.2.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh đối chiếu về phong cách, đặc trưng của di tích và di vật Champa hiện có ở Thừa Thiên Huế với phong cách, đặc trưng của di tích và di vật Champa ở các địa bàn khác như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Định để thấy những nét đặc trưng, từ đó xác định niên đại và phân loại di vật theo xuất xứ
6 Kết quả và đóng góp của luận văn
Luận văn là một công trình khoa học, nghiên cứu thực tiễn các di tích vật thể Phampa, thực trạng QLNN và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn Vì vậy, những đóng góp của Luận văn đươc xác định là:
Luận văn đã hệ thống hóa các di tích và di vật Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
Luận văn đã đánh giá thực trạng QLNN về các di tích và di vật Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
Đề xuất những giải pháp tăng cướng QLNN nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích và di vật Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
7 Bố cục của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích vật thể Champa trên địa bàn Thừa Thiên Huế
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QLNN ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Di sản văn hóa, các loại hình di sản văn hóa
1.1.1.1 Di sản văn hóa
Di sản văn hóa của một dân tộc là tất cả những giá trị có liên quan đến đời sống tinh thần và vật chất mà dân tộc đó đã tạo ra được trong lịch sử hình thành và phát triển của mình
Điều 1 của luật DSVH năm 2011 xác định: DSVH quy định tại luật này bao
gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Điều 4 của Luật DSVH quy định: DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm DTLS - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Điều 5 của Luật DSVH quy định: Nhà nước thống nhất quản lý DSVH
thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về DSVH theo quy định của pháp luật
Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với DSVH được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Về công tác bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, Điều 9 Luật DSVH quy định:
1 Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
Trang 172 Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu DSVH Chủ sở hữu DSVH có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
3 Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII khẳng định: “DSVH là tài sản vô
giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới
để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” 1.1.1.2 Các loại hình di sản văn hóa
* DSVH phi vật thể và các đặc điểm của nó
Khoản 1, Điều 2, Mục I Công ước bảo vệ DSVH phi vật thể của UNESCO năm 2003 quy định: DSVH phi vật thể" được hiểu là các tập quán, các hình
thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVH phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên
và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng
Trang 18tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những DSVH phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững
DSVH phi vật thể được thể hiện ở những hình thức sau:
- Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của DSVH phi vật thể;
- Nghệ thuật trình diễn;
- Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;
- Tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;
- Nghề thủ công truyền thống
Khoản 1, Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH năm
2008 quy định: DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
Tuy nội hàm khái niệm DSVH phi vật thể có khác nhau nhưng về cơ bản, đặc điểm của DSVH phi vật thể đều có những điểm chung đó là:
- DSVH phi vật thể được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, ở thế hệ sau được bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn cuộc sống, vì thế DSVH phi vật thể luôn gắn với cộng đồng
- DSVH phi vật thể thể hiện tinh thần văn hóa của mỗi dân tộc, thể hiện qua quan niệm, tư tưởng, tâm tư tình cảm, lối sống của dân tộc đó
- DSVH phi vật thể mang tính trừu tượng cao, khó nắm bắt, không mang tính biểu tượng chung cho tất cả các cộng đồng
Trang 19- Vai trò của DSVH phi vật thể trước hết là phục vụ cuộc sống vật chất
và tinh thần cho con người Trong quá trình trao truyền, DSVH phi vật thể chắt lọc trở thành cái cốt lõi, phản ánh bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc
* DSVH vật thể và các đặc điểm của nó
Khoản 1, Điều I, Công ước về việc bảo vệ DSVH và tự nhiên của thế giới
được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại Paris ngày 16/11/1972, DSVH là:
Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần
tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học,
do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan
Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực,
kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch
sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Điều 4 Luật DSVH quy định:
DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao
gồm DTLS - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
DTLS - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm
Trang 20mỹ, khoa học
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý
hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Các DSVH đó đặc điểm mang dấu ấn cội nguồn, dấu ấn lịch sử dựng và giữ nước, dấu ấn lối sống và dấu ấn gắn với tôn giáo tín ngưỡng
Trong quá trình xây dựng nền văn hóa thì có sự giao thoa giữa các nền văn hóa, vì vậy, DSVH của Việt Nam có ảnh hưởng đến văn hóa của các nước
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước, hành chính nhà nước
* Quản lý nhà nước:
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước,
sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
QLNN là hoạt động của nhà nước trên tất cả các lính vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước QLNN là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước
Trang 21cuộc cây dựng kinh tế, văn hóa, kinh tế, chính trị.Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là là hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước
1.1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
* Quản lý nhà nước về văn hóa
QLNN về văn hóa là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhà nước, là hoạt động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người thuộc các lĩnh vực văn hóa, do cơ quan thuộc bộ máy hành chính tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật về văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về văn hóa của con người
* Quản lý nhà nước về DSVH
QLNN về DSVH là hoạt động quản lý của nhà nước, xác định rõ chủ thể quản lý là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các luật pháp, chính sách, biện pháp nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị của DSVH
Về bản chất, QLNN về DSVH là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng dân cư địa phương nơi có di sản cần được bảo vệ, phát huy, bao gồm những dạng hoạt động chính sau:
- Bảo vệ di sản về mặt pháp lý và khoa học (nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xếp hạng di tích)
- Bảo vệ di sản về mặt khoa học - kỹ thuật (bảo quản, tu bổ, gia cường, kéo dài tuổi thọ của di sản dưới dạng nguyên gốc)
- Làm rõ các yếu tố tác động tới di sản theo cả hai chiều thuận và nghịch
để có định hướng kiểm soát được những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng tới
sự toàn vẹn và suy giảm giá trị của di sản
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp giảm thiểu các xung đột có thể xảy ra trong quá trình bảo tồn và phát triển trong khu di sản, cũng tức là tạo lập sự
Trang 22cân bằng động giữa bảo tồn DSVH và phát triển kinh tế xã hội
- Phát huy giá trị di sản gắn với phát triển bền vững về kinh tế, xã hội; truyền thông giáo dục, hình thành thái độ ứng xử văn hóa cho các cộng đồng
có hoạt động liên quan tới di sản
- Huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho hoạt động tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di sản
- Công tác thanh tra, kiểm tra, công tác đào tạo nguồn nhân lực làm công tác quản lý nhà nước về DSVH
1.1.3 Chủ thể và đối tượng QLNN về di sản văn hóa
Chủ thể QLNN về DSVH là Nhà nước, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, quyền quản lý được phân cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố) Quản lý nhà nước về DSVH ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý
Đối tượng QLNN về DSVH là văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực DSVH hoặc có liên quan đến lĩnh vực DSVH DSVH với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theo nghĩa cụ thể là: các hoạt động bảo tồn, trùng tu, phát huy giá trị; các hoạt động nhằm nâng cao nguồn nhân lực làm công tác bảo tồn di sản; các nguồn kinh phí cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về DSVH
1.2.1 Đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, DSVH
Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch) là cơ quan QLNN trong lĩnh vực văn hóa đã ban hành quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị DTLS - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã nêu quan điểm bảo tồn DSVH như sau:
Trang 23- Việc bảo tồn và phát huy giá trị các DTLS - văn hóa và danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích) phải đảm bảo tính trung thực của lịch sử hình thành các di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của
di tích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thành của di tích, đảm bảo tính nguyên gốc của di tích
- Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành Du lịch, Giao thông công chính, Xây dựng v.v Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhằm đặt
cơ sở pháp lý và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành và địa phương
- Tạo lập sự hài hoà giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa với bảo
vệ các di tích; ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong các khu vực bảo vệ của di tích
- Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích
Văn hóa nói chung, DSVH nói riêng được khẳng định là bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, được xác lập bằng những đánh giá và quan điểm của Đảng và Nhà nước Theo đó, văn hóa thực sự là động lực, là mục tiêu của sự phát triển Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia luôn tuân thủ định hướng lớn là: tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bảo vệ và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng tinh thần và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, trong đó có mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc Là một quốc gia đa tộc người như Việt Nam, quan điểm tôn trọng sự đa dạng văn hóa càng có ý nghĩa cấp thiết hơn bao giờ
Trang 24hết Đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và giao lưu văn hóa với thế giới, chúng ta cần phải quan tâm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập mà không bị hòa tan
Do đó bảo tồn DSVH phải vì mục tiêu phát triển và gắn với phát triển kinh tế xã hội DSVH cần được bảo vệ và phát huy giá trị với tư cách là một
bộ phận cấu thành môi trường sống của nhân loại, trong đó lãnh thổ quốc gia, không gian sinh tồn và hệ thống đô thị và các địa điểm cư dân là những đại diện điển hình nhất DSVH còn được coi trọng và tôn vinh vì đó là loại tài sản quý giá không thể thay thế, không thể tái sinh, nhưng lại rất dễ bị biến dạng
và tổn thương trước tác động của các nhân tố tự nhiên và cách hành xử thiếu văn hóa do chính con người gây ra Theo định nghĩa tại Điều 1 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” Môi trường sống của con người có 3 bộ phận cấu thành: môi trường
tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường văn hóa xã hội, trong đó DSVH Khái niệm DTLS - văn hóa và danh lam thắng cảnh lại bao hàm: các hạng mục kiến trúc, các địa điểm lịch sử; môi trường - cảnh quan thiên nhiên bao quanh
di tích và giá trị văn hóa phi vật thể gắn với di tích Từ đặc trưng đó đặt ra yêu cầu bảo tồn DSVH phải gắn với bảo vệ môi trường thiên nhiên và ngược lại, bảo vệ môi trường thiên nhiên là tạo ra môi trường tự nhiên trong lành cho sự tồn tại lâu dài của di sản, cao hơn nữa, còn tạo nên sức hấp dẫn thẩm mỹ cho DSVH
1.2.2 Đảm bảo công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH theo đúng định hướng
Mục tiêu của việc bảo tồn và phát huy giá trị của DSVH là:
- Giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các di tích đã và đang được xếp hạng, không để xuống cấp, tổn thất hoặc bị huỷ hoại
Trang 25- Nâng cao nhận thức, phát huy các giá trị của di tích trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; giới thiệu bản sắc và tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các nước, là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Trung ương 5 đã đề ra
- Trong điều kiện cho phép, các di tích cần được tu bổ, tôn tạo một cách hoàn chỉnh với tư cách là một sản phẩm du lịch có giá trị phục vụ chiến lược phát triển ngành Du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về di tích và danh lam thắng cảnh theo hướng ở rộng quá trình xã hội hóa, thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào việc bảo vệ và phát huy di tích, gắn với quản lý nhà nước bằng pháp luật
Từ những mục tiêu đó, việc bảo tồn và phát huy giá trị của DSVH phải được thực hiện trên cơ sở định hướng sau:
- Trong tu bổ, chống xuống cấp di tích:
Khi thực hiện việc tu bổ, chống xuống cấp các công trình di tích phải lập
dự án trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá toàn diện các giá trị di tích gốc; Tôn tạo và giữ gìn bằng mọi biện pháp các thành tố nguyên gốc của di tích; hạn chế tối đa mọi sự thay thế, nhất là thay thế bằng chất liệu và vật liệu mới, giải pháp ưu tiên là bảo quản, gia cố và tu bổ di tích
- Trong tôn tạo di tích:
Tôn tạo di tích là nhằm tạo điều kiện làm nổi bật các mặt giá trị của di tích và tôn tạo ra môi trường cảnh quan hài hoà với di tích đó Quy hoạch các tuyến đường tham quan, đi lại trong khu di tích phải phù hợp với tính chất lịch sử của di tích Sử dụng những hình thức chiếu sáng truyền thống phù hợp với di tích và chỉ đạo lập hệ thống chiếu sáng hiện đại khi thực sự cần thiết, không làm ảnh hưởng tới giá trị thẩm mỹ của di tích
Trang 26Các công trình phụ trợ được phép xây dựng, nhưng phải nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích Vị trí các công trình này không được ảnh hưởng tới cảnh quan khu di tích
- Trong sử dụng và khai thác di tích:
Sử dụng và khai thác di tích trước hết vì lợi ích của toàn xã hội Khuyến khích các hoạt động sử dụng và khai thác di tích nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; xây dựng giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng DSVH Việt Nam, góp phần mở rộng giao lưu văn hóa với các nước Khuyến khích việc sử dụng khai thác di tích để phục vụ nhu cầu du lịch văn hóa, giải trí lành mạnh của nhân dân Khuyến khích sử dụng di tích theo đúng công năng lúc khởi dựng
Việc thu phí tham quan và lệ phí sử dụng, khai thác di tích phải tuân theo quy định chung Các khoản thu nêu trên trước hết phải được tái dầu tư cho việc bảo quản, tu bổ di tích
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về DSVH
1.3.1 Xây dựng thể chế, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về DSVH
Hiện nay, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH, trong đó phải kể đến:
Luật DSVH (2001);
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH (2009);
Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá;
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH;
Trang 27Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo tồn, tu bổ, phục hồi DTLS văn hóa, danh lam thắng cảnh
Nghị định số 61/2016/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh giám định
cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLS - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
Nghị định số 109/2017/NĐ-CP quy định về bảo vệ và quản lý DSVH và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam;
Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTTDL ngày 24/7/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị DTLS văn hóa, danh lam thắng cảnh đến năm 2020;
Quyết định số 05/2005/QĐ-BVHTTDL ngày 6/2/2003 ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi DTLS văn hóa và danh lam thắng cảnh;
Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản
lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích;
Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia;
Thông tư số 18/2010//TT-BVHTTDL quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng;
Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng DTLS - văn hóa và danh lam thắng cảnh;
Thông tư số 22/2011/TT-BVHTTDL Quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật;
Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định
về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
Thông tư số 20/2012/TT-BVHTTDL quy định về hồ sơ và thủ tục gửi, nhận gửi tư liệu DSVH phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
Trang 28Thông tư số 11/2013/TT-BVHTTDL quy định về sưu tầm hiện vật của bảo tàng công lập;
Thông tư số 04/2017/TT-BVHTTDL quy định Chương trình bồi dưỡng kiến thức về bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLS - văn hóa, danh lam thắng cảnh
1.3.2 Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về DSVH
Điều 55 Luật DSVH quy định:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá
2 Bộ Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hoá
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hoá theo phân công của Chính phủ
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá
4 Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hoá ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
1.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về DSVH
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa về số lượng cũng như chất lượng hiện là một vấn đề đặc biệt quan trọng Hiện nay, hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực QLNN về văn hóa ở nước ta có sự gia tăng mạnh mẽvới hàng chục cơ sở đào tạo như Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Văn hóa TP.HCM, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Nhạc viện TP.HCM, Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, Đại học Sân khấu Điện ảnh TP.HCM, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội… Bên cạnh đó, hệ thống
Trang 29trường cao đẳng, trung cấp đào tạo ngành văn hóa nghệ thuật thuộc các địa phương cũng được mở rộng Các cơ sở đào tạo đã cung cấp một đội ngũ cán
bộ làm công tác QLNN về văn hóa hùng hậu, phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Tuy nhiên, công tác đào tạo cán bộ QLNN về văn hóa nói chung và DSVH nói riêng còn nhiều bất cập như đội ngũ giảng viên chuyên sâu còn ít
so với yêu cầu thực tế; nội dung, chương trình đào tạo chưa sát thực tiễn, tụt hậu so với quốc tế; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu xuống cấp; kỹ năng của người học còn hạn chế
Trong những năm tới, quá trình hội nhập kinh tế, tương tác văn hóa quốc
tế của Việt Nam sẽ diễn ra mạnh mẽ Để phù hợp với xu thế đó, đòi hỏi hoạt động đào tạo nguồn nhân lực QLVH phải đổi mới mạnh mẽ trên nhiều phương diện: tư duy, nội dung, phương pháp, đội ngũ giảng viên, người học, môi trường giáo dục Có như vậy, hệ thống cơ sở đào tạo mới đào tạo ra
được nguồn nhân lực QLVH có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thời đại
1.3.4 Huy động nguồn lực và xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVH
Xác định tầm quan trọng của DSVH dân tộc, sau ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” - Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn DSVH dân tộc Sắc lệnh ra đời trong hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đang gặp vô vàn khó khăn về giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đất nước đang ở trong tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ
bảo tồn DSVH trong bối cảnh mới ở nước ta “DSVH là tài sản vô giá, gắn
Trang 30kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”
Ngày 06/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 581/QĐ-TTg
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020, trong đó nêu việc bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng cùng kho tàng văn hóa đồ sộ, độc đáo trải dài 4000 năm lịch sử dân tộc, tất cả những điều đó góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia du lịch nổi tiếng thế giới với 22 di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO vinh danh Không chỉ
có những DSVH đã được thế giới công nhận, mà hiện nay trên cả nước có khoảng trên 4 vạn DTLS văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong đó, có hơn 3 nghìn di tích được xếp hạng cấp quốc gia, hơn 5 nghìn di tích xếp hạng cấp tỉnh Cộng thêm vào đó là gần 1 nghìn di sản phi vật thể được sưu tầm nghiên cứu, lưu trữ… Những năm qua, công cuộc bảo tồn và phát huy các DSVH của dân tộc đã đạt được nhiều tiến bộ Nhiều DSVH vật thể và phi vật thể được bảo vệ và phát huy giá trị, các nghệ nhân được tôn vinh, công tác xã hội hóa được tăng cường và thu hút được đông đảo các tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tàng, trùng tu di tích từng bước được nâng cao trình độ chuyên môn, có nhiều chuyên gia giỏi, đủ khả năng tư vấn
và tham gia kiểm tra, giám sát cũng như tham gia các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản
Trang 31Thông qua công tác bảo tồn và gìn giữ DSVH, đã góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam đến với quốc tế Trong những năm gần đây, lượng khách quốc tế đến tham quan Việt Nam ngày càng tăng
Nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH bao gồm nguồn nhân lực
và nguồn lực về tài chính Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách để đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó
có đội ngũ làm công tác QLNN về văn hóa Tuy nhiên, thực trạng đội ngũ làm công tác này ở địa phương còn thiếu tính chuyên môn hóa, chưa được đào tạo chuyên sâu, trong khi trên thực tế liên tục phát sinh nhiều loại hình, hoạt động mới khiến cho cán bộ, công chức lúng túng trong việc thực thi, xử lý
Nguồn tài chính trong việc bảo tồn DSVH được xác định là nguồn từ ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa Tuy nhiên, so với nhu cầu bảo tồn các công trình kiến trúc của hệ thống di sản đồ sộ ở Việt Nam hiện nay thì nguồn ngân sách không đủ, trong khi đó nguồn vốn xã hội hóa gặp nhiều khó khăn ở nhiều địa phương
1.3.5 Công tác hợp tác quốc tế trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Việt Nam có nhiều di sản vật thể và phi vật thể đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới Những di sản được UNESCO công nhận đã góp phần
để Việt Nam được bạn bè thế giới biết đến nhiều hơn Cùng với việc tăng cường hợp tác phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế thời gian qua Việt Nam đã chủ động, tích cực mở rộng hợp tác với các quốc gia bạn bè, các
tổ chức quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản vật thể, phi vật thể đã được UNESCO công nhận
Trong những năm qua, UNESCO cũng tăng cường hợp tác với Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản đó Thông qua việc Việt Nam tham gia các mạng lưới chuyên gia quốc tế về bảo tồn di sản vật thể, phi vật thể, tư liệu, các cán bộ quản lý các di sản và cộng đồng được tham
Trang 32gia các khóa đào tạo nâng cao năng lực, góp phần vào công tác bảo tồn các di sản, nâng cao vị thế địa phương, quốc gia và gắn kết cộng đồng
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chủ động tăng cường cơ chế pháp lý quốc
tế bảo vệ di sản, có thêm quy trình bảo vệ, bảo tồn di sản; tích cực hợp tác với bạn bè quốc tế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Việt Nam
đã tham gia nhiều Công ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo vệ DSVH và
di sản thiên nhiên thế giới
1.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực di sản văn hóa
Theo Nghị định 173/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của thanh tra ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các địa phương chủ trì mà trực tiếp là Thanh tra bộ và sở nhằm tăng cường hoạt động QLNN
và kiểm tra, giám sát việc thi hành Luật DSVH, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH và các quy nghị định, thông tư khác
Tại Mục 1, Điều 12, Chương III Nghị định 173/2016/NĐ-CP quy định:
Điều 12 Nội dung thanh tra chuyên ngành Văn hóa - Gia đình
1 Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH phi vật thể; bảo vệ và phát huy giá trị DSVH vật thể (DTLS
- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, bảo tàng); điều kiệHn kinh doanh giám định cổ vật; điều kiện hành nghề tu bổ DTLS -
văn hóa, danh lam thắng cảnh
Trang 33Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, luận văn đã tập trung phân tích và làm rõ một số khái niệm liên quan đến DSVH, QLNN, QLNN về DSVH, các văn bản quy phạm pháp luật quy định các nội dung QLNN vế DSVH
Chương I của luận văn cũng đã phân tích các nội dung QLNN do các cơ quan đang thực hiện hiện nay Công tác quy hoạch, bảo tồn DSVH đã được thực hiện, đá điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị DTLS - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm Kết hợp phải hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về DSVH đã được thực hiện khá đầy đủ với hệ thống pháp luật, nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật Việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đã được sự quan tâm của các cấp chính quyền Việc huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH tuy có gặp một số khó khăn nhất định nhưng bước đầu
đã huy động được một số nguồn xã hội hóa để trùng tu di tích
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH VẬT THỂ CHAMPA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Tổng quan về di tích vật thể Champa tại Thừa Thiên Huế
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội của Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý 107031'45'' kinh Đông và 16030'45'' - 16030'
vỹ Bắc, có chung địa giới đất liền với tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, chung biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông
Được tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên năm 1989, hiện nay, về đơn vị hành chính, tỉnh Thừa Thiên Huế gồm một thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Huế), 2 thị xã (Hương Thủy, Hương Trà) và 6 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông) với 105 xã, 47 phường, thị trấn
Nằm ở vị trí trung độ trục giao lưu Bắc - Nam và trên hành làng kinh tế xuyên Á (Đông - Tây), Thừa Thiên Huế có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu, liên kết kinh tế với nhiều tỉnh, thành phố trong nước và thế giới với
hệ thống giao thông khá phát triển cả đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không
Nằm trên “con đường di sản miền Trung” Thừa Thiên Huế vừa là nơi giàu thắng cảnh, vừa là địa bàn đa văn hóa, quy tụ nhiều DTLS, di tích văn hóa, công trình kiến trúc độc đáo và bảo tồn không ít giá trị văn hóa phi vật thể khác nhau, giá trị DSVH Huế đã được UNESCO 5 lần vinh danh gồm DSVH thế giới đối với quần thể di tích cố đô Huế (năm 1993), DSVH phi vật
Trang 35thể đại diện của nhân loại (năm 2003), Di sản tư liệu đối với Mộc bản triều Nguyễn (năm 2009), Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đối với Châu bản triều Nguyễn (năm 2014) và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (năm 2016)
2.1.2 Tổng quan về di tích vật thể Champa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2.1 Tháp và phế tích tháp Champa
Ở Thừa Thiên Huế hiện còn các tháp và phế tích tháp sau:
- Phế tích Ưu Điềm (còn gọi là chùa Phật Lồi) ở xã Phong Hòa, huyện Phong Điền
Theo lời kể của người địa phương thì di tích này đã bị đổ nát từ lâu Sau
đó, nhân dân địa phương đã xây lại ngay trên nền di tích cũ này một ngôi chùa mới mang tên của ngôi làng mà chùa tọa lạc: chùa Ưu Điềm Việc xuất hiện ngôi chùa này đã xóa hết mọi dấu vết của di tích Champa từng tồn tại nơi đây, ngoại trừ một số hiện vật được tập hợp lại, tạo thành hai điểm thờ tự (một nơi thờ lộ thiên và một ngôi miếu thờ) ở bên phải chùa Ưu Điềm Các hiện vật này gồm:
Trang 36Như vậy, mặc dù vết cũ của di tích nơi đây không còn nữa nhưng rõ ràng
sự hiện diện cụ thể của các hiện vật trên đây là một bằng chứng sống động nhất cho sự tồn tại của một di tích Champa trong thực tế Từ đó cho phép kết luận tại khu phế tích Ưu Điềm này từng tồn tại một ngôi tháp cũ do người Chăm xây dựng từ thời xa xưa trong lịch sử
- Phế tích tháp Phước Tích ở xã Phong Hòa, huyện Phong Điền
Phế tích nằm trong khuôn viên của một nhà thờ họ, có mặt tiền hướng về phía Tây Bắc, có dòng sông chảy qua trước mặt Khuôn viên xung quanh phế tích hầu như bị san phẳng, có trồng nhiều cây ăn trái lâu niên Khảo sát phế tích hiện thấy có nhiều gạch vỡ còn sót lại xung quanh; một bệ thờ làm bằng
đá sa thạch, có chạm khắc khá đẹp; một cột đá hình chữ nhật dài Theo lời kể của nhân dân địa phương, nơi đây vốn có một ngôi tháp Chàm đã đổ nát từ lâu, không còn nhận diện được Một dòng họ trong làng đã xây nhà thờ họ bên trái khuôn viên của phế tích xưa Còn các hiện vật Champa thì đã bị di chuyển đến một số nơi khác trong vùng Cụ thể:
+ Bộ đài thờ-yoni
+ Bức phù điêu
- Phế tích Vân Trạch Hòa ở xã Phong Thu, huyện Phong Điền
Phế tích tháp Vân Trạch Hòa là một công trình có mặt bằng kiến trúc khá đặc biệt, tổng thể các công trình được xây dựng liền khít nhau Đặc biệt có công trình lại được xây hòa vào nhau như một tổng thể thống nhất Đây là trường hợp chỉ thấy trong khu thành Đồng Dương, một Phật viện lớn của Champa Phế tích Vân Trạch Hòa là địa điểm thứ hai để lại dấu vết mặt bằng tương tự Mặt bằng niên đại từng tháp cho thấy mặt bằng tháp Bắc có bình đồ vuông, cấu trúc lòng tháp hoàn chỉnh, vuông vức theo truyền thống tháp Champa, có thể đây là loại hình tháp thờ thường gặp Kỹ thuật khắc tạc trên gạch với khối nổi gọn thanh thoát, đường nét khắc tạc mềm mại tinh tế biểu hiện niên đại sớm trong nghệ thuật điêu khắc gạch Champa Góp phần khẳng
Trang 37định hơn về niên đại của phế tích là các hiện vật thu được Toàn bộ tư liệu về kiến trúc, điêu khắc thấy được ở phế tích tháp Vân Trạch Hòa, sau khi nghiên cứu so sánh đặt chúng chung trong tổng thể các công trình kiến trúc Champa
có thể thấy niên đại của tháp Vân Trạch Hòa thuộc thế kỷ IX - X
Trong 3 phế tích hiện biết, có khả năng niên đại tháp Nam có sớm nhất Đây chính là quần thể phế tích có nhiều niên đại khác nhau, như nhận định trước đây khi nghiên cứu bệ thờ Vân Trạch Hòa cho rằng địa điểm này là một trung tâm tôn giáo lớn khởi đầu cho sự trỗi dậy của Ấn Độ giáo sau một thời kỳ dài thịnh vượng của Phật giáo trong lịch sử Champa với trung tâm Đồng Dương nổi tiếng
Hiện nay, phế tích này hoàn toàn bị bỏ hoang phế
- Phế tích tháp Đức Nhuận ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền
Phế tích nằm trên khu đất cao thuộc thôn Đức Nhuận, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền Theo truyền thuyết địa phương kể lại, trước kia, nơi đây
có dấu tích một ngôi tháp Chàm bị đổ nát cùng tượng Chàm vương vãi, sau này nhân dân san ủi cải tạo thành đất vườn Khảo sát địa bàn cho thấy nơi đây còn nhiều gạch Chàm bị san ủi làm đường đi, thu gom thành những đống nhỏ Trên đường còn xuất lộ một dải gạch xây liên kết vững chắc theo kỹ thuật xây cất của người Chăm, với kỹ thuật mài chập khối không có mạch vữa Có khả năng đây là đoạn tường bao sót lại của công trình kiến trúc xưa Năm 1969, tại khu vực này đã tìm được một tượng bò Nandin - vật thờ liên quan đến ngôi tháp đổ Cùng với việc khảo sát, một hố đào thám sát được tiến hành trên địa điểm tháp xưa 6,2m Trong hố thám sát tìm được dấu vết một đoạn tường móng tháp Đoạn tường xuất lộ trong hố thám sát dài 1,35m; cao 0,55m; dày 1,4m, gạch được xây mài chập liền khối Kích thước gạch trung bình 0,28m x 0,15m x 0,05m (dài x rộng x dày) Dưới lớp gạch móng là tầng nền được xử
lý vững chắc với sỏi trộn cát vàng đầm lèn kỹ, tương tự như đã gặp việc xử lý móng ở các tháp Champa hiện biết
Trang 38Những tư liệu trên xác tín, đây là dấu tích còn lại của một công trình kiến trúc tháp Champa xưa Căn cứ vào hiện trạng để lại cho thấy quy mô tháp xưa không lớn lắm và đã bị mất từ lâu trong lịch sử
- Phế tích Cổ Tháp ở xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền
Phế tích Cổ Tháp tọa lạc trên một ngọn đồi thấp thoai thoải thuộc địa bàn thôn Phổ Lại, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền Nằm ở vị trí cao xung quanh
là vùng đất trũng, vùng đồi thấp nổi bật lên án ngữ cả một vùng rộng lớn, chính
vì thế nơi đây trong chiến tranh bị san ủi làm căn cứ quân sự Theo nhân dân địa phương kể lại, trước khi bị san ủi, nơi đây còn dấu tích cả khu gò gạch lớn do tháp đổ xuống với nhiều tác phẩm điêu khắc đá, máy ủi đã san phẳng và đưa những hiện vật đó về phía Đông đồi Sau giải phóng nơi đây được xây dựng làm trại ươm giống cây trồng của huyện Quảng Điền Phế tích Cổ Tháp trước kia đã được Linh mục L Cadiere khảo sát và được H.Parmentier đưa vào thống kê
trong công trình nhiên cứu của mình: “ Ở làng Cổ Tháp, tổng Thanh Cần,
huyện Quảng Điền có phế tích một cây tháp Chàm cổ”
Khảo sát hiện trạng ngày nay cho thấy nơi đây còn khá nhiều gạch Chăm
vỡ Gạch có màu đỏ nhạt, độ nung cao, khá cứng, giữa viên gạch có lõi màu đen nhạt như các viên gạch Champa thường gặp Tại đây còn lưu giữ nhiều viên đá tảng được cắt gọt vuông vức có khả năng là vật liệu kiến tạo nên hình hài tháp xưa Hiện vật liên quan đến tháp còn tìm được một mảnh điểm góc trang trí tháp Điểm đá góc thể hiện hình ảnh Makara với mắt to tròn lồi, râu cằm ngắn uốn cong, lông mi ngắn uốn tròn, miệng há rộng, vòi uốn cong vươn dài cùng nhiều họa tiết uốn lượn vươn lên Hình ảnh Makara thể hiện sinh động Qua khảo sát, chúng tôi được biết tại một gia đình tư nhân ở Huế cũng lưu giữ một hiện vật đá điểm góc trang trí tương tự Theo chủ nhân cho biết, hiện vật này có nguồn gốc từ phế tích tháp Cổ Thành (Quảng Điền) được gia đình mua lại và bảo quản Tại một gia đình thuộc xã Quảng Vinh gần phế tích cũng lưu giữ một mảnh phù điêu trang trí Nam thần có nguồn gốc từ tháp
đổ đưa về
Trang 39Đây là một phế tích tháp có quy mô khá lớn, điều đáng chú ý là ở tháp này có
sử dụng chất liệu đá trong trang trí kiến trúc
- Phế tích Cồn Tháp ở thị trấn Tứ Hạ, thị xã Hương Trà
Phế tích nằm trên đỉnh đồi rộng phẳng thuộc địa bàn đội I thị trấn Phú
Ốc, thị xã Hương Trà Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, trước kia
ở đỉnh đồi có dấu tích một ngôi tháp Chàm cổ, chính vì vậy ngọn đồi mới mang tên gọi Cồn Tháp Trên đồi hiện nay còn vương vãi nhiều gạch Chàm
vỡ nát Gạch có màu đỏ nhạt, nung khá cứng, giữa có lõi màu đen nhạt khá xốp, như những gạch Chàm hiện thấy Nhiều địa danh ở đây mang tên Lỗ Vàng, Lỗ Bạc, Cửa Thiềng, Cửa Tàu cùng nhiều truyền thuyết liên quan đến tháp đổ Khi nghiên cứu di tích này có ý kiến cho rằng phế tích liên quan đến một tòa thành đổ ở đây nay dấu vết còn mờ nhạt với tên gọi thành Cửa Thiềng lưu lại trong dã sử
- Phế tích tháp đôi Liễu Cốc ở xã Hương Xuân, thị xã Hương Trà
Tháp đôi Liễu Cốc là hai ngôi tháp liền kề nhau (đã bị đổ nát) thuộc địa bàn xóm Bàu Tháp, thôn Đông Xuân, xã Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Vì sự đổ nát, hoang phế của di tích này mà nhiều nhà nghiên cứu gọi đây
là phế tích Tháp nằm trên trên một triền dốc tự nhiên không lớn; phía Đông tiếp giáp khu rừng cây, cạnh đó có một miếu thờ của người Việt; phía Tây là ruộng lúa; phía Bắc là khu nghĩa địa, hồ nước và phía Nam là khu dân cư Tháp đôi Liễu Cốc gồm có hai tháp được xây dựng gần nhau, dựa trên hai trục song song theo hướng Đông Tây, lối vào (cửa) hai ngôi tháp đều hướng về phía Đông, nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc tạo dựng các đền đài, chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
Hiện nay, tình trạng của tháp rất hoang phế: tháp phía Bắc chỉ còn lại phần tường phía sau Trang trí tháp hầu như không có, chỉ nhận biết được một
Trang 40phần tại các góc tháp có dấu vết khắc tạc trên gạch tạo nên cột góc tháp (trụ giả) Bên trong tháp, phần trên của bức tường phía Tây tháp còn lưu giữ lại một đoạn chi tiết vòm cuốn gạch của đỉnh tháp, vòm cuốn này là đặc trưng kết cấu được sử dụng trong các công trình tôn giáo Champa Ở mặt ngoài phần tường còn lại của tháp có các khoảng tạo hình lõm, chia mặt tháp thành
hệ thống bổ trụ
Tháp đôi Liễu Cốc bị hư hại nặng do tác động của khí hậu, thời gian; do thiếu sự quan tâm của các cơ quan chức năng nên càng khiến cho phần còn lại của tháp bị xuống cấp nghiêm trọng
- Phế tích tháp Giam Biều (Nham Biều) xã Hương Hồ, thị xã Hương Trà
Địa điểm này được các nhà nghiên cứu tiền bối cho biết thuộc xã Hương
Hồ, thị xã Hương Trà Tương tự phế tích Xuân Hòa, hiện không tìm ra dấu vết của tháp phế tích này Dấu tích tháp Giam Biều hiện chỉ được phản ánh
trong bài viết của H Parrmentier trong cuốn Inventaire Descriptif des
Monuments Cams de L’AnNam, in tại Paris (1918) và trong một bài viết của
Odand’Hal in trên BAVH (1915)
- Phế tích tháp Mỹ Khánh ở xã Phú Diên, huyện Phú Vang
Tháp Mỹ Khánh (Tháp Champa xã Phú Diên) tọa lạc trên vùng đồi cát
ven biển, vốn là một nghĩa trang dân sinh, nằm giáp ranh giữa hai thôn: Mỹ Khánh và Phương Diên, xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Tháp được phát hiện vào năm 2001 do các công nhân của Công ty khai thác khoáng sản titan Thừa Thiên Huế tình cờ phát hiện khi đang khai thác quặng titan Tháp nằm sâu trong lòng cát, ở độ sâu khoảng 4m Cuộc khai quật khảo cổ học sau đó do Bảo tàng Tổng hợp Thừa Thiên Huế (tức Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế sau này) phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành, đã làm xuất lộ nửa tòa tháp cổ bằng gạch, được xây dựng trên một mặt bằng hình chữ nhật, tọa lạc theo hướng Đông - Tây, được