Trước tình hình đó Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực giải quyết vấn đề LĐTE, từng bước hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM THOA
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM THOA
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước đầu tiên khu vực Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989 Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, gia đình và xã hội Sự quan tâm này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật quốc gia và các chương trình quốc gia bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em,
Tình trạng Lao động trẻ em (LĐTE) là vấn đề xã hội xuất hiện ở mọi châu lục, mọi quốc gia, chỉ khác nhau về mức độ Theo ILO, thời điểm 6/2016, có 168 triệu LĐTE trên thế giới, trong đó Tiểu vùng Sahara của Châu Phi có tỷ lệ LĐTE cao nhất (với 28% trẻ em trong độ tuổi từ 5-14), sau đó đến các vùng Trung Đông
và Bắc Phi; Đông Á và Thái Bình Dương (mỗi vùng đều có tỷ lệ 10%), Mỹ La tinh
và Caribê (9%) Ở tất cả các vùng, tỷ lệ LĐTE là gái đều cao hơn nam Khu vực nông nghiệp vẫn là nơi có nhiều LĐTE nhất (chiếm trên 50%), sau đó là đến các khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp
Ở Việt Nam, cho đến nay LĐTE vẫn tồn tại ở những nơi khó can thiệp nhất
và tiềm ẩn nguy cơ cao tham gia vào các dây chuyền sản xuất các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp như tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của các các
hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, trực tiếp tạo ra hàng hóa, dịch
vụ Cả nước có 1.031.944 LĐTE, có 58,8% tổng số trẻ em 5 – 17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế Trong tổng số LĐTE, có 519.805 em, chiếm gần 50,4%, được xác định là LĐTE làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm [15, tr 31 ]
LĐTE ảnh hưởng tiêu cực đến trao đổi hàng hóa của Việt Nam trong bôi cảnh toàn cầu hóa với các tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt về sử dụng lao động trong sản xuất, trong đó có LĐTE Một số mặt hàng thế mạnh của Việt Nam đã gặp khó khăn khi tiêu thụ trên thị trường quốc tế bởi có liên quan đến yếu tố LĐTE LĐTE
có ảnh hưởng tiêu cực đến tiếp cận với giáo dục của trẻ em, sự phát triển bình thường của trẻ em và chất lượng nguồn nhân lực tương lai Trong tổng số 1.031.944 LĐTE, có 501.905 em, chiếm hơn 48,6% đã thôi học, không đi học, đặc biệt có 15.055 em, chiếm gần 1,5% tổng số LĐTE chưa bao giờ đi học [15, tr 33 ]
Trang 5Trước tình hình đó Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực giải quyết vấn đề LĐTE, từng bước hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng và triển khai chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE; phát triển hệ thống nhân lực bảo vệ trẻ em, phòng chống LĐTE các cấp; tổ chức truyền thông, vận động xã hội về phòng ngừa và xóa bỏ LĐTE, huy động sự vào cuộc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, doanh nghiệp và toàn xã hội, đồng thời chủ động, tích cực thực hiện hợp tác quốc tế, tham gia vào các sáng kiến, hoạt động của khu vực và thế giới nhằm phòng chống LĐTE
Cũng giống như nhiều địa phương tại Việt Nam, tỉnh An Giang luôn quan tâm đến công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến LĐTE An Giang đã chỉ đạo và triển khai rất nhiều hoạt động liên quan đến vấn đề bảo vệ trẻ em và phòng, chống LĐTE tại địa phương như: ban hành kế hoạch phòng, chống lao động sớm cho trẻ em giai đoạn 2016-2020; triển khai các hoạt động thì điểm về mô hình hỗ trợ sinh kế cho hộ gia đình có trẻ em lao động sớm và có nguy cơ lao động sớm; ban hành nhiều kế hoạch kiểm tra giám sát tình trạng trẻ em tham gia lao động tại các doanh nghiệp; chỉ đạo phối hợp liên ngành để triển khai thực hiện chính sách đối với LĐTE Tuy nhiên, để các chính sách đối với LĐTE được nhóm đối tượng thụ hưởng tiếp cận một cách tốt nhất và đầy đủ thì việc thực thi chính sách là một khâu rất quan trọng, vì không tốt sẽ là một trong những nguyên nhân khiến chính sách ban hành không có hiệu quả, trẻ em sẽ không được hưởng đầy đủ các quyền, đồng thời gặp phải những mối nguy hại trước nạn xâm hại, bạo lực, mua bán, bắt cóc,… Theo thống kê tổng số trẻ dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh An Giang gần 435.484, trong đó có 227.873 trẻ em nam, trẻ em là người dân tộc thiểu số có 26.540 người; 28.384 trẻ em thuộc hộ nghèo (theo tiêu chí mới), 4.250 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, 57.151 6 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, 28.767 trẻ em sống trong gia đình có vấn đề xã hội (cha mẹ ly hôn, bạo
lực gia đình, ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, Qua số liệu cho thấy trẻ em An Giang có
Với những lý do kể trên, học viên đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách đối
với lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang” làm luận văn tốt nghiệp chuyên
Trang 6ngành Chính sách công của mình làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc thực hiện chính sách đối với LĐTE; nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với LĐTE tại An Giang; từ đó tiến đến đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Tình hình nghiên cứu của luận văn có thể tổng quan lại theo một số nhóm vần đề sau đây:
Một là, nhóm những tài liệu nghiên cứu liên quan đến trẻ em, lao động trẻ em
Các tài liệu quốc tế về lao động trẻ em: Công ước 29 của ILO về Lao động
cưỡng bức thông qua năm 1930 Công ước số 138 của ILO về độ tuổi tối thiểu
thông qua năm 1973; Công ước số 182 nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất; Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được thông qua
Tài liệu điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2018: Để cập nhật thông tin,
diễn biến tình hình lao động trẻ em, cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp và hiệu quả nhằm phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, năm 2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA) phối hợp với Tổng cục Thống kê (GSO), với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tiến hành cuộc Điều tra quốc gia về lao động trẻ em lần thứ hai ở Việt Nam
Hội thảo Tư vấn xây dựng pháp luật về LĐTE do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng ILO tổ chức (3/2018) , khẳng định LĐTE là sự vi phạm
nghiêm trọng tới quyền trẻ em và nó sẽ làm giảm chất lượng, trình độ và năng lực của nguồn lao động trong tương lai Xóa bỏ LĐTE là một ưu tiên toàn cầu và được cả thế thới đồng thuận Những tài liệu tại Hội thảo xoay quanh nội dung thế nào là LĐTE, hoàn thiện hệ thống pháp luật về LĐTE, xu hướng LĐTE của Việt Nam
Trang 7ILO, (2015), “Dự án Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quốc gia Phòng ngừa và Giảm thiểu LĐTE tại Việt Nam Dự án sẽ đóng góp vào công cuộc phòng
chống và xoá bỏ tình trạng LĐTE tại Việt Nam thông qua hỗ trợ Chương trình Quốc gia Phòng chống và Giảm thiểu LĐTE Thời Gian dự án từ 01/01/2015 – 31/12/2019; Cơ quan chủ quản của dự án là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (MOLISA), Các Cơ quan đối tác: Bộ LĐTBXH; các tổ chức của người sử dụng lao động, tổ chức của người lao động; các tổ chức quốc tế; NGO địa phương và quốc gia; và các cơ quan nghiên cứu Địa bàn triển khai chính: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
và tỉnh An Giang Mục tiêu tổng quát của Dự án ENHANCE là xây dựng và củng
cố nỗ lực toàn diện và có hiệu quả với sự tham gia của nhiều bên liên quan để phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE tại Việt Nam
Một số nghiên cứu liên quan khác như: Luận Văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Vân Anh về “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ LĐTE Nghiên các vấn đề liên quan đến pháp luật đối với LĐTE”; Luận Văn Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Nhàn về “Lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” Luận văn đề ra các vấn đề lao động chưa thành niên tại Việt Nam mà pháp luật quy định; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lâm Thị Phương Thanh về “Bảo vệ quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Hồ Sỹ Trung về Bảo vệ quyền của người chưa thanh niên theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tỉnh Quảng Trị”; - Bài viết của Trần Nguyên Tú Phó về “Pháp luật và nguyên tắc quốc tế về quyền trẻ em”;
Hai là, nhóm những tài liệu nghiên cứu liên quan đến chính sách đối với lao động trẻ em
Các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách lao động trẻ em: Nghị định
số 56/2017/NĐ-CP ngày 9 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ, quy định một số điều của Luật Trẻ em năm 2016; Quyết định số 1023/QĐ-TTg ngày 07/6/2016 về Quyết định phê duyệt Chương trình Phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2016-2020; Nghị định số 144/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó có những vi phạm về lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 quy
Trang 8định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó bao gồm những vi phạm về LĐTE và lao động chưa thành niên; Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 11/6/2013 quy định danh mục Công việc
nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc; thông tư số
10/2013/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 10 tháng 6 năm 2013 quy định danh mục các công việc
và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên; thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 8 năm 2014 về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/ 2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình
Ba là, nhóm những tài liệu nghiên cứu liên quan đến thực hiện chính sách và thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Học viên đã tham khảo các tài liệu như: Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh và quản lý của Nguyễn Thị Thu Hằng về “phòng ngừa và khắc phục tình trạng lạm dụng LĐTE ở Việt Nam hiện nay”; luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Hạnh
về “Thực trạng LĐTE ở địa bàn phường Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Hà Nội”; bài viết của Phó giáo sư tiến sĩ Đỗ Phú Hải về Tổng quan tài liệu về thực hiện chính sách công của nhà sách sự thật xuất bản năm 2017; kế hoạch phòng, ngừa giảm thiểu lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2015-2020; báo cáo kết quả thực hiện chương trình phòng, ngừa giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2015-2020; báo cáo kết quả thực hiện công tác lao động-thương binh và Xã hội 2015-2020; báo cáo Kết quả phát triển kinh tế - xã hội nhiệm kỳ qua và năm 2020; Định hướng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2021
Bốn là một số nghiên cứu là các bài viết khác liên quan đến lao động trẻ em như về công tác quản lý, đối đội chính sách đối với lao động trẻ em Bài viết báo
Viện Khoa học Lao động và Xã hội của Nguyễn Bao Cường về Quản lý và ngăn ngừa LĐTE ở Việt Nam; Bài viết báo người Lao động về “Đối thoại chính sách các tiêu chuẩn lao động quốc tế về LĐTE” Đề ra các chính sách đối với LĐTE; Bài viết
Trang 9đăng trên trang Website Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội viết về phòng, chống LĐTE trong chiến lược bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em;
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài “thực hiện chính
sách đối với lao động trẻ em tại An Giang”, học viên nhận thấy đây là những tài
liệu đã đề cập đến các vấn đề chung về trẻ em, lao động trẻ em, các chính sách đối với lao động trẻ em, thực trạng quản lý đối với lao động trẻ em, nhưng chưa có nghiên cứu nào liên quan đến việc thực hiện các chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang Do đó, học viên đã lựa chọn nghiên cứu nội dung theo chủ đề thực tế này để làm luận văn tốt nghiệp của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em trong giai đoạn 2016-2020 và giải pháp thực hiện chính sách phòng, ngừa đối với lao động trẻ em trong thời gian tới
(2) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách cơ bản về thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách lao động đối với LĐTE tại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách về LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang
- Các giải pháp thực hiện chính sách đối với LĐTE
Trong luận văn này, tác giả không nghiên cứu về việc thực hiện xử lý các trường hợp LĐTE trái pháp luật Vì lý do giới hạn nội dung của một luận văn thạc
sĩ và vấn đề xử lý các trường hợp LĐTE trái pháp luật cũng khá rộng
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Không gian nghiên cứu: thực hiện địa bàn tỉnh An Giang
4.2.2 Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016-2020
Giai đoạn đoạn 2016-2020 là giai đoạn Việt Nam ban hành các chính sách thực hiện phòng, ngừa LĐTE Do vậy, tại địa phương cũng đã triển khai các giải pháp để thực hiện chính sách này Nếu chúng ta nghiên cứu giai đoạn này sẽ nắm được thực trạng thực hiện chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang một cách tốt nhất
Từ đó, giúp cho việc đề xuất giải pháp cho giai đoạn mới được tốt hơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được tiếp cận nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây cùng cơ sở lý luận, chính sách pháp luật quốc tế và Việt Nam về LĐTE Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về pháp luật và xây dựng pháp luật liên quan đến LĐTE
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung của luận án như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,…
Luận văn được tiếp cận nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây cùng cơ sở lý luâṇ và chính sách quốc tế và của Việt Nam về LĐTE nói chung và thực hiện chính sách đối với LĐTE nói riêng tại An Giang Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về pháp luật và xây dựng pháp luật
Trong Chương 1, để làm sáng tỏ vấn đề lý luận về LĐTE, luận văn sử dụng phương pháp hê ̣thống, phân tích, so sánh để làm rõ khái niệm “Trẻ em”, “Lao động trẻ em”,…Phương pháp phân tích cũng được vận dụng để đề cập tới nguyên nhân, tác động tiêu cực, mục đích và ý nghĩa,… thực hiện chính sách đối với LĐTE
Trang 11Tại Chương 2 của luận văn, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê, so sánh, phân tích để làm rõ thực trạng LĐTE tại An Giang và đánh giá việc thực hiện chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang, tìm ra hậu quả, nguyên nhân
Với Chương 3, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử duṇg để nghiên cứu tính cấp thiết của việc hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang và đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang đạt hiệu quả cao nhất
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống và toàn diện về chính sách đối với LĐTE hiện nay Luận văn có những đóng góp mới như: Hệ thống hóa, làm sáng tỏ cơ sở lý luận chính sách đối với LĐTE, các khái niệm, nội dung, hình thức, các điều kiện bảo đảm chính sách đối với LĐTE
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện thực hiện chính sách đối với LĐTE tại An Giang hiện nay
Với những ý nghĩa như trên, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về công tác xã hội về trẻ em, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em tại địa phương
7 Kết cấu của Luận văn
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đối với lao động trẻ
em trên địa bàn tỉnh An Giang
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.1 Lý luận về chính sách đối với lao động trẻ em
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Trẻ em , Quyền trẻ em
Khái niệm trẻ em:
Trong pháp luật quốc tế, trẻ em được định nghĩa là người dưới 18 tuổi Đây
là quy định được nêu trong Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em,
1989 và Điều 2 Công ước số 182 của ILO về lao động trẻ em
Theo pháp luật Việt Nam: trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1, Luật Trẻ em, 2016)
Bên cạnh khái niệm trẻ em, pháp luật Việt Nam còn có khái niệm “người chưa thành niên” Tùy theo ngành luật (dân sự, hành chính, hình sự, hôn nhân gia đình, lao động…), khái niệm “người chưa thành niên” được sử dụng ít nhiều khác nhau, song đều có một dấu hiệu chung đó là người dưới 18 tuổi
Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi (Khoản 1, Điều 21,
Bộ luật Dân sự, 2015)
Khái niệm quyền trẻ em: Theo pháp luật Việt Nam Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên Tham gia tích cực vào quá trình phát triển của chính mình
Quyền trẻ em là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người
Theo Quốc tế: Công ước Quốc tế về quyền trẻ em là Luật quốc tế để bảo vệ quyền trẻ em, bao gồm 54 điều khoản Công ước đề ra các quyền cơ bản của con người mà trẻ em trên toàn thế giới đều được hưởng, và được Liên hợp quốc thông qua năm 1989 Hầu hết tất cả các các nước trên thế giới đồng tình và phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước
Trang 13thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990 Và đối với Việt Nam, những người có độ tuổi dưới 16 tuổi được coi là trẻ em [45, tr 1]
1.1.1.2 Lao động trẻ em
Khái niệm lao động được xác định như sau: Lao động là hoạt động diễn ra giữa người với giới tự nhên Trong khi lao động con người vận dụng thể lực và trí tuệ tiềm tàng trong thân thể mình sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho bản thân người lao động
và cho xã hội Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động là năng lực con người, bao gồm thể lực và trí lực của người lao động Mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm
Trong luật pháp quốc tế, LĐTE là thuật ngữ thường dùng để chỉ tình trạng một người dưới 18 tuổi phải làm các công việc có hại đến tinh thần, thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách của các em; hoặc phải làm việc từ độ tuổi nhỏ khiến cho các
em mất đi cơ hội học tập và phát triển
LĐTE là công việc khiến trẻ em mất đi tuổi thơ, tiềm năng và nhân cách, và
có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ, bao gồm cả việc cản trở khả năng đến trường Nó bao gồm những công việc: nguy hiểm và gây hại cho trẻ em về mặt tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức; và ản trở việc học tập của trẻ em do: lấy đi của các em cơ hội học tập, buộc các em phải nghỉ học sớm, hay buộc các em phải kết hợp việc học với làm việc nặng nhọc và trong nhiều giờ
LĐTE được nhận diện thông qua các tiêu chí về độ tuổi, thời gian làm việc, loại công việc và nơi làm việc được xem là nguy hại cho người dưới 18 tuổi Những
quy định theo các tiêu chí này được thể hiện rõ trong hai công ước của ILO là Công
ước số 138 năm 1973 về tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 năm 1999 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất Cụ thể,
nó bao gồm những hình thức LĐTE tồi tệ nhất, những công việc nguy hại và công việc không được phép thực hiện bởi trẻ em dưới tuổi lao động tối thiểu theo luật từng nước (Bảng 1.1)
Trang 14Bảng 1.1 Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo quy định
của Công ước số 138
Mức tuổi lao động
Tuổi tối thiểu áp dụng chung cho mọi quốc gia
Tuổi tối thiểu ngoại lệ, áp dụng cho các quốc gia đang phát triển
Tuổi tối thiểu cơ bản (Điều
2)
Tuổi tối thiểu áp dụng với
các công việc nguy hiểm
(Điều 3)
an toàn và phẩm hạnh phải
được đảm bảo
Tuổi tối thiểu áp dụng với
các công việc nhẹ (Điều 7)
Nguồn: Theo tài liệu Hướng dẫn phòng ngừa và giảm thiều lao động trẻ em
của tổ chức ILO [40, tr 7-11]
Theo pháp luật Việt Nam:
Bộ luật Lao động 2019 là văn bản pháp lý toàn diện nhất quy định các vấn đề
có liên quan đến trẻ em tham gia lao động và người lao động chưa thành niên Bộ
luật Lao động quy định: “người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên” (Điều 3) và
“người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi " (Điều 143, Bộ
Luật lao động 2019) và nghiêm cấm việc sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật, cưỡng bức lao động và các hành vi lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật
Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã
hội, ban hành ngày 10 tháng 6 năm 2013 quy định danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên Phạm vi áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động Danh mục quy định 91 công việc
và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên
Trang 15Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, ban hành ngày 11/6/2013 quy định danh mục Công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc Bao gồm: (i) Danh mục công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc và (ii) Danh mục công việc được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi được làm việc
1.1.1.3 Chính sách lao động trẻ em
Chính sách LĐTE là tập hợp những quyết định, quy định của nhà nước được
cụ thể hóa trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng LĐTE
Đối với thế giới:
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan đến LĐTE: Công ước về Quyền trẻ
em Điều 32 quy định trẻ em phải được bảo vệ trước sự “bóc lột kinh tế” và “tính
đến những điều khoản thích hợp của những văn kiện quốc tế khác” Ví dụ như các
Công ước của ILO thể hiện nguyên tắc cơ bản trong lao động Tuyên bố về các quyền và Nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc và theo dõi việc áp dụng được thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế lần thứ 86 họp tại Geneva vào tháng 6/1998, trong đó quy định rằng xóa bỏ hiệu quả LĐTE là một trong bốn nguyên tắc cơ bản
mà các quốc gia thành viên của Công ước về quyền trẻ em (Công ước về quyền trẻ
em được viết tắt là CRC) cần tuân thủ hoặc các văn kiện quốc tế khác như các công ước của ILO thể hiện nguyên tắc cơ bản trong lao động
Tuy nhiên, không đơn giản để xác định được thế nào là “bóc lột kinh tế” hay
“LĐTE” nào cần phải xóa bỏ, trong khi trẻ em tham gia lao động dưới nhiều hình
thức khác nhau và điều kiện lao động khác nhau và không phải tất cả những công việc trẻ em tham gia đều là “có hại" đối với trẻ em Vì vậy, cần có các tiêu chuẩn quốc tế đối với các quy định của quốc gia về vấn đề trẻ em tham gia lao động Công ước số 138 của ILO về độ tuổi tối thiểu (được bổ sung bởi Khuyến nghị
số 146) yêu cầu độ tuổi lao động tối thiểu chung phải được ấn định bởi mỗi quốc gia và không được dưới tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc và về nguyên tắc, không dưới 15 tuổi Tuy nhiên, trẻ em 13-14 tuổi có thể được phép làm công việc nhẹ Công ước số 138 của ILO về độ tuổi tối thiểu (được bổ sung bởi Khuyến nghị số
Trang 16146) yêu cầu độ tuổi lao động tối thiểu chung phải được ấn định bởi mỗi quốc gia
và không được dưới tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc Đối với những công việc nguy hiểm phải nghiêm cấm đối với trẻ em dưới 18 tuổi Nội dung chính xác của công việc nguy hiểm phải được xác định bởi mỗi quốc gia sau khi tham khảo ý kiến
ba bên (chính phủ, công đoàn và đại diện của người sử dụng lao động)
Công ước 182 của ILO về các hình thức LĐTE tồi tệ nhất (được bổ sung bởi Khuyến nghị số 190) yêu cầu nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất là mối ưu tiên chính của hành động quốc gia và quốc tế, đã được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế nhất trí thông qua trong phiên
họp lần thứ 87 tại Giơ-ne-vơ và được tuyên bố ngày 17 tháng 6 năm 1999 Phạm vi
áp dụng công ước bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế, không có ngoại lệ
Công ước yêu cầu các quốc gia phê chuẩn không chỉ cấm các hình thức
LĐTE tồi tệ nhất trong pháp luật mà còn phải thiết kế và thực hiện các chương trình
hành động nhằm xóa bỏ các hình thức này như là một ưu tiên, và phải thiết lập hoặc
chỉ định các cơ chế thích hợp để theo dõi việc thực hiện Công ước Các quốc gia phê chuẩn cũng phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và có khung
thời gian cụ thể; có sự trợ giúp cho việc đưa trẻ em ra khỏi các hình thức LĐTE tồi
tệ nhất và phục hồi chức năng cho các em; đảm bảo tiếp cận với giáo dục cơ bản không phải trả tiền hoặc hướng nghiệp dạy nghề cho tất cả trẻ em đã được đưa ra khỏi các hình thức LĐTE tồi tệ nhất; xác định trẻ em có nguy cơ đặc biệt; và có tính đến hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em gái
Công ước 29 của ILO về Lao động cưỡng bức thông qua năm 1930 Năm
2007, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này Khoản 1, Điều 2 Công ước nêu rõ
“lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc" là chỉ mọi công việc hoặc dịch vụ là một người
bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm Như vậy, lao động cưỡng bức có thể tồn tại dưới bất cứ hình thức lao động nào, có thể được áp đặt lên cả người lớn và trẻ em, ở cả khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, các cá nhân
Nghị quyết của ILO về thống kê LĐTE lần thứ 18, 2008) Nghị quyết liên quan đến thống kê LĐTE đã được thông qua tại Hội nghị thống kê lao động quốc tế
Trang 17lần thứ 18 do ILO tổ chức tại Geneva vào tháng 12/2008 thiết lập các hướng dẫn
được chấp nhận trên toàn cầu về tiêu chuẩn đo lường thống kê LĐTE Đây là một
sự phát triển quan trọng trong phân tích LĐTE, bất kỳ số liệu thống kê nào cũng phải được đo lường, phải có một định nghĩa hoạt động và duy nhất
Nghị quyết đã làm rõ trẻ em tham gia lao động (hay trẻ em đang làm việc) đề cập đến trẻ em tham gia bất kỳ hoạt động nào nằm trong giới hạn sản xuất nói chung trong hệ thống tài khoản quốc gia với ít nhất 01 giờ trong giai đoạn tham chiếu Trong đó chỉ có một tập hợp con là LĐTE cần loại bỏ
Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) ngày 20/2/1990, Việt Nam cũng đã phê chuẩn hai Công ước cơ bản của ILO liên quan
đến LĐTE: Công ước về độ tuổi tối thiểu (Công ước 138, 1973) và Công ước về các
hình thức LĐTE tồi tệ nhất (Công ước 182, 1999) Việt Nam đã chủ động nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế; đến nay về cơ bản, hệ thống pháp luật quốc gia về bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã tương đối đầy đủ, đảm bảo tính thống nhất, đồng
bộ, hài hoà với pháp luật quốc tế, tạo hành lang pháp lý toàn diện để giải quyết các vấn đề của trẻ em, trong đó có vấn đề bóc lột sức LĐTE
Các chính sách liên quan LĐTE tại Việt Nam: Giảm nghèo ở nông thôn và cải thiện sinh kế nông thôn và việc làm cho thanh thiếu niên.; dụng pháp luật về LĐTE; cải thiện tiếp cận giáo dục có chất lượng và phù hợp với nhu cầu của trẻ em gái và trẻ em trai nông thôn; giảm thiểu mức độ tổn thương của các hộ gia đình và người lao động; lồng ghép vấn đề LĐTE vào các chính sách, chương trình và nghiên cứu nông nghiệp và nông thôn; thúc đẩy đối thoại xã hội; ngày 07/6/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1023/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu chung “Thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE; trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái với quy định của pháp luật được phát hiện, can thiệp, hỗ trợ kịp thời để hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển” Chương trình nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam về xóa bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất và giảm thiểu LĐTE Cùng với Quyết định 1023/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Trang 18Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2016-2020, Chính phủ ban hành nhiều quyết định trong giai đoạn này liên quan đến lĩnh vực bảo vệ trẻ em, góp phần thúc đẩy, hỗ trợ và tăng cường nguồn lực thực hiện các nội dung, mục tiêu của Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE:
(i) Các Chương trình với các biện pháp và nguồn lực bổ sung, hỗ trợ thực hiện phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE, gồm: (i) Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020 và Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 Các dự án của chương trình này góp phần tăng cường năng lực và điều kiện thực hiện chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE (phát triển cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, phát triển nghề công tác xã hội góp phần nâng cao năng lực trợ giúp trẻ em …); (iii) Chương trình quốc gia phòng, chống mua bán người với mục tiêu tổng quát “Giảm nguy cơ mua bán người; giảm tội phạm mua bán người; thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về”
(ii) Các Chương trình, đề án, tiêu chuẩn, tháng hành động… góp phần nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, năng lực bảo vệ trẻ em cho gia đình, cộng đồng, nhà trường và bản thân trẻ em, tạo môi trường sống an toàn, không để trẻ em phải lao động kiếm sống, gồm: (i) Chương trình giáo dục đời sống gia đình; (ii) Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình; (iii) Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; (iv)
Đề án Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025; (v) Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; (vi) Tiêu chuẩn, trình tự đánh giá và công nhận xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em; (vii) Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng giai đoạn 2018-2025; (viii) Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại cộng đồng giai đoạn 2018-2025; (ix) Đề án
“Hỗ trợ nhóm trẻ độc lập, tư thục tại khu công nghiệp, khu chế xuất” (Đề án 404), tạo điều kiện cho các bậc cha, mẹ là công nhân lao động có con dưới 36 tháng tuổi
có nơi gửi trẻ an toàn, góp phần giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại; (x) Đề án
“Tuyền truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội
Trang 19liên quan đến phụ nữ trong tình hình mới” (Đề án 938), theo đó nội dung trọng tâm 2019-2020 là “Giáo dục cha, mẹ trong chăm sóc và phát triển trẻ em”
(iii) Các Chương trình với các giải pháp nhằm huy động nguồn lực và sự phối hợp liên ngành tham gia bảo vệ trẻ em, trong đó có phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE: (i) Ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình; (ii) Đề án vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ trẻ em các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2019-2025; (iii) Ban hành danh mục dịch vụ
sự nghiệp công sử dụng nhân sách nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch
1.1.1.4 Thực hiện chính sách lao động trẻ em
Tổ chức thực hiện chính sách LĐTE là quá trình biến các chính sách LĐTE thành những kết quả trong đời sống xã hội; thông qua các hoạt động có tổ chức về LĐTE trong bộ máy nhà nước, nhằm thực hiện hoá các mục tiêu chính sách LĐTE
đã đặt ra
Tùy thuộc vào chế độ chính trị, những quy định của hiến pháp, nguyên tác thực thi quyền lực nhà nước, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, mức độ dân chủ, công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà số lượng và loại chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách lao động trẻ em ở các nước khác nhau là khác nhau
Như vậy, có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách LĐTE và các chủ thể này có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình thực hiện chính sách; số lượng chủ thể và vai trò của từng chủ thề tham gia tùy thuộc vào từng chính sách cụ thể và bối cảnh của từng nước Tuy nhiên, có thể nhóm các chủ thể tham gia vào thực thi chính sách LĐTE thành các nhóm sau: (1) Chủ thể thực thi là các cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực thi chính sách LĐTE; (2) Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách (các cộng đồng dân cư, các nhóm dân số, thậm chí mọi người dân)
Trang 20Qua nghiên cứu và tham khảo một số khái niệm của quốc tế và Việt Nam về nội dung liên quan đến LĐTE Tác giả sẽ sử dụng các khái niệm nêu trên phù hợp nhất để phục vụ cho việc nghiên cứu của luận văn Các khái niệm này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện chính sách đối với LĐTE Nếu một khái niệm rỏ ràng, cụ thể sẽ giúp cho chúng ta xác định đúng số liệu liên quan đến từng nhóm đối tượng thủ hưởng chính sách, từ đó giúp cho việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sẽ phù hợp với thực tế hơn Còn ngược lại thì việc thực hiện chính sách sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn Vì vậy, tác giả sẽ áp dụng các khái niệm nêu trên vào từng trường hợp cụ thể tại địa phương cho phù hợp nhất
1.1.2 Mục tiêu, nội dung của chính sách đối với lao động trẻ em
1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách lao động đối với trẻ em
Mục tiêu tổng quát:
Bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em, phát triển toàn diện trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; tạo lập môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE; trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái với quy định của pháp luật được phát hiện, can thiệp, hỗ trợ kịp thời để hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển
Trang 211.1.2.2 Nội dung thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Thứ nhất: Hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả về mặt pháp luật, chính sách về phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE Quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc phòng ngừa, phát hiện, can thiệp, hỗ trợ LĐTE
Thứ hai: Lồng ghép việc thực hiện nội dung của Chương trình trong hoạt động của hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em
Thứ ba: Triển khai có hiệu quả chính sách trợ giúp xã hội, giảm nghèo; cải thiện điều kiện, môi trường lao động phù hợp tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức; giáo dục nghề nghiệp và giới thiệu việc làm nhằm hỗ trợ trẻ em và gia đình cải thiện cuộc sống
Thứ tư: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp
sử dụng trẻ em lao động trái quy định của pháp luật
Thứ năm: Tăng cường hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động xã hội nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm về phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật cho chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức, người sử dụng lao động, xã hội, cha mẹ và trẻ em Tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm tạo mối quan tâm, thúc đẩy sự thay đổi nhận thức và vận động sự tham gia của xã hội đối với công tác phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật; nghiên cứu xây dựng và phát triển các chương trình, tài liệu, sản phẩm truyền thông về phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật; triển khai các hình thức truyền thống phù hợp với từng nhóm đối tượng của Chương trình; tổ chức các hoạt động giáo dục, tư vấn, truyền thông trực tiếp cho cộng đồng, trường học, người sử dụng lao động, đặc biệt tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu vực kinh tế phi chính thức về phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật
Trang 22Thứ sáu: Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm vận động nguồn lực, trao đổi kinh nghiệm với các nước, các tổ chức quốc tế trong việc thực hiện Chương trình
Thứ bảy: Nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em các cấp, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã, cộng tác viên làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, ưu tiên đội ngũ thanh tra viên về phòng ngừa, phát hiện, can thiệp, hỗ trợ giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật
Thứ tám: Thí điểm mô hình hỗ trợ, can thiệp để giảm thiểu LĐTE
1.2 Quá trình thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
1.2.1 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về lao động trẻ em
Thực hiện Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là chính sách nhất quán của Việt Nam từ khi thành lập nước năm 1945 Điều này được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 đã quy định: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14) Quy định này được tái khẳng định và cụ thể hoá trong tất cả các bản Hiến pháp về sau (1959, 1980, 1992, 2013)
Năm 1991, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc Sau khi ký kết Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Việt Nam tiếp tục ký kết hai Nghị định thư bổ sung về Cấm sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang và Cấm buôn bán, mại dâm trẻ em và sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm có trẻ em
Đặc biệt, lần đầu tiên Hiến pháp 2013 (Điều 37) nêu rõ: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” chính sách hiện nay của Nhà nước Việt Nam về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành, trong đó nổi bật là các văn bản sau đây:
Một là: Bộ Luật Lao động 2012 có một chương riêng quy định về Lao động chưa thành niên (Điều 161-165) trong đó quy định độ tuổi được xem là lao động chưa thành niên, các nguyên tắc và nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi tuyển dụng, sử dụng người lao động chưa thành niên, các công việc và nơi làm việc cấm
sử dụng lao động chưa thành niên Một số quy định này được cụ thể hoá trong
Trang 23Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH ban hành Danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên và Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ban hành Danh mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc
Hai là: Luật trẻ em 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi (Theo điều 1, Luật Trẻ em năm 2016, tại Thư viện pháp luật, địa chỉ https://thuvienphapluat.vn/) xác định rõ: “TE có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ
em (Theo Điều 26, Luật trẻ em năm 2016, tại Thư viện pháp luật, địa chỉ https://thuvienphapluat.vn/) Luật cũng nghiêm cấm một loạt hành vi trong đó có những hành vi gắn liền với vấn đề LĐTE, bao gồm: Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em; Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn; Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật ; Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình; Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền; Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi; Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm…(Điều 6, Luật Trẻ
em năm 2016, tại Thư viện pháp luật, địa chỉ https://thuvienphapluat.vn/)
Ba là: Luật Trẻ em quy định tại điều 10 có quy định 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có bổ sung các nhóm mới như: trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; trẻ
em mắc bệnh; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc Đây là những nhóm trẻ em thuộc về hoặc có nguy cơ cao
Trang 24rơi vào hoàn cảnh LĐTE Luật cũng quy định 25 nhóm quyền của trẻ em, trong đó
có những quyền có tác dụng trực tiếp với việc bảo vệ trẻ em khỏi bị rơi vào hoàn cảnh LĐTE như quyền được sống chung với cha, mẹ; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không
bị bóc lột sức lao động, không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạn; quyền được đảm bảo ASXH; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn…Đặc biệt, Luật trẻ em 2016 quy định cụ thể các nội dung
về các cấp độ bảo vệ trẻ em (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) và trách nhiệm thực hiện;
cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; chăm sóc thay thế; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng Những quy định này cũng có ý nghĩa quan trọng với việc phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ trẻ em lao động
Bốn là: Bộ luật Hình sự: Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có một điều quy định trực tiếp về tội vi phạm quy định về sử dụng LĐTE (Điều 228), theo đó hành vi sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến cao nhất là bảy năm Ngoài ra, Bộ luật còn quy định về tội danh mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120); các tội danh liên quan đến mại dâm trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và khiêu dâm trẻ em (Điều 112, 114, 115 và 116) Quy định tại Điều 228 nêu trên được đổi thành “Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi” (Điều 296) của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ 1-1-2018, trong tài liệu này viết tắt là Bộ luật Hình sự 2015) với chế tài nghiêm khắc hơn Cụ thể, theo Điều 296 Bộ luật Hình sự 2015, người nào sử dụng người dưới 16 tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định thì bị phạt tiền từ 30 triệu đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 10 năm Các tội danh khác liên quan đến LĐTE cũng được tái khẳng định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 với chế tài nghiêm khắc hơn
Trang 25Năm là: Việc bảo vệ trẻ em khỏi bị rơi vào trường hợp LĐTE được đề cập cả trực tiếp và gián tiếp trong một số luật và pháp lệnh khác của Việt Nam như: Luật phổ cập giáo dục tiểu học 1991 và Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (hai luật này quy định chi tiết về quyền học tập của trẻ em, gồm quyền được học tiểu học miễn phí), Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (nhấn mạnh việc đổi xử bình đẳng với con trai và con gái, trẻ em được sinh ra trong và ngoài giá thú); Luật Nghĩa
vụ quân sự 2016 (qui định độ tuổi nhập ngũ là 18 tuổi và đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo không tuyển trẻ em ít hơn 18 tuổi); Luật Phòng, Chống Mua Bán người
2011 (Nghiêm cấm các hành vi mua bán người và quy định các biện pháp phòng ngừa, giải cứu, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán); Pháp lệnh Phòng, Chống Mại dâm 2003 (Quy định trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ phải ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao động với cơ quan quản
lý lao động địa phương và không sử dụng người lao động dưới 18 tuổi làm những công việc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ); Luật An toàn, Vệ sinh Lao động 2015 (Quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động – những quy định này cũng được áp dụng với lao động chưa thành niên)
Để hướng dẫn thực hiện những quy định về lao động chưa thành niên và LĐTE trong một số luật nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số Nghị định trong đó quan trọng nhất là: (1) Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 9/5/2017 quy định chi tiết một số điều về Luật trẻ em, trong đó bao gồm các quy định về các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và chính sách hỗ trợ; hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt; việc chăm sóc thay thế cho trẻ em; trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc bảo đảm để trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em; (2) Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội
và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó bao
Trang 26gồm những vi phạm về LĐTE và lao động chưa thành niên; (3) Nghị định số 144/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó có những vi phạm về lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em
Việc lồng ghép vấn đề phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE vào nhiều chương trình,
kế hoạch hành động cấp quốc gia, như Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em (các giai đoạn 1991-2000, 2000-2010, 2012-2020); Chương trình hành động quốc gia về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002, Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020; Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010; Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010; Chương trình phòng, chống mua bán người (các giai đoạn 2011 – 2015, 2016 – 2020); Chiến lược Phát triển Giáo dục 2011-2020 Đặc biệt, gần đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1023/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2016 – 2020 với hai mục tiêu cụ thể là: a) Nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm của cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức, đoàn thể xã hội, người sử dụng lao động, cộng đồng, cha mẹ và trẻ em về LĐTE; và b) 100% LĐTE trái quy định của pháp luật khi có thông báo, phát hiện được hỗ trợ, can thiệp kịp thời
1.2.2 Ý nghĩa của tổ chức thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Một là, Việc thực hiện chính sách đối với LĐTE nó thể hiện sự tôn trọng, quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em, là cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền trẻ em Hai là, Thực hiện chính sách giúp hiện thực hóa chính sách đối với LĐTE đi vào cuộc sống, nhằm mục đích đem lại những lợi ích cho nhóm đối tượng thụ hưởng một cách tốt nhất Đây cũng là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực
Ba là, Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của xã hội sẽ giúp cho việc xây dựng, thực hiện luật pháp, chính sách về phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE nói riêng và về quyền trẻ em nói chung được thực hiện tốt hơn Xa hơn nữa là tương lai của các em, tương lai nguồn nhân lực của đất nước được bảo đảm”, có ý nghĩa
Trang 27thiết thực khi toàn cầu đang cam kết triển khai việc phòng ngừa LĐTE, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững để đảm bảo cho trẻ em có một tương lai tốt đẹp Bốn là: Việc thực hiện chính sách đối với LĐTE là góp phần vào việc bảo
vệ, chăm sóc trẻ em nhằm tạo được nhân lực, nhân tài cho đất nước đạt chất lượng cao hơn
Năm là, Thực thi giúp cho chính sách LĐTE ngày càng hoàn chỉnh Do bị ảnh hưởng bởi yếu tố, điều kiện môi trường, phát triển kinh tế xã hội, vì vậy trong giai đoạn tổ chức thực thi chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách
Sáu là, Thực thi chính sách đối với LĐTE là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách này Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được
cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách Qua thực thi giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh Giúp cho việc điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách sau tốt hơn chính sách trước
1.2.3.1 Chủ thể thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Trong quá trình thực hiện, mỗi chủ thể có vai trò khác nhau và có thể góp phần giải quyết vấn đề LĐTE ở những góc độ và mức độ khác nhau, tùy theo chức năng và nhiệm vụ của cơ quan mình Dưới đây liệt kê các chủ thể chính và các hoạt động mà từng chủ thể có thể đảm nhiệm khi tham gia phối hợp hoạt động phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm chính trong công tác phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE, bởi lẽ:
Chủ thể nhà nước có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các cam kết các vấn đề liên quan đến LĐTE thông qua hệ thống luật pháp, chính sách của quốc tế (các Công ước CRC của Liên hợp quốc, Công ước 138 và 182 của ILO)
Nhà nước là chủ thể có quyền và trách nhiệm xây dựng, tổ chức và bảo đảm thực hiện pháp luật, chính sách về mọi lĩnh vực, trong đó có LĐTE Là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động hợp tác khu vực và quốc tế về phòng ngừa và giảm
Trang 28thiểu LĐTE Là chủ thể có thẩm quyền phân bổ các nguồn lực thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em Nhà nước thực hiện vai trò kể trên thông qua các cơ quan nhà nước (bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương) Ở cấp địa phương, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong vấn đề này bao gồm HĐND, UBND và các cơ quan chuyên môn giúp việc cho HĐND, UBND, đặc biệt là các cơ quan phụ trách các lĩnh vực về lao động-thương binh-xã hội, giáo dục, văn hoá, tư pháp… Để thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà nước cần hợp tác, phối hợp với nhau và với các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế mà đang hoạt động tại địa phương trong tất cả các giai đoạn từ xây dựng, thực hiện và tổng kết, đánh giá hiệu quả các chương trình, kế hoạch hành động phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE
Thứ hai, các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao cần phải
coi là một mục tiêu hoạt động của các tổ chức của người sử dụng lao động, bởi LĐTE không chỉ làm tổn hại đến sự phát triển của quốc gia, mà còn đến hoạt động
và phát triển của các doanh nghiệp Sự hợp tác của những người sử dụng lao động
là rất quan trọng trong phòng ngừa, xoá bỏ LĐTE, trước hết là bởi họ có thể đảm bảo doanh nghiệp của họ không sử dụng LĐTE, thêm vào đó, họ có khả năng: Cung cấp thông tin về tình trạng LĐTE trong các lĩnh vực khác nhau; vận động thúc đẩy việc xây dựng, thực hiện các chính sách quốc gia về LĐTE; Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo nghề cho trẻ em tham gia lao động và người lao động chưa thành niên; truyền thông làm thay đổi nhận thức của công chúng về quyền của trẻ em và về tác động tiêu cực của LĐTE
Thứ ba, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức dựa vào cộng đồng, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức dựa vào cộng đồng
có thể đóng góp vào việc phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE bằng nhiều cách Vai trò
của các tổ chức, đoàn thể xã hội được quy định trong Luật trẻ em và các văn bản pháp luật khác có liên quan, trong đó bao gồm Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE giai đoạn 2016 – 2020 Khác với các doanh nghiệp, việc phối hợp với các tổ chức xã hội có thể thực hiện một cách dễ dàng ở mọi cấp của chính quyền địa
Trang 29phương, do các tổ chức chính trị-xã hội lớn của Việt Nam (MTTQ, Hội LHPN, Đoàn TNCSHCM, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) có hệ thống tổ chức từ trung ương xuống đến cấp xã
Thứ tư, gia đình và bản thân trẻ em cần được tham gia vào các hoạt động về
phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE không chỉ với tư cách là người hưởng lợi mà còn với
tư cách là những người cung cấp thông tin, vận động, tuyên truyền và giúp đỡ các LĐTE Nếu không có sự tham gia, phối hợp của gia đình và bản thân trẻ em, những biện pháp can thiệp thường không hợp lý và kém hiệu quả Trong công tác phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE, chính LĐTE có vai trò quan trọng nhất Đó là bởi từ hoàn cảnh của mình, các em biết và có thể tư vấn cho các chủ thể liên quan về những biện pháp cần thiết để giảm thiểu LĐTE hoặc để cải thiện hoàn cảnh của LĐTE
Thứ năm, các cơ quan truyền thông đại chúng phát thanh, báo in, báo điện tử… là những chủ thể có vai trò rất quan trọng trong nỗ lực phòng ngừa và giảm
thiểu LĐTE Đó là bởi họ thường có các nguồn nhân lực, vật lực và đặc biệt là năng lực điều tra, phát hiện vấn đề rất tốt Nhưng quan trọng nhất là họ có khả năng tác động rất mạnh đến nhà nước, công chúng và những người sử dụng LĐTE
Thứ sáu, các chủ thể khác: Ngoài những chủ thể, có rất nhiều chủ thể khác có
thể tham gia vào hoạt động phối hợp phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE, ví dụ như các cộng đồng, các tổ chức tôn giáo, các nhà trường Chính vì vậy, việc huy động được những chủ thể này có thể tạo ra những chuyển biến, kết quả to lớn trong các hoạt động phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE Thông thường các chủ thể nói trên đều hoạt động ở cấp cộng đồng, vì vậy việc phối hợp và lôi cuốn họ tham gia vào các chương trình, kế hoạch hành động phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE ở cấp địa phương có nhiều thuận lợi
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Tổ chức thực thi chính sách đối với LĐTE là một khâu hợp thành chu trình chính sách đối với LĐTE, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực thi chính sách đối với LĐTE là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách đối với LĐTE thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, thì việc tổ
Trang 30chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội
Để làm tốt thực thi chính sách đòi hỏi phải tuân thủ các bước sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với LĐTE Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách vì quá trình tổ chức thực thi chính sách đối với LĐTE là quá trình phức tạp phải phố hợp với nhiều ngành, đơn vị, doanh nghiệp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động b) Phổ biến, tuyên truyền chính sách đối với LĐTE
Sau khi bản kế hoạch thực thi được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách
c) Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đối với LĐTE
Chính sách đối với LĐTE được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách đối với LĐTE, công dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách đối với LĐTE diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật
d) Đôn đốc, tổng kết và duy trì chính sách đối với LĐTE là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội
Để thực hiện tốt việc duy trì chính sách đối với LĐTE cần phải đảm bảo một
số nội dung sau: Cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang tính pháp lý – qui định rành mạch, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể thực hiện;
Trang 31tránh tình trạng lẫn lộn quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện;
tổ chức phối hợp thống nhất, hiệu quả, đồng bộ (giữa cơ quan chủ trì với cơ quan khác; giữa cơ quan nhà nước với nhân dân); đảm bảo các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ; đảm bảo kế hoạch hóa về thời gian
và qui trình thủ tục thực hiện; đảm bảo thông suốt về thông tin;…
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em
Quá trình chính sách được diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân vì thế kết quả thực thi chính sách sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
Trong những năm gần đây, tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp Biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt, sạt lở, giông lốc, dịch bệnh diễn ra ở nhiều nơi Đảng, Nhà nước đã hết sức quyết liệt phòng, chống dịch hiệu quả; vừa tập trung phục hồi phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu, quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, ổn định xã hội Có thể thấy, về cơ bản, các giải pháp điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực thi đúng hướng và phù hợp, được nhân dân
cả nước đồng tình, cộng đồng thế giới đánh giá cao
Đa số đông đảo người dân có hiểu biết và chấp hành tốt những quy định của pháp luật nhà nước Tuy nhiên, nhận thức của gia đình và chính trẻ em, của người
sử dụng lao động và người môi giới lao động còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật, chính sách liên quan đến LĐTE
Ngoài ra, sự nhận thức và triển khai phòng ngừa LĐTE trong trong quá trình sản xuất, kinh doanh còn khó khăn trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng ngày càng trở nên phức tạp bao gồm cả nhân công, các nhà sản xuất nhỏ, các doanh nghiệp nên cần nhận thức rõ được chuỗi cung ứng là một hệ thống các hoạt động liên quan đến việc sản xuất, vận chuyển, phân phối sản phẩm Việc sử dụng LĐTE
ở bất kỳ khâu nào trong chuỗi cung ứng đều vi phạm pháp luật, sẽ dẫn đến các ảnh hưởng không tốt tới việc tiêu thụ sản phẩm
Trang 321.3.2 Mối quan hệ giữa các chủ thể và các bên liên quan thực hiện chính
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách là sự thể hiện thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Nếu mối quan hệ này có mâu thuẫn thì sẽ ảnh hưởng đến công tác tổ chức Vì vậy, mối quan hệ này cần phải thực hiện như sau:
(1) Đối với các cơ quan nhà nước – người chủ động tổ chức thực thi chính sách công – phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách LDTE tại địa phương Nếu việc thực thi chính sách LĐTE gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản
lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan nhà nước
có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách công
(2) Phải có quy định rõ ràng, cụ thể về việc phối hợp giữa các cơ quan các cấp
tổ chức trong việc rà soát, điều tra, phân loại, quản lý và theo dõi các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, dẫn đến việc phát triển sớm, can thiệp và trợ giúp các trường hợp trẻ em bị bạo lực, trẻ em bị xâm, bóc lột và trẻ em vi phạm pháp luật
(3) Cơ quan cấp trên phải có hướng dẫn cho cơ quan cấp dưới triển khai thực hiện; các cơ quan cấp dưới báo cáo kịp thời các khó khăn vướng mắc cho cơ quan cấp trên để phối hợp xử lý
(4) Trong công tác kiểm tra giám sát thì cấp tỉnh kiểm tra cấp huyện, cấp huyện kiểm tra cấp xã Trong thực hiện chính sách LĐTE cần có kế hoạch phối hợp liên ngành quy định rỏ ràng các vai trò, nội dung kiểm tra, giám sát của từng thành viên trong kế hoạch
1.3.3 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính thực hiện chính sách đối với lao động trẻ bao gồm: Để thực hiện chính sách đối với LĐTE thì ngân sách nhà nước phải bố trí kinh phí thực hiện trong dự toán ngân sách hàng năm của các ban, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; ngoài ra, kinh
Trang 33phí được vận động từ nguồn tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và các nguồn hợp pháp khác
1.4 Thực tiễn việc thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em tại một
số địa phương
Ngay sau khi Chương trình được Chính phủ phê duyệt, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội thảo hướng dẫn thực hiện chương trình cho các Bộ ngành, địa phương để trao đổi, chia sẻ các kinh nghiệm về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE của một số tổ chức quốc tế và Việt Nam, đồng thời bàn các giải pháp thực hiện Chương trình và xây dựng kế hoạch triển khai chương trình tại địa phương Đồng thời có 43/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình, một số địa phương chủ động bố trí kinh phí thực hiện Chương trình, còn lại đa phần không có kinh phí thực hiện chung mà lồng ghép trong các Chương trình, đề án về bảo vệ trẻ em Kết quả triển khai của một số tỉnh về thực hiện chính sách đối với LĐTE cụ thể sau:
(1) Thực hiện chính sách đối với LĐTE tại tỉnh Đồng Nai: tỉnh đã ban hành kế hoạch phòng, ngừa LĐTE Trên căn cứ các hoạt động của kế hoạch Sở LĐTBXH tỉnh Đồng Nai đã triển khai cho các ban ngành đoàn thể các cấp Sau khi triển khai
kế hoạch các đơn vị liên quan lồng ghép các hoạt động vào nhiệm vụ của ngành mình Trong quá trình thực hiện tỉnh đã lồng ghép việc kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách đối với LĐTE vào kế hoạch kiểm tra công tác BVCSTE của tỉnh; Đối với công tác tuyên truyền thực hiện chính sách chủ yếu do Sở LĐTBXH tỉnh Đồng Nai thực hiện Sau khi thực hiện chính sách đối với LĐTE giai đoạn 2016-
2020 tỉnh đã tổng chức tổng kết việc thực hiện chính sách lồng ghép với chương trình BVCSTE
(2) Đối với tỉnh Quảng Ngãi việc thực hiện chính sách LĐTE được thực hiện với các bước sau: Cũng giống tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành
kế hoạch thực hiện chính sách đối với LĐTE Sau khi ban hành kế hoạch thì Sở LĐTBXH Quảng Ngãi đã phối hợp với các ngành liên quan để triển khai các nội dung của kế hoạch Tuy nhiên, đối với tỉnh Quảng Ngãi thì các ngành phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền chính sách rất tốt, có sự phân công từng sở ngành thực hiện nội dung tuyên truyền chính sách, kiểm tra chính sách Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi cũng
tổ chức tốt công tác sơ tổng kết việc thực hiện chính sách đối với LĐTE
Trang 34Qua kết quả thực hiện chính sách tại một số tỉnh cho thấy công tác thực hiện chính sách LĐTE được các cấp chính quyền địa phương quan tâm Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế-xã hội mà mỗi địa phương có các giải pháp khác nhau trong việc thực hiện chính sách LĐTE Nhưng khong ngoài mục tiêu và phòng, ngừa giảm thiểu tình trạng LĐTE tại địa phương
Tiểu kết chương
LĐTE là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam và An Giang, bởi những tác động của vấn đề này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia trong thời gian tới Do đó, trong chương 1, tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích từng nội dung về lý luận của LĐTE Những vấn đề về khái niệm trẻ em, LĐTE, chính sách LĐTE, tổ chức thực hiện chính sách LĐTE, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách, nguồn lực tài chính thực hiện chính sách và tham khảo một số kết quả triển khai chính sách LĐTE của các địa phương khác Trên cơ sở lý luận về các vấn đề nêu trên giúp cho tác giả phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đối với LĐTE tại An Giang một
cách toàn diện nhất
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG
TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 2.1 Khái quát về An Giang và tình hình lao động trẻ em tại An Giang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh nằm về phía thượng nguồn của Đồng bằng sông Cửu Long, với hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang làm nên những đặc điểm chính về địa lý cho địa bàn Về mặt hành chính, tỉnh bao gồm thành 01 thị xã Tân Châu, 02 thành phố (Châu Đốc, Long Xuyên) và 8 huyện với 156 xã, phường An Giang có diện tích 3.536,7 km², phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc và tây bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takeo của Campuchia với đường biên giới dài gần 104 km, phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ 80% diện tích là đất sản xuất nông nghiệp với 74% diện tích đất trồng lúa [38, tr 1 ]
Kinh tế tăng trưởng qua từng năm phù hợp với nguồn lực của địa phương; tăng trưởng GRDP bình quân cả giai đoạn 2015 - 2020 đạt 5,25% (giai đoạn 2010 -
2015, tăng trưởng GRDP đạt 5,07%) Quy mô của nền kinh tế tăng khá (GRDP năm
2020 đạt 89.362 tỉ đồng, tăng 1,48 lần so năm 2015, đứng thứ 5/13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long); cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực Đời sống người dân không ngừng cải thiện, GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt trên 46,8 triệu đồng (tăng 16 triệu đồng so năm 2015) [ 38, tr 1 ]
Dân số toàn tỉnh là 2.160.952 người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 0,92%, mật độ dân số 611 người/km² Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm khoảng 52,54% dân số Là một trong những tỉnh có “cơ cấu dân số vàng” Cơ cấu dân số trẻ, lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của toàn tỉnh đạt 1.00.497 người chiếm 52,6%
số dân (năm 2019) Lao động khu vực nhà nước 78.063, chiếm 8,03% tổng số lao động đang làm việc của tỉnh, khu vực ngoài nhà nước 880.836 người, chiếm 90,61%, khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài 13.260 chiếm 1,36% Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và dịch vụ khiến tỷ lệ di dân và thu hút những người lao động từ các vùng nông thôn tới sinh sống và làm việc tại các vùng kinh tế phát triển của tỉnh [38, tr 2]
Trang 36Hệ thống chính sách đã được hình thành và phát triển, thống nhất quản lý từ tỉnh đến huyện, xã cùng sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và các tổ chức đoàn thể đã thực hiện khá đồng bộ các chính sách, chủ trương, cơ chế, giải pháp cho hộ nghèo, người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội
Thực hiện theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 toàn tỉnh
An Giang có 45.789 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 8,45% /tổng số hộ dân, với 174.367 nhân khẩu Hộ nghèo tập trung ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa và các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Khmer) Hộ cận nghèo có 27.876 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,15%, với 105.082 nhân khẩu [34, tr 3 ]
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 đạt 34%, năm 2015 đạt 50%, ước năm
2020 đạt 65% Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2010 đạt 23%, năm
2015 đạt 36%, ước năm 2020 đạt 60% [34, tr 10 ]
Với điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội tỉnh An Giang cho chúng
ta thấy kinh tế phát triển năm sau cao hơn năm trước, các chính sách an sinh xã hội được các cấp lãnh đạo quan tâm và có nhiều kết quả tốt Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách LĐTE tại An Giang Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi vẫn còn những khó khăn như vẫn còn tình trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo, tình hình dịch bệnh, sự phân hóa xã hội, đây cũng là những vấn đề sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách đối với LĐTE tại An Giang
An Giang là một trong những tỉnh có dân số đông so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tuy có nguồn lao động dồi dào, song trình độ học vấn, tay nghề, tỷ
lệ lao động qua đào tạo còn thấp so bình quân cả nước, đặc biệt là khu vực nông thôn Đây cũng là mối nguy cơ cao cho việc trẻ em tham gia lao động sớm tại An Giang
Các ngành nghề phổ biến trẻ em tham gia lao động như: trẻ em tham gia vào các công đoạn sản xuất thuộc làng nghề thủ công (mộc, dưa xoài, đan lát, dệt thổ cẩm…); nông nghiệp (trồng lúa, sản xuất hoa màu, nuôi cá, cắt cỏ bò…); bán vé số, phụ hồ, phụ các quán ăn, làm việc trên đường phố Theo thống kê sơ bộ, tổng số trẻ em dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh An Giang thời điểm năm 2016: gần 605.193 trẻ, trong; 40.587 trẻ em thuộc hộ nghèo, 11.040 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, 53.748 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, 5.779 lao động trẻ em, 11.022
Trang 37trẻ theo cha, mẹ đi làm ăn xã (đây là nhóm trẻ em có nguy cơ lao động sớm, [33,
tr 33 ], (bảng số liệu 2.1)
Xác định nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trẻ em tham gia lao động sớm
ở An Giang là do nghèo, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, gia đình di cư từ nông thôn ra thành thị để kiếm sống; nhận thức của gia đình và trẻ em về hậu quả của việc trẻ em tham gia lao động sớm còn nhiều hạn chế, đặc biệt là lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ; quan niệm của nhiều bậc phụ huynh cho rằng phải tập cho con trẻ làm việc từ nhỏ để góp phần cho sự phát triển của trẻ em và đóng góp kinh tế cho gia đình; bên cạnh đó công tác tuyên truyền, vận động phòng tránh trẻ
em tham gia lao động sớm của các ngành chức năng chưa được quan tâm; công tác thanh, kiểm tra đối với tình hình sử dụng LĐTE chưa thường xuyên,…
Để bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ tham gia LĐTE trái quy định pháp luật, giúp trẻ em phát triển toàn diện và thụ hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em An Giang đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện chính sách đối với LĐTE trong giai đoạn 2016-2020 Qua 05 năm thực hiện chính sách LĐTE, kết quả sơ bộ cho thấy tình hình bảo vệ trẻ em có những chuyển biến và đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giảm hằng năm
Bảng 2.1 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2016-2020
Trang 38Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của sự tác động nền kinh tế thị trường cũng như tình hình dịch bệnh nên nnhững mối nguy hại đe dọa từ LĐTE có sự thay đổi tùy thuộc vào loại hình lao động, điều kiện lao động và đây là mối nguy hại cho trẻ
em và để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển bình thường của trẻ Từ
đó, làm ảnh hưởng đến nguồn nhân lực của địa phương trong thời gian tới Để giải quyết vấn đề LĐTE, cần có sự chung tay tham gia tích cực của tất cả xã hội, từ các
cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, công đoàn, các tổ chức xã hội đến các gia đình, cộng đồng Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của cả xã hội sẽ giúp
cho việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với LĐTE trên địa bàn tỉnh An Giang tốt hơn Góp phần làm cho tương lai của các em và xa hơn là tương lai nguồn nhân
lực của tỉnh An Giang được bảo đảm
2.2 Thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh
An Giang giai đoạn 2016-2020
2.2.1 Thực trạng chủ thể thực hiện chính sách đối với lao động trẻ em tại An Giang
2.2.1.1 Chủ thể xây dựng kế hoạch triển khai chính sách
Tùy theo nhiệm vụ của các chủ thể mà xây dựng và triển khai kế hoạch cho phù hợp với nhiệm vụ của mình
- Đối với cấp tỉnh: sau khi UBND tỉnh ban hành kế hoạch các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan đến nhiệm vụ thực hiện chính đối với LĐTE chủ động xây dựng
kế hoạch tại đơn vị để triển khai những nhiệm vụ này
- Đối với cấp huyện: 11/11 huyện, thị xã, thành phố điều xây dựng kế hoạch triển khai chính sách trên địa bàn cấp huyện Tuy nhiên, có một số địa phương việc xây dựng kế hoạch còn có một số hạn chế như: chưa chủ động đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình của địa phương mà khuôn rập với các nội dung của kế hoạch của tỉnh; kế hoạch được xây dựng nhưng nguồn lực kinh phí chưa được quan tâm để thực hiện; công tác kiểm tra, đôn đốc triển khai kế hoạch cũng không kịp thời
Có thể tóm tắt nội dung thực hiện của các chủ thể thực hiện chính sách đối với LĐTE như sau:
Trang 39Ngành LĐTBXH có trách nhiệm chủ trì, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức khác, thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình và định kỳ báo cáo với cơ quan cấp trên Các Ban, ngành, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các cấp trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng và thực thi kế hoạch thực hiện Chương trình, hằng năm báo cáo với cơ quan cấp trên thông qua ngành LĐTBXH
LĐTE là vấn đề rộng lớn, phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, kinh tế, xã hội, và nhiều chủ thể khác nhau (TE, gia đình, cộng đồng, trường học, nhà nước, doanh nghiệp ) Do tính chất rộng lớn, phức tạp như vậy, không một chủ thể nào có thể một mình đảm đương việc phòng ngừa và giảm thiểu LĐTE Thay vào đó, nhiệm vụ này phải do nhiều chủ thể cùng phối hợp tiến hành
Do mỗi chủ thể đều có những thế mạnh và hạn chế nhất định nên việc phối hợp hành động là rất cần thiết để phát huy tối đa sức mạnh và các nguồn lực, đồng thời
để hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo trong các hoạt động
2.2.1.2 Chủ thể thực hiện nhiệm vụ phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách
Công tác truyền thông, giáo dục, vận động xã hội về pháp luật, kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE các ban, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức triển khai thực hiện với nội dung, hình thức theo quy định của pháp luật về LĐTE Theo số liệu báo cáo thống kê công tác truyền thông hàng năm để thực hiện chính sách đối với LĐTE được các ngành phối hợp triển khai
Bảng 2.2 Số liệu thống kê công tác truyền thông thực hiện chính sách
lao động trẻ em
Đơn vị tính: Số lần
Nội dung Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm
2019 Năm 2020 Cấp tỉnh
Trang 40Nguồn: Sở LĐTBXH giai đoạn 2016-2020
Qua theo dõi, tổng hợp báo cáo địa phương, hoạt động tích cực nhất trong Chương trình là truyền thông và giáo dục để nâng cao nhận thức về LĐTE Các hoạt động truyền thông này được lồng ghép hiệu quả trong các hoạt động truyền thông chung của địa phương về các vấn đề trẻ em và có sự tham gia của nhiều cơ quan ban ngành Nhận thức của cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp, cha, mẹ, trẻ
em nói riêng và xã hội nói chung về LĐTE tốt hơn
2.2.1.3 Chủ thể phân công phối hợp thực hiện chính sách
Sở LĐTBXH chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan,
UBND cấp huyện hướng dẫn tổ chức thực hiện Kế hoạch phòng ngừa, giảm thiểu
LĐTE tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020 Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng
lực cho cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở; tăng cường công tác tuyên truyền đến các chủ doanh nghiệp có sử dụng lao động, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ và trẻ em kiến thức phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE Tham gia vào quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách về phòng ngừa, giảm thiểu LĐTE và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về
sử dụng LĐTE theo thẩm quyền
Ngoài ra Sở LĐTBXH còn chủ trì và phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan định kỳ kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kế hoạch; tổng hợp, báo cáo tình tình thực hiện Kế hoạch cho UBND tỉnh và Bộ lao động -Thương binh và Xã hội Tham mưu UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá , khen thưởng việc thực hiện Kế hoạch vào cuối năm 2020
Sở Tài chính: Hàng năm, căn cứ khả năng cân đối ngân sách và các quy định hiện hành của Nhà nước, xem xét, thẩm định tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí