ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và trải dài theo nhiều vĩ độ, với 2/3 diện tích đất đồi núi, do đó tài nguyên rừng có vai trò đặc biệt trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở nước ta. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như sức ép gia tăng dân số, du canh du cư, đốt nương làm rẫy, khai thác rừng không kiểm soát, cháy rừng, chiến tranh,... nên diện tích và chất lượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài, đặc biệt trong giai đoạn 1980 - 1985 trung bình mỗi năm chúng ta mất đi khoảng 235.000 ha rừng. Từ năm 1990 trở lại đây, diện tích và độ che phủ rừng đã tăng lên liên tục nhờ công tác trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là chương trình 327 (phủ xanh đất trống đối núi trọc); Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; Chỉ thị số 286/TTg ngày 02/5/1997 cấm khai thác rừng tự nhiên của Chính phủ,... cùng với sự hỗ trợ của nhiều dự án quốc tế như PAM, KFW (Đức); JICA (Nhật Bản),.... Theo thống kê đến 31/12/2012, diện tích rừng toàn quốc là 13.862.043 ha với tỷ lệ che phủ của rừng đạt 40,7%. Mặc dù, diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng rừng chưa được cải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên hiện nay thuộc đối tượng rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học,... không cao. Rừng trồng sản xuất mới chỉ là rừng trồng nguyên liệu, gỗ nhỏ. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp hợp lý cho từng vùng, địa phương cụ thể đang được các nhà quản lý rất quan tâm đặc biệt từ khi thực hiện việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã là vấn đề cần thiết, được tiến hành theo từng giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, tổ chức sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã. Những năm qua, một số địa phương trong cả nước đã thực hiện công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng song vẫn còn có những bất cập. Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã chưa được thực hiện kịp thời và toàn diện trên cơ sở nhìn nhận cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và sự thu hút được sự tham gia của người dân và cộng đồng còn hạn chế. Ngoài ra, mục tiêu và nội dung của quy hoạch thường chưa quan tâm một cách thoả đáng tới những lợi thế và thách thức cũng như tiềm năng cung cấp các nguồn lực và nhu cầu lâm sản đầu ra của các hoạt động sản xuất nên vai trò của phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, quá trình đổi mới của nền kinh tế, phương thức quản lý sử dụng đối với các nguồn tài nguyên trong đó có tài nguyên đất và rừng cũng có nhiều thay đổi. Quảng Sơn là xã miền núi của huyện Đăk Glong, cách trung tâm huyện 55 km về phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 45.176,3 ha, trong đó diện tích đất quy hoạch cho Lâm nghiệp 37.985,78 ha, chiếm 84,08% tổng diện tích toàn xã. Diện tích rừng của xã Quảng Sơn có nhiều kiểu loại khác nhau, có tính đa dạng sinh học cao, giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nói riêng và của huyện Đắk Glong nói chung, đồng thời đảm bảo năng lực phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường cảnh quan, điều hoà khí hậu, bảo vệ đất chống xói mòn... Sản xuất lâm nghiệp xã Quảng Sơn từng bước chuyển dịch theo hướng giảm khai thác, tăng cường quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, khai thác các tiềm năng giá trị môi trường rừng. Hoạt động lâm nghiệp có nhiều đổi mới về cơ chế tổ chức quản lý để nâng cao trách nhiệm quản lý của các đơn vị chủ rừng. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được coi trọng đúng mức hơn, góp phần tạo công ăn, việc làm, cải thiện đời sống và nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Tuy nhiên, hiện nay công tác lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT vẫn chưa được triển khai thực hiện. Việc điều chỉnh lại địa giới hành chính theo Nghị định 28/NĐ-CP ngày 06/7/2010 của Thủ tướng Chính Phủ đã làm thay đổi về quy mô diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp của xã Quảng Sơn. Tài nguyên rừng của xã chưa phát huy hết tiềm năng, trong nhiều năm qua đời sống của những người tham gia bảo vệ rừng và tái tạo rừng vẫn còn rất nghèo, thu nhập thấp hơn rất nhiều so với các khu vực khác, do chưa được hưởng lợi thỏa đáng từ các giá trị sử dụng của rừng. Chất lượng rừng tự nhiên chưa được nâng cao; Công nghệ khai thác, chế biến gỗ chưa tiến triển kịp với các khu vực lân cận; Chưa tiếp cận triệt để và có hiệu quả các cơ hội nguồn lợi đầu tư vào rừng thông qua các thành phần kinh tế trong và ngoài nước... Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn cho phù hợp với tình hình thực tế, tiếp cận các quan điểm mới trong quy hoạch nhằm góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu trên, để xây dựng luận văn tốt nghiệp chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại xã Quảng Sơn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2013 - 2020”. Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Nhận thức về quy hoạch Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho kinh tế - xã hội, môi trường hoặc một ngành, một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của quy hoạch vùng. 1.1.1. Quy hoạch sử dụng đất đai Quan niệm về QHSDĐĐ còn nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại một số tác giả có nghiên cứu, như: Theo Dent (1986) [28]: QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và tự đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai. Một định nghĩa khác của Fresco và ctv, (1993) [32], QHSDĐĐ như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác. Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDĐĐ là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao. Do đó QHSDĐĐ, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì. Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm. [30] đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ như sau QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất. Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai. Lê Quang Trí (2005) [22]: QHSDĐĐ là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính thay đổi trong trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất. Đồng thời QHSDĐĐ cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai. Do đó trong quy hoạch cho thấy: Những sự cần thiết phải thay đổi; Những cần thiết cho việc cải thiện quản lý, hay những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đai hoàn toàn khác nhau trong các trường hợp cụ thể khác nhau. Các loại sử dụng đất đai bao gồm: Đất ở, nông nghiệp (thuỷ sản, chăn nuôi …) đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải được phân chia một cách cụ thể theo thời gian được quy định. Do đó trong QHSDĐĐ phải cung cấp những hướng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong các trường hợp có sự mâu thuẫn giữa đất nông nghiệp và phát triển đo thị hay công nghiệp hoá bằng cách chỉ ra các vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nông nghiệp và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác. Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất (cả nước hoặc trong phạm vi một đơn vị, đối tượng sử dụng đất cụ thể), tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sản xuất xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [26] 1.1.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ Theo Nguyễn Nhật Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995)[18] Quy hoạch vùng lãnh thổ là hệ thống các biện pháp xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gắn liền với cơ cấu đất đai và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, các công trình kinh tế - văn hoá - xã hội, nguồn lao động, tăng cương xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và xã hội mới. Quy hoạch vùng lãnh thổ là khoa học về quản lý tài nguyên mang cả 3 tính chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp lý. Là cơ sở để lập dự án đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới. Sự phát triển của khoa học quy hoạch vùng lãnh thổ liên quan đến sự phát triển của các quản lý phát triển kinh tế và phân bổ lực lượng sản xuất trên địa bàn lãnh thổ. Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt. Mục tiêu không thể hình thành do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thành chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một quá trình tìm tòi, cân nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện. Mục tiêu phải có tính khả thi, nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém, một bức tranh không có lợi ích. 1.1.3. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội. Thực chất đó là quá trình ra quyết định sử dụng rừng và đất rừng như một tư liệu sản xuất đặc biệt, nhằm mục tiêu sử dụng rừng và đất rừng một cách hiệu quả. Công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp luôn được trú trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong quản lý rừng và đất rừng. Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn. Do đó công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành. Nếu công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển của ngành lâm nghiệp sẽ mang lại tính bền vững, trong điều kiện ngược lại sẽ gặp những trở ngại, khó khăn. Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản đáp ứng cho nguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc điểm xã hội, nhân văn. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và trải dài theo nhiều vĩ độ, với2/3 diện tích đất đồi núi, do đó tài nguyên rừng có vai trò đặc biệt trong công cuộcphát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở nước ta Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân khác nhau như sức ép gia tăng dân số, du canh du cư, đốt nương làmrẫy, khai thác rừng không kiểm soát, cháy rừng, chiến tranh, nên diện tích và chấtlượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài, đặc biệt trong giai đoạn
1980 - 1985 trung bình mỗi năm chúng ta mất đi khoảng 235.000 ha rừng
Từ năm 1990 trở lại đây, diện tích và độ che phủ rừng đã tăng lên liên tụcnhờ công tác trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là chương trình 327(phủ xanh đất trống đối núi trọc); Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; Chỉ thị số286/TTg ngày 02/5/1997 cấm khai thác rừng tự nhiên của Chính phủ, cùng với sự
hỗ trợ của nhiều dự án quốc tế như PAM, KFW (Đức); JICA (Nhật Bản), Theothống kê đến 31/12/2012, diện tích rừng toàn quốc là 13.862.043 ha với tỷ lệ chephủ của rừng đạt 40,7%
Mặc dù, diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng rừng chưa đượccải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên hiện nay thuộc đối tượng rừng nghèo kiệt, giátrị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học, không cao Rừng trồng sản xuất mới chỉ làrừng trồng nguyên liệu, gỗ nhỏ Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựngphương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp hợp lý cho từng vùng, địa phương cụthể đang được các nhà quản lý rất quan tâm đặc biệt từ khi thực hiện việc rà soátquy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã là vấn đề cần thiết, được tiếnhành theo từng giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, tổ chức sản xuất lâmnghiệp trên địa bàn xã Những năm qua, một số địa phương trong cả nước đã thựchiện công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng song vẫn còn có những bất cập.Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và quy hoạch bảo vệ vàphát triển rừng cấp xã chưa được thực hiện kịp thời và toàn diện trên cơ sở nhìn
Trang 2nhận cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và sự thu hút được sự tham gia củangười dân và cộng đồng còn hạn chế Ngoài ra, mục tiêu và nội dung của quy hoạchthường chưa quan tâm một cách thoả đáng tới những lợi thế và thách thức cũng nhưtiềm năng cung cấp các nguồn lực và nhu cầu lâm sản đầu ra của các hoạt động sảnxuất nên vai trò của phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế Hơn nữa, quá trìnhđổi mới của nền kinh tế, phương thức quản lý sử dụng đối với các nguồn tài nguyêntrong đó có tài nguyên đất và rừng cũng có nhiều thay đổi.
Quảng Sơn là xã miền núi của huyện Đăk Glong, cách trung tâm huyện 55
km về phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 45.176,3 ha, trong đó diện tích đấtquy hoạch cho Lâm nghiệp 37.985,78 ha, chiếm 84,08% tổng diện tích toàn xã.Diện tích rừng của xã Quảng Sơn có nhiều kiểu loại khác nhau, có tính đa dạng sinhhọc cao, giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nóiriêng và của huyện Đắk Glong nói chung, đồng thời đảm bảo năng lực phòng hộđầu nguồn, phòng hộ môi trường cảnh quan, điều hoà khí hậu, bảo vệ đất chống xóimòn
Sản xuất lâm nghiệp xã Quảng Sơn từng bước chuyển dịch theo hướng giảmkhai thác, tăng cường quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế,khai thác các tiềm năng giá trị môi trường rừng Hoạt động lâm nghiệp có nhiều đổimới về cơ chế tổ chức quản lý để nâng cao trách nhiệm quản lý của các đơn vị chủrừng Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được coi trọng đúngmức hơn, góp phần tạo công ăn, việc làm, cải thiện đời sống và nâng cao ý thức bảo
vệ rừng của người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
Tuy nhiên, hiện nay công tác lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng theoThông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT vẫnchưa được triển khai thực hiện Việc điều chỉnh lại địa giới hành chính theo Nghịđịnh 28/NĐ-CP ngày 06/7/2010 của Thủ tướng Chính Phủ đã làm thay đổi về quy
mô diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp của xã Quảng Sơn Tàinguyên rừng của xã chưa phát huy hết tiềm năng, trong nhiều năm qua đời sống củanhững người tham gia bảo vệ rừng và tái tạo rừng vẫn còn rất nghèo, thu nhập thấp
Trang 3hơn rất nhiều so với các khu vực khác, do chưa được hưởng lợi thỏa đáng từ các giátrị sử dụng của rừng Chất lượng rừng tự nhiên chưa được nâng cao; Công nghệkhai thác, chế biến gỗ chưa tiến triển kịp với các khu vực lân cận; Chưa tiếp cậntriệt để và có hiệu quả các cơ hội nguồn lợi đầu tư vào rừng thông qua các thànhphần kinh tế trong và ngoài nước
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ vàphát triển rừng xã Quảng Sơn cho phù hợp với tình hình thực tế, tiếp cận các quanđiểm mới trong quy hoạch nhằm góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống củangười dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triểnhoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu trên, để xây dựng luận văn tốt nghiệp chúng tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại xã Quảng Sơn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2013 - 2020”.
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhận thức về quy hoạch
Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thờigian phát triển chung cho kinh tế - xã hội, môi trường hoặc một ngành, một lĩnh vựcsản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thìnhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tácđiều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước Quyhoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thểphát triển nông thôn và thuộc phạm trù của quy hoạch vùng
1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất đai
Quan niệm về QHSDĐĐ còn nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên tựu chunglại một số tác giả có nghiên cứu, như:
Theo Dent (1986) [28]: QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạoquyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống choviệc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng vớinhững mục tiêu riêng biệt, và tự đó hình thành nên chính sách và chương trình cho
sử dụng đất đai
Một định nghĩa khác của Fresco và ctv, (1993) [32], QHSDĐĐ như là dạnghình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trênquan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội vànhững vấn đề hạn chế khác
Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDĐĐ là hầu hết đềuđồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựngquyết định cấp cao Do đó QHSDĐĐ, trong một thời gian dài với quyết định từ trênxuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì Trongphương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm [30] đã đổi lại địnhnghĩa về QHSDĐĐ như sau QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định
Trang 5để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấpnhững cái có lợi bền vững nhất Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thìchức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làmsao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồngthời cũng được bảo vệ cho tương lai
Lê Quang Trí (2005) [22]: QHSDĐĐ là sự đánh giá tiềm năng đất nước có
hệ thống, tính thay đổi trong trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội
để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thờiQHSDĐĐ cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nóphải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiênnhiên trong tương lai
Do đó trong quy hoạch cho thấy: Những sự cần thiết phải thay đổi; Nhữngcần thiết cho việc cải thiện quản lý, hay những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đaihoàn toàn khác nhau trong các trường hợp cụ thể khác nhau
Các loại sử dụng đất đai bao gồm: Đất ở, nông nghiệp (thuỷ sản, chăn nuôi
…) đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải được phân chia một cách
cụ thể theo thời gian được quy định Do đó trong QHSDĐĐ phải cung cấp nhữnghướng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong cáctrường hợp có sự mâu thuẫn giữa đất nông nghiệp và phát triển đo thị hay côngnghiệp hoá bằng cách chỉ ra các vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nôngnghiệp và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật vàpháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả caothông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất (cả nước hoặc trong phạm vi mộtđơn vị, đối tượng sử dụng đất cụ thể), tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuấtcùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngđất, hiệu quả sản xuất xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [26]
Trang 61.1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ
Theo Nguyễn Nhật Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995)[18] Quy hoạch vùng lãnhthổ là hệ thống các biện pháp xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gắn liền với cơcấu đất đai và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, các công trình kinh tế -văn hoá - xã hội, nguồn lao động, tăng cương xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển lựclượng sản xuất để phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và xã hội mới
Quy hoạch vùng lãnh thổ là khoa học về quản lý tài nguyên mang cả 3 tínhchất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp lý Là cơ sở để lập dự án đầu tư phát triển kinh tế vàxây dựng nông thôn mới Sự phát triển của khoa học quy hoạch vùng lãnh thổ liênquan đến sự phát triển của các quản lý phát triển kinh tế và phân bổ lực lượng sảnxuất trên địa bàn lãnh thổ
Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng vềtương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt Mục tiêu không thể hình thành
do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thànhchóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một quá trình tìm tòi, cânnhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện Mục tiêu phải có tínhkhả thi, nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém,một bức tranh không có lợi ích
1.1.3 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạtđộng gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ,gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môitrường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan trọngtrong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặcbiệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một hoạt động vừa mang tính khoa họcvừa mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội Thựcchất đó là quá trình ra quyết định sử dụng rừng và đất rừng như một tư liệu sản xuấtđặc biệt, nhằm mục tiêu sử dụng rừng và đất rừng một cách hiệu quả Công tác quy
Trang 7hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp luôn được trú trọng và coi là nhiệm vụ chiếnlược trong quản lý rừng và đất rừng.
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạchtổng thể phát triển nông thôn Do đó công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp cần
có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nông thônnhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành Nếu công tác quyhoạch phát triển lâm nghiệp được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển củangành lâm nghiệp sẽ mang lại tính bền vững, trong điều kiện ngược lại sẽ gặpnhững trở ngại, khó khăn Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản đáp ứng chonguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng
và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp một cách bềnvững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, và đã trở thành mộtnguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của mỗi quốc gia nóiriêng và trên toàn thế giới nói chung
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc điểm xã hội,nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắnliền với lịch sử phát triển xã hội loài người
1.2 Trên thế giới
Chúng ta biết rằng việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướngbền vững nói chung và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa họctrong nước và trên thế giới quan tâm
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch phát triển lâm nghiệp sao cho hợp lýđược nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra mộtkhái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các kháiniệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triểnbền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét mộtcách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững
Trang 8Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn Quátrình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới luôn gắn liềnvới lịch sử phát triển của xã hội loài người Quy hoạch phát triển lâm nghiệp luônphụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựngphương án quy hoạch
1.2.1 Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở Liên Xô trước đây: Nguyễn NhậtTân - Nguyễn Thị Vòng (1995) [18]: Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháptổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổcác vùng hành chính - nông nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cảcác ngành kinh tế quốc dân trong vùng Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạnkết thúc của kế hoạch hoá tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển vàphân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của vùng, là biện pháp xác định các xínghiệp chuyên môn hoá một cách hợp lý, là biện pháp thiết kế và đưa vào nề nếpviệc sử dụng đất đai trên từng khu vực cụ thể của vùng, là biện pháp xác định sựphân bố đúng đắn các cơ quan y tế và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho nhân dân, làbiện pháp xây dựng các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tựnhiên, các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc
độ nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất vàvăn hoá của nhân dân trong vùng lao động nông nghiệp đó
Trần Hữu Viên (2005) [26]: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tuân theohọc thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ
và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất củamột dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó đượcphát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh
tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất” Vì vậy,
Trang 9nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùngtrong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng và tương lai phát triển của vùng đó
Dựa trên cơ sở học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứucác hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủnghĩa
Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây: Nhằm sử dụng hiệu quả nhấtlãnh thổ của đất nước Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo táisản xuất mở rộng Xây dựng đồng bộ môi trường sống
Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng: Lãnh thổ là môitrường thiên nhiên phải bảo vệ; Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tácđộng của con người vào đây rất ít; Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lướinông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát; Lãnhthổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có tác độngđặc biệt của con người; Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nôngthôn và có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp;Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước tiến hành quy hoạch lãnh thổvùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương
Quy hoạch vùng ở Pháp: Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hìnhquy hoạch vùng lãnh thổ M Thénevin (M Pierre Thénevin), một chuyên gia thống
kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miềnTây nam nước Cộng hoà Côte D’ivoire Trong mô hình quy hoạch vùng này, người
ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các giàng buộctrong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài Thực chất mô hình
là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc:
- Các hoạt động sản xuất:
+ Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồngtrọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển(truyền thống)
Trang 10+ Hoạt động khai thác rừng
+ Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ, thương mại
- Nhân lực phân theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông nghiệp,lâm nghiệp
- Cân đối xuất nhập, thu chii và các cân đối khác vào giàng buộc về diện tíchđất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực …
Tóm lại: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướngtăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điềukiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài
Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Công tác quy hoạch vùng lãnh thổđược chú ý từ những năm 1970 Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp:(Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương)
Vùng (Region) được coi như một á miền (Subdivision) của đất nước Đó làđiều cần thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khácnhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình… Đồng thời vì lý do quản lý hay chínhtrị, đất nước được chia thành các miền như đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử.Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất nước.Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất Sựphân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2cách:
Thứ nhất: Sư bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, nhữngmục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng đượcgiải quyết trong kế hoạch quốc gia
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các
kế hoạch vùng đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phảiphối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương
Trang 11Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệpchiếm một vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trungxây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc Trong 30 năm (1961 - 1988 đến 1992
- 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống66,6%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư
kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường
1.2.2 Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳmột quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó,chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sựđồng nhất đó Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải 3 cách:
- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh”.Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phongcảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật,địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu Khái niệm cảnh quan này rất gầngũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa
- Cảnh quan sinh thái học Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhautrong một không gian Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ởliền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinhđặc điểm nhất định trong một không gian
- Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnhnúi, hồ, biển hay đất liền Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thônhay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó
- Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái
Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quantrọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vìvậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo,Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch
Trang 12cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạngloài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tàinguyên thiên nhiên nói chung, quản lý rừng nói riêng.
Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các nhàkhoa học gồm Simpson, Shannnon-Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ
số đa dạng sinh học Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh quansinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan
1.2.3 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX phương thức kinh doanh rừngchồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài
Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức
“chia đều” của Hartig Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng
và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816 xuất hiện phươngpháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợidụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời Quan điểm phương phápnày là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảmbảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỳ XIX xuất hiệnphương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này khác với phươngpháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản Judeich cho rằng những lâm phần nào đảmbảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ đưa vào diện khai thác Hai phương pháp
“Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp
tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau Phương pháp “Bình quân thu hoạch”
và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêuchuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích,trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phươngpháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừngphong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp
“Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm
Trang 13phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từphương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phươngpháp kiểm tra”.
Năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy địnhnguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp theo xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầutiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xây định các diện tích cho sửdụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai tròlấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946, JackG.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đấtđai cho quy hoạch sử dụng đất” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giákhả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất Tại vùng Rhodesia trước đây, nay làcộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quyhoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng Vào đầunhững năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East African Journal for AgricultureForestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi.Năm 1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo vềhướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sửdụng đất
1.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
1.3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canhlúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩmcho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùngbông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An (Cao Bằng), Ba vì(Hà Sơn Bình nay là Hà Nội), Hữu lũng (Lạng Sơn), Nho Quan (Hà Nam Ninh nay
là Ninh Bình), vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,… Các vùngcây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ
Trang 14(Đắc Lắc), Chư Pả, Ninh Đức (Gia lai, Kon Tum), vùng chè ở Hoàng Liên Sơn,Mộc Châu, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc(Lâm Đồng),…
Quy hoạch vùng chuyên canh có tác dụng: Xác địng phương hướng sản xuất,chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác quốc tế;Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung đầu tư vốn đúngđắn; Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩmhàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhucầu lao động; Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển, nghiên cứu tổ chức quản lýkinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh dã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấucây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung, đểứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sảnphẩm cây trồng, đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sảnxuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau: Xác định quy
mô, ranh giới vùng; Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất; Bố trí sửdụng đất đai; Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trongvùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp; Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹthuật phục vụ sản xuất đời sống; Tổ chức và sử dụng lao động; Ước tính đầu tư vàhiệu quả kinh tế; Dự tính tiến độ thực hiện quy hoạch
1.3.1.2 Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Quy hoạch cảnh quan là một quá trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai chomột vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu đến thế giớisinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong Cảnh quanđó
Con người là một thành phần của thiên nhiên, tác động của con người tớithiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của Cảnh quan.Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta trong quá khứ,
Trang 15và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầucủa con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tựnhiên Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của
hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống và … Một mục tiêukhác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái
Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnhquan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau
Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự nhiên/ sinhthái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv Các yếu tố cảnhquan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn hóa, lịch sử vv
Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thànhphần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luônvận động và phát triển
Theo Nguyễn Thế Thôn “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, cócấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại
và phát triển trên đó Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với nhau theo cấu trúccảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau”
- Việc nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn Khánhvận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp ViệtNam” (luận văn PTS) Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - ámiền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa Trong đó 4 cấp phân vị đầu ápdụng cho vùng lớn, 2 cấp sau là đơn vị phân loại cơ bản (vi mô) thường được sửdụng trong điều tra đánh giá ở phạm vi hẹp (xã, lâm trường, tiểu khu, khoảnh) Đềtài mới dừng lại nghiên cứu ở 4 cấp phân vị đầu, căn cứ vào các yếu tố: chế độ nhiệtmùa đông, chế độ mưa, địa mạo, kiểu khí hậu, kiểu địa hình và nhóm đất để chiatoàn quốc thành: 2 miền, 4 á miền, 12 vùng lập địa, 407 tiểu vùng lập địa Dựa vàokết quả đạt được, tác giả đề xuất những định hướng lớn trong sản xuất kinh doanhlâm nghiệp như về chọn loài cây trồng rừng, xác định các tiểu vùng phòng hộ đầu
Trang 16nguồn, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp trong năm theo á miền, lập các trạm trạinghiên cứu lâm nghiệp
- Các tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình chủ biên công trình “Đánhgiá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam” (2001) Trong công trình các tácgiả đã tiến hành đánh giá đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc trên 8 vùng kinh
tế sinh thái lâm nghiệp, ở trên 4 đối tượng chính: đất vùng đồi núi, đất cát biển, đấtngập mặn sú vẹt, đất chua phèn Qua nghiên cứu các tác giả đã đề xuất được cácvùng thích hợp đối với một số loài cây trồng [27]
- Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam căn cứ vào phân vùngkinh tế - sinh thái để xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp cho từng vùng: TâyBắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, TâyNguyên, Đông Nam bộ, Nam bộ [21]
- Gần đây (tháng 10/2009), với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), tạiThừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc 3 huyện.Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận mộtcách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp (QHSDĐLN), thậm chí mớidừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham gia của cộng đồng dân cư và cấpchính quyền sở tại
Vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan vàotrong QHSDĐLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác QHSDĐLN đã vàđang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội
1.3.2 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ pháp thuộc.Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi, điều chế rừngThông theo phương pháp hạt đều …
Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạchlâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đemtrữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai
Trang 17thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích.Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thácngắn.
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám mô tả để ước lượng tài nguyênrừng Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Cho đến năm1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền Bắc Từ năm 1965đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quyhoạch của các sở Lâm nghiệp (nay là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn) cáctỉnh, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của cácnước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, sovới lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hìnhthành và phát triển muộn hơn rất nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh
tế, xã hội, và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưađược giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiếnhành vừa nghiên cứu áp dụng [25]
Trong công trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1] đãđưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặcđiểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [16] trong chương trình tập huấn
hỗ trợ lâm nghiệp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệthống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng đất bền vững trongđiều kiện Việt Nam Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích về: Quan điểm về tínhbền vững; Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững; Hệ thống sử dụng đấtbền vững; Kỹ thuật sử dụng đất bền vững; Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trongcác hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sựtham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [24] đã kết hợp phương phápquy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án Quốc tế đang áp dụng tại
Trang 18một số vùng có dự án ở Việt Nam Trong đó tác giả đã trình bầy về khái niệm vànguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia.
Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 mộttrong những tồn tại mà Bộ NN&PTNT đánh giá là: “ Công tác quy hoạch nhất làquy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạchcủa các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quyhoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa…”.Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm nghiệp ở nước ta hiệnnay [21]
Trong thời gian qua, công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp đã được triểnkhai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ với những quy mô khác nhau phục vụ cho mụctiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu trong mỗi giai đoạn cụ thể trongtừng thời điểm, nguồn vốn và yêu cầu về mức độ kỹ thuật khác nhau mà nội dungcác phương án quy hoạch dự án đầu tư được điều chỉnh cho phù hợp
1.3.2.1 Đặc điểm của quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Theo Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Địa bàn quy hoạch phát triểnlâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao vàbiên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lạikhó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động
Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp,kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khókhăn
Đối tượng của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp là rừng và đất lâmnghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng thực chất là
vô chủ
Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài từ 40-100năm) Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ cólợi
Trang 19Mục tiêu của quy hoạch phát triển lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạchrừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường);Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu
di tích văn hoá - lịch sử - danh lam thắng cảnh) và quy hoạch phát triển các loạirừng sản xuất
Quy mô của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô
và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, từng huyện, xínghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp
Lực lượng tham gia công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp thường luônphải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thổn về mọi mặt
… Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lựclượng của trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làmquy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội …);Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớnchỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
1.3.2.2 Đối tượng của quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Theo Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Tuỳ theo phạm vi của công tácquy hoạch mà đối tượng của công tác quy hoạch có thể lớn nhỏ khác nhau đượcphân ra hai hệ thống tổ chức khác nhau
* Quy hoạch cho các cấp quản lý lãnh thổ: Bao gồm diện tích quản lý theocác đơn vị quản lý hành chính như quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng toàn quốc,quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừngcấp huyện và quy hoạch phát triển rừng cấp xã Nội dung quy hoạch chủ yếu xuấtphát từ toàn bộ, chiếu cố mọi mặt phát triển kinh tế, đề ra phương hướng và nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh có tính nguyên tắc nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp trongphạm vi cấp quản lý đó
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các cấp đơn vị quản lý hànhchính: Từ toàn quốc tới Tỉnh (Thành phố trực thuộc trung ương), huyện (Thành phốthuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát phát triển, mỗi đơn vị đều phải
Trang 20xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch pháttriển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển văn hoá xã hội …
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuấtnghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuấtlâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản,bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toànquốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ vàđặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có.Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nônglâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ.Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quyhoạch xây dung cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
Do đặc thù khác với những nghành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạchlâm nghiệp thường thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạchđược thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác địnhphương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh, trên cơ sở căn cứvào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạchlâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội củatỉnh Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp của tỉnh, điều kiệnđất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác tiến hànhquy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừngphòng hộ và rừng đặc dụng Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyênrừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm trồng rừng và tái sinh tự nhiên) vànông lâm kết hợp Quy hoạch khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị
Trang 21trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế,phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tảiphục vụ sản xuất lâm nghiệp, lưu thông hàng hoá và đời sống Xác định tiến độ thựchiện.
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâmnghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh, tuy nhiên nó được triểnkhai cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạchlâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
+ Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế xã hội củahuyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiênkinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phươnghướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện
+ Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tàinguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác, tiến hành quy hoạchđất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
+ Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển rừng hiện có
+ Quy hoạch các phát triển rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tựnhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâmnghiệp
+ Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền vớithị trường tiêu thụ
+ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho cácthành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
+ Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
+ Xác định tiến độ thực hiện
Thời gian quy hoạch cấp huyện thường 5 năm Các quy hoạch lâm nghiệpcũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế, xã hội chung của từngtiểu vùng trong huyện
Trang 22- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã
Xã được coi là đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý
và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Quyhoạch phát triển lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau: Điều tra các điềukiện cơ bản của xã có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp: Điều kiện tự nhiên, điềukiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế xã hội xã, căn cứ vào quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện và các điều kiện
cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn
xã Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng, xác định rõ mốiquan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướngphát triển, các điều kiện cơ bản, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác(nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ
và đặc dụng Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố tríkhông gian và thời gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ
và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp,khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thịtrường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâmnghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội.Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, các công trình phục vụ sảnxuất và đời sống Dự tính đầu tư lao động, tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tưcần được đánh giá đầy đủ trên các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường Xác định tiến
độ thực hiện
Về cơ bản nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lýlãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự nhau Tuy nhiên, mức độ giảiquyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp
* Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanh.Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanhbao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâmtrường; Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho
Trang 23các khu rừng đặc dụng, quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ và quy hoạch pháttriển sản xuất lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộgia đình) Các nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sảnxuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thànhphần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạchcho phù hợp.
1.3.3 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam
và Thế giới
Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về QHSDĐĐ, quyhoạch nông lâm nghiệp nhưng trên thế giới và cả Việt Nam đều chưa có phươngpháp luận, lý thuyết hoàn chỉnh chính thống cho quy hoạch nông lâm nghiệp đặcbiệt là ở cấp cơ sở
Trên thế giới cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế xã hội thì quy hoạchluôn phải đi trước một bước Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cũng vậy, nó luôn đitheo phát triển kinh tế xã hội, nó đảm bảo và thể hiện được tầm nhìn của các nhàlãnh đạo trong việc phân vùng kinh tế và sử dụng một cách tối đa có hiệu quả nhưnghài hoà giữa các vùng trong chiến lược phát triển lâm nghiệp chung của đất nước
Ở Việt Nam đã tiến hành quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản
lý, kinh doanh và các cấp quản lý lãnh thổ ở tầm vĩ mô, vi mô Trên cơ sở quyhoạch phát triển lâm nghiệp trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, xác định phươnghướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên toàn quốc, xác định tiến độ thực hiệntừng hạng mục làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển lâm nghiệp của các tỉnh.Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp huyện phải phù hợp với quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế xã hội của tỉnh, huyện và định hướng quy hoạch phát triển lâmnghiệp toàn tỉnh, vùng
Trong những năm qua xã Quảng Sơn đã xây dựng được quy hoạch sử dụngđất đai, hàng năm đều tiến hành thống kê, theo dõi biến động các loại đất Đã cómột số dự án, chương trình lâm nghiệp được triển khai thực hiện trên địa bàn xã:
Dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp; Dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất
Trang 24theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ;Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị 38/2005/CT-TTg, của Thủ tướng Chính phủ,tỉnh Đắk Nông đã tiến hành rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, đặcdụng và sản xuất) và trong năm 2013 tiếp tục được rà soát, điều chỉnh cho phù hợpvới tình hình thực tế hiện nay Tuy nhiên, hiện nay công tác lập quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT vẫn chưa được triển khai thực hiện làmhạn chế không nhỏ đến quá trình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trong thực tiễnkhách quan và quy luật phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã Quảng Sơn trongthời gian qua Do đó, việc xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừngphù hợp làm cơ sở nhằm tổ chức thực hiện quản lý bảo vệ chặt chẽ diện tích đất córừng và sử dụng hợp lý diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trong thờigian tới cho các đơn vị chủ rừng trên địa bàn xã Quảng Sơn là vô cùng cấp thiết
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Rừng và đất lâm nghiệp của xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh ĐắkNông
b) Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyệnĐắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển sản xuất kinh doanh lâm nghiệp,
cơ chế chính sách, luật pháp liên quan
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
2.3.1.1 Cơ sở pháp lý: Tìm hiểu các luật, văn bản dưới luật và các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến quy hoạch bảo vệ và phát triểnrừng xã Quảng Sơn
2.3.1.2 Phân tích cơ sở về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên đất, rừng.
Trang 262.3.1.3 Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng và các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trước đây của xã Quảng Sơn.
2.3.1.4 Đánh giá chung điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã Quảng Sơn.
2.3.1.5 Những dự báo cơ bản đến năm 2020: Dân số và lao động; nhu cầu gỗ, củi, lâm
sản và thị trường tiêu thụ; môi trường; nhu cầu sử dụng đất; phát triển khoa họccông nghệ trong lâm nghiệp
2.3.2 Đề xuất các nội dung cơ bản quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
2.3.2.1 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020.
a) Quan điểm phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Mục tiêu phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
2.3.2.2 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch 3 loại rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
a) Quy hoạch sử dụng đất xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Quy hoạch 3 loại rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Quy hoạch 3 loại rừng theo chủ quản lý đến năm 2020
2.3.2.3 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
a) Quy hoạch bảo vệ rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Quy hoạch phát triển rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Quy hoạch sử dụng rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
2.3.2.4 Phân kỳ quy hoạch và tiến độ thực hiện
a) Phân kỳ quy hoạch
Trang 272.3.2.6 Các giải pháp thực hiện
a) Về tổ chức quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng
b) Về phát triển nguồn nhân lực
c) Về cơ chế chính sách
d) Về khoa học công nghệ và đào tạo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận
Quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp là một hệ thống các biện phápkinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý
và có hiệu quả cao nhằm khai thác các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xãhội, nguồn lao động sẵn có Để đặt được mục đích đó cần phải thông qua việc phânphối và tái phân phối quỹ đất của cả nước, cần phải tổ chức sử dụng đất như tư liệusản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quảđối với đất, sản xuất, tạo điều kiện bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Vì vậy công tácquy hoạch phải đảm bảo những đặc tính của công tác quy hoạch: Tính ưu tiên, tínhtiết kiệm, tính tích cực và phải có tính chất chỉ đạo trong thực tiễn
Công tác quy hoạch cấp vĩ mô phải đảm bảo tính tham gia của cộng đồng địaphương và sự chỉ đạo của cấp trên ở một mức độ hợp lý Phù hợp với chính sách,quy hoạch cấp trên (cấp tỉnh) và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng,tận dụng được lợi thế của địa phương và có tính địa phương nhất định
Trên quan điểm quy hoạch là công tác hoạch định cho tương lai dựa trênphân tích quá khứ và đánh giá hiện tại Cụ thể là quy hoạch bảo vệ và phát triển lâmnghiệp tại cấp xã nên vừa phải đảm bảo phát triển ngành tuân theo quy hoạch tổngthể phát triển nông thôn, vừa phải đảm bảo phát triển các ngành khác Phát triển lâmnghiệp phải cùng với các ngành khác để bảo đảm phát triển chung trên quan điểmcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn miền núi
Ngoài ra quy hoạch phải đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, xãhội, môi trường trong đó phát triển phải nằm trong tổng thể các yếu tố bên ngoài
Trang 28(chính sách, quy hoạch cấp trên, các chương trình dự án ) với mối quan hệ vớicác yếu tố bên trong (sinh thái, nhân văn).
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa các số liệu, tài liệu có liên quan với yêu cầu tài liệu phải mới nhất,
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, đảm bảo độ chính xác theo yêucầu của chủ đề nghiên cứu Thu thập tài liệu theo 3 kênh thông tin:
+ Tham vấn các cơ quan quản lý: Chi cục lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm huyệnĐắk Glong, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng TN&MT, Phòng Thống kê huyện nhằm thu thập các văn bản, tài liệu, số liệu có liên quan
+ Phỏng vấn các chủ rừng và người dân: Khu BTTN Nam Nung, Công tyTNHH MTV LN Quảng Sơn, Công ty TNHH MTV LN Đắk N’Tao, Công tyTNHH MTV Cà phê 15 và một số hộ dân Nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng đất củacác chủ rừng, các mô hình trồng rừng và năng suất rừng
+ Khảo sát thực địa: Một số trạng thái rừng có thay đổi trong thời gian gầnđây (trồng rừng mới, phá rừng), cần kiểm tra kiểm chứng lại cho phù hợp
- Tìm hiểu và thu thập tình hình của xã về các mặt:
+ Diện tích các loại đất bao gồm: Đất Nông nghiệp, đất Lâm nghiệp, đất phinông nghiệp, đất chưa sử dụng
+ Tình hình dân sinh: Dân số, lao động, trình độ dân trí, phong tục tập quán,
hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng
+ Tình hình quản lý sử dụng đất, tài nguyên rừng trên địa bàn
+ Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel: Hệ thống bảng, biểu, phụbiểu kèm theo; phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
- Soạn thảo trình bày văn bản bằng Microsoft Word: Luận văn
- Xây dựng các loại bản đồ xã Quảng Sơn bằng phần mềm Mapinfo 10.5:Bản đồ hiện trạng rừng; Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng và Bản đồ quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng
Trang 29- Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu (SWOT): Đánh giá nhữngđiểm mạnh, điểm yếu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng rừng, côngtác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
- Sơ đồ Venn mối quan hệ giữa lâm nghiệp với các ngành khác
- Phương pháp chuyên gia tư vấn: Nhằm xây dựng các quan điểm, địnhhướng phát triển lâm nghiệp huyện; các nội dung và giải pháp thực hiện quy hoạch
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế một số hình thức kinh doanh rừng
sử dụng phương pháp động Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng cáchàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR, trong chương trình Excel
* Các tiêu chuẩn đánh giá:
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: là hiệu số giữa giá trị thu nhập và giá trị chiphí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu đểquy về thời điểm hiện tại
- Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (Net present value) là tổng giá trị hiện tạicủa các khoản lợi nhuận đạt được trong cả chu kỳ kinh doanh của 1 chương trìnhđầu tư nào đó (hay còn gọi là giá trị đã được chiết khấu của lợi nhuận)
r
C B NPV
1 1
Bi: Thu nhập đạt được ở kỳ thứ i
Ci: Chi phí bỏ ra ở kỳ thứ i
(Bi –Ci): lợi nhuận đạt được ở kỳ thứ i
r: tỷ lệ lãi suất vốn đầu tư
(Nếu NPV >0: có lãi, NPV=0: hoà vốn, NPV<0: lỗ vốn)
- Tỉ lệ hoàn vốn nội tại IRR: Tỉ lệ hoàn vốn nội tại IRR (Internal Rate of Return) là
một hệ số mà nếu chương trình đầu tư vay vốn bằng đúng tỷ lệ đó sẽ hoà vốn Tức là nếu r =IRR thì : NPV(IRR) = 0 Hay:
IRR
C B NPV
Trang 30IRR
C IRR
B
IRR: là chỉ số cho biết khả năng sinh lời tối đa của 1 chương trình đầu tư.Trong đó 1 phần lợi nhuận sẽ được trả cho ngân hàng, phần còn lại mới thuộc vềngười kinh doanh (Nếu IRR > r: có lãi, IRR = r: hoà vốn, IRR < r: lỗ vốn)
- Tỷ suất thu nhập so với chi phí (BCR): Tỷ suất thu nhập so với chi phí
BCR (Benefits to Costs ratio) là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của thu nhập so với giá trị
hiện tại của chi phí trong cả chu kỳ kinh doanh của 1 chương trình đầu tư
B BCR
1
1
)1(
)1(
(Nếu BCR >1: có lãi, BCR =1: hoà vốn, BCR <1: lỗ vốn)
Trang 31Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Quảng Sơn nằm cách trung tâm huyện Đắk Glong khoảng 60km về phíaBắc Tọa độ địa lý: 1200’0’’ đến 12012’15’’ độ vĩ Bắc, từ 1070 45’0’’ đến 10800’0’’ độkinh Đông
- Phía Đông Nam giáp xã Đắk Rmăng, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Phía Đông giáp xã Liêng SRônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Tây - Tây Nam giáp xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây Nam giáp với xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây giáp với xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây Bắc giáp với xã Nam Nung, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
- Phía Bắc giáp xã Đức Xuyên, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
- Phía Đông Bắc giáp với xã Quảng Phú, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Do sự chi phối của điều kiện địa chất kiến tạo và lượng mưa lớn nên địa hình
bị chia cắt và có xu hướng cao dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, có thể chia địa hìnhthành các dạng chính:
Địa hình Cao nguyên bazan: Phân bố ở khu vực trung tâm, phần đỉnh của caonguyên tương đối ít dốc, sườn cao nguyên dốc và chia cắt mạnh Đây là khu vựcphân bổ chủ yếu các khu rừng lá rộng thường xanh, năng suất và tổng sinh khối cao
Địa hình thung lũng được bồi tụ: Phân bố ven các suối nhỏ, hẹp; các khu vựcnày rừng phát triển tốt và có các loài cây gỗ quý hiếm
Hầu hết trong khu vực có địa hình đồi núi cao, độ cao trung bình 600m –750m so với mặt nước biển, có đỉnh núi cao tới 1.000m
Địa hình là những dãy dông chính trải dài từ hướng Bắc xuống hướng Nam
đổ dần từ hướng Đông sang hướng Tây
Trang 32Kiểu địa hình thung lũng, phân bố ven suối lớn chảy qua như: Đắk Rting,Đắk Rnal, Đắk Snao, tạo thành nhiều sình lầy, do địa hình thấp và tương đối bằngnên rất thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp.
3.1.3 Đất đai
- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ ba zan Đây là nhóm đất chiếm tỷ lệlớn nhất trong khu vực, thành phần cơ giới đất từ sét nhẹ đến thịt trung bình, cấutượng dạng viên, độ mùn > 15%, độ sâu tầng đất >100cm, có 1 số khu vực có đá lộđầu
- Đất bồi tụ ven sông suối và đầm lầy, phân bố chủ yếu dọc theo các suối lớn.Thành phần cơ giới là thịt nhẹ, tơi xốp, nhiều dinh dưỡng, tầng đất sâu, phân bốthấp và bằng phẳng, độ dốc từ 6 – 150, thích hợp với nhiều loại cây trồng
Nhìn chung đất đai trên địa bàn xã còn tính chất đất rừng, thích hợp vớinhiều loại cây trồng, tạo cho vùng có lợi thế về tập đoàn cây trồng phong phú, đadạng, đặc biệt là cây công nghiệp có giá trị cao
3.1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu: Quảng sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong một năm đượcchia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 đặc điểm của mùa này lànóng, ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa này thườngkhô hanh và lạnh
b) Thời tiết: Xã nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.Vào mùa khô thường có gió lớn, đặc biệt vào tháng 12
- Nhiệt độ bình quân năm là 23,70C, nhiệt độ cao bình quân 28,00C, nhiệt độcao tuyệt đối là 38,00C, nhiệt độ thấp trung bình là 19,00C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là7,00C
- Lượng mưa trung bình năm là 2.600mm, tập trung nhiều nhất vào tháng 7,
8, 9 và ít nhất vào tháng 1 và 2
- Độ ẩm không khí bình quân năm là 82,4%, trung bình cao là 95,5%, trungbình thấp là 88,6%
Trang 33- Gió: Hướng gió chính trong mùa mưa là gió mùa Tây Nam và trong mùakhô là gió mùa Đông Bắc Gió cũng là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến canh táctại địa phương cũng như làm tang nhanh lượng bốc hơi, gió mạnh gây ngả đổ câytrồng, cây rừng.
c) Hệ thống sông suối, thuỷ văn
Trên địa bàn xã gồm có các hệ thống sông suối chính như sau:
- Suối Đắk Rting, Đắk Đông Jang, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc
- Suối Đắk Rnal, Đắk Man Nhung chảy theo hướng Đông - Tây
Do địa hình rất phức tạp có nhiều suối lớn, chảy theo nhiều hướng khácnhau, dòng suối bị uốn lượn tạo thành nhiều vùng sình lầy rất thuận lợi cho việccanh tác lúa nước
Ngoài các sông suối chính ở trên, trong địa bàn xã còn có hệ thống các khesuối nhỏ khá dày đặc cung cấp nước cho các suối lớn Đặc điểm chung của cácdòng sông, suối chảy trên địa bàn xã là quanh co, lưu lượng dòng chảy không ổnđịnh Chế độ dòng chảy trong năm phụ thuộc rõ rệt vào chế độ mưa theo mùa
3.2 Đặc điểm điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội và nhân văn
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động
- Theo số liệu niên giám thống kê năm 2013, trong toàn xã có 2.266 hộ giađình với 9.922 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2013 là 1,94%, mật độdân số bình quân là 21,9 người/km2
- Trên địa bàn xã có 16 dân tộc anh em đang sinh sống xen kẽ thành 10 thôn,bon, cơ cấu thành phần dân tộc như sau: Dân tộc Kinh có 1.469 hộ/6.348 người,chiếm 63,9%; Dân tộc H’Mông có 442 hộ/2.466 người, chiếm 24,8%; Dân tộcNùng có 101 hộ/455 người, chiếm 4,5%; Dân tộc Dao có 110 hộ/467 người, chiếm4,7%; còn lại là các dân tộc khác là M’Nông, Mạ Ê Đê, Khơ Me, Dao, Hoa, Thái,Mường, Sán Dìu chiếm tỷ lệ không đáng kể
- Số người trong độ tuổi lao động là 4.510 lao động, chiếm 52% dân số trong
đó chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm 95% tổng số lao động, toàn bộ lựclượng này đều có việc làm nhưng chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp theo thời vụ
Trang 34Đây là lực lượng lao động khá dồi dào, có khả năng huy động để tham gia xây dựng
và phát triển rừng trên địa bàn xã
3.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
- Về kinh tế: Nguồn thu nhập chính của người dân trong xã là từ sản xuấtnông - lâm nghiệp, chiếm 90 – 95% tổng thu nhập của các hộ gia đình Trong nhữngnăm gần đây đã có những bước chuyển biến tích cực trong nông nghiệp với việcthay đổi cơ cấu cây trồng, đưa giống mới vào sản xuất, thâm canh tăng vụ nên năngsuất cây trồng đã có chiều hướng tăng lên
- Về cơ sở hạ tầng: Trong xã có hệ thống giao thông liên tỉnh là tỉnh lộ 4 nối
liền thị xã Gia nghĩa với huyện Krông Nô, có tổng chiều dài chạy qua địa bàn xã là
60 km, hiện đang được cải tạo, nâng cấp nên chất lượng đường khá tốt
+ Hệ thống đường dân sinh đã đến được các bon, buôn vùng xa của xã nhưngchủ yếu là đường đất nên việc đi lại và vận chuyển hàng hóa còn gặp nhiều khókhăn vào mùa mưa
+ Điện lưới quốc gia chạy qua địa bàn xã, hiện tại hầu hết các thôn, bon của
xã được dùng điện sinh hoạt
- Về văn hóa – xã hội:
+ Công tác y tế: Trong vùng có 01 trạm xá, 8 cán bộ, nhân viên, 11 y tá thônbản Do vậy hiệu quả công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân ở các cấp cơ sở từngbước được cải thiện
+ Giáo dục: Toàn xã có 05 trường học, 01 trường cấp 2, 03 trường cấp 1,
01 trường mẫu giáo với 63 lớp học, 81 giáo viên và 1.647 học sinh Chất lượng giáodục được nâng lên, tỷ lệ học sinh được lên lớp và chuyển cấp đạt khá, đội ngũ giáoviên từng bước được chuẩn hóa Cơ sở vật chất cho giáo dục trong khu vực đã đượccải thiện nhiều tuy nhiên vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn và lạc hậu đặc biệt là vềtrang thiết bị trực quan phục vụ giảng dạy nên đã làm ảnh hường không nhỏ đến chấtlượng dạy và học Đầu năm học 2012 UBND tỉnh Đắk Nông đã cho đầu tư xây dựng
và đưa vào hoạt động 01 trường cấp 2, 3 Lê Duẩn tại trung tâm xã Quảng Sơn
Trang 35+ Văn hóa, thông tin và truyền hình: Hầu hết các hộ gia đình trong toàn xã đã
có ti vi, hầu hết các hộ gia đình ở các thôn, bon có điện lưới quốc gia đã được xemchương trình ti vi thông qua các chảo thu từ vệ tinh nên đời sống tinh thần củangười dân đã được cải thiện nhiều
3.2.3 Thực trạng tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp
Ngành nghề chủ yếu của người dân trong xã là sản xuất nông, lâm nghiệp,thu nhập thấp, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Cộng đồng dân cư trong cácthôn, bon nhiều năm gắn bó với rừng, trong đó rừng cũng là nguồn cung cấp nhiênliệu củi đốt, vật dụng đồ gia dụng và thu hái các loại lâm sản phụ để phục vụ cuộcsống hàng ngày
Trong xã, cây nông nghiệp chủ yếu là cây Lúa, Bắp, Mỳ Tổng sản lượnglương thực có hạt (Lúa, Bắp) là 3.332 tấn Bình quân lương thực đầu người: 371,08kg/người/năm Trong đó, năng suất Lúa đạt 45,18 tạ/ha/năm, Bắp đạt 46,6tạ/ha/năm, Khoai lang đạt 98 tạ/ha/năm, Mỳ đạt 180 tạ/ha/năm
Cây công nghiệp trồng trên địa bàn xã chủ yếu là cây Cà phê, cây Cao su vàcây Hồ tiêu Trong đó, diện tích trồng Cà phê tương đối lớn Sản lượng Cà phê đạt2.758 tấn/năm, sản lượng Cao su đạt 105 tấn/năm, sản lượng Hồ tiêu đạt 158,1tấn/năm Đây là những cây công nghiệp lâu năm cho thu nhập cao và phù hợp vớiđiều kiện khí hậu của vùng Hầu hết các hộ dân trong xã đều trồng cây Cà phê vàđây là nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong toàn xã
Đàn gia súc trong xã Quảng Sơn có khoảng 167 con trâu, 753 con bò và có1.589 con lợn, và gia cầm có 20.878 con
Thu nhập bình quân trên đầu người trong năm của xã Quảng Sơn còn thấp(10,5 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ hộ nghèo còn tương đối cao
Vì vậy, nâng cao thu nhập từ rừng là một trong những giải pháp quan trọngnhất để lồng ghép mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường
ở địa phương
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
b) Luật Đất đai ( 2003)
Điều 6 quy định: “Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất là một trong
13 nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai” Đây chính là căn cứ để Nhànước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụngđất
Điều 21, khoản 1 nêu rõ: Quy hoạch đất đai là việc hoạch định hoặc điềuchỉnh việc khoanh định đối với các loại đất phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinhtế-xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước, là sự tính toán, phân bổ sửdụng đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí không gian
Điều 21, khoản 4 nhấn mạnh về vai trò của công tác quy hoạch sử dụng đất:Quy hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước thốngnhất quản lý đối với toàn bộ đất đai, đảm bảo cho đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, Nhà nước thực hiệnquyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại đất, bảo đảm cơ sởpháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng mục đích sử dụngđất, gắn quyền sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, có cơ sở để điềuchỉnh chính sách đất đai theo hướng sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, đồng thời dựtính được nguồn thu từ ngân sách Nhà nước
Trang 37Điều 23, khoản 1 quy định cụ thể về các nội dung cần phải tiến hành trongcông tác lập quy hoạch sử dụng đất, gồm 11 nội dung: (Điều tra, nghiên cứu, phântích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đánh giá hiện trạng sử dụng đất,tiềm năng đất đai, sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng của đấtđai, so với xu hướng phát triển kinh tế xã hội ).
c) Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004)
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) quy định cụ thể về nội dung quản lýNhà nước về Bảo vệ và Phát triển rừng: Nhà nước có quyền giao, cho thuê, thu hồirừng và đất để phát triển rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thànhphần kinh tế theo đúng quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phêduyệt Việc lập quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng, giao rừng, cho thuêrừng phải đảm bảo công khai, dân chủ, phải đồng bộ và phù hợp với quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất…
Điều 9 nêu rõ nguyên tắc Bảo vệ và Phát triển rừng rất chặt chẽ: Hoạt độngbảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế-xã hội, môitrường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiếnlược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của
cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Chính phủ quy định d) Luật Bảo vệ môi trường (2005)
Điều 14 khoản 1 nêu rõ: Trong quá trình xây dựng, lập quy hoạch và thựchiện cần phải báo cáo đánh giá môi trường Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch pháttriển được lập phải bảo đảm hài hoà các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệmôi trường; định hướng mục tiêu phát triển và mục tiêu bảo vệ môi trường phảituân thủ theo tiêu chí phát triển bền vững
Việc khai thác sử dụng đất đai vào mục đích nông - lâm nghiệp và nuôi trồngthuỷ sản phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch cải tạo đất nhằm đảm bảocân bằng sinh thái Việc sử dụng chất hoá học, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật,các chế phẩm sinh học khác phải tuân theo quy định của Pháp luật
đ) Các văn bản pháp lý dưới luật
Trang 38e) Các văn bản Trung ương:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hànhLuật Đất đai năm 2003
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc thihành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng và Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số điều củaQuy chế quản lý các loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướngChính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn
2006 - 2020
- Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướngChính phủ về Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 38/QĐ-BNN ngày 6 tháng 7 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về việc ban hành Định mức Kinh tế kỹ thuật trồng rừng
- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướngChính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướngChính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Bộ Nôngnghiệp & PTNT về Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng
- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Bộ NN&PTNTHướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sảnxuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau
rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chínhphủ
Trang 39- Thông tư số 34/2009/TT-BNN ngày 10/6/2009 của Bộ NN&PTNT về Quyđịnh tiêu chí xác định và phân loại rừng.
- Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ N&PTNTHướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
- Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tìnhtrạng phá rừng và chống người thi hành công vụ
f) Văn bản liên quan của địa phương:
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và Quy hoạch xây dựng tỉnhĐắk Nông định hướng đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Đắk Glong đến năm2020
- Quyết định 702/QĐ-UBND ngày 04/6/2007 của UBND tỉnh Đắk Nông vềviệc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch ba loại rừng tỉnh Đắk Nông
- Quyết định số 511/QĐ-UBND ngày 12/4/2013 của UBND tỉnh Đắk Nông
về việc phê duyệt, công bố số liệu hiện trạng rừng năm 2012
- Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 29/01/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh ĐắkNông về việc tiếp tục tăng cường các biện pháp cấp bách để quản lý, bảo vệ và pháttriển rừng;
- Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 06/5/2013 của Tỉnh ủy Đắk Nông về ngănchặn phá rừng, phát triển rừng bền vững giai đoạn 2014-2015 và những năm tiếptheo
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò của cấp xã trong việcquy hoạch bảo vệ và phát triển rừng một cách rất rõ ràng Thông qua các văn bảnchính sách và pháp luật đã thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp,bảo vệ và phát triển vốn rừng một cách có hiệu quả nhất đồng thời tạo ra động lựcgiúp người dân tin tưởng vào công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, yên tâmđầu tư sản xuất, mạnh dạn nhận khoán quản lý bảo vệ rừng, xây dựng và phát triểnvốn rừng đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho hộ gia
Trang 40đình Do đó góp phần ổn định đời sống cộng đồng, bảo vệ được môi trường sinhthái Đây chính là tiền đề, là cơ sở cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừngđược tiến hành thuận lợi, lấy quy hoạch tổng thể làm định hướng, song rất tôn trọng
sự tham gia của người dân trong xây dựng phương án
4.1.2 Phân tích điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và tài nguyên đất, rừng ảnh hưởng đến quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
4.1.2.1 Phân tích điều kiện tự nhiên
Quảng Sơn có địa hình chủ yếu là đồi núi cao, đối tượng chính cho sản xuấtlâm nghiệp Đất lâm nghiệp của khu vực chủ yếu là Đất Feralit nâu đỏ phát triểntrên đá mẹ ba zan có thành phần cơ giới từ sét nhẹ đến thịt trung bình, độ dày tầngđất > 100 cm, độ thoát nước tốt và dễ bị rửa trôi khi không có thực bì che phủ Loạiđất này thích hợp cho nhiều cây trồng sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là câytrồng rừng cho công nghiệp chế biến nguyên liệu do đó cần bố trí sản xuất hợp lý,đồng thời nhằm hạn chế xói mòn rửa trôi làm thoái hóa đất
Bên cạnh đó, Quảng sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có khí hậutương đối mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm chỉ có 23,70C, lượng mưa bình quânhàng năm 2.600mm, độ ẩm trung bình hàng năm 82,4% Kiểu khí hậu và thời tiếtnhư vậy rất thuận lợi cho các loài cây sinh trưởng và phát triển Đây là lợi thế đểphát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp trong vùng, đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ, củi tạichỗ, sản xuất nguyên liệu giấy và mục đích thương mại, dần nâng cao đời sốngngười dân trong khu vực
4.1.2.2 Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế của xã có sự phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 2006 - 2013, cácngành, các lĩnh vực đều có xu hướng tăng lên qua các năm Cơ cấu kinh tế bước đầu
đã có sự chuyển dịch theo xu hướng, định hướng chung của huyện và tỉnh Giá trịsản xuất tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu sản xuất chuyển đổi theo hướng sản xuất hànghoá, nhiều mô hình sản xuất mới có thu nhập cao được phát triển ở các địa phương.Khoa học kỹ thuật đang từng bước được ứng dụng đưa vào sản xuất, góp phần tăngnăng suất trong trồng trọt và chăn nuôi