ĐẶT VẤN ĐỀ Tre Trúc thuộc họ Hoà thảo, lớp cây một lá mầm. Trên thế giới hiện nay có khoảng 1300 loài thuộc 70 chi, phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Việt Nam là quê hương của các loài Tre Trúc với khoảng 150 loài thuộc 20 chi (Lê Mộng Chân, 2000, Thực vật rừng). Ở Việt Nam Tre Trúc là lâm sản ngoài gỗ có thể xếp ở vị trí thứ hai sau gỗ, có truyền thống lâu đời, có giá trị kinh tế văn hoá xã hội hết sức to lớn. Có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh. Tre ở Việt nam đã đựơc sử dụng trong xây dựng như làm cọc móng, giàn ráo, kèo, cột..., đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Trong giao thông tre được sử dụng làm thuyền, phao và cầu; trong khai thác mỏ tre được sử dụng để chèn hầm lò; trong nông nghiệp tre được sử dụng làm nông cụ .v.v… Rất nhiều đồ dùng thông thường trong mỗi gia đình người Việt Nam như giường, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đến đũa ăn, tăm đều cần đến tre. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ .v.v… từ tre ngày càng nhiều và đã trở thành nhu cầu lớn ở trong nước và quốc tế. Trong công nghiệp tre làm nguyên liệu và được sử dụng dưới dạng thanh, dăm hoặc sợi, bột. Với công nghệ chế biến cao, những sản phẩm sản xuất từ Tre Trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả năng chịu nén, chịu lực tốt. Đặc biệt măng của nhiều loài tre là rau sạch được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu vì vậy có nhiều công ty chuyên kinh doanh măng tre và nhiều xí nghiệp chế biến măng tươi và măng khô được thành lập. Măng tre là một loại thực phẩm sạch, ăn ngon, có giá trị dinh dưỡng và có thể chữa một số bệnh, được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhu cầu sử dụng măng ngày càng nhiều, một số hộ gia đình đã phát triển kinh tế nhờ vào việc khai thác và bán măng. Việt Nam có nhiều loài Tre Trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là Ngà, Trúc Sào, Vầu Đắng, Tre gầy, Tre ngọt, Mạy Sang…). Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng. Vì vậy, việc gây trồng Tre theo hướng lấy măng nhằm phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt với những người sống dựa vào rừng là hướng đi đúng đắn. Lá tre, tinh tre .v.v… cũng là nguồn thuốc tại chỗ của gia đình, và nhiều sản phẩm như thuốc trừ sâu, than hoạt tính cũng từ tre. Ngoài ra lá của một số loài tre còn được xuất khẩu ra nước ngoài, lá dùng chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm… Tre Trúc có nhiều tác dụng, có lịch sử gây trồng và sử dụng lâu đời, cây Tre đã đi vào đời sống văn hoá tinh thần và cả truyền thuyết lịch sử của dân tộc ta và hiếm có loài cây nào để lại dấu ấn nhiều trên các lĩnh vực văn thơ, nhạc cụ như cây Tre. Ngoài các giá trị về kinh tế, văn hoá thì Tre Trúc cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt là các khu vực sườn đồi hay bờ sông, bờ suối.... Từ những giá trị kinh tế và sinh thái môi trường nêu trên của Tre Trúc nói chung, để góp phần bảo tồn và phát triển một số loài tre cho măng có giá trị kinh tế cao, tôi lựa chọn đề tài:“Nghiên cứu thành phần loài và kỹ thuật gây trồng cây Tre Ngọt (Bambusa sp) và cây Mạy Sang (Dendrocalamus menbranacues) tại huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La.” Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Trên thế giới Chọn giống và trồng rừng thâm canh rừng từ lâu đã được các nước quan tâm nghiên cứu. Trong lĩnh vực Tre Trúc, Trung Quốc, Ấn Độ là những nước có thành phần loài Tre phong phú và diện tích Tre lớn nhất thế giới. Trung Quốc thời điểm cách đây khoảng 50 60 năm, rừng thâm canh Tre Trúc lấy măng trung bình đạt 25 – 30 tấn ha năm, có loài cho năng suất từ 60 100 tấnhanăm. Những nghiên cứu về Tre Trúc được Giáo sư tiến sĩ Zhou Fangchun tổng hợp trong Selected works of Bamboo research”. Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu về Tre Trúc một cách tỷ mỷ ở nhiều khía cạnh như phân loại Tre Trúc, sinh thái, sản suất và sử dụng Tre Trúc, sinh trưởng và phát triển của Tre Trúc, sự ra hoa của Tre Trúc, nhân giống và trồng Tre Trúc.... Những thành công đạt được trong nghiên cứu về Tre Trúc của Trung Quốc là về phân loại và hệ thống phân loại Tre Trúc, dẫn giống và mở rộng vùng trồng Tre Trúc, phòng chống sâu bệnh hại, sinh lí học, hoá sinh, giải phẫu và sinh thái, những tính chất cơ lí học và hoá học của thân Tre Trúc. Trung Quốc đã tiến hành phân tích hàm lượng các chất (Cellulose, Hemicellose, lignin…) chứa trong thân khí sinh của 92 loài Tre Trúc khác nhau…Trong thâm canh rừng, các biện pháp kỹ thuật được nghiên cứu như chọn giống, nhân giống, làm đất, bón phân, chăm sóc. Thâm canh rừng Tre Trúc ở Trung Quốc có thể chia thành 3 giai đoạn, khởi đầu cho những hoạt động này từ năm 1950, song trong giai đoạn này sản lượng còn thấp, sản lượng tăng dần bắt đầu từ những năm của thập kỷ 70 và sản lượng tăng cao từ sau năm 1980. Nhờ có thâm canh rừng mà sản lượng tăng 10% nếu tính chung cho tổng số diện tích rừng Tre Trúc, tính cho những loài được cải thiện giống trung bình tăng 30%. Vì vậy, nơi có sản lượng thấp tiếp tục áp dụng thâm canh để tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt Trung Quốc thành công trong việc chọn giống và lai tạo, lai giữa loài Bambusa pervariabilis x Dendrocalamus latiflorus. Cây lai có ưu thế tốt như sinh trưởng nhanh, hình dạng thân khí sinh tốt, sợi dài hơn, măng ăn ngon và có khả năng chống chịu với sâu bệnh cao… Chính vì vậy, diện tích các loài Tre Trúc ở Trung Quốc chiếm 14 tổng diện tích Tre thế giới. Sản lượng Tre hàng năm đạt 1 tỷ cây chiếm 13 sản lượng Tre hàng năm của thế giới. Từ thập kỷ 80 trở lại đây mục tiêu của Trung Quốc là sản xuất Tre cùng với sản xuất măng. Hàng năm xuất khẩu 1,7 triệu tấn măng tươi, 120 triệu tấn măng khô, 200.000 triệu tấn măng đóng hộp. Hiện nay Trung Quốc có khoảng 1000 nhà máy sản xuất các loại ván từ thân tre và tre nghiền. Ngoài ra có nhiều nhà máy chế biến măng, tơ dệt, đũa và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác. Năm 1996 Trung Quốc có 25 nhà máy giấy gỗ dán từ nguyên liệu Tre với công suất 50.000 m3. Sản phẩm từ Mây và Tre sản xuất hàng năm đạt giá trị khoảng 36 triệu USD (trích công nghệ chế biến Tre ở Trung Quốc của Đinh Loan Chiên, tạp chí lâm nghiệp số 91999). Tổng diện tích rừng Tre Trúc của Trung Quốc có tới 7 triệu ha, riêng diện tích rừng Mao trúc trên 1 triệu ha. Diện tích trồng chuyên lấy măng khoảng 100.000 ha và trên 3 triệu ha rừng chuyên sản suất thân Tre và kết hợp với cung cấp măng. Số lượng loài Tre Trúc có tới 500 loài và 50 chi. Thái Lan coi Tre Trúc là nguồn đặc sản rừng quan trọng, là cây làm giàu cho người dân miền núi (Thammincha, 1995). Thái Lan ứng dụng nhân giống loài Dendrocalamus asper vào sản xuất, vùng Đông Bắc Thái Lan trồng hàng 100 triệu cây nhằm phục vụ chế biến xuất khẩu nâng cao đời sống dân nghèo. Ấn Độ cũng là một trong những nước có nguồn tài nguyên Tre Trúc phong phú, có thể coi là nước đứng đầu về sử dụng Tre Trúc làm nguyên liệu bột giấy. Trong số các nguyên liệu sử dụng cung cấp cho nguyên liệu bột giấy thì nguyên liệu từ Tre Trúc chiếm 23. Cả nước có 80 nhà máy giấy trong đó có 30 35 nhà máy sử dụng nguyên liệu từ Tre Trúc (Cultivation integrated utilization on Bamboo in China , 2000). Nhật Bản: Nguồn măng chính ở nhật bản là loài Phyllostachys pubescen, cây trồng được cắt ngọn để lại chiều cao 9 – 12m nhằm lấy ánh sáng mặt trời và tạo ra trạng thái ấm áp để ngăn ngừa những thiệt hại do tuyết gây ra. Nhiệt độ 200C là tối thiểu để cho măng phát triển, măng được khai thác trong suốt tháng 4, 5 và tháng 11 , sản lượng thu được khoảng 10 tấn hanăm, phí tổn khoảng 110 – 13 giá trị sản phẩm. Hàng năm việc làm đất và bón phân là yêu cầu cần thiết để đảm bảo măng ngon và mềm. Tại Nhật bản có khoảng 8000 tấn măng được tiêu dùng cho mỗi năm (Xiao,1989) Malaysia: Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu lâm nghiệp Malaysia (FRIM) thì măng Tre được sử dụng như là một loại rau. Nhưng không phải là tất cả vì một số loài có thể chứa chất độc Cyanogens, chất này làm cho măng có vị đắng. Một số loài được ưa chuộng là Dendrocalamus asper, Bambusa vulgaris, Bambusa blumeana, Gigantechloa ligulata , G. levis. Ở Malaysia măng tre thường được mọc lên ngay đầu mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9 ) sản phẩm măng phụ thuộc vào vị trí, loài Tre nhưng trung bình có 8 – 14 măng được khai thác tại mỗi cụm. Sau khi trồng hai năm rưỡi có thể khai thác măng, măng có thể khai thác trong 7 đến 14 ngày ( có chiều cao 20 – 30cm) sau khi măng nhú lên khỏi mặt đất. Nhìn chung qua những nghiên cứu về Tre Trúc trên thế giới cho chúng ta thấy tiềm năng của nguồn tài nguyên tài nguyên này, nó được xem như là nguyên liệu chính có khả năng thay thế gỗ, là loài cây mang lại thu nhập nhanh và cao cho người dân miền núi. 1.2. Ở Việt Nam Trong những năm gần đây Việt Nam đã có những khởi sắc trong những nghiên cứu về chọn giống cây trồng và trồng rừng thâm canh, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu cũng như những Qui trình đã được ban hành mới tập trung cho một số loài cây gỗ trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy, còn các loài Tre Trúc trong họ Hoà thảo, một tiềm năng rất to lớn của đất nước, nó không những là nguồn cung cấp nguyên liệu cho giấy sợi, chế biến sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị cao như ván sàn, ván ép, chiếu Trúc, thủ công mỹ nghệ mà còn cung cấp măng là nguồn rau sạch.… lại chưa được đi sâu nghiên cứu. Những nghiên cứu về Tre Trúc ở Việt Nam có từ những năm đầu của thập kỷ 60 nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực: Công trình tổng kết Kinh nghiệm trồng Luồng của Phạm Văn Tích, 1963. Trong công trình này ông đã tổng kết những kinh nghiệm trồng Luồng trong nhân dân. Nghiên cứu về Sinh trưởng của Tre gai và Lộc ngộc ở Đông Triều của Ngô Quang Đê đăng trên tập san Lâm nghiệp, số ra tháng 8 năm 1967. Thâm canh rừng Luồng lấy măng xuất khẩu của Trịnh Đức Trình và Nguyễn Thị Hạnh, 1986 1990. Qui phạm (QPN 14 92) Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và Tre nứa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 1993. Trong Qui phạm này từ điều 104 đến điều 113 qui định cho rừng sản xuất Tre nứa. Đối tượng áp dụng là các loài Luồng, Mét, Mậy sang, Diễn và Trúc cần câu. Mục đích của Qui phạm là nhằm xây dựng rừng nhân tạo có năng suất ổn định, đáp ứng được mục tiêu kinh tế, bảo vệ đất và môi trường. Năm 1994, Lê Văn Chẩm, Ngô Quang Đê, Phạm Hoành, Vũ Đình Huề, Trần Xuân Thiệp cho xuất bản sách Gây trồng Tre Trúc. Gần đây (2002) có công trình nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành: Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và chăm sóc rừng Luồng tại vùng Cầu Hai Phú Thọ. Cũng năm này công trình nghiên cứu về Trồng Luồng theo phương pháp hỗn giao với cây lá rộng tại Phú Thọ được đăng trên tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 8 năm 2002. Tháng 7 năm 2002, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Thanh Hoá đã tổ chức hội thảo khoa học phục vụ phát triển cây Tre Trúc lấy măng xuất khẩu. Trong hội thảo này có nhiều tham luận của các nhà khoa học, nhà quản lý như: Báo cáo tham luận về Tình hình nhân giống Lục trúc tại trạm nghiên cứu Lâm nghiệp của Lê Ngọc Hạnh, Trưởng trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Thanh Hoá; báo cáo của Thiều Sỹ Thước, phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm về Kết quả bước đầu và một số biện pháp kỹ thuật trồng Tre măng; báo cáo về Các giải pháp công nghệ phát triển cây Tre Trúc lấy măng xuất khẩu tại Thanh Hoá của K.S. Nguyễn Viết Hùng, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thanh Hoá; báo cáo về Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống một số loài Tre Trúc lấy măng xuất khẩu của K.S. Lê Ngọc Hạnh, Trưởng trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Thanh hoá,… Từ phần giới thiệu về tổng quan nghiên cứu ở trong nước cho thấy: Việt Nam hầu như chưa có qui trình hay qui phạm về thâm canh rừng cho các loài Tre Trúc, những nghiên cứu về chọn giống và thâm canh rừng Tre Trúc lấy măng và nguyên liệu cho chế biến và xây dựng cũng rất ít. Biện pháp kỹ thuật được nghiên cứu đầu tư chỉ ở một số khâu nhất định chưa thể hiện sự tổng hợp và liên hoàn, cho nên nhiều nơi rừng đạt năng suất thấp, chất lượng kém. Chưa tuyển chọn được những loài Tre Trúc có năng suất cao chất lượng tốt, chưa đi sâu vào nghiên cứu tuyển chọn cá thể tốt. Vì vậy, nguyên liệu chưa đáp ứng được với yêu cầu của ngành công nghiệp chế biến và xây dựng. 1.3. Một số đặc điểm về Tre – Trúc 1.3.1. Đặc điểm sinh thái Tre – Trúc thường phân bố ở vùng Đông Nam Á, nơi ẩm ướt. Phân bố nhiều ở trung Quốc. Cũng như các loài cây trồng khác Tre –Trúc cũng có những yêu cầu riêng về khí hậu, đất đai. Về khí hậu bao gồm nhiệt độ và độ ẩm không khí. Tre mọc cụm phần lớn yêu cầu nhiệt độ cao thích hợp với vùng nhiệt đới, nhiệt đới Nam Á và nhiệt đới Trung Á. Trong các loài tre mọc cụm chỉ có Lục trúc chịu được nhịêt độ thấp, còn tre mọc tản lại chịu được nhiệt độ phấp 24oC, thấp nhất – 20oC. Vì vậy Tre – Trúc Trung Quốc chủ yếu là Tre – Trúc mọc tản. Độ ẩm cũng là nhân tố quan trọng, lượng mưa bình quân năm ảnh hưởng đến loài và phân bố của Tre Trúc. Những vùng có lượng mưa bình quân ăm lớn thấy xuất hiện nhiều loài tre mọc cụm, những vùng có lượng mưa ít (500 1000mm) thấy xuất hiện các loài tre mọc tản. Đất đai là cơ sở sinh trưởng củ Tre Trúc, Tre Trúc yêu cầu dinh dưỡng cao để có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Điều kiện về đất đai cho sinh trưởng của tre là: tầng đất phải dầy, có nhiều mùn và dinh dưỡng khoáng; có thành phần cơ giới và tính chất vật lý tốt; có phản ứng chua (pH 4,5 7). Thường đất cát đen là tốt nhất. 1.3.2. Đặc điểm hình thái Thân ngầm: Là một phần của cây Tre nằm dưới đất, rất ít khi chồi lên mặt đất, thân ngầm thường phát triển rất mạnh tạo thành một hệ thống dày đặc dưới mặt đất. Thân ngầm có lóng và đốt. Căn cứ vào hình dạng và cấu tạo của thân ngầm người ta chia làm 2 loại. Thân ngầm dạng củ: Gặp ở các loài mọc cụm như Hóp, Diễn, Luồng.... Thân ngầm dạng roi: Gặp ở các loài mọc tản như Vầu, Trúc .v.v Rễ : có 2 loại. Rễ mọc trong đất: làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng và cơ giới giữ cho cây đứng thẳng Rễ khí sinh: mọc thành vòng gọi là vòng rễ ở đốt thân tre. Rễ khí sinh thường phát triển ở các lóng phía gốc. Thân Tre: Còn gọi là thân khí sinh, là phần của cây Tre mọc trên mặt đất. Thân tre gồm có lóng và đốt. Từ các đốt trên thân mọc ra các cành nhánh, có các lá làm nhiệm vụ quang hợp. Mo thân: (mo nang) là cơ quan bảo vệ thân tre khi non. Mỗi loại Tre có hình thái và đặc trưng riêng. Mo thân có thể sớm rụng hoặc còn lại lâu trên thân khí sinh. Mo gồm 4 phần là thân mo, lá mo, tai mo và thìa lìa. Lá: Lá là bộ phận quan trọng của cây, làm nhiệm vụ quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây. Măng Tre: Thân tre lúc còn non (từ khi nhú mầm dưới đất đến trước khi toả lá) được gọi là măng.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tre - Trúc thuộc họ Hoà thảo, lớp cây một lá mầm Trên thế giới hiệnnay có khoảng 1300 loài thuộc 70 chi, phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới
và á nhiệt đới Việt Nam là quê hương của các loài Tre - Trúc với khoảng 150
loài thuộc 20 chi (Lê Mộng Chân, 2000, Thực vật rừng).
Ở Việt Nam Tre - Trúc là lâm sản ngoài gỗ có thể xếp ở vị trí thứ haisau gỗ, có truyền thống lâu đời, có giá trị kinh tế - văn hoá - xã hội hết sức tolớn Có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phậnđược sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh Tre ở Việt nam đã đựơc sử dụngtrong xây dựng như làm cọc móng, giàn ráo, kèo, cột , đặc biệt là ở các vùngnông thôn Trong giao thông tre được sử dụng làm thuyền, phao và cầu; trongkhai thác mỏ tre được sử dụng để chèn hầm lò; trong nông nghiệp tre được sửdụng làm nông cụ v.v… Rất nhiều đồ dùng thông thường trong mỗi gia đìnhngười Việt Nam như giường, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đếnđũa ăn, tăm đều cần đến tre Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ v.v…
từ tre ngày càng nhiều và đã trở thành nhu cầu lớn ở trong nước và quốc tế.Trong công nghiệp tre làm nguyên liệu và được sử dụng dưới dạng thanh,dăm hoặc sợi, bột Với công nghệ chế biến cao, những sản phẩm sản xuất từTre - Trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả năng chịu nén, chịulực tốt Đặc biệt măng của nhiều loài tre là rau sạch được tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu vì vậy có nhiều công ty chuyên kinh doanh măng tre và nhiều xínghiệp chế biến măng tươi và măng khô được thành lập Măng tre là một loạithực phẩm sạch, ăn ngon, có giá trị dinh dưỡng và có thể chữa một số bệnh,được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Nhu cầu sử dụng măng ngày càngnhiều, một số hộ gia đình đã phát triển kinh tế nhờ vào việc khai thác và bánmăng Việt Nam có nhiều loài Tre - Trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng,
Trang 2Lồ ô, Là Ngà, Trúc Sào, Vầu Đắng, Tre gầy, Tre ngọt, Mạy Sang…) Tuynhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao chất lượng tốt chưa được pháttriển, việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng Vì vậy, việc gâytrồng Tre theo hướng lấy măng nhằm phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt vớinhững người sống dựa vào rừng là hướng đi đúng đắn Lá tre, tinh tre v.v…cũng là nguồn thuốc tại chỗ của gia đình, và nhiều sản phẩm như thuốc trừsâu, than hoạt tính cũng từ tre Ngoài ra lá của một số loài tre còn được xuấtkhẩu ra nước ngoài, lá dùng chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnhnhư cảm, cúm…
Tre - Trúc có nhiều tác dụng, có lịch sử gây trồng và sử dụng lâu đời,cây Tre đã đi vào đời sống văn hoá tinh thần và cả truyền thuyết lịch sử củadân tộc ta và hiếm có loài cây nào để lại dấu ấn nhiều trên các lĩnh vực vănthơ, nhạc cụ như cây Tre
Ngoài các giá trị về kinh tế, văn hoá thì Tre - Trúc cũng đóng vai tròquan trọng trong công tác bảo vệ môi trường Đặc biệt là các khu vực sườnđồi hay bờ sông, bờ suối
Từ những giá trị kinh tế và sinh thái môi trường nêu trên của Tre - Trúcnói chung, để góp phần bảo tồn và phát triển một số loài tre cho măng có giátrị kinh tế cao, tôi lựa chọn đề tài:“Nghiên cứu thành phần loài và kỹ thuật gây trồng cây Tre Ngọt (Bambusa sp) và cây Mạy Sang (Dendrocalamus
menbranacues) tại huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La.”
Trang 3từ 60 - 100 tấn/ha/năm Những nghiên cứu về Tre - Trúc được Giáo sư tiến sĩZhou Fangchun tổng hợp trong " Selected works of Bamboo research” TrungQuốc đã tiến hành nghiên cứu về Tre - Trúc một cách tỷ mỷ ở nhiều khía cạnhnhư phân loại Tre - Trúc, sinh thái, sản suất và sử dụng Tre - Trúc, sinhtrưởng và phát triển của Tre - Trúc, sự ra hoa của Tre - Trúc, nhân giống vàtrồng Tre - Trúc Những thành công đạt được trong nghiên cứu về Tre -Trúc của Trung Quốc là về phân loại và hệ thống phân loại Tre - Trúc, dẫngiống và mở rộng vùng trồng Tre - Trúc, phòng chống sâu bệnh hại, sinh líhọc, hoá sinh, giải phẫu và sinh thái, những tính chất cơ lí học và hoá học củathân Tre - Trúc Trung Quốc đã tiến hành phân tích hàm lượng các chất(Cellulose, Hemicellose, lignin…) chứa trong thân khí sinh của 92 loài Tre -Trúc khác nhau…Trong thâm canh rừng, các biện pháp kỹ thuật được nghiêncứu như chọn giống, nhân giống, làm đất, bón phân, chăm sóc.
Thâm canh rừng Tre - Trúc ở Trung Quốc có thể chia thành 3 giaiđoạn, khởi đầu cho những hoạt động này từ năm 1950, song trong giai đoạnnày sản lượng còn thấp, sản lượng tăng dần bắt đầu từ những năm của thập kỷ
70 và sản lượng tăng cao từ sau năm 1980 Nhờ có thâm canh rừng mà sảnlượng tăng 10% nếu tính chung cho tổng số diện tích rừng Tre - Trúc, tính
Trang 4cho những loài được cải thiện giống trung bình tăng 30% Vì vậy, nơi có sảnlượng thấp tiếp tục áp dụng thâm canh để tăng năng xuất và chất lượng sảnphẩm Đặc biệt Trung Quốc thành công trong việc chọn giống và lai tạo, lai
giữa loài Bambusa pervariabilis x Dendrocalamus latiflorus Cây lai có ưu
thế tốt như sinh trưởng nhanh, hình dạng thân khí sinh tốt, sợi dài hơn, măng
ăn ngon và có khả năng chống chịu với sâu bệnh cao… Chính vì vậy, diệntích các loài Tre - Trúc ở Trung Quốc chiếm 1/4 tổng diện tích Tre thế giới.Sản lượng Tre hàng năm đạt 1 tỷ cây chiếm 1/3 sản lượng Tre hàng năm củathế giới Từ thập kỷ 80 trở lại đây mục tiêu của Trung Quốc là sản xuất Trecùng với sản xuất măng Hàng năm xuất khẩu 1,7 triệu tấn măng tươi, 120triệu tấn măng khô, 200.000 triệu tấn măng đóng hộp Hiện nay Trung Quốc
có khoảng 1000 nhà máy sản xuất các loại ván từ thân tre và tre nghiền.Ngoài ra có nhiều nhà máy chế biến măng, tơ dệt, đũa và các sản phẩm thủcông mỹ nghệ khác Năm 1996 Trung Quốc có 25 nhà máy giấy gỗ dán từnguyên liệu Tre với công suất 50.000 m3 Sản phẩm từ Mây và Tre sản xuất
hàng năm đạt giá trị khoảng 36 triệu USD (trích công nghệ chế biến Tre ở Trung Quốc của Đinh Loan Chiên, tạp chí lâm nghiệp số 9/1999) Tổng diện
tích rừng Tre - Trúc của Trung Quốc có tới 7 triệu ha, riêng diện tích rừngMao trúc trên 1 triệu ha Diện tích trồng chuyên lấy măng khoảng 100.000 ha
và trên 3 triệu ha rừng chuyên sản suất thân Tre và kết hợp với cung cấpmăng Số lượng loài Tre - Trúc có tới 500 loài và 50 chi
Thái Lan coi Tre - Trúc là nguồn đặc sản rừng quan trọng, là cây làm
giàu cho người dân miền núi (Thammincha, 1995) Thái Lan ứng dụng nhân giống loài Dendrocalamus asper vào sản xuất, vùng Đông Bắc Thái Lan
trồng hàng 100 triệu cây nhằm phục vụ chế biến xuất khẩu nâng cao đời sốngdân nghèo
Ấn Độ cũng là một trong những nước có nguồn tài nguyên Tre - Trúc
Trang 5phong phú, có thể coi là nước đứng đầu về sử dụng Tre - Trúc làm nguyênliệu bột giấy Trong số các nguyên liệu sử dụng cung cấp cho nguyên liệu bộtgiấy thì nguyên liệu từ Tre - Trúc chiếm 2/3 Cả nước có 80 nhà máy giấy
trong đó có 30 - 35 nhà máy sử dụng nguyên liệu từ Tre - Trúc (Cultivation & integrated utilization on Bamboo in China , 2000).
Nhật Bản: Nguồn măng chính ở nhật bản là loài Phyllostachys
pubescen, cây trồng được cắt ngọn để lại chiều cao 9 – 12m nhằm lấy ánh
sáng mặt trời và tạo ra trạng thái ấm áp để ngăn ngừa những thiệt hại do tuyếtgây ra Nhiệt độ 200C là tối thiểu để cho măng phát triển, măng được khaithác trong suốt tháng 4, 5 và tháng 11 , sản lượng thu được khoảng 10 tấn /ha/năm, phí tổn khoảng 1/10 – 1/3 giá trị sản phẩm Hàng năm việc làm đất vàbón phân là yêu cầu cần thiết để đảm bảo măng ngon và mềm Tại Nhật bản
có khoảng 8000 tấn măng được tiêu dùng cho mỗi năm (Xiao,1989)
Malaysia: Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu lâm nghiệp Malaysia
(FRIM) thì măng Tre được sử dụng như là một loại rau Nhưng không phải làtất cả vì một số loài có thể chứa chất độc Cyanogens, chất này làm cho măng
có vị đắng Một số loài được ưa chuộng là Dendrocalamus asper, Bambusa vulgaris, Bambusa blumeana, Gigantechloa ligulata , G levis Ở Malaysia
măng tre thường được mọc lên ngay đầu mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9 ) sảnphẩm măng phụ thuộc vào vị trí, loài Tre nhưng trung bình có 8 – 14 măngđược khai thác tại mỗi cụm Sau khi trồng hai năm rưỡi có thể khai thácmăng, măng có thể khai thác trong 7 đến 14 ngày ( có chiều cao 20 – 30cm)sau khi măng nhú lên khỏi mặt đất
Nhìn chung qua những nghiên cứu về Tre - Trúc trên thế giới chochúng ta thấy tiềm năng của nguồn tài nguyên tài nguyên này, nó được xemnhư là nguyên liệu chính có khả năng thay thế gỗ, là loài cây mang lại thunhập nhanh và cao cho người dân miền núi
Trang 61.2 Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây Việt Nam đã có những khởi sắc trong nhữngnghiên cứu về chọn giống cây trồng và trồng rừng thâm canh, nhưng hầu hếtcác công trình nghiên cứu cũng như những Qui trình đã được ban hành mớitập trung cho một số loài cây gỗ trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy, còncác loài Tre - Trúc trong họ Hoà thảo, một tiềm năng rất to lớn của đất nước,
nó không những là nguồn cung cấp nguyên liệu cho giấy sợi, chế biến sảnxuất hàng xuất khẩu có giá trị cao như ván sàn, ván ép, chiếu Trúc, thủ công
mỹ nghệ mà còn cung cấp măng là nguồn rau sạch.… lại chưa được đi sâunghiên cứu Những nghiên cứu về Tre - Trúc ở Việt Nam có từ những nămđầu của thập kỷ 60 nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực:
Công trình tổng kết "Kinh nghiệm trồng Luồng" của Phạm Văn Tích,
1963 Trong công trình này ông đã tổng kết những kinh nghiệm trồng Luồngtrong nhân dân
Nghiên cứu về " Sinh trưởng của Tre gai và Lộc ngộc ở Đông Triều"của Ngô Quang Đê đăng trên tập san Lâm nghiệp, số ra tháng 8 năm 1967
Thâm canh rừng Luồng lấy măng xuất khẩu của Trịnh Đức Trình vàNguyễn Thị Hạnh, 1986 - 1990
Qui phạm (QPN 14 - 92) "Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng chorừng sản xuất gỗ và Tre nứa", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 1993 TrongQui phạm này từ điều 104 đến điều 113 qui định cho rừng sản xuất Tre nứa.Đối tượng áp dụng là các loài Luồng, Mét, Mậy sang, Diễn và Trúc cần câu.Mục đích của Qui phạm là nhằm xây dựng rừng nhân tạo có năng suất ổnđịnh, đáp ứng được mục tiêu kinh tế, bảo vệ đất và môi trường
Năm 1994, Lê Văn Chẩm, Ngô Quang Đê, Phạm Hoành, Vũ Đình Huề,Trần Xuân Thiệp cho xuất bản sách "Gây trồng Tre - Trúc"
Trang 7Gần đây (2002) có công trình nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành:Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và chăm sóc rừng Luồng tạivùng Cầu Hai - Phú Thọ Cũng năm này công trình nghiên cứu về "TrồngLuồng theo phương pháp hỗn giao với cây lá rộng tại Phú Thọ được đăng trêntạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 8 năm 2002.
Tháng 7 năm 2002, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh ThanhHoá đã tổ chức hội thảo khoa học phục vụ phát triển cây Tre - Trúc lấy măngxuất khẩu Trong hội thảo này có nhiều tham luận của các nhà khoa học, nhàquản lý như: Báo cáo tham luận về "Tình hình nhân giống Lục trúc tại trạmnghiên cứu Lâm nghiệp" của Lê Ngọc Hạnh, Trưởng trạm nghiên cứu Lâmnghiệp Thanh Hoá; báo cáo của Thiều Sỹ Thước, phó giám đốc Trung tâmKhuyến nông - Khuyến lâm về " Kết quả bước đầu và một số biện pháp kỹthuật trồng Tre măng"; báo cáo về "Các giải pháp công nghệ phát triển câyTre - Trúc lấy măng xuất khẩu tại Thanh Hoá" của K.S Nguyễn Viết Hùng,
Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thanh Hoá; báo cáo về "Hướng dẫn
kỹ thuật nhân giống một số loài Tre - Trúc lấy măng xuất khẩu" của K.S LêNgọc Hạnh, Trưởng trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Thanh hoá,…
Từ phần giới thiệu về tổng quan nghiên cứu ở trong nước cho thấy:Việt Nam hầu như chưa có qui trình hay qui phạm về thâm canh rừng cho cácloài Tre - Trúc, những nghiên cứu về chọn giống và thâm canh rừng Tre -Trúc lấy măng và nguyên liệu cho chế biến và xây dựng cũng rất ít Biện pháp
kỹ thuật được nghiên cứu đầu tư chỉ ở một số khâu nhất định chưa thể hiện sựtổng hợp và liên hoàn, cho nên nhiều nơi rừng đạt năng suất thấp, chất lượngkém Chưa tuyển chọn được những loài Tre - Trúc có năng suất cao chất lượngtốt, chưa đi sâu vào nghiên cứu tuyển chọn cá thể tốt Vì vậy, nguyên liệu chưađáp ứng được với yêu cầu của ngành công nghiệp chế biến và xây dựng
Trang 81.3 Một số đặc điểm về Tre – Trúc
1.3.1 Đặc điểm sinh thái
Tre – Trúc thường phân bố ở vùng Đông Nam Á, nơi ẩm ướt Phân bốnhiều ở trung Quốc
Cũng như các loài cây trồng khác Tre –Trúc cũng có những yêu cầuriêng về khí hậu, đất đai Về khí hậu bao gồm nhiệt độ và độ ẩm không khí.Tre mọc cụm phần lớn yêu cầu nhiệt độ cao thích hợp với vùng nhiệt đới,nhiệt đới Nam Á và nhiệt đới Trung Á Trong các loài tre mọc cụm chỉ cóLục trúc chịu được nhịêt độ thấp, còn tre mọc tản lại chịu được nhiệt độ phấp2-4oC, thấp nhất – 20oC Vì vậy Tre – Trúc Trung Quốc chủ yếu là Tre – Trúcmọc tản Độ ẩm cũng là nhân tố quan trọng, lượng mưa bình quân năm ảnhhưởng đến loài và phân bố của Tre- Trúc Những vùng có lượng mưa bìnhquân ăm lớn thấy xuất hiện nhiều loài tre mọc cụm, những vùng có lượngmưa ít (500 - 1000mm) thấy xuất hiện các loài tre mọc tản Đất đai là cơ sởsinh trưởng củ Tre- Trúc, Tre- Trúc yêu cầu dinh dưỡng cao để có thể sinhtrưởng và phát triển tốt nhất Điều kiện về đất đai cho sinh trưởng của tre là:tầng đất phải dầy, có nhiều mùn và dinh dưỡng khoáng; có thành phần cơ giới
và tính chất vật lý tốt; có phản ứng chua (pH 4,5 - 7) Thường đất cát đen làtốt nhất
1.3.2 Đặc điểm hình thái
Thân ngầm: Là một phần của cây Tre nằm dưới đất, rất ít khi chồi lên
mặt đất, thân ngầm thường phát triển rất mạnh tạo thành một hệ thống dàyđặc dưới mặt đất Thân ngầm có lóng và đốt Căn cứ vào hình dạng và cấu tạocủa thân ngầm người ta chia làm 2 loại
Thân ngầm dạng củ: Gặp ở các loài mọc cụm như Hóp, Diễn, Luồng Thân ngầm dạng roi: Gặp ở các loài mọc tản như Vầu, Trúc v.v
Trang 9Thân Tre: Còn gọi là thân khí sinh, là phần của cây Tre mọc trên mặt
đất Thân tre gồm có lóng và đốt Từ các đốt trên thân mọc ra các cành nhánh,
có các lá làm nhiệm vụ quang hợp
Mo thân: (mo nang) là cơ quan bảo vệ thân tre khi non Mỗi loại Tre
có hình thái và đặc trưng riêng Mo thân có thể sớm rụng hoặc còn lại lâu trênthân khí sinh Mo gồm 4 phần là thân mo, lá mo, tai mo và thìa lìa
Lá: Lá là bộ phận quan trọng của cây, làm nhiệm vụ quang hợp để
tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây
Măng Tre: Thân tre lúc còn non (từ khi nhú mầm dưới đất đến trước
khi toả lá) được gọi là măng
Trang 10Phần 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu thành phần của các loài Tre - Trúc trong khu vực nghiên
cứu, từ đó lên được danh mục các loài Tre - Trúc hiện có
+ Mô tả được đặc điểm hình thái một số loài Tre - Trúc có giá trị trongkhu vực
+ Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng cây Tre ngọt và cây Mạy sang, từ đó đềxuất kỹ thuật gây trồng để tăng năng suất và giá trị kinh tế
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài Tre - Trúc tại Huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La
2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu ở 3 xã là Phỏng Lái, Chiềng Bôm vàChiềng Pấc huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra thành phần các loài Tre - Trúc hiện có tại khu vực nghiên cứu.
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng các nồng dộ chất chất điều hòa sinh trưởng IBA đến tỷ lệ sống, chết của Tre ngọt và Mạy sang
2.3.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng loài Tre ngọt và Mạy sang.
2.3.2.1 Đặc điểm hình thái của hai loài Tre Ngọt và Mạy sang
a Đặc điểm thân khí sinh
b Đặc điểm cành và cấu trúc ngọn
Trang 11c Đặc điểm hình thái lá quang hợp
d Đặc điểm của lá biến thái ( Mo nang)
e Đặc điểm thân ngầm
f Đặc điểm rễ
g Đặc điểm của hoa, quả
2.3.2.2 Đặc điểm sinh thái, lâm sinh
2.3.2.3 Phân bố
2.3.2.4 Kỹ thuật trồng
2.3.2.5 Quản lý và chăm sóc rừngTre - Trúc
2.3.4 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để phát triển và nâng cao giá trị của cây Tre ngọt và cây Mạy sang.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Công tác chuẩn bị
Dụng cụ: Thước kẹp kính, thước sào, thước dây; một số tài liệu liênquan, xây dựng các bảng biểu, phiếu điều tra và sổ ghi chép
2.4.2 Công tác ngoại nghiệp
* Phương pháp thu tập thông tin: Kế thừa và thu thập các tài liệu về điều kiện
tự nhiên, dân sinh kinh tế từ các cơ quan nghiên cứu và từ chính quyền địaphương, gồm có:
- Thông tin về điều kiện tự nhiên: Địa lý, thổ nhưỡng, khí tượng thuỷvăn, các bản đồ và tài liệu liên quan
- Thông tin về dân sinh, kinh tế: Tài liệu về dân số, văn hoá, giáo dục, y
tế, cơ sở hạ tầng
* Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân:
Sử dụng các công cụ PRA và PRA trong đó:
Trang 12+ Công cụ RRA được thực hiện thông qua việc phỏng vấn cán bộkhuyến nông, khuyến lâm và các hộ gia đình bằng phương pháp phỏng vấnbàn định hướng Tiến hành phỏng vấn 30 người trên đại bàn nghiên cứu.
+ Công cụ PRA được sử dụng để kiểm tra kết quả, xác định thành phầnloài, kỹ thuật gây trồng các loài Tre - Trúc PRA được thực hiện sau nghiêncứu RRA thông qua một số cuộc thảo luận với những người dân và cán bộ tạikhu vực nghiên cứu PRA được sử dụng bằng cách người nghiên cứu hướngngười dân và những người tham dự khác vào các tiêu điểm cần đánh giá vàcho họ biết cách đánh giá, gợi ý cho họ thực hiện giải pháp(nếu có)
Kết quả được ghi vào các mẫu bảng 2.1 ( Xem chi tiết phần phụ lục)
* Phương pháp điều ra thực địa:
Tại địa bàn nghiên cứu tiến hành lập các tuyến điều tra theo các bản vàcác tiểu khu để tìm hiểu sự phân bố của các loài tre trúc
Thông qua phỏng vấn và điều tra ngoài thực địa, tìm hiểu thành phần,đặc điểm các loài Tre- Trúc hiện có tại địa phương Kết quả điều tra được ghivào các bảng sau
Bảng 2.2: Mô t , nh n bi t các lo i Tre - Trúcả , nhận biết các loài Tre - Trúc ận biết các loài Tre - Trúc ết các loài Tre - Trúc ài Tre - TrúcSTT Tên địa phương Tên phổ thông Tên khoa học Ghi chú
Bảng 2.3: Đ c i m ặc điểm đường kính và chiều cao thân khí sinh điểm đường kính và chiều cao thân khí sinh ểm đường kính và chiều cao thân khí sinh điểm đường kính và chiều cao thân khí sinhường kính và chiều cao thân khí sinhng kính v chi u cao thân khí sinhài Tre - Trúc ều cao thân khí sinh
STT Tên loài D0.0 ( cm) D1.3 (cm ) Hvn (cm) Ghi chú
Bảng 2.4: K t qu o ết các loài Tre - Trúc ả , nhận biết các loài Tre - Trúc điểm đường kính và chiều cao thân khí sinh điểm đường kính và chiều cao thân khí sinhết các loài Tre - Trúcm s lóng v ố lóng và độ dày vách thân khí sinh ài Tre - Trúc điểm đường kính và chiều cao thân khí sinhộ dày vách thân khí sinh ài Tre - Trúc d y vách thân khí sinh
Trang 13STT Tên
loài
Sốlóng/cây
Chiều dàilóng (cm)
Bề dày vách thân khí sinh
chú
Bảng 2.5: M u s c thân khí sinhài Tre - Trúc ắc thân khí sinh
Kích thước (cm) Màu
sắc
Đặc điểmmép lá
Sốgân
Ghichú
Bảng 2.9 Đặc điểm thân ngầm
loài
Chiều dàithân(cm)
Chiều dàilóng (cm)
Số đốt trênthân ngầm
Số mắt ngủtrên thân
Ghichú
Trang 14Bảng 1.10: Đ c i m r Tre - Trúcặc điểm đường kính và chiều cao thân khí sinh điểm đường kính và chiều cao thân khí sinh ểm đường kính và chiều cao thân khí sinh ễ Tre - TrúcSTT Tên
loài
Số đốt trênthân khí sinhmang rễ
Tỉ lệ % rễ phân bố theo tầng đất
(cm)
Hìnhdạng
Ghichú
0 – 20 20- 40 40 - 60 60 - 80
* Phương pháp thực nghiệm tại vườn ươm:
Tiến hành thí nghiệm nhân giống cây Tre ngọt và cây Mạy sang bằnghom thân tại vườn ươm Trường Đại học Tây Bắc
- Chuẩn bị đất để ươm: Chọn nơi đất tốt, tơi xốp, đủ ẩm và thoát nướctốt, đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, làm đất kỹ, cày sâu 18 –20cm, nhặt sạch rễ cây, sỏi đá Dải một lớp vôi bột mỏng xuống dưới luống
để phòng kiến, mối Bón phân chuồng hoai với lượng là khoảng 30 – 40tấn/ha Làm giàn che có độ che bóng 50 – 70%
- Chọn hom để giâm: Tiến hành chọn những cây sinh trưởng phát triểntốt, không cong queo, sâu bệnh ở độ tuổi từ 1 đến 2 tuổi
- Cách bố trí thí nghiệm: Mỗi loài bố trí 3 công thức thí nghiệm, mỗicông thức thực hiện với dung lượng mẫu là 30
+ Công thức 1: Hom giâm không sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng
+ Công thức 2: Hom giâm sử dụng thuốc kích thích IBA (Indol butylic axit) dạng bột với nồng độ 1%.
+ Công thức 3: Hom giâm sử dụng thuốc kích thích IBA (Indol butylic axit) dạng bột với nồng độ 1,5%.
Trang 15Xử lý hom: Sau khi chọn được cây mẹ để lấy hom thì dùng cưa sắc đểcưa hom, mỗi hom là một đốt của thân tre Hom sau khi cưa được chấm vàothuốc kích thích sinh trưởng trước khi tiến hành đặt hom xuống đất giâm đãđược chuẩn bị trước (Đối với mẫu có sử dụng chất kích thích sinh trưởng).
- Chăm sóc hom: Tưới nước 1 lần/ngày để giữ ẩm, nhổ sạch cỏ
Theo dõi, ghi chép ngày giâm hom, ngày bắt đầu ra chồi, ra rễ (1 tuầnkiểm tra một lần)
Kết quả theo dõi thí nghiệm được ghi vào bảng 2.11
Bảng 2.11: Kết quả theo dõi thử nghiệm giâm hom
Loài cây: Ngày kiểm tra Ngày giâm hom: Ngày ra chồi:
* Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong phân loại thành phần Tre Trúc, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật gây trồng hai loài Tre ngọt và Mạy sang
-2.4.3 Công tác nội nghiệp
2.4.3.1 Tính toán các chỉ tiêu trung bình
Ứng dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý, phân tích sốliệu
* Đối với dung lượng mẫu quan sát lớn (n > 30), áp dụng phương phápbình quân gia quyền Các bước tính toán như sau:
+ Chia tổ, ghép nhóm: Tính cự ly tổ(K) K =
m X
Xmax min
Trang 16Trong đó: Xmax, Xmin là giá trị quan sát lớn nhất và nhỏ nhất.
m là số cự ly tổ (m =5lgn)
n là tổng dung lượng điều tra mẫu
.
- Sai tiêu chuẩn (S): S = nQx1
với Qx = Fi Xi2 n
S =
1 n
Các bước tiến hành như sau:
+ S p x p k t qu thí nghi m v o b ng sau:ắc thân khí sinh ết các loài Tre - Trúc ết các loài Tre - Trúc ả , nhận biết các loài Tre - Trúc ệm vào bảng sau: ài Tre - Trúc ả , nhận biết các loài Tre - Trúc
Trang 17∑ T1 T2 T3 TS
Trong đó: TS: Tổng dung lượng mẫu của cả 3 công thức thí nghiệm.+ Giả thuyết H0 đặt ra: Các nồng độ của thuốc kích thích IBA khôngảnh hưởng đến tỷ lệ sống của hom giâm
Đối thuyết H1: Các nồng độ của thuốc kích thích sinh trưởng IBA ảnhhưởng đến tỷ lệ sống của hom
Giả thuyết H0 được kiểm tra bằng tiêu chuẩn χn2 sau đây:
i
i v
q
2 2 2
.Nếu χn2 ≤ χ052 tra bảng (Phụ biểu 05 – Thống kê toán học trong lâmnghiệp (Ngô Kim Khôi)) với k = (a – 1).(b – 1) bậc tự do thì giả thuyết H0
được tạm thời chấp nhận Ngược lại nếu χn2 ≥ χ052 tra bảng với k = (a – 1).(b– 1) bậc tự do thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, thuốc kích thích sinh trưởng IBAảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống của hom giâm
* Khi thuốc kích thích sinh trưởng IBA ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sốngcủa hom giâm ta phải kiểm tra với hai nồng độ đó thì tỷ lệ sống có thuần nhấtvới nhau không?
Với dung lượng mẫu đủ lớn là n, trong đó m là những phần tử mangđặc điểm A (hom sống) và n – m là những phần tử mang đặc điểm khác A
(hom chết), thì tỉ số: pm = m n và qm = n n m được gọi là thành số mẫu củanhững phần tử mang đặc điểm A và khác A
Từ hai mẫu có dung lượng đủ lớn, dựa vào hai thành số mẫu pm1 và pm2
để kiểm tra giả thuyết H0: pt1 = pt2 (Khi sử dụng hai nồng độ của thuốc kíchthích sinh trưởng IBA thì tỷ lệ hom sống của hai công thức là thuần nhất) vàđối thuyết H1: pt1 pt2 (Khi sử dụng hai nồng độ của thuốc kích thích sinh
Trang 18trưởng IBA thì tỷ lệ hom sống của một công thức là trội hơn hẳn).
Kiểm tra giả thuyết H0 bằng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩnnhư sau:
U =
m p
2 1
1 1
n n q p
2 1
2 2 1
1
n n
p n p
Trang 19Phần 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Thuận Châu là một huyện miền núi thuộc tỉnh Sơn La Phía Đông giápthị xã Sơn La và huyện Mường La; phía Tây giáp tỉnh Điện Biên; phía Namgiáp huyện Sông Mã và huyện Mai Sơn; phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai
Khu nghiên cứu có toạ độ địa lý:
Từ 210 17’ 30’’đến 21023’30’’ vĩ độ bắc
Từ 1030 32’ 00’’ đến 1030 40’ 00’’ kinh độ đông
3.1.2 Diện tích tự nhiên
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, với diện tích
tự nhiên 153.590 ha nằm dọc theo Quốc lộ 6 cách thị xã Sơn La 34 km vềphía Tây Bắc và cách huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 52 km về phía ĐôngNam; là một huyện nằm cuối tỉnh Sơn La có vị trí quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của tỉnh Toàn huyện chia thành 29 đơn vị hành chínhtrực thuộc là các xã: Chiềng Ly, Chiềng Pha, Chiềng Pấc, Chiềng Bôm
Diện tích tự nhiên rộng lớn, trong đó đất rừng chiếm đa số nên rấtthuận tiện cho việc khoanh nuôi và gây trồng các loài Tre- Trúc có giá trị
Trang 20+ Đất Feralit vàng nâu phát triển trên núi đá vôi cũng ở độ cao từ
700-1700 m so với mặt nước biển
+ Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá sét và đá biến chất phân bốtập trung trên vùng núi đất, độ dày tầng đất từ 50-100 cm
+ Đất Feralit vàng sáng phát triển trên nhóm đá cát thuộc vùng đồi vànúi thấp, độ dày tầng đất từ 50-100 cm
+ Đất Feralit màu vàng xám phát triển trên đá macma axit, độ dày tầngđất từ 50-100 cm
3.1.5 Khí hậu
Khí hậu khu vực nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, mộtnăm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 2 năm sau Mùakhô từ tháng 3 đến tháng 6 Lượng mưa trung bình năm từ 1600 đến 1800mm,nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 17oC, độ ẩm trung bình là 80%
3.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động, phân bố dân cư, tỷ lệ dân số
Dân số của huyện năm 2005 là 137.444 người, mật độ bình quân 89
cao 74,05%, dân tộc Mông 11,16%, dân tộc Kinh chiếm 9,32%, dân tộc
Kháng 2,57% và dân tộc khác 2,94% Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, từ
phong tục, tập quán đến quan hệ cộng đồng và ngôn ngữ Tổng số l ao
Trang 21động trong độ tuổi năm 2005 là 61.227 người, chiếm 45% dân số toàn huyện.Bình quân hàng năm số lao động tăng thêm khoảng 2.000 người Theo cácngành kinh tế lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm trên 90% tổng số laođộng trong các ngành kinh tế; lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệpchiếm khoảng 2,7% Chất lượng lao động đã được nâng cao đáng kể, tỷ lệ lao
động qua đào tạo đến năm 2005 đạt khoảng 2,5% (Theo nguồn báo điện tử
Tỉnh Sơn La)
3.2.2 Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hoá, phong tục địa phương
Người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trồng các loại cây nôngnghiệp trên nương rẫy Tập quán canh tác còn nhiều lạc hậu nên năng suất laođộng chưa cao, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
Tuy vậy, đời sống tinh thần của người dân vẫn được coi trọng, hàngnăm nhân dân có tổ chức các buổi lễ của dân tộc mình cũng như các buổi lễlớn của đất nước như ngày Tết dương lịch, ngày Tết âm lịch, ngày Quốckhánh 2-9, ngày giải phóng Miền Nam (30-4) và ngày quốc tế lao động (1-5)
3.2.3 Tình hình kinh tế địa phương
3.2.3.1 Trồng trọt
Trong những năm qua ngành trồng trọt của huyện đã có những tiến bộđáng kể, bước đầu thực hiện có hiệu quả việc chuyển đổi cơ cấu theo hướngsản xuất hàng hoá, nổi bật là sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, xácđịnh được cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, từng bước hình thành các khusản xuất tập trung, chuyên canh, thâm canh gắn với chế biến và tiêu thụ sảnphẩm như: Vùng chè tập trung chủ yếu ở các xã Phổng Lái, Chiềng Pha, vùng
cà phê tập trung ở các xã Phổng Lái, Chiềng Pha và các xã dọc tinh lộ 107như: Chiềng La, Tông Cọ, Chiềng Ngàm, Noong Lay …
Sản xuất lương thực có hạt tăng khá và ổn định từ 24.826 tấn năm 1995
Trang 22tăng lên 26.879 tấn năm 2000, vào năm 2005 đạt 38.845 tấn Sản lượng lươngthực bình quân đầu người của huyện tăng đều qua các năm: Từ 245,8 kg năm
1995 lên 279,5 kg năm 2000 và 285 kg năm 2005 So với tỉnh, sản lượnglương thực có hạt bình quân đầu người của huyện năm 2005 bằng 81,2%
3.2.3.2 Phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có sự chuyển đổi tích cực Năm 1995giá trị sản xuất đạt 22,89 tỷ đồng; năm 2000 đạt 35,86 tỷ đồng và năm 2005đạt 65,35 tỷ đồng (giá hiện hành) Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi chủyếu do chăn nuôi gia súc quyết định, chiếm trên 65% giá trị sản xuất
Đàn gia súc, gia cầm trong những năm qua tốc độ phát triển ổn định,dần chuyển hướng và từng bước trở thành ngành chính của huyện Đặc biệt làchăn nuôi các loại gia súc lớn như Trâu bò, Dê
3.2.3.3 Công tác phát triển, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng
Đã đạt được nhiều kết quả trong khôi phục và bảo vệ vốn rừng Giá trịsản xuất ngành lâm nghiệp đạt 27,95 tỷ đồng năm 1995; 43,23 tỷ đồng năm
2000 và đạt 71,57 tỷ đồng năm 2005
Đã bảo vệ và phát triển được vốn rừng nhờ chương trình dự án 327,
747, chương trình 5 triệu ha rừng (661), chương trình trồng rừng gieo bay vànhất là thực hiện chương trình thâm canh, tăng vụ, phát triển cây lương thựctheo quan điểm sản xuất hàng hoá, vì vậy đã ngăn chăn có hiệu quả tình trạngphá rừng làm nương rẫy Năm 2005 diện tích đất có rừng là 56.252,16 ha,trong đó rừng sản xuất 3.377,66 ha, rừng phòng hộ 49.040,43 ha, rừng đặcdụng 3.834,07 ha
3.2.4 Giáo dục – y tế
3.2.4.1 Giáo dục
Công tác giáo dục - đào tạo ngày càng được củng cố và phát triển toàn
Trang 23diện ở các cấp học, ngành học với nhiều loại hình theo hướng xã hội hoá, pháttriển mạnh mẽ về quy mô, chất lượng giáo dục từng bước được tăng nhanh sốlượng học sinh ở các cấp học, ngành học từ Mầm Non đến THPT; mạng lướitrường lớp ngày càng được phát triển, tỷ lệ trẻ em trong tuổi đến trường ngàycàng cao; đặc biệt là trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khókhăn của huyện Các chương trình kiên cố hoá trường học; chương trình 135,chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình 134 … được đầu tư đãđưa số lớp học các cấp trên địa bàn huyện Đặc biệt là các xã vùng sâu,vùng xa.
3.2.4.2 Y tế
Chương trình y tế quốc gia; công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ banđầu cho nhân dân được đẩy mạnh và có nhiều tiến bộ, nhất là công tác y tế dựphòng, đã ngăn chặn và đẩy lùi các dịch bệnh nguy hiểm; thực hiện tốt côngtác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS và phong trào vệ sinh phòng bệnh,
vệ sinh môi trường Triển khai thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh chongười nghèo, và các đối tượng chính sách xã hội
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển; đến nay 100% số xã
có trạm xá, 28/29 xã, thị trấn có trạm y tế được xây dựng kiên cố
3.3 Tài nguyên
3.3.1 Thực vật
Rừng tự nhiên hiện nay còn lại khá nhiều Tuy nhiên thực vật ở đây chủyếu là các loài cây gỗ nhỏ, gỗ kém giá trị Các loài gỗ quý đã bị chặt hạ rấtnhiều Rừng chủ yếu là các loài Tre - Trúc mọc tự nhiên và được một số hộgia đình khoanh nuôi, bảo vệ
3.3.2 Động vật
Động vật còn rất ít, chủ yếu là các loài chim thú nhỏ như Dơi, Sóc
Trang 24Bảng 4.1: Thành phần loài Tre- Trúc tại huyện Thuận Châu STT Tên địa phương Tên phổ thông Tên khoa học
1 Mạy khộm Vầu đắng Indosasa sinica C.D.Chu & C.S.Chao
2 Cọ vạn Vầu ngọt Phyllostachys bambusoides
3 Mạy hẹ trẹ Tre đặc quả thịt Dinochloa alata
4 Mạy hẹ nun Giang đặc Melocalamus compartiflorus
5 Luồng Thanh Hoá Luồng Dendrocalamus menbranaceus Munro
9 Tre vàng sọc Tre vàng sọc Bambusa vulgaris
10 Mạy hốc Hốc Dendrocalamus semiscandens Hsuch
11 Nứa lá to Nứa lá to Schizostachium pseudolima Mc.Clure
12 Nứa lá nhỏ Nứa lá nhỏ Schizostachium leviculem
15 Bương Mười Bương Dendrocalamus sinicus Chia
16 Tre măng ngọt Tre bát độ Dendrocalamus latiforus
17 Sặt Sặt Tây Bắc Arundinaria petelotii
19 Mạy sang Mạy sang Dendrocalamus menbranacues
20 Mạy sạ Tre giàng Pseudosasa amabilis
Trang 25Qua bảng trên ta có thể thấy khu vực nghiên cứu có rất nhiều các loàitre phân bố, thể hiện tính đa dạng về thành phần loài góp phần vào tính đadạng các loài thực vật tại khu vực nghiên cứu Trong đó cũng có khá nhiềucác loài tre có giá trị kinh tế cao không chỉ về măng mà còn cả về thân khísinh như Tre ngọt, Mạy sang, Luồng, Mạy hốc, Vầu ngọt Việc tìm hiểu kỹthuật gây trồng cũng như việc gây trồng các loại tre này sẽ góp phần pháttriển nhanh kinh tế vùng trung du, miền núi cũng như nâng cao tác dụng củarừng với môi trường.
4.2 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng IBA đến tỉ lệ sống chết của hom giâm loài Tre ngọt và Mạy sang
Nguồn giống là một trong các công tác quan trọng trong khâu trồngrừng nói chung và trong trồng rừng Tre -Trúc nói riêng Vì vậy việc chuẩn bịnguồn giống cho trồng rừng là hết sức quan trọng Đối với Tre - Trúc thì cóthể lấy giống từ nhiều bộ phân khác nhau của cây như gốc, thân, cành cùngvới nhiều kỹ thuật khác nhau như tách gốc trực tiếp từ cây mẹ, chiết cành haygiâm cành Phương pháp lấy giống bằng cách tách gốc trực tiếp từ gốc cây
mẹ đã được nhân dân ta sử dụng từ rất lâu và tỉ lệ sống của các cây con đemtrồng cũng rất cao Tuy nhiên, bằng phương pháp này thì lượng giống thuđược rất hạn chế và phải tốn rất nhiều cây mẹ ban đầu Vì vậy, ngày nay bêncạnh phương pháp trên thì người ta còn tiến hành nhân giống vô tính tre từthân, cành để có nguồn giống đáp ứng công tác trồng rừng trên diện rộng
Đối với Tre ngọt và Mạy sang là hai loài tre mọc cụm nên thông quaquá trình giâm hom thân và hom cành sẽ tạo được một lượng lớn giống chỉtrong một thời gian ngắn
Để kiểm tra ảnh hưởng của các nồng độ thuốc kích thích sinh trưởngđến kết quả giâm hom tre trúc, tôi tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng
Trang 26của các nồng độ thuốc kích thích sinh trưởng IBA ở một số nồng độ khácnhau tới tỉ lệ sống chết của hom thân Tre ngọt và Mạy sang Thí nghiệm đượcthực hiện như sau:
+ Chọn đất vườn ươm: Chọn nơi có đất tơi xốp, thoát nước, giàu dinhdưỡng để tiến hành giâm hom
+ Bố trí thí nghiệm: Việc giâm hom được tiến hành theo 3 công thứckhác nhau Công thức 1 không sử dụng thuốc kích thích và là công thức đốichứng Công thức 2 và 3 có sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng IBA vớinông độ lần lượt là 1% và 1,5% Mỗi công thức có số lượng hom là 60 hom
Hình 4.1 Sơ đồ thí nghiệm giâm hom cây Tre ngọt và Mạy sang
+ Chọn hom giâm: Tiến hành lấy hom thân ở những cây sinh trưởngtốt, không sâu bệnh, ở 1-2 tuổi
+ Sử lý hom: Sau khi chọn được cây mẹ lấy hom thì tiến hành cắt hom
và sử lý thuốc trước khi giâm
+ Chăm sóc hom giâm: Sau khi giâm hom cần thường xuyên tưới nước
để giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện thuận lợi để hom phát triển tốt
Để đánh giá ảnh hưởng của việc dùng hoá chất IBA ở nồng độ 1%,1,5% và không dùng hoá chất đến hiệu quả nhân giống, tôi sử dụng hai chỉtiêu: Tỷ lệ sống và tỷ lệ chết của hom
Kết quả đạt được như sau:
+ Đối với loài Tre ngọt: Sau khi giâm 38 ngày thì các hom giâm Tre
ngọt bắt đầu mọc mầm và sinh trưởng nhưng khả năng sinh trưởng, phát triểncủa các hom giâm Tre ngọt không được tốt
Trang 27Kết quả kiểm tra thí nghiệm về tỉ lệ sống, chết của hom giâm được thểhiện qua bảng 4.2
B ng 4.2 T l s ng, ch t c a hom giâm lo i Tre ng tả , nhận biết các loài Tre - Trúc ỉ lệ sống, chết của hom giâm loài Tre ngọt ệm vào bảng sau: ố lóng và độ dày vách thân khí sinh ết các loài Tre - Trúc ủa hom giâm loài Tre ngọt ài Tre - Trúc ọt
Để kiểm tra sự ảnh hưởng của các nồng độ thuốc kích thích IBA tới tỉ
lệ sống chết của hom giâm ta sử dụng tiêu chuẩn χn2
Giả thuyết H0: Thuốc kích thích IBA không ảnh hưởng đến kết quả thínghiệm
Để kiểm tra giả thuyết H0, dùng tiêu chuẩn phù hợp χn2 Qua tính toán
ta được χn2 = 1,28và χ052(k)k)) = 5,99 (Tra bảng với k = 2 bậc tự do)
Vì χn2 < χ052(k)k)) nên giả thuyết H0 tạm thời được chấp nhận, nghĩa là cácnồng độ của thuốc kích thích sinh trưởng IBA không ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ
lệ hom sống khi giâm hom của loài Tre ngọt
+ Đối với loài Mạy sang: Hom giâm của loài Mạy sang phát triển sớm
hơn so với Tre ngọt Chỉ sau khi giâm 25 ngày thì các hom của Mạy sang đã
Trang 28bắt đầu mọc mầm và sinh trưởng Tuy nhiên, cũng giống như Tre ngọt, dogặp điều kiện không thuận lợi về thời tiết cũng như nguồn nước tưới….nên tỉ
lệ sống của các hom giâm Mạy sang cũng không cao Kết quả đánh giá homgiâm loài Mạy sang được thể hiện qua bảng 4.3
B ng 4.3 T l s ng, ch t c a hom giâm M y sangả , nhận biết các loài Tre - Trúc ỉ lệ sống, chết của hom giâm loài Tre ngọt ệm vào bảng sau: ố lóng và độ dày vách thân khí sinh ết các loài Tre - Trúc ủa hom giâm loài Tre ngọt ạy sang Chỉ tiêu
Để kiểm tra sự ảnh hưởng của thuốc kích thích IBA tới tỉ lệ sống chếtcủa hom Mạy sang ta sử dụng tiêu chuẩn χn2
Giả thuyết H0: Thuốc kích thích IBA không ảnh hưởng đến kết quả thínghiệm
Để kiểm tra giả thuyết H0, dùng tiêu chuẩn phù hợp χn2 Qua tính toán
ta được χn2 = 2,19và χ052(k)k)) = 5,99 (Tra bảng với k = 2 bậc tự do)
Vì χn2 < χ052(k)k)) nên giả thuyết H0 tạm thời được chấp nhận, nghĩa là cácnồng độ của thuốc kích thích sinh trưởng IBA không ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ
lệ hom sống khi giâm hom của loài Mạy sang
Như vậy, các nồng độ thuốc kích thích sinh trưởng IBA không có ảnhhưởng đến tỉ lệ sống, chết của các hom giâm thân Tre ngọt và Mạy sang