1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Bài học kinh nghiệm quản trị dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện CTHH nhơn trạch 2”

82 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Học Kinh Nghiệm Quản Trị Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Nhà Máy Điện CTHH Nhơn Trạch 2
Tác giả Doãn Xuân Hoa
Người hướng dẫn PGS. Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến
Trường học Đại học Ngoại Thương
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, chúng ta cũng cần xem xét đánh giá doanh nghiệp dự án theo góc nhìn của lý thuyết quản trị học với bốn chức năng quản trị bao gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đã đ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ “Bài học kinh nghiệm quản trị dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện CTHH Nhơn Trạch 2” là trung thực và không có bất kỳ sự sao chép hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tất cả những

sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho bài luận đều được trích dẫn đầy đủ và ghi rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng 6 năm 2020

Học viên thực hiện Doãn Xuân Hoa

Trang 2

Ngoài ra, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 không chỉ trong giai đoạn tôi còn công tác tại đơn vị mà còn cung cấp bổ sung thông tin, tư liệu và hình ảnh quý giá về dự án Nhà máy điện CTHH Nhơn Trạch 2 để tôi hoàn thiện luận văn này Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến anh Lê Tự Hiểu – nguyên Chủ tịch HĐQT và Tiến

sĩ Hoàng Xuân Quốc – nguyên Tổng giám đốc Công ty đã tin tưởng giao nhiệm vụ và truyền trao kinh nghiệm trong công tác quản trị dự án cho tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm

ơn chân thành đến anh Nguyễn Ngọc Hải – Phó Tổng giám đốc công ty từ khi cùng công tác tại cụm dự án Khí Điện Đạm Cà Mau, cùng làm công tác quản lý dự án Nhà máy điện CTHH Nhơn Trạch 2 luôn tin tưởng, đồng hành và cùng nhau chia sẻ khó khăn trong giai đoạn thực hiện dự án Tôi cũng đang mong muốn anh tiếp tục cùng tôi cống hiến cho dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 thành công hơn các dự án trước

Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 các thời kỳ luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng 6 năm 2020

Học viên thực hiện Doãn Xuân Hoa

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 8

1 CHƯƠNG I 13

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ HỌC 13

1.1 Tổng quan về quản trị học 13

1.1.1 Khái niệm về quản trị 13

1.1.2 Các lý thuyết quản trị trong quản trị học 14

1.1.3 Chức năng của quản trị 18

1.1.4 Vai trò của nhà quản trị 19

2 CHƯƠNG II 20

TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 20

2.1 Tổng quan về dự án 20

2.1.1 Khái niệm cơ bản về dự án 20

2.1.2 Các đặc điểm chính của dự án 22

2.1.3 Phân loại dự án 23

2.2 Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng 23

2.2.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng 23

2.2.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng 24

2.3 Quản trị dự án đầu tư xây dựng 25

2.3.1 Khái niệm quản trị dự án 25

2.3.2 Quản trị dự án đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật Việt Nam 26

2.4 Các nội dung chính về quản trị dự án theo chuẩn mực quốc tế 27

2.4.1 Giới thiệu 27

2.4.2 Giám đốc dự án 27

2.4.3 Phòng/Ban quản trị dự án 28

2.4.4 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác quản trị dự án 30

2.4.5 Các quy trình, công cụ và kỹ thuật trong quản trị dự án 46

3 CHƯƠNG III 50

Trang 4

PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN TRỊ DỰ ÁN NMĐ NHƠN TRẠCH 2 50

3.1 Về doanh nghiệp dự án 50

3.1.1 Thông tin chung 50

3.1.2 Ngành nghề kinh doanh 50

3.1.3 Các mốc chính trong quá trình phát triển doanh nghiệp 50

3.2 Dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 2 51

3.2.1 Tổng quan 51

3.3 Đánh giá một số khía cạnh trong công tác quản trị dự án thực tế 52

3.3.1 Về cấu trúc tổ chức quản lý dự án 52

3.3.2 Tài sản quá trình của doanh nghiệp 55

3.3.3 Quản trị trao đổi thông tin của tổ chức 57

3.3.4 Quản trị các bên có liên quan 59

3.3.5 Về công tác quản trị tiến độ 63

3.3.6 Quản trị phạm vi công việc của dự án 65

3.3.7 Quản trị tài chính dự án và chi phí đầu tư xây dựng 65

3.3.8 Quản trị nguồn nhân lực 68

3.3.9 Quản trị Hợp đồng (mua sắm) 68

3.3.10 Quản trị chất lượng 71

3.3.11 Công tác quản trị rủi ro 72

3.3.12 Vai trò của người lãnh đạo các bên tham gia dự án 72

4 CHƯƠNG IV 74

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ DỰ ÁN 74

4.1 Xây dựng cấu trúc tổ chức quản trị dự án chuyên nghiệp hóa 74

4.2 Cập nhật, chia sẻ và sử dụng tài sản quá trình của tổ chức 75

4.3 Xây dựng và áp dụng hệ thống quy trình quản trị dự án tích hợp 75

4.4 Tạo động lực làm việc cho cán bộ công nhân viên 76

4.5 Phân cấp, ủy quyền, phân bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý 77

4.6 Thu hút, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng nhân sự quản trị dự án 77

4.7 Nâng cao hiệu quả quản trị trao đổi thông tin 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA

Hình 0.1 – Biểu đồ GDP của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2017 9

Hình 1.1 – Sơ đồ phân chia các trường phái lý thuyết quản trị học 15

Hình 1.2 – Các chức năng của quản trị 18

Hình 2.1 – Kim tự tháp Kheops Ai Cập 20

Hình 2.2 – Đền Taj Mahal Ấn Độ 20

Hình 2.3 – Dự án Constellation 21

Hình 2.4 –Nhà máy điện Nhơn Trạch 2 21

Hình 2.5 – Năm nhân tố thiết yếu cho bất cứ dự án nào 22

Hình 2.6 – Nhóm các quy trình quản trị dự án 46

Hình 2.7 – Biểu đồ mối quan hệ giữa các nhóm quy trình trong vòng đời dự án 47

Hình 3.1 – Sơ đồ tổ chức của doanh nghiệp 53

Hình 3.2 – Sơ đồ tổ chức thực hiện dự án NMĐ Nhơn Trạch 2 54

Hình 3.3 – Chiến dịch giải phóng mặt bằng dự án 61

Hình 3.4 – Lễ phát động thi đua cao điểm hoàn thành San lấp mặt bằng, 9/2008 64

Hình 3.5 – Lễ ký giao ước thi đua cao điểm 45 ngày đêm đóng cọc đại trà 64

Hình 3.6 – Lễ ký Hợp đồng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu 470 triệu USD, tháng 8/2010 66

Hình 3.7 – Lễ khởi công NMĐ Nhơn Trạch 2 66

Hình 3.8 – Biểu đồ nhân lực PV Power Nhơn Trạch 2 giai đoạn 2007 - 2011 68

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 - Bảng so sánh tương quan giữa quản trị chương mục, chương trình và dự án 32

Bảng 2.2 Cấu trúc tổ chức và đặc điểm quản trị dự án 33

Bảng 2.3 - Lĩnh vực kiến thức và nhóm các quy trình quản trị dự án 49

Bảng 3.1 - Bảng tổng hợp các bên có liên quan đến dự án 60

Bảng 3.2 - Bảng tóm tắt kết quả kinh doanh trong giai đoạn thực hiện dự án 67

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Diễn giải

2 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

5 BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư Phát triển Việt Nam

Trang 6

STT Từ viết tắt Diễn giải

9 EPC Hợp đồng thiết kế, mua sắm, xây dựng lắp đặt

10 EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu

20 LNG Khí thiên nhiên hóa lỏng (nhiên liệu)

23 PCA Tòa trọng tài thường trực quốc tế

24 PDCA Viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Plan, Do, Check, Action”

nghĩa là “Kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và hành động”

25 PM Viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Project Manager” nghĩa là

“Giám đốc dự án”

26 PMBOK®Guide

Viết tắt của cụm từ “A Guide to Project Management Body

of Knowledge” Hướng dẫn Bộ kiến thức cốt lõi về quản trị

dự án

27 PMI Viết tắt của cụm từ “Project Management Institute”, nghĩa là

“Viện quản trị dự án” của Hoa Kỳ

28 PMO Viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Project Management Office”

nghĩa là “Ban/Phòng quản trị dự án”

29 PVC Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam

31 PV Power NT2 Công ty cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2

34 TPTPPP Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình

Dương

Trang 7

STT Từ viết tắt Diễn giải

35 TQM Viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Total Quality Management”

nghĩa là “quản trị chất lượng toàn diện”

Trang 8

Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường Văn hoá - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân

có nhiều thay đổi tích cực Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Trong đó thành tựu về phát triển nền kinh tế giữ vai trò quan trọng, then chốt và tạo điều kiện cho đất nước hội nhập sâu rộng hơn với thế giới mở Động lực để phát triển kinh tế chủ yếu mở rộng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đặc biệt chính sách bình đẳng hóa giữa thành phần kinh tế tư nhân với thành phần kinh tế nhà nước, mở cửa ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài về vốn, kỹ thuật công nghệ sản xuất Từ năm 1989 đến năm 2017, quy mô nền kinh tế tăng 34,3 lần, từ mức 6,3 tỷ USD lên 216 tỷ UDS Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trung bình ở mức 6,6%/năm, đặc biệt tăng cao trong giai đoạn từ năm

2001 đến năm 2017 và Việt Nam đã được xếp hạng vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008 trở đi

Đóng góp cho những thành quả trên, không thể không nói đến lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng; các công trình công nghiệp cung cấp năng lượng, chế dầu khí và các công trình công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu Hệ thống quy phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng ngày càng được hoàn thiện đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và theo hướng tiệm cận với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế khi Việt Nam tham gia, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

Trang 9

Hình 0.1 – Biểu đồ GDP của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2017 (International Monetary Fund – World Economic Outlook, October 2018) Nhiều dự án, công trình xây dựng đã được lập dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư

và hoàn thành công trình đưa vào sử dụng đảm bảo chất lượng, tiến độ với chi phí hợp

lý đã đem lại hiệu quả không chỉ cho chính chủ đầu tư, chủ sỡ hữu mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội nói chung và tăng tính cạnh tranh của nền sản xuất trong nước trên thương trường quốc tế

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cũng còn nhiều bất cập Tình trạng các dự án đầu tư xây dựng đội vốn, tiến độ bị kéo dài, chất lượng công trình không đảm bảo, gây ô nhiễm môi trường trong xây dựng

và vận hành, xảy ra nhiều tranh chấp không chỉ các bên trực tiếp tham gia dự án giữa chủ đầu tư với các nhà thầu mà còn liên quan đến người dân khu vực xây dựng công trình Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng công trình vẫn còn tồn tại, gây bức xúc trong dư luận xã hội Ngoài những nguyên nhân khách quan như các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp tác động trực tiếp đến dự án thì cũng còn một số lượng không nhỏ những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ việc quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, tổ chức thực hiện dự án còn nhiều bất cập hoặc không xử lý đúng đắn và kịp thời các yếu tố môi trường bên ngoài bị thay đổi

Không khó để chúng ta có thông tin về các dự án bị chậm tiến độ, đội vốn và có

Trang 10

vấn đề về chất lượng, môi trường với những thông tin có nguồn gốc từ nghị trường của

cơ quan lập pháp, những chỉ đạo thanh tra, kiểm tra của cơ quan hành pháp và các bản

án hình sự được tuyên tại tòa án của cơ quan tư pháp Những thông tin trên được công

bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng khi mà chiến dịch phòng, chống tham nhũng của Đảng được đẩy mạnh với sự minh bạch thông tin mang tính thời sự Điển hình 12 đại dự án hàng nghìn tỷ đồng bị thua lỗ, có nguy cơ mất hoàn toàn vốn đã đầu tư (bao gồm cả vốn vay) trong khi công trình của dự án phải “đắp chiếu” chưa hẹn ngày hoàn thành để đưa vào sử dụng Thật đau lòng khi các dự án thua lỗ kiểu này đều

có điểm chung là có sử dụng vốn nhà nước hoặc vốn vay được nhà nước bảo lãnh, thực chất có thể cho rằng đó nguồn lực xã hội của người dân Chúng ta không chỉ mất đi tiền vốn, mất đi cơ hội cạnh tranh (theo dây chuyền) của nền kinh tế quốc gia mà còn làm xấu đi hình ảnh doanh nghiệp nhà nước vốn đã và đang được giao trọng trách giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Những thiếu sót, sai phạm trong tổ chức quản lý thực hiện dự án nêu trên cũng làm mất đi những chuyên gia trình độ cao đã có nhiều cống hiến cho sự phát triển của ngành nhưng vì lý do nào đó đã “vô tình” bị cuốn vào guồng máy của những sai phạm trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng và phải vướng vòng lao lý

Nhìn chung, sự thành công hay thất bại của mỗi dự án đầu tư xây dựng cần phải được xem xét, đánh giá một cách toàn diện ở nhiều khía cạnh khác nhau Hoàn cảnh lịch

sử ra đời của dự án, cơ chế chính sách cũng như hành lang pháp lý trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư và tổ chức thực hiện dự án cũng cần xem xét một cách khách quan, toàn diện Ngoài ra, chúng ta cũng cần xem xét đánh giá doanh nghiệp dự án theo góc nhìn của lý thuyết quản trị học với bốn chức năng quản trị bao gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đã được thực hiện như thế nào

Học viên đã có kinh nghiệm tham gia công tác quản lý dự án xây dựng trong ngành dầu khí gần 15 năm Trong đó, có những đóng góp nhất định (dù một phần nhỏ) cho sự thành công của Dự án Cụm Khí Điện Đạm Cà Mau (2008) và dự án Nhà máy điện CTHH

Trang 11

Nhơn Trạch 2 (2012) Đối với dự án Đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn nằm trong chuỗi

dự án khí Lô B, học viên tham gia từ năm 2012 nhưng đành phải chuyển công tác sang

dự án mới vào cuối năm 2019 Chuỗi dự án này bị tạm dừng quá lâu và cho đến hiện nay vẫn chưa có quyết định đầu tư cuối cùng vì không hội đủ các điều kiện để nhà đầu tư (nước ngoài) quyết định đầu tư cuối cùng do tính đặc thù của chuỗi dự án này

Trong thời gian dự án này tạm dừng, học viên đã mạnh dạn đăng ký thi tuyển vào khóa học Thạc sĩ quản trị dành cho nhà điều hành cấp cao (EMBA) để nâng cao thêm kiến thức, kỹ năng quản trị và chiêm nghiệm lại những mô hình, phương thức tổ chức quản lý dự án đã qua, dù dự án thành công hay chưa thành công để đúc rút ra những kinh nghiệm quý báu cho công việc tương lai

Một cơ hội may mắn nhưng không tình cờ, cuối năm 2019, học viên lại được tham gia vào một dự án năng lượng lớn trong ngành dầu khí - dự án Nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 Dự án nhà máy điện này có tổng công suất thiết kế 1.500MW, tổng mức đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD, là dự án đầu tiên sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng LNG thay cho nguồn khí thiên nhiên khai thác từ thềm lục địa Việt Nam vốn đang ngày càng suy giảm sản lượng khai thác Hiện dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 đã được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư (kết thúc giai đoạn chuẩn bị đầu tư) và bắt đầu chuyển sang giai đoạn tổ chức thực hiện dự án Do đó, với sự tâm huyết

và đam mê đối với lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng, học viên lựa chọn đề tài luận

văn “Bài học kinh nghiệm Quản trị dự án đầu tư xây dựng Nhà máy điện CTHH Nhơn Trạch 2” để rút ra những bài học cần thiết cho công tác đầu tư xây dựng có quy

mô, tính chất tương tự mà học viên đang tham gia thực hiện

Học viên cũng cho rằng kết quả nghiên cứu của bài luận văn này có thể được báo cáo trước lãnh đạo cấp trên và các đồng nghiệp trong tổ chức dự án để có thể ứng dụng vào thực tiễn công tác quản trị dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 nói riêng và các dự án đầu tư xây dựng khác của Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam – CTCP nói chung

Trang 12

Với kiến thức, hiểu biết về quản trị học và quản lý dự án của học viên còn hạn hẹp

và mặc dù đã cố gắng thu thập số liệu để chứng minh, phân tích nhưng một số nội dung trong luận văn có thể thiên hướng theo định tính, chủ quan vì việc thu thập số liệu thực

tế từ các dự án khác nhau không khả thi Tuy nhiên, học viên cố gắng diễn đạt thông tin trong luận văn một cách trong sáng, khách quan nhất có thể và tất nhiên không có mục đích nâng cao cũng như hạ thấp uy tín bất cứ cá nhân hay tổ chức nào Do đó, học viên mong rằng giảng viên hướng dẫn và hội đồng phản biện khoa học chỉ ra những thiếu sót

để luận văn này được hoàn thiện hơn và có thể áp dụng vào thực tế công việc

Trang 13

1 CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ HỌC

1.1 Tổng quan về quản trị học

1.1.1 Khái niệm về quản trị

Trước khi đi sâu vào nghiên cứu, phân tích nội dung chính của bài luận văn về quản trị dự án, chúng ta hãy cùng tìm phác thảo sơ bộ về bộ môn quản trị học như các nội dung được trình bày dưới đây

Thuật ngữ quản trị được giải thích, phát biểu bằng nhiều cách với nội dung biểu

đạt khác nhau và có thể cho rằng chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn Mary Parker Follet cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác ” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Theo Harold Koontz và Cyril O’Donnell “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu

và có kết quả” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Còn theo James Stoner và Stephan Robbins “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Từ đó, tác giả cuốn sách Quản trị học trong xu thế hội nhập tóm lược lại như sau

“Quản trị là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản trị lên các đối tượng bị quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức đã đề ra trong điều kiện biến động của môi trường và sự thay đổi của nguồn lực ” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Thuật ngữ “quản trị” và “quản lý” là hai khái niệm dễ gây nhầm lẫn hiện nay Một

số người và trong một số trường hợp thì dùng từ quản trị, ví dụ như quản trị doanh nghiệp, ngành đào tạo quản trị kinh doanh và những người khác với trường hợp khác thì

sử dụng từ quản lý chẳng hạn như quản lý nhà nước, quản lý các nghiệp đoàn Hiện ở

Trang 14

Việt Nam người ta sử dụng đồng thời hai thuật ngữ trên ở các phạm vi khác nhau do thói quen xã hội Tác giả Lưu Đan Thọ đã diễn giải sự tương đồng và dị biệt giữa thuật ngữ

“quản trị” và thuật ngữ “quản lý” như sau

“Thuật ngữ quản trị – tiếng Anh là management, vừa có ý nghĩa là quản lý, vừa có

ý nghĩa là quản trị, nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị Về thực chất, quản trị và quản lý đều là sự tác động dưới dạng điều khiển Cho đến nay có thể tạm gọi quản

lý là thuật ngữ dùng để sự điều khiển của Nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung

và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là thuật ngữ để sự điều khiển ở cấp cơ sở trong

đó có các tổ chức kinh doanh Quản lý và quản trị có điểm chung logic giống nhau nhưng điểm khác là ở phạm vi và quy mô của nó Tuy hai thuật ngữ này được dùng trong những trường hợp và hoàn cảnh khác nhau để chi ra những phạm vi quản trị cụ thể khác nhau, nhưng về bản chất của quản lý và quản trị không có sự khác biệt” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Do đó, trong nội dung bài luận văn này, để thuận tiện cho việc trình bày cũng như phản ánh đúng tính chất nội dung của đề tài luận văn, học viên sẽ chủ yếu sử dụng cụm

từ “quản trị” hoặc chuyển ngữ từ “managment” trong các tài liệu tham khảo tiếng Anh thành “quản trị” nhưng một vài nội dung vẫn phải giữ cụm từ “quản lý” do có trích dẫn nguyên văn từ các tài liệu tham khảo, đặc biệt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

1.1.2 Các lý thuyết quản trị trong quản trị học

Các lý thuyết quản trị được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển tri thức, triết học, khoa học kỹ thuật tự nhiên, khoa học kỹ thuật ứng dụng và khoa học về kinh

tế - xã hội Theo thời gian hình thành và theo nội dung tiếp cận của lý thuyết quản trị, bốn trường phái lý thuyết quản trị bao gồm: (1) lý thuyết quản trị cổ điển, (2) lý thuyết quản trị theo tâm lý xã hội, (3) lý thuyết quản trị theo định lượng và (4) lý thuyết quản trị hiện đại

Nếu trường phái lý thuyết quản trị theo tâm lý xã hội và lý thuyết định lượng đứng độc lập riêng nó, thì trường phái lý thuyết cổ điển bao gồm 2 phân nhánh lý thuyết quản

Trang 15

trị khoa học và lý thuyết quản trị hành chính Đối với trường phái quản trị hiện đại được phân chia làm 5 nhánh gồm lý thuyết tích hợp hay lý thuyết hệ thống, lý thuyết quản trị quá trình, lý thuyết tình huống ngẫu nhiên, lý thuyết quản trị Nhật Bản và các lý thuyết quản trị hiện đại khác

Hình 1.1 – Sơ đồ phân chia các trường phái lý thuyết quản trị học

Lý thuyết quản khoa học được đại diện bởi Frederic W.Taylor (1856 – 1915) và

ông được xem là cha đẻ của phương pháp quản trị khoa học cổ điển Ngoài ra, trường phái này còn có Charles Babbage (1792 – 1871), Frank (1886 – 1924) và Lillian Gibreth (1878 – 1972) và đặc biệt có Henry Gantt (1861 – 1919) nổi tiếng với sơ đồ Gantt vẫn được sử dụng phổ biến hiện nay trong công tác quản trị dự án

Lý thuyết quản trị hành chính được đại diện bởi Max Weber (1864 – 1920),

Henry Fayol (1841 – 1925) với những đóng góp về các hình thức tổ chức, các nguyên tắc tổ chức, quyền lực và sự ủy quyền vẫn còn được sử dụng một cách phổ biến cho đến ngày nay

Lý thuyết quản trị theo tâm lý xã hội hay còn gọi lý thuyết tác phong, lý thuyết

hành vi hay lý thuyết quan hệ với con người Những tác giả tiêu biểu của trường phái lý thuyết quản trị này gồm có Robert Owen (1771 – 1858), Hugo Munsterberg (1836 – 1916), Mary Parker Follet (1863 – 1933) Đặc biệt, không thể không đề cập đến Abraham

CÁC TRƯỜNG PHÁI LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ

Lý thuyết QT hệ thống

Lý thuyết QT quá trình

Lý thuyết QT ngẫu nhiên

Lý thuyết QT Nhật Bản

Trang 16

Maslow (1908 – 1970) nổi tiếng với tháp nhu cầu và sau này được các tác giả khác phát triển, phát biểu một cách đầy đủ và phù hợp hơn Những đóng góp có giá trị của trường phái này bao gồm sự phát triển chính sách động viên nhân viên, tạo động lực nhân viên, vai trò nhóm làm việc tác động lên hành vi của nhân viên

Lý thuyết định lượng về quản trị với cách tiếp cận quản trị khoa học hiện đại,

quản trị tác nghiệp và quản trị hệ thống thông tin Đối với quản trị tác nghiệp, trường phái định lượng áp dụng vào công tác tổ chức và kiểm soát hoạt động có sử dụng nhiều công cụ định lượng như dự báo, hoạch định nhu cầu và dự trữ, kiểm tra hàng tồn kho trong quản trị sản xuất Chính những lý thuyết này đã làm nền tảng để phát triển cho các phương pháp quản trị hiện đại như phương pháp Kaban, phương pháp TQM (Total Quality Management) hay 6 Sigma hiện nay Đối với quản trị hệ thống thông tin, trường phái này đưa ra những chương trình tích hợp thu thập và xử lý thông tin nhằm đưa ra quyết định dưới sự trợ giúp của máy tính

Trường pháp lý thuyết hệ thống đưa ra một cách tiếp cận mới để giải quyết các

vấn đề phát sinh trong tổ chức trong sự thống nhất và mối tương quan với quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm đầu vào, quá trình chuyển hóa, đầu ra và sự phản hồi của môi trường (khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh tế vĩ mô, toàn cầu hóa ) Phương pháp này đã giúp cho các nhà quản trị có cách nhìn toàn diện đối với tổ chức họ đang quản trị đặt trong môi trường mở luôn luôn biến đổi, phức tạp và cạnh tranh ở quy mô toàn cầu Phân tích hệ thống kết hợp với kỹ thuật định lượng trong quản trị sẽ giúp nhà quản trị cải thiện đáng kể trong việc ra quyết định và xử lý các vấn

đề phát sinh một cách nhanh chóng, hiệu quả

Trường phái quản trị quá trình hiện đại lấy khách hàng làm trung tâm và tiến

hành liên kết, thống nhất từng thao tác, từng hoạt động riêng rẽ thành những hoạt động chung nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu riêng của từng tập khách hàng cụ thể Do đó, có sự chồng chéo về chức năng trong tổ chức nhưng đảm bảo tính linh hoạt cao Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phát triển theo chiều ngang, giảm tối đa các cấp quản trị trung

Trang 17

gian và yêu cầu nhân viên phải có những kiến thức, kỹ năng tổng hợp và đưa ra quyết định độc lập

Trường phái tình huống ngẫu nhiên cho rằng sẽ có phương thức quản trị thích

hợp cho một hoàn cảnh cụ thể nhất định tùy thuộc vào bản chất và điều kiện của hoàn cảnh đó, phương thức quản trị phụ thuộc vào nhiều biến số ngẫu nhiên, không có một khuôn mẫu cho các hiện tượng quản trị bởi tính đa dạng, phong phú các hiện tượng phát sinh trong cuộc sống

Trường phái quản trị Nhật Bản bao gồm lý thuyết Z do William Ouchi khởi

xướng, phương thức cải tiến Kaizen do Masaaki Imai phát triển Lý thuyết Z đưa ra mô hình quản trị với các đặc điểm chính sách sử dụng lao động dài hạn, đánh giá và đề bạt chậm, công nhân đa năng, cơ chế kiểm tra mặc nhiên, đánh giá sự trung thành phù hợp với văn hóa, tập quán của người Nhật Bản Phương thức Kaizen là phương thức quản lý chất lượng phát sinh từ TQM (Total Quality Management) của trường phái theo

lý thuyết định lượng trong quản trị, với câu thần chú nổi tiếng “PDCA” luôn luôn được nhắc nhở và áp dụng trong công tác quản trị của tổ chức

Tóm lại, các lý thuyết quản trị tuy xuất hiện trong thời gian khác nhau nhưng mỗi

lý thuyết có những ưu thế và hạn chế riêng, chúng có thể không thay thế được nhau mà ngược lại còn bổ sung cho nhau Hầu hết các lý thuyết quản trị hiện đại đều kế thừa một phần những thành quả từ các lý thuyết quản trị truyền thống, đồng thời cũng có cập nhật,

bổ sung các quan điểm, phương thức mới phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong môi trường toàn cầu hóa biến động không ngừng Các lý thuyết quản trị hiện đại cũng đã và đang tiếp tục được nghiên cứu, phát triển để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, phù hợp với môi trường toàn cầu vừa hợp tác - vừa cạnh tranh ngày càng gay gắt Đặc biệt, trong cuộc cách mạng công nghiệp thế hệ 4.0 thành hiện thực thì trình độ sản xuất của nhân loại sẽ có sự nhảy vọt nhanh chóng, mạnh mẽ cả về lượng lẫn về chất, khi đó cách tiếp cận và phát triển mới lý thuyết quản trị cũng không nằm ngoài vòng xoáy của sự phát triển này

Trang 18

1.1.3 Chức năng của quản trị

Theo đa số các lý thuyết về quản trị học, quản trị bao gồm các chức năng chính được công nhận rộng rãi như sau:

Hình 1.2 – Các chức năng của quản trị

- Chức năng hoạch định (Planning)

Chức năng này nói lên rằng các nhà quản trị phải xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt được mục tiêu, thiết lập và phát triển hệ thống các

kế hoạch hành động phù hợp nhằm đạt được mục tiêu

- Chức năng tổ chức (Organising)

Chức năng tổ chức bao gồm các hoạt động xác định những nhiệm vụ phải làm và cách phối hợp sử dụng các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ đó

- Chức năng lãnh đạo (Leading)

Nhiệm vụ của lãnh đạo là phải biết rõ động cơ và hành vi của những người dưới quyền, biết cách hướng dẫn, động viên, khích lệ, điều khiển, lãnh đạo nhân viên của mình hoàn thành mục tiêu của tổ chức

- Chức năng kiểm soát (Reviewing)

HOẠCH ĐỊNHThiết lập các mục tiêu, xây dựng chiến

lược tổng thể đạt mục tiêu, thiết lập và

phát triển kế hoạch hành động phù hợp

NHẰM ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU

TỔ CHỨCXác định, phân bổ và sắp xếp các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ đã được

hoạch định

ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU

KIỂM SOÁTTheo dõi, giám sát tiến trình thực hiện và

đo lường kết quả để đối chiếu với MỤC

TIÊU đã hoạch định Phân tích, đánh giá

sai lệch để TIẾN HÀNH BIỆN PHÁP ĐIỀU

CHỈNH CẦN THIẾT

LÃNH ĐẠOGây ảnh hưởng đến các nhân sự dưới quyền bằng cách hướng dẫn, động viên, khích lệ, điều khiển và dẫn dắt nhân viên

của mình để HOÀN THÀNH MỤC TIÊU MỤC TIÊU

CỦA TỔ CHỨC

Trang 19

Kiểm soát là việc theo dõi, giám sát về tiến độ và đo lường kết quả đã đạt được đối chiếu với mục tiêu đã đề ra, phát hiện được những sai lệch giữa kết quả với mục tiêu đề

ra, so sánh thành quả thực tế so với mục tiêu đề ra, phân tích các nguyên nhân dẫn đến sai lệch và tiến hành các biện pháp sửa chữa và điều chỉnh cần thiết

1.1.4 Vai trò của nhà quản trị

Trên cơ sở các chức năng quản trị nêu trên, nhà quản trị (chủ thể quản trị) được định nghĩa như sau“Nhà quản trị là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra con người, tài chính, vật chất và thông tin sao cho hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Henry Mintzberg đã nghiên cứu một cách cẩn thận và đưa ra kết luận rằng “nhà quản trị trong một tổ chức phải thực hiện 10 vai trò khác nhau Mười vai trò này được tác giả sắp xếp chung vào 3 nhóm bao gồm: (1) vai trò quan hệ với con người, (2) vai trò thông tin, (3) nhóm vai trò quyết định” (Lưu Đan Thọ, 2014) Theo đó:

- Nhóm vai trò quan hệ với con người bao gồm: (1) vai trò người đại diện, (2) vai trò lãnh đạo, (3) vai trò liên lạc/liên kết

- Nhóm vai trò thông tin bao gồm: (4) vai trò thu thập, theo dõi và xử lý các thông tin, (5) vai trò truyền đạt thông tin nội bộ, (6) vai trò truyền thông ra bên ngoài

- Nhóm vai trò quyết định bao gồm: (7) vai trò doanh nhân, (8) vai trò giải quyết xáo trộn, (9) vai trò người điều phối tài nguyên và, (10) vai trò đàm phán

Để thực hiện quản trị tốt và hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những kỹ năng cần thiết tùy và mức độ tùy theo cấp bậc quản trị trong tổ chức một cách phù hợp, bao gồm

kỹ năng chuyên môn, kỹ năng nhân sự và kỹ năng nhận thức hay tư duy

Phạm vi nội dung bài luận văn tập trung về chủ đề quản trị dự án nên học viên sẽ không đi sâu phân tích, trình bày các nội dung chi tiết thuộc lĩnh vực quản trị học Trong nội dung của chương tiếp theo, học viên sẽ trình bày sơ lược về khái niệm dự án, quản trị dự án, quản trị dự án đầu tư xây dựng và những đặc điểm của chúng

Trang 20

2 CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1 Tổng quan về dự án

2.1.1 Khái niệm cơ bản về dự án

Cùng với lịch sử tiến hóa và phát triển nhân loại, trải qua các thời kỳ cổ đại nguyên thủy, trung đại, cận đại cho đến thời kỳ văn minh hiện đại ngày nay, các thế hệ phát triển của loài người đã xây dựng và để lại các công trình kiến trúc nhân tạo vĩ đại và tinh tế còn tồn tại cho đến nay Từ các công trình kiến trúc thời kỳ cổ đại, trung đại tiêu biểu như các kim tự tháp cổ đại Djoser, Meidum, Kheops, Khephren, Mikerinos (Ai Cập), các đền thờ thần Hephaistos, đền thờ thần Apollo, đền Parthenon (Hy Lạp), đấu trường

La Mã cổ đại (Ý), đền Taj Mahal (Ấn Độ), Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc), tháp Eiffel và nhà thờ Đức Bà Paris (Pháp) cho đến các công trình hiện đại ngày nay như nhà hát Opera Sydney (Úc), tòa tháp Empire State (Hoa Kỳ), tòa tháp Burj Khalifa (Dubai)

Hình 2.1 – Kim tự tháp Kheops Ai Cập

(https://vi.wikipedia.org)

Hình 2.2 – Đền Taj Mahal Ấn Độ

(https://vi.wikipedia.org) Những công trình kiến trúc trên đều có một số đặc điểm chung “có ý tưởng ban đầu”, “được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định”, “sử dụng nguồn lực nhất định”, “có sự tham gia hoạt động của con người”, “có mục tiêu, mục đích cụ thể rõ ràng”

và “thỏa mãn nhu cầu của một số đối tượng trong một khoảng thời gian nhất định” Tập hợp những đặc điểm trên để hình thành một thực thể vật chất hoặc phi vật chất để phục

Trang 21

vụ nhu cầu đời sống của con người, cái mà chúng ta ngày nay có thể gọi chung đó là những “dự án” đã được quản trị

Có nhiều khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “dự án”

Theo Clark A Campbell (2010) “Tôi xem dự án là các hoạt động với các thông số được xác định chính xác với khung thời gian và các mục đích cho riêng dự án đó” Trong khi đó, Paula Martin & Karen Tate cho rằng “Dự án là bất kỳ nỗ lực tạm thời và có tổ chức nào nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay kế hoạch đơn nhất Nó có thể đơn giản hay phức tạp với quy mô nhóm dự án từ một nhân viên cho tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người làm việc chung ở một nơi hay cũng có thể là xuyên lục địa”

Dù theo định nghĩa thế nào chăng nữa, một dự án đều có 5 yếu tố thiết yếu sau:

- Các nhiệm vụ: sẽ thực hiện như thế nào, bằng công cụ gì (How)?

- Các mục tiêu: cái gì (What) và tại sao (Why)?

- Thời gian: Khi nào (When)? Bao lâu (How long)?

- Chi phí: Bao nhiêu (How much)?

Trang 22

- Người thực hiện: Ai thực hiện (Who)? Ai sẽ được hưởng lợi từ dự án (Whom)?

Hình 2.5 – Năm nhân tố thiết yếu cho bất cứ dự án nào

(Clark A.Campbell, 2010) Nhận xét: Theo học viên, dự án không chỉ có tính giới hạn về thời gian, chi phí, nguồn lực, kỹ thuật/công cụ, mục tiêu cụ thể mà cần có yếu tố về địa điểm (tức yếu tố không gian) cụ thể của dự án Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa với thế giới phẳng hiện nay, việc kết nối, chia sẻ thông tin và sử dụng nguồn lực xuyên lục địa thì đối với một số loại dự án cụ thể nào đó, yếu tố về không gian (địa điểm) thực hiện dự án có thể không còn mang tính trọng yếu nữa

2.1.2 Các đặc điểm chính của dự án

Trên cơ sở khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “dự án” như ở trên, hầu hết các dự

án đều có các đặc điểm chính sau đây:

- Một là, nhiệm vụ của mỗi dự án có tính đặc thù riêng, có tính một lần, không có nhiệm vụ nào khác có thể giống hoàn toàn với nhiệm vụ này Điểm khác biệt của nó được thể hiện trên bản thân nhiệm vụ và trên thành quả cuối cùng

- Hai là, dự án phải đáp ứng những mục tiêu rõ ràng Mục tiêu của dự án bao gồm mục tiêu mang tính thành quả như yêu cầu mang tính chức năng, thông số, chỉ tiêu về công suất, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật hoặc mục tiêu mang tính chất ràng buộc như thời hạn hoàn thành, chi phí, chất lượng

Trang 23

- Ba là, dự án mang những yếu tố không chắc chắn và rủi ro bởi các các yếu tố cấu thành lên dự án cũng tuân theo quy luật vận động và phát triển

- Bốn là, mỗi dự án chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định

- Năm là, để thực hiện dự án, yêu cầu cần có sự kết hợp nhiều nguồn lực đa dạng Những nguồn lực của dự án bao gồm con người, tiền vốn, nguyên vật liệu hay cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị công nghệ và để kết hợp các yếu tố trên cần có phương pháp nhất định, quan trọng nhất chính là công tác quản trị

2.1.3 Phân loại dự án

Tùy theo đặc điểm tính chất của nó, có năm loại dự án như sau:

- Dự án xã hội : Cải tổ hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ an ninh trật

tự cho tất cả các tầng lớp dân chúng, khắc phục những hậu quả thiên tai

- Dự án kinh tế: Cổ phần hóa doanh nghiệp, tổ chức hệ thống đấu thầu, bán đấu giá

tài sản, xây dựng hệ thống thuê mới

- Dự án tổ chức: Cải tổ bộ máy quản lý, thực hiện cơ cấu sản xuất kinh doanh mới,

tổ chức các hội nghị quốc tế, đổi mới hay thành lập các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp khác

- Các dự án nghiên cứu và phát triển: Chế tạo các sản phẩm mới, nghiên cứu chế

tạo các kết cấu xây dựng mới, xây dựng các chương trình, phần mềm tự động hóa, thậm chí có cả các dự án nghiên cứu thăm dò vũ trụ

- Dự án đầu tư xây dựng: Các công trình dân dụng, công nghiệp, công cộng và hạ

tầng kỹ thuật

2.2 Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng

2.2.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng

“Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các

hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Luật

Trang 24

đầu tư, 2014)

“Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn

để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định” (Luật Xây dựng, 2014)

Như vậy, dự án đầu tư xây dựng theo định nghĩa của Luật Xây dựng (2014) đều chứa những nội hàm của định nghĩa thuật ngữ “dự án” và rõ ràng hơn định nghĩa về thuật ngữ “dự án đầu tư” như đã nêu tại mục 2.2.1 nêu trên, cũng bao hàm 5 yếu tố thiết yếu của một dự án Cụ thể như sau:

- Các nhiệm vụ: xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng;

- Các mục tiêu: nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ (liên quan đến công trình xây dựng);

- Thời gian: Trong thời hạn nhất định;

- Chi phí: Trong chi phí nhất định;

- Người thực hiện: Không đề cập (do định nghĩa mang tính chất chung)

2.2.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng

Bản chất định nghĩa “dự án đầu tư xây dựng” không những mang đầy đủ các đặc điểm của một dự án theo các quan điểm của các học giả, nhà khoa học nêu trên mà còn

có những đặc điểm riêng rất đặc trưng của nó

- Được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có mối liên hệ nội tại, chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tư xây dựng;

- Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt trong điều kiện ràng buộc nhất định

về thời gian, về nguồn lực, về chất lượng, về chi phí và về hiệu quả đầu tư;

- Phải tuân theo trình tự đầu tư xây dựng cần thiết từ lúc đưa ra ý tưởng đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng;

Trang 25

- Mọi công việc chỉ thực hiện một lần, đầu tư một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất;

Chính vì những đặc điểm trên, phương thức tổ chức quản trị dự án đầu tư xây dựng

có những tính chất đặc thù nhất định

2.3 Quản trị dự án đầu tư xây dựng

2.3.1 Khái niệm quản trị dự án

Về cơ sở lý thuyết, thuật ngữ “quản trị” đã được giới thiệu tổng quát tại Chương I của bài luận văn như đã trình bày ở các chương, mục nêu trên Cũng như thuật ngữ “dự án” và “quản trị”, có nhiều định nghĩa, phát biểu khác nhau của các học giả, các nhà nghiên cứu về thuật ngữ “quản trị dự án”

Kerzner đã định nghĩa “quản lý dự án” trong cuốn Quản lý dự án của mình như

sau:“Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các nguồn lực của công ty cho một mục tiêu tương đối ngắn hạn được đặt ra nhằm hoàn thành các mục đích và mục tiêu cụ thể Ngoài ra, hoạt động quản lý dự án áp dụng cách tiếp cận hệ thống cho công tác quản lý thông qua việc bố trí các cá nhân hoạt động chuyên môn theo chức năng (cấu trúc cấp bậc theo chiều dọc) vào một dự án cụ thể (cấu trúc theo chiều ngang)” (John Wiley & Sons, 2006)

Matine và Tate định nghĩa về “quản lý dự án” như sau “Quản lý dự án cung cấp cho các nhóm dự án một quy trình nhằm giúp họ phối hợp hoạt động với nhau để tạo ra đúng sản phẩm (dịch vụ, quy trình hoặc kế hoạch) vào đúng thời điểm cho đúng khách hàng trong giới hạn nguồn lực của tổ chức” (Clark A Campbell, 2010)

Theo PMBOK®Guide “Quản trị dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công

cụ, kỹ thuật (phương pháp) để các hoạt động của dự án thỏa mãn các yêu cầu của dự án”

Cuốn PMBOK®Guide “Hướng dẫn Bộ kiến thức cốt lõi về quản trị dự án” được công nhận toàn cầu về nội dung tiêu chuẩn và hướng dẫn quản trị dự án chuyên nghiệp

Trang 26

Tiêu chuẩn này thiết lập mô tả những định mức, phương pháp, quy trình và thực hành trong quản trị dự án, chứa đựng những nội dung từ tổng kết thực tiễn của những người trực tiếp quản tham gia quá trình quản trị dự án thành công Ngoài ra, cuốn PMBOK®Guide cũng ứng dụng tối đa các nền tảng lý thuyết, kiến thức trong quản trị học và các bộ môn quản trị như quản trị kinh doanh, quản trị nguồn nhân lực, quản trị thay đổi, quản trị chất lượng, quản trị rủi ro, quản trị tài chính, quản trị chiến lược kinh doanh, quản trị truyền thông, quản trị sự tuân thủ

Các khái niệm về “quản trị dự án” nêu trên chỉ ra những vấn đề hết sức quan trọng như nhóm dự án, lập kế hoạch, tổ chức, các nguồn lực, sự phối hợp, hệ thống và các mục đích Từ những dẫn chứng trên, có thể cho rằng công tác “quản trị dự án” mang đầy đủ nội hàm của khái niệm “quản trị” trong quản trị học và có những đặc điểm riêng biệt của lĩnh vực, chủ thể và đối tượng được quản trị Có thể nhận định rằng công tác quản trị dự

án cũng đã phản ánh đầy đủ các chức năng trong quản trị học, bao gồm chức năng hoạch định, chức năng tổ chức và lãnh đạo (thực hiện) và chức năng kiểm tra (kiểm tra và kiểm soát)

Theo một khía cạnh nào đó, học viên cho rằng “quản trị dự án cũng chính là quản trị sự thay đổi để nhằm đạt được mục tiêu của dự án trong khoảng thời gian, nguồn lực

có hạn và các ràng buộc có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau”

2.3.2 Quản trị dự án đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật Việt Nam

Theo nội dung Khoản 1, Điều 66 Luật Xây dựng (2014) quy định nội dung, phạm

vi, đối tượng quản lý dự án cụ thể như sau “Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc; chất lượng xây dựng; tiến độ thực hiện; chi phí đầu tư xây dựng; an toàn trong thi công xây dựng; bảo vệ môi trường trong xây dựng; lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng; quản lý rủi ro; quản

lý hệ thống thông tin công trình và các nội dung cần thiết khác được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”

Do đó, dự án đầu tư xây dựng cũng cần có những lĩnh vực, công cụ quản trị phù

Trang 27

hợp với tính chất của dự án đầu tư xây dựng Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng trong Luật Xây dựng (2014) có nhiều nội dung tương đồng với 10 lĩnh vực kiến thức trong quản lý dự án gồm quản lý dự án tích hợp, phạm vi công việc, tiến độ, chi phí, chất lượng, nguồn nhân lực, truyền thông, rủi ro, mua sắm và quản trị giao diện với các bên liên quan của dự án Như vậy, có thể cho rằng Việt Nam cũng đã tiếp cận với chuẩn mực quản lý dự án chung của quốc tế, phù hợp với điều kiện, môi trường và các quy định khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

2.4 Các nội dung chính về quản trị dự án theo chuẩn mực quốc tế

2.4.1 Giới thiệu

Theo PMBOK®Guide (2013) “Công tác quản trị dự án được hoàn thành thông qua các ứng dụng phù hợp và sự đồng bộ của 47 nhóm quy trình quản trị dự án có tính logic được phân chia theo 5 nhóm trình tự của dự án”

Công tác quản trị dự án bao gồm những nội dung chủ yếu như xác định nhu cầu,

mô tả những biến động của nhu cầu, những vấn đề quan tâm và mong đợi của các bên liên quan đến dự án trong quá trình hoạch định và thực hiện dự án Công tác quản trị dự

án thiết lập, duy trì thực hiện trao đổi thông tin giữa các bên liên quan một cách chủ động, thiết thực, hiệu quả và phải đảm bảo tính đồng bộ về trao đổi thông tin

Ngoài ra, công tác quản trị dự án cũng cũng điều hòa các ràng buộc có tính hỗ tương lẫn đối kháng của dự án, bao gồm phạm vi, chất lượng, tiến độ, ngân sách, nguồn lực và rủi ro Xét một cách logic, nếu một trong các ràng buộc của dự án có sự thay đổi (trong quá trình khởi tạo, thực hiện dự án) thì hầu hết sẽ dẫn đến các yếu tố ràng buộc khác của dự án bị ảnh hưởng

Trang 28

và tập trung vào một bộ phận chức năng hoặc một đơn vị kinh doanh cụ thể, còn giám đốc điều hành có trách nhiệm đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả Tùy thuộc vào

cơ cấu tổ chức, một giám đốc có thể phải báo cáo giám đốc bộ phận chức năng Trong trường hợp ngược lại, một hoặc nhiều giám đốc dự án có trách nhiệm báo cáo giám đốc quản trị chương trình hoặc chương mục đầu tư – người có trách nhiệm quản trị toàn bộ các dự án của doanh nghiệp

Nhìn chung, giám đốc dự án cần có trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu cần thiết của nhiệm vụ công việc dự án, nhóm dự án và các nhu cầu riêng khác Do công tác quản trị

dự án có tính chất trọng yếu về chiến lược, do đó giám đốc dự án sẽ kết nối giữa chiến lược với đội nhóm dự án Để quản trị dự án hiệu quả, giám đốc dự án cần phải có những phẩm chất năng lực sau:

- Về kiến thức: Thể hiện việc giám đốc hiểu biết như thế nào về quản trị dự án;

- Về năng suất làm việc: Thể hiện việc giám đốc dự án có khả năng hoặc hoàn

thành dự án bằng việc áp dụng các kiến thức quản trị dự án của mình;

- Phẩm chất cá nhân: Thể hiện qua việc qua cách hành xử, thói quen của giám đốc

dự án trong quá trình thực hiện dự án Sự hiệu quả của cá tính, cùng với thái độ, cá tính,

và sự lãnh đạo đem đến khả năng hướng dẫn đội nhóm dự án trong quá trình thực hiện

để đạt được mục tiêu và cân bằng các ràng buộc của dự án

Ngoài ra, giám đốc dự án hoàn thành mục tiêu của dự án thông qua việc kết nối giữa các thành viên của đội nhóm dự án với các bên liên quan Do đó, giám đốc dự án cần có kết nối mọi người thông qua các kỹ năng về lãnh đạo, xây dựng đội nhóm, tạo động lực, truyền thông, ảnh hưởng, ra quyết định, hiểu biết về chính trị và văn hóa, thương thảo, xây dựng lòng tin, xử lý xung đột và dẫn dắt

2.4.3 Phòng/Ban quản trị dự án

Phòng/Ban quản trị dự án (PMO) là một cấu trúc quản trị trong đó tiêu chuẩn hóa các quy trình điều hành các lĩnh vực liên quan của dự án và tạo điều kiện thuận lợi trong

Trang 29

việc chia sẻ các nguồn lực, phương pháp, công cụ và kỹ thuật để thực hiện quản trị dự

án PMO có trách nhiệm từ sự hỗ trợ chức năng chuyên môn để quản trị dự án cho đến phải có trách nhiệm quản trị trực tiếp một hoặc nhiều dự án một cách thực thụ

Có nhiều loại cấu trúc PMO khác nhau trong tổ chức, tùy thuộc vào mức độ kiểm soát và ảnh hưởng đến dự án trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, bao gồm:

- Mang tính hỗ trợ: PMO mang tính hỗ trợ đóng vai trò tư vấn cho dự án như cung

cấp các biểu mẫu, những kinh nghiệm tốt nhất, đào tạo, tiếp cận thông tin và các bài học kinh nghiệm từ các dự án khác Loại hình PMO này mang hình thức ghi chép diễn tiến của dự án nên có mức độ kiểm soát thấp

- Mang tính kiểm soát: PMO mang tính kiểm soát thực hiện công tác hỗ trợ và yêu

cầu tuân thủ bằng nhiều phương tiện khác nhau Sự tuân thủ có thể liên quan đến việc lựa chọn loại hình cấu trúc hoặc phương thức quản trị dự án, sử dụng những biểu mẫu, công cụ cụ thể hoặc quản trị sự tuân thủ Loại hình PMO này có mức độ kiểm soát trung bình

- Mang tính trực tiếp: PMO mang tính trực tiếp đảm thực hiện công tác quản trị

trực tiếp đối với dự án, theo đó mức độ kiểm soát loại hình PMO này rất cao

PMO tích hợp các dữ liệu và thông tin về chiến lược chung của dự án và đánh giá các mục tiêu dự án sẽ được thực hiện như thế nào ở mức độ cao hơn PMO có bản chất liên hệ giữa các danh mục đầu tư, chương trình, dự án và hệ thống đánh giá đo lường chung của tổ chức Mỗi loại hình PMO cụ thể sẽ tùy thuộc vào nhu cầu của tổ chức (doanh nghiệp) mà nó hỗ trợ

Chức năng chính của PMO là hỗ trợ các giám đốc dự án bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như quản trị nguồn lực chung giữa các dự án được giao cho PMO quản

lý, xác định và phát triển phương thức, thực hành tốt nhất và tiêu chuẩn để quản trị dự án; dẫn dắt, huấn luyện, làm công tác tư tưởng, đào tạo và giám sát; kiểm soát sự tuân thủ theo tiêu chuẩn, chính sách, quy trình và biểu mẫu trong quản trị dự án với ý nghĩa kiểm toán dự án; phát triển và quản lý các chính sách, quy trình, biểu mẫu và những tài

Trang 30

liệu chung của tổ chức và điều phối liên lạc giữa các dự án

2.4.4 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác quản trị dự án

a) Mô thức và văn hóa của tổ chức

Văn hóa, mô thức và cấu trúc của một tổ chức có ảnh hưởng đến cách mà dự án của tổ chức đó được thực hiện Mức độ trưởng thành về công tác quản trị dự án và các

hệ thống quản trị dự án của tổ chức cũng có thể ảnh hưởng đến dự án Khi dự án có mối liên quan đến các thực thể bên ngoài của tổ chức như sự thỏa thuận liên doanh hoặc đối tác, thì dự án sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều tổ chức

“Thách thức lớn nhất với quản lý trong thế kỷ 21 không phải là vấn đề tài chính hay công nghệ mà là vấn đề phát triển nguồn nhân lực, trong đó trọng tâm là giải quyết các vấn đề như thiếu tinh thần làm việc tập thể, sự hợp tác hời hợt giữa các đơn vị chức năng, những cản trở đối với sự đổi mới từ bên trong và những hậu quả doanh nghiệp không có khả năng thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh, bầu không khí làm việc thiếu dân chủ, hoạt động của doanh nghiệp thiếu ổn định và nhất quán Thực chất, đây là vấn đề quan hệ giữa con người với con người bên trong tổ chức, nó bị chi phối bởi giá trị nền tảng của tổ chức đó và tác động trực tiếp đến hiệu suất, chất lượng và khả năng đổi mới của doanh nghiệp, kết quả là ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Để giải quyết những thách thức này, các nhà quản trị cần phải

có sự thấu hiểu những giá trị gốc rễ nằm trong mỗi doanh nghiệp, đó chính là văn hóa doanh nghiệp” (Lưu Đan Thọ, 2014)

Văn hóa tổ chức được hình thành từ những kinh nghiệm chung của những thành viên của tổ chức và phần lớn các tổ chức đều phát triển văn hóa độc đáo riêng theo thời gian thực hành và sử dụng chung Văn hóa tổ chức là một nhân tố trong môi trường doanh nghiệp, được học hỏi và chia sẻ, có thể tác động rất lớn đến khả năng của dự án đáp ứng yêu cầu mục tiêu của nó Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, hiểu biết đầy đủ về sự tác động của ảnh hưởng văn hóa giữ vai trò rất quan trọng đối với những

dự án có liên quan đến tổ chức và khu vực rộng lớn trên toàn thế giới

Trang 31

Văn hóa trở thành một nhân tố quan trọng để xác định sự thành công của dự án, năng lực thấu hiểu đa văn hóa trở thành yếu tố cốt lõi cần có của giám đốc dự án và nhân

sự dưới quyền

b) Phương thức trao đổi thông tin của tổ chức

Sự thành công của quản trị dự án trong một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào phương thức trao đổi thông tin hiệu quả của tổ chức, đặc biệt trong diện mạo của công tác quản trị dự án chuyên nghiệp trong thời đại toàn cầu hóa Năng lực tổ chức trao đổi thông tin

có ảnh hưởng rất lớn đến việc dự án sẽ được thực hiện như thế nào Theo đó, các giám đốc dự án ở xa nhau có thể trao đổi liên lạc một cách hiệu quả với những người có liên quan trong cơ cấu tổ chức sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định kịp thời, chính xác và hiệu quả

Việc sử dụng các phương tiện, phương thức trao đổi thông tin chính thức cũng như không chính thức như email, điện thoại, mạng xã hội, họp trực tuyến và các phương thức khác đã trở thành quen thuộc với bất cứ ai tham gia vào dự án

c) Cấu trúc của tổ chức quản trị dự án

Có nhiều kiểu cấu trúc tổ chức quản trị khác nhau, bao gồm cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến, cơ cấu quản trị theo chức năng, cơ cấu quản trị trực tuyến – chức năng, cơ cấu quản trị ma trận, cơ cấu quản trị theo nhánh sản phẩm, cơ cấu quản trị theo đơn vị kinh doanh chiến lược, cơ cấu quản trị theo khu vực địa lý, cơ cấu quản trị theo nhiều nhánh, cơ cấu quản trị theo hàng ngang Mỗi mô hình cơ cấu tổ chức có những lợi thế

và bất lợi nhất định Việc lựa chọn áp dụng mô hình tổ chức nào phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tổ chức, trong đó có áp dụng kiểu mẫu về quyền hạn quản trị

Về mặt cấu trúc tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thì trong mỗi lĩnh vực quản trị đầu tư phát triển của doanh nghiệp có sự khác nhau về đặc điểm, cụ thể như sau:

Trang 32

Chương mục đầu tư có phạm

vi về mặt tổ chức, làm thay đổi mục tiêu chiến lược của tổ chức

Về sự

thay

đổi

Nhà quản trị dự án mong

muốn các thay đổi và quy

trình thực thi được đảm bảo

các thay đổi được quản trị và

kiểm soát

Nhà quản trị chương trình mong muốn những thay đổi

cả mặt ngoại vi lẫn nội tại của chương trình và được chuẩn bị để quản trị chúng

Nhà quản trị chương mục đầu

tư theo dõi thay đổi một cách liên tục ở môi trường rộng hơn,

cả bên trong lẫn bên ngoài

Hoạch

định

Nhà quản trị dự án phân chia

các thông tin cấp cao hơn ra

các kế hoạch chi tiết trong

tiến trình thực hiện dự án

Nhà quản trị chương trình

sẽ phát triển toàn bộ kế hoạch của chương trình và tạo các kế hoạch ở cấp độ cao để hướng dẫn hoạch định chi tiết ở cấp độ chương trình thành phần

Nhà quản trị chương mục đầu

tư tạo lập và duy trì các quy trình và mối quan hệ trao đổi thông tin cần thiết liên quan đến quá trình tích lũy của chương mục đầu tư

ra tầm nhìn chung và lãnh đạo một cách bao quát

Nhà quản trị chương mục có thể quản lý và điều phối đội ngũ nhân viên quản lý chương mục, hoặc đội ngũ nhân viên quản lý chương trình và dự án

có thể chịu trách nhiệm báo cáo vào quá trình tích lũy chương mục đầu tư

và lợi ích do chương trình đem lại

Thành quả được đo lường bằng hiệu quả đầu tư tích lũy và lợi nhuận thực tế của chương mục đầu tư

Kiểm

tra,

theo

dõi

Nhà quản trị theo dõi và

kiểm soát công việc trong

quá trình sản xuất hoặc cung

cấp dịch vụ, hoặc các kết quả

xuất hiện trong quá trình

thực hiện dự án

Nhà quản trị chương trình theo dõi tiến trình của các chương trình thành phần để đảm bảo các mục tiêu, tiến

độ, ngân sách, lợi ích chung phải đạt được

Nhà quản trị chương mục theo dõi những thay đổi chiến lược

và phân bổ nguồn lực chung, kết quả thực hiện và các rủi ro của chương mục đầu tư

Bảng 2.1 - Bảng so sánh tương quan giữa quản trị chương mục, chương trình và dự án

(PMBOK®Guide, 2013) Cấu trúc tổ chức quản trị dự án và đặc trưng của từng cấu trúc được mô tả trong bảng sau đây

Trang 33

Mô tả

Cấu trúc tổ chức Kiểu chức

Trung bình đến cao

Từ cao đến toàn diện

Sự sẵn sàng của nguồn lực

Ít hoặc

Thấp đến trung bình

Trung bình đến cao

Từ cao đến toàn diện

Ai kiểm soát ngân sách dự án

Trưởng phòng chức năng

Trưởng phòng chức năng

Chuyên trách

Chuyên trách

Chuyên trách Đội ngũ nhân viên

quản trị dự án

Kiêm nhiệm

Kiêm nhiệm

Kiêm nhiệm

Chuyên trách

Chuyên trách Bảng 2.2 Cấu trúc tổ chức và đặc điểm quản trị dự án

(PMBOK®Guide, 2013) d) Tài sản quá trình của tổ chức

Tài sản quá trình của tổ chức bao gồm những kế hoạch, quy trình, chính sách, phương pháp và nền tảng kiến thức cụ thể và đang được tổ chức thực hiện Chúng bao gồm bất cứ sản phẩm tạo tác, thực hành hoặc kiến thức của chính tổ chức hoặc bất cứ tổ chức nào có liên quan đến dự án mà có thể được sử dụng để thực hiện và quản trị dự án Những tài sản quá trình này cũng bao gồm các nền tảng kiến thức của tổ chức, được rút

ra từ những bài học kinh nghiệm và thông tin trong lịch sử hoạt động của tổ chức Những tài sản quá trình của tổ chức thường phần lớn là dữ kiện đầu vào cho các quy trình hoạch định và luôn luôn được cập nhật và bổ sung vào tài sản của tổ chức trong quá trình thực hiện dự án (nếu cần thiết)

Có hai loại tài sản quá trình của tổ chức bao gồm (i) quy trình và phương thức tổ chức và; (ii) nền tảng kiến thức tích hợp, cụ thể như sau:

- Quy trình và phương thức tổ chức để thực hiện dự án bao gồm nhưng không giới hạn những nhóm quy trình sau:

o Quy trình khởi tạo và hoạch định dự án: Chủ trương và tiêu chí để điều chỉnh tiêu

Trang 34

chuẩn của các quy trình và phương thức của bộ máy tổ chức sao cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của dự án Những tiêu chuẩn cụ thể của tổ chức như các chính sách (chính sách nguồn nhân lực, chính sách sức khỏe và an toàn, chính sách quản trị dự án, chuẩn mực đạo đức, ), vòng đời của sản phẩm và dự án, chính sách và quy trình chất lượng và các biểu mẫu sẵn có

o Quy trình thực hiện, theo dõi và kiểm soát: Bao gồm quy trình kiểm soát sự thay

đổi gồm các bước thực hiện tiêu chuẩn, chính sách, kế hoạch của tổ chức hoặc bất cứ tài liệu nào của dự án sẽ phải chỉnh sửa; phương thức phê duyệt và kích hoạt hiệu lực của

sự thay đổi như thế nào; các quy trình kiểm soát tài chính dự án và các quy trình quản lý vấn đề và khiếm khuyết; các yêu cầu về trao đổi thông tin của tổ chức; các quy trình xác định sự ưu tiên, phê duyệt và ủy quyền; quy trình kiểm soát rủi ro và các quy trình khác

có liên quan

o Quy trình kết thúc dự án: Phương châm và yêu cầu kết thúc dự án (bài học kinh

nghiệm, kiểm toán kết thúc dự án, đánh giá dự án, tiêu chí nghiệm thu và bàn giao sản phẩm hoàn thành)

o Nền tảng kiến thúc về thông tin lịch sử và bài học kinh nghiệm

o Nền tảng dữ liệu sự cố và các khiếm khuyết, thông tin về khiếm khuyết, cách thức

xử lý và kết quả xử lý vấn đề và khiếm khuyết

o Nền tảng dữ liệu về quy trình đo lường đã sử dụng

o Những hồ sơ dự án trước đó

e) Các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp

Trang 35

Có nhiều yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh, kế hoạch và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung mà

cò ảnh hưởng đến trực tiếp đến dự án và công tác quản trị dự án

Học viên sẽ trình bày sơ bộ những nhận định về một số yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc đầu tư, quản trị dự án đầu tư các dự án phát triển nguồn điện tại Việt Nam như sau:

- Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế

Cơ cấu nền kinh tế rõ ràng là yếu tố then chốt trong công tác hoạch định dự án, doanh nghiệp sẽ phân tích, đánh giá và lựa chọn cơ hội đầu tư, quyết định đầu tư dự án với lĩnh vực đầu tư, quy mô, phương thức đầu tư phù hợp nhất Ví dụ như cơ cấu nền kinh tế dịch chuyển từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp thì nhu cầu về điện năng

sẽ có nhu cầu cao, do đó doanh nghiệp sẽ tìm kiếm cơ hội và nghiên cứu cơ hội đầu tư vào các dự án nguồn điện tại các khu vực có nhu cầu phụ tải cao trong khi nguồn cung hiện hữu còn hạn chế

Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế và xu hướng của nó không chỉ mang tính dự báo cho việc hoạch định dự án mà tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế trong từng giai đoạn tác động trực tiếp đến nhu cầu sản phẩm đầu ra, khả năng cung ứng nguyên vật liệu đầu vào của dự án và do đó nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí thực hiện dự án, tức

là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư Do đó, công tác quản trị dự án sẽ phải cập nhật lại các thông số đầu vào để điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp Thực tế, có nhiều dự án đã phải dãn tiến độ hoặc thậm chí dừng dự án khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của dự án thấp do nền kinh tế tăng trưởng chậm

- Tỷ lệ lạm phát và lãi suất cho vay

Nếu tỷ lệ lạm phát thấp thì giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và nhân công đầu vào cho thực hiện dự án đầu tư duy trì ổn định với tỷ lệ trượt giá thấp, sẽ không làm phát sinh tăng suất đầu tư, góp phần vào đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án

Trang 36

Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát tăng cao, giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và nhân công để xây dựng sẽ tăng (do trượt giá) làm phát sinh chi phí đầu tư dẫn đến hiệu quả dự án thấp Ngoài ra, sức sản xuất, tiêu dùng sẽ giảm, khả năng cạnh tranh để xuất khẩu thấp dẫn đến nhu cầu tiêu thụ điện năng để sản xuất và tiêu dùng giảm ảnh hưởng tiêu cực đến sản phẩm đầu ra của dự án Lãi suất cho vay (và lãi suất tiết kiệm) thường

tỷ lệ thuận với chỉ số lạm phát, nên tác động của lãi suất cho vay cũng tương tự tác động của lạm phát đến tính khả thi và hiệu quả đầu tư dự án

Lãi suất thấp sẽ giảm nguồn tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, thúc đẩy hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, kích thích tiêu dùng, nên có tác động tích cực đến nhu cầu tiêu thụ điện năng, trong đó có nhiệt điện chạy khí Mặt bằng lãi suất ổn định ở mức thấp, dẫn đến chi phí tài chính trong giai đoạn đầu tư xây dựng thấp tác động tích cực đến hiệu quả đầu tư của dự án vì tỷ lệ vốn vay thương mại chiếm đến 70% - 75% tổng mức đầu

tư của dự án

Ngoài ra, mặt bằng lãi suất thấp và ổn định thì thị trường tín dụng để thu xếp vốn cho dự án sẽ cạnh tranh mạnh mẽ, giúp cho việc thu xếp tài chính của dự án được dễ dàng hơn Tuy nhiên, nếu lãi suất thị trường tăng sẽ tác động đến chi phí tài chính và thu xếp vốn cả chuỗi dự án, ảnh hưởng không tốt đến việc thu xếp vốn và hiệu quả đầu

tư của chuỗi dự án

- Tỷ giá hối đoái

Nguồn vốn vay cho các dự án điện chiếm từ 70% - 75% giá trị tổng mức đầu tư, phải huy động vốn từ nhiều nguồn cho vay trên thị trường tài chính quốc tế với các ngoại

tệ mạnh như đồng EUR, USD, JPY dùng để thanh toán chủ yếu cho các vật tư, thiết bị nhập khẩu và nhà thầu nước ngoài có tỷ trọng lớn

Nhìn chung tỷ giá hối đoái luôn biến động tăng theo thời gian và tốc độ biến động tùy từng giai đoạn Nếu không dự báo chính xác để đưa vào đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án, tỷ giá hối đoái tăng sẽ gây áp lực trong giai đoạn trả nợ vốn vay nước ngoài,

có thể dẫn đến thua lỗ kinh doanh do biến động tỷ giá

Trang 37

Ngoài ra, tỷ giá hối đoái tăng sẽ tác động ngay đến các hoạt động nhập khẩu vật tư, thiết bị trong giai đoạn thực hiện dự án khiến chi phí tài chính quy đổi ra VNĐ tăng, sẽ gây áp lực phát sinh chi phí đầu tư xây dựng dự án

- Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục Việt Nam hiện tham gia nhiều liên kết kinh tế ở cả ba cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu Việt Nam cũng đã được làm thành viên của Liên hiệp quốc, của Tổ chức Thương mại Thế giới, ASEAN, ASEM, APEC, Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực khác Đến tháng 5/2016, Việt Nam đã ký kết và thực thi trên 11 FTA song phương và đa phương Hiệp định EVFTA và TPTPPP

đã được hoàn thành đàm phán và ký kết, sẽ có hiệu lực trong thời gian ngắn sắp tới Hiện thực hóa chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động tích cực đến tổng thể bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong nhiều năm qua Tốc độ tăng trưởng trong khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), hoạt động đầu sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng

Cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế và mậu dịch tự do, trong giai đoạn gần đây

đã nảy sinh các chính sách bảo hộ thương mại nội địa Ví dụ như nước Mỹ với chính sách “Nước Mỹ trước tiên” của đương kim Tổng thống, tỷ phú Mỹ Donald Trump dẫn đến các hệ lụy Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp định TPP, Mỹ áp thuế nhập khẩu bổ sung đối với hàng loạt các sản phẩm cuđồng minh quan trọng như EU, Canada và đe dọa áp thuế với ô tô nhập khẩu từ Nhật Bản Điển hình nhất thể hiện trong cuộc chiến thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc đang diễn tiến ngày càng nghiêm trọng, khó lường đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nền kinh tế toàn cầu, trong đó không ngoại trừ nền kinh tế Việt Nam - vốn phụ thuộc khá lớn vào thị trường Trung Quốc và Mỹ

Khi đó, nền kinh tế Việt Nam hiện đã hội nhập sâu và rộng chắc chắn sẽ bị ảnh

Trang 38

hưởng ở tầm vĩ mô về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, thị trường tài chính và lãi suất cho vay Những tác động của các yếu tố này đến dự án đã được phân tích ở các mục phía trên

- Môi trường an ninh quốc phòng

Ngân sách quốc phòng năm 2018 của Trung Quốc đánh dấu mức tăng 8,1% so với 7% của năm 2017, đây là mức tăng cao nhất trong 3 năm qua Bắc Kinh đã tăng ngân sách quốc phòng lên mức 2 con số trong một thập kỷ, sau đó giảm xuống còn một con

số và giờ đây tiếp tục tăng Điều đó lý giải tại sao trong thời gian gần đây, Trung Quốc tăng cường thách thức an ninh và gây căng thẳng trong khu vực, trong đó có vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải và kiểm soát hàng không với hàng loạt hành động phức tạp hóa tình hình Trung Quốc công bố vùng nhận diện hàng không (ADIZ) biển Hoa Đông vào năm 2013 bao trùm cả lên hòn đảo đang tranh chấp Senkaku (Nhật Bản)/Điếu Ngư (Trung Quốc) và chồng lấn với ADIZ của Hàn Quốc và Nhật Bản Từ năm 2014 đến nay, Trung Quốc gia tăng tốc độ bồi đắp, cải tạo và quân sự hóa các bãi đá ngầm tại Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, làm gia tăng căng thẳng với các nước trong khu vực và bị hầu hết các nước phản đối công khai, trong đó có các cường quốc như Mỹ, Úc, Nhật và EU

Cũng trong năm 2014, Trung Quốc đã kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vốn được pháp luật quốc tế công nhận (cách đảo Lý Sơn khoảng 120 hải lý về phía Đông) Việt Nam đã kịch liệt phản đối bằng ngoại giao và cả trên thực địa, thực tế đã có va chạm giữa lực lượng dân sự và chấp pháp của hai nước trên biển Với sự cương quyết của Việt Nam, đến ngày 27/5/2018 giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc buộc phải rời khỏi khu vực nêu trên Hậu quả, Trung Quốc bị toàn thể cộng đồng quốc tế phản đối mạnh mẽ Trong khi đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đã sụt giảm mạnh mẽ, những vụ biểu tình quy mô lớn dẫn tới một số

vụ bạo động trong nước đã xảy ra, gây ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của khu doanh nghiệp FDI và nền kinh tế nói chung

Trang 39

Ngày 22/1/2013, Philippines chính thức khởi kiện Trung Quốc về Tranh chấp chủ quyền Biển Đông khi Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền với cái gọi là “chủ quyền lịch sử vùng biển” vốn được tưởng tượng ra bằng “Đường chín đoạn” không có căn cứ pháp lý Do không có đủ cơ sở căn cứ pháp lý để phản biện tại tòa, Trung Quốc

đã từ chối tham gia vụ kiện này Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài thường trực quốc tế (PCA) tuyên bố Philippines thắng kiện Trung Quốc về Tranh chấp chủ quyền Biển Đông Tòa nhất trí rằng Trung Quốc không có "các quyền lịch sử" dựa trên cái gọi là bản đồ

"đường chín đoạn" trên Biển Đông Ngoài ra, việc xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc là trái phép và Trung Quốc gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường biển

Trong thời gian gần đây, sự đối đầu giữa các tàu hải quân và máy bay của Trung Quốc với Mỹ trên thực địa ở Biển Đông (Tây Thái Bình Dương) ngày càng gia tăng và mức độ càng nghiêm trọng, nếu để xảy ra sự cố ngoài tính toán từ bất cứ bên nào cũng

có thể đưa khu vực vào tình trạng bất ổn, xung đột quân sự có thể xảy ra Khi đó, tất cả các bên có liên quan, ổn định hòa bình khu vực và thế giới bị đe dọa nghiêm trọng Tóm lại, mặc dù duy trì hòa bình, ổn định vẫn là xu thế chung của khu vực và thế giới, nhưng những căng thẳng giữa các nước có tranh chấp lãnh hải, đặc biệt chính sách

và tham vọng “độc chiếm Biển Đông” của Trung Quốc thể hiện ở cả chính sách chiến lược và trên thực địa ngày càng quyết đoán khó lường Sự tăng cường hiện diện của các cường quốc có lợi ích liên quan nhằm phản đối, thách thức tham vọng của Trung Quốc, nhằm đảm cân bằng chiến lược trong khu vực cũng như đảm bảo an toàn an ninh hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng Cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc tiếp tục leo thang chưa có hồi kết, có thể tác động đến các vụ việc đối đầu quân sự trên biển đã đưa khu vực Tây Thái Bình Dương vào tình trạng tiểm

ẩn nguy cơ bất ổn nhất trên thế giới Theo đó sẽ tác động tiêu cực đến môi trường đầu

tư, phát triển kinh tế của Việt Nam, trong đó có lĩnh vực an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển gồm hoạt động đánh bắt cá, giao thông hàng hải, tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí

Trang 40

Thực tế, trong thời gian qua một số dự án dầu khí của Việt Nam bị dãn tiến độ hoặc

bị “tạm dừng” vì những đe dọa từ Trung Quốc như BP (Anh) rút khỏi dự án Lô 05.2 & 05.3 (năm 2009), Exxon Mobil (Mỹ) dãn tiến độ dự án Mỏ khí Cá Voi Xanh thuộc Lô

117, 119 & 120, Repsol (Tây Ban Nha) “tạm dừng” Mỏ khí Cá Rồng Đỏ thuộc Lô 136.3 (năm 2017) Trong những năm qua, hoạt động tìm kiếm, thăm dò và phát triển mỏ dầu khí mới của Việt Nam ở vùng biển xa bờ vẫn còn nhiều khó khăn, bị Trung Quốc cản trở (vụ cắt cáp khảo sát địa chấn của tàu Bình Minh 2) Trong đó khi các mỏ dầu khí hiện hữu đang trong giai đoạn giảm sản lượng khai thác do đã trải qua gần 20 năm khai thác ở mức sản lượng cao để phục vụ phát triển nền kinh tế trước đây vốn phụ thuộc nhiều vào khai thác, xuất khẩu dầu thô

Việt Nam đã tham gia hội nhập sâu vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế và thương mại tự do đã tác động tích đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước, đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng dẫn đến nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng, rất thuận lợi cho việc đầu

tư vào lĩnh vực năng lượng điện, trong đó có nhiệt điện chạy khí Tuy nhiên, nếu nền kinh tế toàn cầu hoặc khu vực bị khủng hoảng hoặc tăng trưởng chậm thì tất nhiên cũng

sẽ ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước, trong đó có ngành điện Môi trường an ninh và tranh chấp lãnh hải, tranh giành sự ảnh hưởng về địa chính trị trong khu vực có xu hướng ngày càng gia tăng và bất ổn, đặc biệt liên quan đến tranh chấp vùng biển Tây Thái Bình Dương bao gồm Biển Đông và Hoa Đông Điều này tác động gián tiếp đến môi trường đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam và ảnh hưởng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, một thị trường lớn của Việt Nam

- Môi trường khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Có thể nói, việc làm chủ trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam hiện chưa được thế giới đánh giá cao Nền kinh tế chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đầu tư, sản xuất gia công công nghiệp có giá trị gia tăng thấp Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu giúp Việt Nam được tiếp cận và tiếp nhận chuyển giao các ứng dụng

Ngày đăng: 24/06/2021, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w