Việc triển khai ứng dụng CNTT trong các hoạt động cải cách hành chínhnha nước đến năm 2022: 95% các tài liệu, văn bản trao đổi giữa các cơ quanquản lý nhà nước cần phải được số hóa, thực
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi thế giới đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, công ngệthông tin (CNTT) trở nên một thành tố vô cùng quan trọng trong việc xâydựng và thúc đẩy cuộc cách mạng này CNTT ngày càng đóng vai trò quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nó làm biến đổi sau sắc đờisống kinh tế chính trị, góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, tinh thần, trítuệ của toàn dân tộc, thúc đẩy quá trình hội nhập và tạo tiền đề để nâng caochất lượng cuộc sống cũng như toàn bộ ngành kinh tế
Xác định tầm quan trọng của CNTT trong thời kỳ đổi mới, ngày
27/08/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt “Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015” Giai đoạn 2016-2020 được coi là giai đoạn đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam, hầu hết các cơ quan đều được đầu tưtương đối lớn nhằm nâng cao năng lực CNTT
Quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa (HĐH, CNH) của Việt Namđang bước vào giai đoạn phát triển cực kỳ quan trọng, Đảng và Chính phủnước Việt Nam có chủ trương áp dụng thành tựu của CNTT vào một số lĩnhvực, điều này đã được cụ thể hóa và làm sâu sắc thông qua nhiều quyết định,nghị định của Chính phủ
Hiệp định khung e-Asean đã được Việt Nam cùng với các thành viênkhác trong khối ASEAN thông qua và ký kết ngày 24/11/2000 với các mụctiêu cụ thể: xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT), phát triển ngành thương mạiđiện tử (TMĐT) và cộng đồng điện tử (CĐĐT), điều này đã thể hiện rõ cáccam kết đồng thuận phát triển giữa các thành viên trong khối nhằm nâng tầm
mô hình quản trị, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng trong tương quan của sựphát triển CPĐT, TMĐT và CĐĐT tại Việt Nam trong giai đoạn mới
Gần đây nhất theo Quyết định số 749/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ
Trang 4ban hành ngày 03/06/2020 về Quyết định Phê duyệt “Chương trình chuyểnđổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” Chương trìnhChuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số,kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam
có năng lực đi ra toàn cầu, trong đó mục tiêu cơ bản đến năm 2025, phát triểnChính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động; phát triển kinh tế số,nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; và phát triển xã hội số, thu hẹpkhoảng cách số Qua đó có thể thấy một số nhiệm vụ phát triển kinh tế sốđược đặt ra nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số với trọng tâm là phát triểndoanh nghiệp công nghệ số, chuyển dịch từ lắp ráp, gia công về CNTT sanglàm sản phẩm công nghệ số, công nghiệp 4.0, phát triển nội dung số, côngnghiệp sáng tạo, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử và sảnxuất thông minh
Trong nhiều năm liên tiếp, thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong ứngdụng CNTT vào thực tiễn quản lý và áp dụng các thành quả của CNTT đểnâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc, đặc biệt trong khối hànhchính công Cũng như thự tế tại các địa phương khác, Quận 9 luôn đề cao việcứng dụng CNTT như một hoạt động tiên quyết trong quá trình hình thành nềntảng công nghệ, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, nâng cao chất lượng quản trịhành chí Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại Quận 9 vẫn còn tồn tại nhiều bất cậpnhư trình độ phát triển và ứng dụng CNTT còn thấp, chất lượng đội ngũ quảntrị chưa tương xứng với tiềm năng của Quận Với những lý do nêu trên, tôi
chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển CNTT trên địa bàn quận 9,
thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.2 Nghiên cứu ở ngoài nước
Trái ngược với tình hình nghiên cứu trong nước, ở nước ngoài, có rấtnhiều công trình và tài liệu nghiên cứu về vai trò cũng như vị trí của CNTT với sự phát triển kinh tế xã hội được thực hiện rất nhiều và đa dạng Điển hình
Trang 5như công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Allvin Toffler, Hetdi Toffler vềcác chủ đề như “Văn minh của làn song thứ ba”, hay “Cú sốc tương lai”, hoặc
kể cả tác phẩm “Đạo đức thông tin trong xã hội kinh tế tri thức” của tác giảCameron Esslement
Qua đó, ta thấy được việc phát triển CNTT không những được các họcgiả trong và ngoài nước quan tâm mà nó còn cần có sự nghiên cứu sâu hơn vềviệc thực hiện chính sách phát triển một cách khoa học và kỹ càng đối vớitừng điều kiện và môi trường cụ thể Tuy nhiên, chưa có một đề tài nàonghiên cứu một cách hệ thống về việc thực hiện chính sách phát triển CNTTtrên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nghiên cứu ở trong nước
Chủ đề nghiên cứu về vai trò cũng như chính sách phát triển CNTT trongnước cũng đã được triển khai nhiều quận thành, nhiều địa phương trong thờigian vừa qua Điển hình là đề tài “CNTT - Tổng quan và các vấn đề cơ bản”của Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về CNTT; “Ứng dụng và phát triểncông nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” củaBan Tư tưởng và Ban Khoa giáo Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, HàNội, năm 2001; “Đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin một cách toàndiện” của tác giả Minh Hiển đăng trên trang thông tin điện tử của Văn phòngChính phủ năm 2016
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn nhằm nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa
cơ sở lý luận về vai trò cũng như vị trí công nghệ thông tin, các chính sáchphát triển công nghệ thông tin
Mục đích thứ nhì trong luận văn này nhằm nghiên cứu thực trạng ứngdụng CNTT tại đại bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách phát triển CNTT tại quận 9,thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Trang 63.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu cho việc thực hiện luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp hệ thống quá cơ sở lý luận về vai trò cũng như vị trí của CNTT, các chính sách phát triển CNTT
- Nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT tại đại bàn Quận 9, thành phố
Hồ Chí Minh
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách phát triển CNTT tại quận 9 trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển CNTTnhằm phát huy tốt hơn hiệu quả quản lý trên địa bàn quận 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2016 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa chiều, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực,liên ngành xã hội học và phương pháp nghiên cứu chính sách công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp kết hợp giữa phương pháp phân tíchchính sách công với hệ thống các phương pháp hệ thống, nghiên cứu lý thuyết
và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, các phương pháp so sánhđối chiếu cũng được áp dụng rộng rãi trong toàn nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn có những đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện hệ thống lýluận về quá trình thực hiện chính sách công về phát triển CNTT trên địa bàn cụng như đề xuất các phương hướng để quá trình hoàn thiện và phát triển
Trang 7chính sách về CNTT hiệu quả hơn Đồng thời, luận văn cũng đề xuất các biệnpháp thực hiện nhằm nâng cao và hoàn thiện các giải pháp về thực hiện chínhsách phát triển CNTT trên địa bàn quận 9, là bài học kinh nghiệp có giá trịchocác địa phương khác.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu để giúp cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương nghiên cứu,tham khảo và áp dụng vào thực tiễn nhằm thực hiện tốt có hiệu quả trong thựchiện chính sách phát triển công nghệ thông tin
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn luận văn gồm 3 chương, đồng thời luận văn còn cóphần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo liên quan:
- Chương 1: Các cơ sở lý luận trong thực hiện chính sách phát triển công nghệ thông tin
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển CNTT trên địa bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển CNTT trên địa bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1 Khái quát về chính sách CNTT với tư cách chính sách công
1.1.1 Khái niệm, CNTT và chính sách phát triển CNTT
a Khái niệm CNTT và lịch sử phát triển
CNTT trong thời đại hiện nay đang tạo ra những thay đổi lớn trong đờisống kinh tế chính trị tại nỗi khu vực, địa phương Sự phát triển CNTT khôngnhững số hóa được hệ thống quản lý trong các tổ chức công-tư mà còn đemlại hiệu quả lớn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Có rất nhiềuquan niệm khác nhau về CNTT, dưới đây là một số quan niệm có tính phổbiến nhất:
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở trên mạng Wikipedia thì: CNTT làcông nghệ ứng dụng cho việc xử lý thông tin
Theo GS Liest Eathington và GS Dave Swanson, khoa kinh tế học - đạihọc Iowa - Hoa Kỳ, thì CNTT là một chuỗi sản phẩm và dịch vụ mà thôngqua đó, việc biến đổi số liệu thành thông tin có thể tiếp cận được và trở nên cóích Sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin này đảm bảo cho doanh nghiệp,các tổ chức và cá nhân có thể kiểm soát được các giao dịch kinh doanh hiệuquả hơn và nhanh hơn (Ictnews.vn - 2011)
Theo GS Phan Đình Diệu: “Công nghệ thông tin là xử lý thông tin bằngcác phương tiện điện tử, bao gồm các khâu cơ bản như thu thập dữ liệu, lưutrữ, chế biến và truyền nhận thông tin” (Giáo trình tin học đại cương, NXBThống kê năm 2004)
PSG Hàn Viết Thuận thì cho rằng: “Công nghệ thông tin là sự kết hợp củacông nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông được thực hiện trên cơ
sở công nghệ vi điện tử” (Giáo trình tin học đại cương, NXB Thống kê - năm2004)
Trang 9Tại Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật công nghệ thông tin ngày29/6/2006, theo đó thì: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương phápkhoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thuthập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”.
Như các phân tích trên, CNTT được xác định là một ngành khoa học côngnghệ, nó gắn liền với quá trình xây dựng thông tin, phát triển thông tin, và xử
lý thông tin Theo quan điểm đó, Công nghệ thông tin còn bao gồm hệ thốngcác phương pháp khoa học, các công cụ, phương tiện và các giải pháp kỹthuật hiện đại tiên tiến nhất hiện nay, chủ yếu là máy tính và hệ thống mạngtruyền thông cùng với nội dung thông tin điện tử nhằm phát triển, tổ chứcthực hiện khai thác thông tin và sử dụng hiệu quả các nguồn thông tin tronghầu hết các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, hoạt động kinh tế - xã hội, hoạtđộng văn hóa, đối ngoại,
Với định nghĩa trên, khái niệm CNTT đã được hoàn thiện với sự bao quáthơn về các nội dung, ý nghĩa và vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống-xã hội Vìvậy, thuật ngữ CNTT trong nghiên cứu này cũng mang hàm ý và định nghĩanhư trên
Theo tác giả Nguyễn Văn Lượng trong công trình nghiên cứu của mình,
tác giả đưa ra quan niệm về CNTT như sau: “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng
có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.” Khái niệm này tương đối bao hàm những ý nghĩa và đặc tính của
CNTT cũng như vai trò của CNTT trong giai đoạn hiện nay
b Khái niệm chính sách và chính sách công
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên các phương tiệnthông tin đại chúng trên truyền thanh, truyền hình, trên sách báo và trong đờisống xã hội hiện đại ngày nay Tuy nhiên, cho đến nay giới học thuật vẫn chưađạt được sự nhất trí về một định nghĩa thống nhất cho khái niệm này, mà
Trang 10tùy theo từng giác độ tiếp cận mà người ta đưa ra cách định nghĩa khác nhau.Đại từ điển Webster's dictionary đưa ra đến 4 định nghĩa về khái niệm
“chính sách”, trong đó có định nghĩa đáng chú ý nhất như sau: “Chính sách làmột tập hợp các quyết định cùng với các hoạt động có liên quan để thực hiệncác quyết định đó”
Theo tác giả James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động cómục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn
đề mà họ quan tâm”
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:
“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộcvào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa ”
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp các hoạt động liên quan vớinhau, được lựa chọn và quyết định thực hiện, nhằm đạt được những mục tiêunhất định”
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách công là chính sách do cơ quan nhà nướcban hành nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội của cộngđồng” Cũng chính vì vậy mà cho đến nay ở Việt Nam chúng ta thường dùngkhái niệm “chính sách của nhà nước” với nội hàm tương đồng với khái niệm
“chính sách công” (public policy) mãi gần đây mới được sử dụng
Chính sách công thường được phân biệt theo chủ thể chính sách (cơ quanban hành) và đối tượng chính sách (lĩnh vực chịu tác động của chính sách).Theo chủ thể, chính sách có thể được ban hành bởi cơ quan các cấp khác nhautrong bộ máy Trung ương hoặc địa phương Theo lĩnh vực, có chính sách đốinội, chính sách về phát triển kinh tế, chính sách về an sinh xã hội, chính sáchđối ngoại
c Khái niệm chính sách phát triển CNTT
Trang 11Theo các quan niệm trên thì khái niệm “Chính sách phát triển CNTT” theo tác giả đó là các hành động củ thể hóa của nhà nước bằng các văn bản hành chính nhằm đưa ra các phương hướng, phương cách nhằm phát triển ngành CNTT.
1.1.2 Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển CNTT
Trong lĩnh vực hành chính, với cách hiểu về thuật ngữ “hiện đại” nghiêng
về nghĩa sắc thái tinh thần, nhận thức, tư duy …, các nước phương Tây cứmỗi lần chuyển đổi mô hình hành chính đều bắt đầu bằng việc nhận thức lạivai trò của Nhà nước Trong những năm khủng hoảng kinh tế thế giới, việcứng dụng mô hình quản lý công mới nhằm thay thế mô hình hành chính công
củ luôn gắn liền với quan điểm đổi mới sáng tạo và cải cách lại Chính phủ.Vai trò của Chính phủ được nhận thức lại từ quản lý áp đặt sang phục vụ theonguyện vọng người dân thông qua hình thức dân chủ Đó chính là sự khởinguồn của mô hình “quản trị nhà nước tốt” thời gian gần đây “Quản trị nhànước” thay thế cho “quản lý nhà nước” là một bước tiến lớn về mặt tư duy.Nếu “quản lý nhà nước” được hiểu như là sự quản lý của Nhà nước - trong vaitrò chủ thể, thì với thuật ngữ “quản trị nhà nước”, xã hội xuất hiện cùng lúchai mối quan hệ: Nhà nước vừa là chủ thể quản trị xã hội; vừa là đối tượngđược quản trị bởi công dân và các thiết chế xã hội khác Vì thế, trách nhiệmgiải trình của Nhà nước trước nhân dân và xã hội là những đặc trưng cần cócủa mô hình mới này Do vậy, có thể nói rằng nền hành chính ở các quốc giaphát triển luôn gắn liền với những biến chuyển về mặt tư duy và từng bướchiện đại hóa
Những năm của thập niên cuối cùng thế kỷ XX và thập niên đầu thế kỷXXI, quá trình hiện đại hóa nền hành chính ở Việt Nam thể hiệnthông quaChiến lược cải cách hành chính được bắt đầu với Nghị quyết Trung ương 8khóa VII (1995) Tuy vậy, sự vận dụng khái niện hiện đại hóa một cách máymóc, cứng nhắc đã làm quá trình cải cách chung của nước ta chưa đạt đượcnhư mong đợi Quyết định số 112/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Trang 12ban hành ngày 25 tháng 7 năm 2001 phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hànhchính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005, gọi tắt là Đề án 112, là một ví dụ điểnhình Chính phủ đã đầu tư rất nhiều kinh phí, nguồn nhân lực, nhưng kết quảvận hành nền hành chính không có kết quả như mong đợi, không cải thiệnđược bao nhiêu Ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước luôn tồntại hai mặt Nếu mặt tích cực được không phát huy thì nó chỉ còn giá trị phục
vụ nhu cầu tìm kiếm thông tin và giải trí Do vậy, rất nhiều máy tính đượcmua về chỉ để dùng vào việc mua hàng, chơi trò chơi, nghe nhạc, xem phim,tán gẫu trực tuyến … của cán bộ công chức Hay việc cải cách hình chínhđang được đạy mạnh theo hướng giảm và gọp lại các cơ quan hình chính,nhưng khi gọp lại chỉ là gọp cơ học do đó số biên chế lại phình ra, đồng thờithẩm quyền trong quản lý không giao trách nhiệm rõ ràng, chồng chéo Đóchính là hệ quả của việc nhận thức chưa đúng đắn về cải cách nền hành chính.Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã có những nhận thứcđúng đắn về việc làm thế nào để có nền hành chính quốc gia hiện đại, hiệuquả, làm nền tảng cho một xã hội dân chủ phồn vinh bằng các văn bản chỉ đạođịnh hướng của Đảng, các kế hoạch hành động của Chính phủ Một số vănbản nổi bật có thể kể đến như: Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ banhành ngày 08 tháng 11 năm 2011 về việc ban hành Chương trình tổng thể cảicách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết số 36-NQ/TWcủa Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩymạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hộinhập quốc tế; Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15tháng 4 năm 2015 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đápứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; hay như Nghị quyết số36a/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngành 14 tháng 10 năm 2015 về Chính
Trang 13phủ điện tử.
Hiện đại hóa hành chính là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của Chươngtrình cải cách hành chính nhà nước đã được Chính phủ đề cập đến trong Nghịquyết số 30c/NQ-CP ban hành ngày 08 tháng 11 năm 2011, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, tập trung hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của các cổngthông tin điện tử áp dụng trong quản lý hành chính của Chính phủ trên hệthống Internet
Việc triển khai ứng dụng CNTT trong các hoạt động cải cách hành chínhnha nước đến năm 2022: 95% các tài liệu, văn bản trao đổi giữa các cơ quanquản lý nhà nước cần phải được số hóa, thực hiện chuyển đổi dạng văn bảnđiện tử, hổ trợ cho việc lưu trữ, truy vấn được tốt hơn; đảm bảo các cán bộcông nhân viên tích cực sử dụng hệ thống email (thư điện tử), các thông báođiện tử trong công việc; chuyển đổi các hoạt động giao dịch sang hình thứcgiao dịch điện tử; ứng dụng truyền thông đa phương tiện trong các hoạt độnggiao tiếp, truyền thông và liên lạc; thực hiện các dịch vụ công thông qua
Mạng thông tin điện tử hành chính do Chính phủ phát triển ở mức độ 3 và 4,đáp ứng các nhu cầu từ thực tiễn trong các hoạt động của chính phủ điện tử,nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp
- Thứ hai, thực hiện triệt để triển khai ứng dụng CNTT trong các quy trình
xử lý dịch vụ công của từng cơ quan hành chính nhà nước, liên cơ quan hànhchính nhà nước với nhau, nhằm nâng cao tính chính xác, hổ trợ tích cực việcchuyển đổi số tại các cơ quan hành chính nhà nước mỗi địa phương, nâng caonhận thức về ứng dụng CNTT tại các cơ quan này
- Thứ ba, thực hiện cập nhật và công bố các danh mục dịch vụ hành chínhcông được triển khai tại cơ sở lên các trang mạng thông tin điện tử hành chínhtheo đề án chính phủ điện tử Triển khai xây dựng và thống nhất các biểu mẫuvăn bản trong giao dịch đối với từng dịch vụ hành chính công cho người dân,giữa các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức, và các cá nhân nhằm hệ
Trang 14thống hóa và đơn giản hóa từng khâu trong qui trình thủ tục dịch vụ hành chính công.
- Thứ tư, tiến hành triển khai một cách thống nhất có hiệu quả qui trìnhquản lý chất lượng tại các cơ quan có triển khai đề án phát triển chính phủđiện tử qua đó thu thập những thiếu sót, tổng hợp những vấn đề liên quan đếnviệc ứng dụng CNTT tại các cơ quan hành chính nhà nước, làm cơ sở để hoànthiện hệ thống CNTT được tốt hơn
- Thứ năm, nhanh chóng thực thiện Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 06tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ trong việc phê duyệt kế hoạchđầu tư cơ sở hạ tầng tai các đơn vị cấp cơ sở (phường, xã) đảm bảo tuân theoqui trình và các yêu cầu về cải cách hành chính nhằm nâng cao chất lượngcũng như hiệu quả quản lý nhà nước tại các cấp
- Thứ sáu, tiên hành xây dựng cở sở trụ sở các cơ quan hành chính nhànước tại các địa phương nhằm hiện đại hóa, tập trung hóa ứng dụng CNTT hổtrợ hiệu quả cho việc cải cách hành chính nhà nước
Việc triển khai ứng dụng CNTT tại cơ quan quản lý hành chính nhà nướcnhằm hiện đại hóa hệ thống quản lý, từng bước xây dựng và hoàn thiện chínhphủ điện tử tại các đơn vị địa phương, nâng cao chất lượng dịch vụ công, nêucao tinh thần học hỏi, đề cao tính chuyên nghiệp, văn minh công sở, lịch sựtrong giao tiếp, minh bạch trong xử lý thông qua hệ thống CNTT như: hệthống lấy số tự động, hệ thống cấp số chờ giao dịch cho cá nhân, tổ chức theonguyên tắc “ai đến trước được nhận dịch vụ trước, ai đến sau, nhận dịch vụsau” Việc áp dụng CNTT vào quá trình đưa ra quyết định cũng nhằm minhbạch hóa quá trình thực hiện dịch vụ hành chính công, hổ trợ đắc lực cho banquản lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ, hổtrợ cho quá trình cải cách hành chính nhà nước, tạo tiền đề cho việc xây dựngChính phủ điện tử, đặc biệt hơn hiện nay một số địa phương đang ra sức thiđua xây dựng chính phủ một cửa, giúp nâng cao hiệu quả việc tương tác giữa
Trang 15người dân và cán bộ phục vụ tại các cơ quan quản lý nhà nước Ngoài ra, việcứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm tinh gọn bộ máyquản lý, nâng cao hiệu quả và hiệu suất thực hiện công việc tại các cơ quanhành chính nhà nước.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển CNTT
Việc xây dựng, hoàn thiện và ứng dụng CNTT không chỉ là những thayđổi về mặt công nghệ mà còn thay đổi cả trong tư duy quản lý, qui trình đưa
ra quyết định Mục đích của việc ứng dụng này nhằm nâng cao chất lượngquản lý của nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công, đem lại sự hài lònghơn cho người dần và các tổ chức doanh nghiệp Một trong những hiệu quảthấy rõ nhất của việc áp dụng CNTT vào quản lý nhà nước là làm minh bạchcác quá trình xử lý các thủ tục hành chính, tinh gọn hệ thống trong quản lý,đồng bộ cơ sở dữ liệu của các tổ chức ban ngành Tính lợi ích đã được minhchứng rõ nét thông qua sự cải thiện hiệu quả tại một số đơn vị đã tiến hành cảicách thủ tục hành chính bằng việc áp dụng CNTT Tuy nhiên trên thực tế vẫncón nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả của việc triển khai này, trong đó cácnhân tố sau cần được xem xét:
- Thứ nhất, Khâu tổ chức, quản lý hành chính Chính phủ chính là cơquan, tổ chức có quy mô lớn nhất trong nước Chính phủ thường có cấu trúcphức tạp, phân cấp quản lý, gồm nhiều cơ quan hoạt động độc lập với nhau.Điều này đã dẫn đến xu hướng nảy sinh sự thiếu đồng bộ, manh mún tronghoạt động quản lý, điều hành nhà nước, cung cấp dịch vụ hành chính công,cũng như sự trùng lặp, thiếu hiệu quả trong đầu tư xây dựng hệ thống thôngtin khiến cho khả năng phối hợp, cộng tác giữa các cơ quan của chính phủ bị hạn chế
- Thứ hai, Sự hiểu biết đầy đủ về thực trạng, nhận thức, nhu cầu ứng dụngCNTT trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Đây cũng là một rào cảngây nên sự chậm trễ vướng mắc trong việc thực hiện triển khai ứng dụng
Trang 16CNTT một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả Ứng dụng CNTT cần phảiđược triển khai một cách phù hợp, hài hòa với đặc điểm văn hóa, kinh tế - xãhội cũng như phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước trong mục tiêu phát triển tạiđịa điểm triển khai Thực tế các chương trình, đề án và dự án trọng điểm vềứng dụng CNTT thường chậm trễ, thiếu đồng bộ và hiệu quả thấp, trong khi
đó xuất phát điểm ứng dụng CNTT còn thấp, kinh phí hạn hẹp, ít cán bộchuyên trách, cán bộ lãnh đạo chưa quán triệt, tính chủ động chưa cao, cán bộcông chức còn ngại thay đổi phương thức làm việc
- Thứ ba, Mô hình, hạ tầng kỹ thuật toàn diện, thống nhất trong xây dựng
hệ thống thông tin trong các cơ quan nhà nước, cho phép các quy trình nghiệp
vụ có thể được tinh giản, công nghệ được chuẩn hóa, thông tin được cấu trúc
và lưu trữ thống nhất, tránh việc các hệ thống thông tin thường được triểnkhai riêng rẽ, thiếu sự tương tác, liên thông
- Thứ tư, Tài chính là một trong nhân tố quan trọng trong việc triển khaicác ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, nhân tố này đảm bảo sựthành công trong ứng dụng
1.3 Bài học kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển CNTT trong các
cơ quan hành chính nhà nước
1.3.1 Trong nước
a Bài học kinh nghiệp của thành phố Đà Nẵng
Trong những năm qua, TP Đà Nẵng luôn đứng đầu cả nước về độ sẵnsàng cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - truyền thông với ICTIndex năm 2019 là 0,83 (đây là lần thứ 2 liên tiếp Đà Nẵng chiếm giữ thứhạng này, năm 2018 Đà Nẵng cũng xếp hạng thứ nhất và năm 2017 xếp hạngthứ 2); Chỉ số hạ tầng nhân lực 0,86 xếp hạng thứ 2, chỉ số hạ tầng kỹ thuật0,83 xếp hạng thứ 1 và chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin 0,91 xếp hạng 1
Về xếp hạng sản xuất - kinh doanh công nghệ thông tin Đà Nẵng đứng hạng
5 Chỉ số này cho thấy Đà Nẵng là một trong những thành phố có mức độ sẵn
Trang 17sàng cho ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh rất cao, vàđược xác định là một trong những tỉnh thành góp phần quan trọng vào thànhcông của đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thôngtin - truyền thông”.
Hiện nay, thành phố đang triển khai xây dựng mang WAN, Trung tâm dữliệu, Trung tâm đào tạo và nghiên cứu chính sách phát triển CNTT nhằmchuẩn bị cơ sở hạ tầng để triển khai chính quyền điện tử của thành phố trongthời gian tới Hệ thống giao ban điện tử đa phương tiện tại văn phòng UBND,
7 quận huyện và 2 sở, ngành đã được xây dựng xong; hệ thống quản lý vănbản và điều hành được cài đặt sử dụng tại 32 đơn vị, bước đầu mang lại kếtquả tích cực trong công tác quản lý và điều hành; hoàn thành và chính thứcđưa vào sử dụng Phần mềm 1 cửa, 1 cửa liên thông cấp phường xã tại 56 xã,phường của thành phố phục vụ công tác tiếp nhận và xử lý hồ sơ cho côngdân; hỗ trợ doanh nghiệp CNTT nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháttriển công nghiệp phần mềm với các khóa đào tạo khác nhau về CNTT
Để phát huy những thành tựu đã đạt được, thành phố Đà Nẵng đề ra một
số mục tiêu cụ thể trong giai đoạn tiếp theo - năm 2020 như sau:
Phấn đấu đạt tỷ lệ 60% thôn có Internet, 60% các cơ quan nhà nước được
sử dụng dịch vụ qua trung tâm dữ liệu và mạng WAN của thành phố; 80% vănbản giữa các cơ quan nhà nước được trao đổi qua hệ thống quản lý văn bảnhoặc trao đổi dưới dạng thư điện tử; 90% cán bộ công chức sở ngành quậnhuyện, 65% cán bộ công chức xã phường sử dụng thường xuyên hộp thư điện
tử trong công việc; 45% các mô hình Công sở điện tử, quận/huyện điện tử,phường/điện tử được triển khai diện rộng; 100% các ứng dụng công nghệthông tin được rà soát mức độ an toàn, an ninh thông tin; 40% ứng dụng ởmức 3 và 10% ứng dụng ở mức 4; 40% các trường phổ thông sử dụng học bạđiện tử…
Đảm bảo hàng năm có 100% cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin
Trang 18được cập nhật các công nghệ mới, kiến thức mới về phần mềm, phần cứng, anninh mạng; 60% lãnh đạo được đào tạo CIO; 60% phường xã có cán bộchuyên trách CNTT; 60% cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin của các sởngành quận huyện được đào tạo về quản lý các dự án CNTT…
Nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra thì trong bản kế hoạch có nếu lênmột số nội dung thực hiện Theo đó, thành phố cần chú trọng việc xây dựng
hạ tầng CNTT&TT, nâng cấp - bảo trì công tác an ninh mạng và bảo mật;hoàn thành và đưa vào sử dụng Trung tâm dữ liệu, Trung tâm đào tạoCNTT&TT, Trung tâm giao dịch CNTT; xây dựng hệ thống thông tin địa lýthành phố, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, triển khai hệ thống công sở điện tử;xây dựng cổng thông tin y tế, triển khai 8 dịch vụ công mức 3 và 4, hệ thốnggiám sát và đánh giá nguồn nước cấp phục vụ cho thành phố trên hạ tầngmạng WAN
Không ngừng đẩy mạnh việc tuyên truyền, làm cho cán bộ công chức đềunhận thức rõ ràng rằng họ vừa là chủ nhân vừa là người chịu trách nhiệm triểnkhai các chính sách phát triển CNTT trong bộ máy nhà nước chứ không phảicác chuyên gia CNTT - những người phục vụ triển khai chương trình này Tậptrung đào tạo các khóa nghiệp vụ cơ bản và chuyên ngành về chính sách pháttriển CNTT cho chuyên viên các quận huyện và phường xã đã có trình độ tinhọc cơ bản; thực hiện đào tạo cho lãnh đạo các sở, ban, ngành, quận/huyệncác khóa về quản lý và điều hành các dự án CNTT và được tham quan họctập, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực CNTT ở trong nước hoặc ở các nước
có nền CNTT phát triển
b Bài học kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh
Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trang chính sách phát triển CNTTmột số tỉnh, thành phố trong cả nước Để ứng dụng tốt CNTT trong cácCQNN tỉnh Quảng Ninh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội có thể rút ra một
số kinh nghiệm như sau:
Trang 19Thống nhất, tập trung sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, nhấn mạnh vai trò thủ trưởng
Công nghệ thông tin là một phạm vi hẹp trong lĩnh vực thông tin và truyềnthông, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của nó đối với xã hội lại rất rộng lớn vàthiết yếu Vì vậy cần phải có sự quan tâm và tập trung, thống nhất chỉ đạo củacác cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể trong chính sách phát triển côngnghệ thông tin, tạo ra sự đồng bộ, đồng thuận giữa các cơ quan trong việc ứngdụng công nghệ thông tin Khác với các lĩnh vực khác, chỉ đạo điều hành côngviệc có thể do thủ trưởng ủy quyền chỉ đạo trực tiếp cho cấp dưới, riêng vớilĩnh vực chính sách phát triển công nghệ thông tin do có sự tương tác thôngtin với nhau qua mạng, cho nên, tùy theo mức độ ứng dụng của các cơ quanđơn vị, bắt buộc thủ trưởng phải trực tiếp chỉ đạo, điều hành theo quy trìnhcủa hệ thống chung Kinh nghiệm cho thấy đơn vị, địa phương nào mà trựctiếp các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể và người thủ trưởng vàocuộc thực sự thì nơi đó có bước chuyển biến tích cực về chính sách phát triểncông nghệ thông tin
Củng cố và phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông
Hạ tầng thông tin và truyền thông là một nội dung rất quan trọng trongviệc thúc đẩy chính sách phát triển công nghệ thông tin trong các cơ quan nhànước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, nó là điều kiện, môitrường để gắn kết những người có tri thức về công nghệ thông tin với nhauthông qua các hoạt động như cộng đồng điện tử, thương mại điện tử, Chínhphủ điện tử, nghiên cứu khoa học,
Tăng cường các nguồn lực
Ngoài nguồn lực về hàng tầng thông tin và truyền thông đã phân tích ởtrên, để phát huy hiệu quả chính sách phát triển CNTT cần phải có nguồnnhân lực, tài chính
Nguồn nhân lực về công nghệ thông tin phải đi trước và sẵn sàng khi triển
Trang 20khai ứng dụng CNTT Trình độ về CNTT phải phù hợp với vị trí công tác, giảiquyết được các yêu cầu tác nghiệp khi ứng dụng CNTT Đào tạo nguồn nhânlực và CNTT phải linh hoạt phù hợp với từng đối tượng, không đào tạo hìnhthức, dập khuôn, máy móc Nơi nào có đội ngũ cán bộ có trình độ cao vềCNTT, làm hạt nhân cho việc triển khai các ứng dụng, khắc phục sự cố trongquá trình vận hành sử dụng thì nơi đó hiệu quả chính sách phát triển côngnghệ thông tin đạt hiệu quả cao.
Phải có kế hoạch tài chính cụ thể để thực hiện các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch về ứng dụng và phát triển CNTT Kinh phí thực hiện các dự án phảibảo đảm tổng thể, không được thiếu, tránh dở dang Huy động và phân bổ cácnguồn lực tài chính đảm bảo cho phát triển cân bằng, ưu tiên những nội dungquan trọng
Hoàn thiện cơ chế, chính sách
So với các lĩnh vực khác, CNTT là lĩnh vực còn rất non trẻ, tuy nhiên có
sự phát triển rất nhanh về chiều rộng và chiều sâu, phạm vi ảnh hưởng rộnglớn Do vậy nguyên tắc năng lực quản lý phải theo kịp sự phát triển của xã hộiđối với lĩnh vực CNTT là một đòi hỏi cần phải giải quyết triệt để, tránh đểkhoảng cách quá xa giữa thực tế và quản lý
Ban hành cơ chế, chính sách về CNTT phải bao quát được chiến lược,định hướng quan trọng, tạo môi trường pháp lý, thúc đẩy ứng dụng CNTTphát triển
Cơ chế, chính sách phải đồng bộ, không được xem nhẹ bất cứ yếu tố nàoliên quan đến chính sách phát triển CNTT Cơ chế chính sách cụ thể phảimềm dẻo, linh hoạt, tạo sự khuyến khích cho các đối tượng ứng dụng CNTTtrong mọi hoạt động Phải có lộ trình thích hợp cho các đối tượng ứng dụngCNTT, tránh gò ép, áp đặt, hình thức, phong trào
Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
là một nội dung đặc biệt quan trọng, sẽ được tập trung phân tích sâu ở phần sau
Trang 21luận văn này.
1.3.2 Quốc tế
a Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một thành công điển hình trong xây dựng Chính phủ điện tửtheo mô hình từ trung ương đến địa phương Chính phủ có vai trò then chốttrong ứng dụng mô hình này Chính phủ đã thể hiện sự sáng tạo trong pháttriển minh bạch và hiệu quả các dịch vụ công Chính phủ cũng giữ vai trò là
“nhà đầu tư” ban đầu, sau đó người dân sẽ tự phát triển
Hai yếu tố cốt lõi tạo nên thành công của Chính phủ điện tử của Hàn Quốcchính là việc xây dựng các hệ thống CSDL quốc gia và hạ tầng mạng CNTTtốc độ cao
Chính phủ điện tử của Hàn Quốc phát triển theo 3 giai đoạn: tin học hóađơn giản; hình thành các mạng địa phương; và xây dựng hệ thống mạng liên
cơ quan
Hàn Quốc đặt mục tiêu xây dựng sáu CSDL quốc gia: hồ sơ công dân, đấtđai, phương tiện, việc làm, thông quan điện tử và CSDL thống kê về kinh tế.Các hệ thống CSDL này được kết nối với các cơ quan quản lý liên quan trênphạm vi toàn quốc và có thể cung cấp dịch vụ trực tuyến cho người dân
Để thúc đẩy việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan công quyền và khaithác hiệu quả các hệ thống cơ sở dử liệu quốc gia, cần phải xây dựng một hạtầng công nghệ thông tin tốc độ cao Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng 3 hệthống mạng tốc độ cao gồm: mạng quốc gia, mạng công cộng và mạng nghiêncứu tốc độ cao Trong đó, mạng quốc gia tốc độ cao là yếu tố nồng cốt vớiChính phủ điện tử của Hàn Quốc Mạng này được xây dựng bằng ngân sáchchính phủ dành cho các cơ quan công quyền, các viện nghiên cứu và cáctrường học truy cập với mức giá thấp
Hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử phải xây dựng hạ tầng tốt, nângcao hiệu quả và tính minh bạch của hệ thống dịch vụ công, và đặc biệt là phải
Trang 22hỗ trợ phát triển công dân điện tử Kinh nghiệm thực tiễn của Hàn Quốc trongvấn đề này là Chính phủ đã chú trọng đào tạo 10 triệu công dân trên tổng dân
số 48 triệu dân sử dụng thông thạo CNTT với mục đích kích thích nhu cầu sửdụng công nghệ cao trong công dân
b Bài học kinh nghiệm của Singapore
Chính phủ điện tử được Singapore bắt đầu nghiên cứu và bắt đầu triểnkhai chương trình này một cách bài bản từ ba bốn thập niên trước Sau nhiềunăm triển khai, Singapore đã đạt được những kết quả quan trọng về Chính phủđiện tử
Cũng giống như ở Việt Nam, ở Singapore vào thời gian đầu triển khai rấtnhiều người nghĩ rằng việc triển khai Chính phủ điện tử tập trung chính vàoviệc xây dựng các cổng điện tử (portal), tự động hóa các quy trình quản lý,cung cấp dịch vụ công trực tuyến 24/7 Vì vậy, khi bắt tay vào triển khai họlập tức tiến hành khảo sát, thu thập thông tin rồi tập trung vào thiết kế, lậptrình, trang bị máy móc thiết bị, đào tạo Nhưng thật sự, đó là sự nhầm lẫn vìtựu trung lại đó là các vấn đề kỹ thuật - một thành phần rất nhỏ, thứ yếu củaChính phủ điện tử
Ngay sau khi nhận ra sai lầm đó, Chính phủ Singapore khẳng định, muốntriển khai thành công Chính phủ điện tử thì trước tiên phải xác định thật rõmục tiêu cần phải đạt được, những việc cần làm, các nguồn lực cần huy động,
kế hoạch và lộ trình thực hiện rồi đặt tất cả trong một tổng thể chung Nóicách khác, cần xây dựng tốt kế hoạch tổng thể Chính phủ điện tử (e-government masterplan)
Trang 24Chương 2THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, TP HCM
2.1 Đặc điểm tự nhiên, hành chính và tình hình KT-XH của địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
➢ Đặc điểm về tự nhiên - hành chính
Quận 9 có diện tích tự nhiên là 11.362 ha, nằm về phía Đông thành phố
Hồ Chí Minh, có đường giao thông là Xa lộ Hà Nội và Hương lộ 13, chạysuốt chiều dài quận nối với trung tâm thành phố Hồ Chí Minh và thành phốBiên Hòa Nơi đây có nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn và thú vị như hệ thốngcác Chùa: Chùa Bửu Long; Chùa Phước Long; Chùa Phước Tường Các Khu
du lịch như: Khu du lịch Suối Tiên; Lâu đài Long Island; Vườn cò Hồng Kýthu hút hàng ngàn lượt khách du lịch về Quận 9 mỗi năm
Quận 9 được thành lập theo Nghị định số 03-CP ngày 06/01/1997 của Thủtướng Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ huyện Thủ Đức; được chia làm 13phường với 76 khu phố và 730 tổ dân phố Địa giới hành chính của Quận 9tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau: phía Đông giáp huyện Nhơn Trạch vàhuyện Long Thành quận Đồng Nai, lấy sông Đồng Nai làm ranh giới tự nhiên;phía Tây giáp quận Thủ Đức, lấy Xa lộ Hà Nội làm ranh giới; phía Nam giápQuận 2 và sông Đồng Nai; phía Bắc giáp quận Bình Dương và thành phố BiênHòa quận Đồng Nai
➢ Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Những năm mới thành lập, với xuất phát điểm về kinh tế phần lớn là sảnxuất nông nghiệp, đời sống về vật chất, tinh thần của nhân dân Quận 9 cònkhó khăn, mặt bằng dân trí thấp, kết cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế Sau gần
20 năm hình thành và phát triển, phát huy thế mạnh về đất đai, cảnh quanthiên nhiên cùng với sự quan tâm của Chính quyền Thành phố, hiện nay Quận
Trang 259 đang trên đà phát triển và đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trọng điểm vềkinh tế, xã hội Tính đến nay, trên địa bàn Quận 9 có hơn 100 dự án đã vàđang triển khai thực hiện Đặc biệt là các dự án trọng điểm như: Khu côngnghệ cao; Khu công viên lịch sử văn hóa dân tộc; Đường Cao tốc thành phố
Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; Đường song hành Hà Nội; Đườngvành đai
Ngoài ra kết cấu hạ tầng như cầu đường, trường học, Bệnh viện quận cũngđược đầu tư và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Công tác phòng chốngdịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thực hiện tốt, dịch bệnhđược ngăn chặn kịp thời; các chính sách xã hội được triển khai cơ bản đi vàođời sống xã hội Các chỉ về kinh tế như thu ngân sách nhà nước và thu ngânsách quận luôn đạt và vượt năm sau cao hơn năm trước
2.2 Bối cảnh thực hiện chính sách phát triển CNTT tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phát triển CNTT làmột trong những giải pháp để hiện đại hóa nền hành chính và là công cụ quantrọng trong việc thực hiện cải cách hành chính Việc ứng dụng CNTT trongcải cách hành chính còn được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy kinh
tế - xã hội phát triển, an ninh - quốc phòng… nhất là trong bối cảnh cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0 với mong muốn tạo nên sự công bằng, minh bạch vàhiệu quả trong quản lý điều hành giảm phiền hà cho người dân
2.2.1 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển CNTT nhằm nâng cao hoạt động cải cách hành chính tại Việt Nam
Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, bên cạnh việctích cực, khẩn trương hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC)… thì việc ứng dụng CNTT(CNTT) trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) làmột khâu quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính (CCHC) nhằm thiết
Trang 26lập một nền hành chính năng động, trách nhiệm, hiện đại, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ hiện nay việc ứngdụng CNTT là xu hướng tất yếu từng bước hiện đại hóa nền HCNN của mỗiquốc gia Trên cơ sở đó, hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ,góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của Chính phủ, nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân
và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn
Nhìn một cách tổng thể, việc ứng dụng CNTT, từng bước hiện đại hóanền hành chính đã đạt được một số kết quả khả quan
Thứ nhất, về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước và xây dựng hạtầng CNTT Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo triển khai có hiệuquả các nhiệm vụ ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan HCNN vàtrong cung cấp dịch vụ công (DVC) theo thẩm quyền được giao tại Nghịquyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của chính phủ và quyết định số1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chươngtrình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan của nhà nước.Việc sử dụng chữ ký số trong gửi, nhận văn bản điện tử cũng được các
bộ, ngành, địa phương quan tâm thúc đẩy triển khai tại các đơn vị trực thuộc
Đã có 18 bộ và 53 quận thành phố trực thuộc Trung ương triển khai sử dụngchữ ký số và cung cấp chữ ký số cho trên 75 % số cơ quan, đơn vị trực thuộc.Nhiều nơi đã tích hợp việc sử dụng chữ ký số vào hệ thống thư điện tử, hệthống quản lý văn bản và điều hành để trao đổi văn bản trên môi trường mạnggiữa các cơ quan, đơn vị Nhiều địa phương thực hiện tốt nội dung này, như:
TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quận 9, An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng,Đồng Nai, Quảng Ngã,i Nghệ An, Lâm Đồng
Hệ thống thư điện tử được các bộ, ngành, địa phương triển khai, duy trìhoạt động ổn định và cấp hộp thư cho đa số CBCC để sử dụng trong công
Trang 27việc; Đã có 98,8 % CBCC ở các bộ, ngành và 82 % CBCC ở các quận, thànhphố thường xuyên sử dụng hộp thư điện tử để trao đổi công việc.
Hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành được triển khai tại100% các bộ, ngành và các quận, thành phố trực thuộc trung ương Theothống kê, đến nay có 18 bộ, ngành và 46 quận, thành phố đã triển khai hệthống quản lý văn bản và điều hành dùng chung ở các quy mô khác nhau.Nhằm đảm bảo sự thống nhất, xuyên suốt trong hoạt động gửi, nhận vănbản điện tử giữa các cơ quan nhà nước các cấp, đặc biệt là việc gửi, nhận cácvăn bản quy phạm pháp luật, ngày 12/7/2018 Thủ tướng chính phủ đã banhành quyết định số 28/2018/QĐ-TTg về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữacác cơ quan trong hệ thống HCNN Theo đó các bộ, ngành, địa phương đangtích cực triển khai thực hiện 13 nhóm nhiệm vụ được giao tại Quyết định này,trong đó có những nhiệm vụ quan trọng như: xây dựng trục liên thông vănbản quốc gia; hoàn thiện phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc; xâydựng, hoàn thiện các văn bản, quy định phục vụ gửi nhận, văn bản điện tử;bảo đảm an toàn an ninh, hệ thống và sao lưu văn bản điện tử; tổ chức tậphuấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc
Thứ hai, về cung cấp DVC trực tuyến Theo số liệu thống kê của bộ nội vụnăm 2017, trong 19 bộ và cơ quan ngang bộ được thống kê có 17, bộ cơ quanngang bộ đã triển khai cung cấp DVC trực tuyến mức độ 3 và 4 Theo đó tổng
số DVC được cung cấp dịch vụ trực tuyến mức độ ba là 549 dịch vụ, mức độbốn là 377 dịch vụ Trong số các dịch vụ trên, tỷ lệ DVC có phát sinh hồ sơtrực tuyến là 45,6 phần trăm đối với mức độ 3 là 92,8% đối với mức độ
4 Các bộ, cơ quan có nhiều hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC) được giao dịchtrực tuyến là bộ ngoại giao bộ y tế bộ công thương bộ tài chính bộ kế hoạch
và đầu tư bộ tư pháp bộ thông tin và truyền thông
Tại địa phương có 58/63 quận thành phố cung cấp tổng số 18.830 dịch vụ công trực tuyến mức độ ba và bốn, trong đó dịch vụ công cung cấp trực tuyến
Trang 28mức độ ba là 12.677 dịch vụ mức độ bốn là 1153 dịch vụ Tỷ lệ dịch vụ công
có phát sinh hồ sơ trực tuyến là 81, 67 % so với mức độ ba; 22,63 % đối vớimức độ bốn các địa phương có nhiều hồ sơ thủ tục hành chính được giao trựctuyến là Hà Nội An Giang Đà Nẵng Lâm đồng Ninh Thuận Tiền Giang thànhphố Hồ Chí Minh Hải Phòng
Để đẩy mạnh việc cung cấp DVC trực tuyến, ngày 18/7/2018, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 877/QĐ-TTg ban hành Danh mục DVCtrực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong
2 năm (2018 – 2019) Chất lượng cung cấp DVC trực tuyến cho người dân,doanh nghiệp tại các bộ, ngành, địa phương ngày càng được nâng cao với sốlượng hồ sơ TTHC được xử lý trực tuyến mức độ 3, 4 liên tục tăng, nhất làtrên các lĩnh vực thuế, hải quan, tư pháp
Thứ ba, về xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia làm nền tảng cho xâydựng CPĐT, hiện nay, đã triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinhdoanh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC; ngoài ra, đang triển khai các cơ sở
dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm, tài chính Bên cạnh đó, các bộ,ngành, địa phương đã tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành đểphục vụ công tác quản lý của mình
Có thể nói, việc thực hiện chính sách phát triển CNTT từ các bộ banngành trung ương đến cấp địa phương đã mang lại nhiều tín hiệu tích cựctrong việc nâng cao chất lượng dịch vụ công, cũng như cải cách các thủ tụchành chính gây phiền hà cho người dân và các tổ chức kinh tế xã hội
2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách phát triển CNTT tại các địa phương
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng CNTT tại các địa phương mặc dù có được sự chútrọng đầu tư tuy nhiên thực tế lại bộc lộ sự thiếu đồng bộ, tương thích dẫn đếnmất đi tính liên lạc giữa các bộ phận cũng như hệ thống cơ sở dữ liệu giữa cácphòng ban tại địa phương Thự tế tại các địa phương cho thấy, tại đây chủ yếu
Trang 29chú trọng việc phát triển phần cứng của cơ sở hạ tầng CNTT, chưa chú trọngxây dựng phần mềm quản lý cũng như các ứng dụng thực tiễn nhằm triển khqiviệc ứng dụng CNTT tại cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt hơn việc pháttriển chính phủ điện tử tại các cơ quan ban ngành.
Thứ hai, tại các địa phương còn hiện lên sự thiếu thốn nguồn nhân lực có
kỹ thuật, kiến thức có khả năng khai thác và vận hành cơ sở hạ tầng CNTTvừa được đầu tư Đội ngũ cán bộ quản lý CNTT chưa tương xứng với quátrình hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật Sự bất cập trong đào tạo nguồn cán
bộ chuyên trách, đặc biệt tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, hải đảo Cáccán bộ trực thuộc các địa phương có trình độ CNTT hạn chế chưa theo kịp tốc
độ tăng trưởng của quá trình khai thác CNTT tại địa phương mình
Đã có rất nhiều địa phương phát triển các trung tâm hành chính một cửanhư một xu thế phát triển chung cả nước, tuy nhiên số hồ sơ sử dụng ứngdụng chính phủ điện tử còn rất ít, việc kết nối giữa các phòng ban vẫn còn làdấu hỏi lớn cho trình độ phát triển CNTT Thói quen sử dụng CNTT trong cảicách thủ tục hành chính chưa được hình thành rõ nét, nhiều nơi vẫn theo nếp
cũ, hoặc các qui trình cũ Các bộ quản lý vẫn còn hạn chế trong việc tương tácbằng hệ thống CNTT dẫn đến có hiện tường tồn đọng hồ sơ tại một số địaphương, đặc biệt các địa phương vùng sâu, vùng xa
Ngoài ra, một yếu tố cũng tác động lớn đến việc thực hiện các dịch vụcông tại các địa phương còn hạn chế, ít là do tính động bộ hệ thống CNTT tại
cơ quan quản lý phân cấp còn bất cập Một số địa phương triển khai nâng cấp
hệ thống riêng lẽ, thiếu tính hệ thống và cung cấp bởi các nhà cung ứng khácnhau Thiếu tính cạnh tranh trong mời thầu và đấu thầu Chất lượng hệ thốngCNTT, hệ thống phần cứng về kỹ thuật chưa được cao như kỳ vọng
Theo quan sát tại các địa phương đang triển khai ứng dụng CNTT, việcthiếu lộ trình cũng như kế hoạch thực hiện cũng tạo ra các hiện tượng ch7aquyết liện trong thay đổi qui trình, thủ tục hành chính Việc giám sát quá trình
Trang 30chuyển đổi cũng chưa khách quan, gây nên nhiều hiện tượng tiêu cực trongquá trình triển khai áp dụng CNTT với cải cách thủ tục hành chính Chưa cócác hoạt động truyền thông phù hợp để tuyên truyền cho người dân, các đơn
vị kinh tế xã hội được nắm rõ thông tin Chưa phát huy vai trò lãnh đạo củangười đứng đầu đơn vị trong chỉ đạo thực hiện chuyển đổi hệ thống tại đơn vịmình quản lý
Cuối cùng, hệ thống pháp lý cũng là một trong những mối quan tâm lớn.Hiện tại, chưa có các qui trình thực hiện về kết nối, chia sẽ thông tin, dữ liệugiữa các cơ quan nhà nước Hệ thống quản lý dữ liệu thiếu khoa học và khôngđồng bộ Việc thiếu liên kết này dẫn đến nhiều hệ lụy trong việc xây dựngchính sách phát triển lâu dài Cùng với vấn đề an toàn và an ninh thông tin,việc thực hiện áp dụng CNTT tại cơ quan nhà nước cũng cũng cần được chútrọng hơn, tuy nhiên kinh nghiệm quản lý còn non và thiếu kinh nghiệm dẫnđến đó lá một rào cản kỹ thuật khá lớn cho việc phát triển CNTT tại các địaphương hiện nay
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển CNTT trên địa bàn Quận
9, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020
2.3.1 Thực trạng về thực hiện chính sách phát triển CNTT trên địa
Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 vềphát triển CNTT và đẩy mạnh ứng dụng nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế và phát triển bền vững;
Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 09 tháng 01 năm 2016 của Ủy ban
Trang 31nhân dân Thành phố về kế hoạch chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - vănhóa - xã hội, ngân sách Thành phố và chương trình công tác của Ủy ban nhândân Thành phố năm 2016;
UBND Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức quán triệt sâu sắc Nghịquyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ chính trị về để mạnh ứng dụng
và phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tếtrong toàn Đảng bộ quận; xem xét mục tiêu ứng dụng CNTT trong cải cáchthủ tục hành chính cần gắn liền với việc phát triển kinh tế xã hội của quận vàđịa phương
Trên cơ sở đó UBND thành phố đã phê duyệt, ban hành nhiều văn bảnliên quan khác để chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ đạo
Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu, xây dựng chương trình hành động
số 57-CTr/TU 23/12 ngày 23 tháng 12 năm 2014 và Kế hoạch số UBND ngày 06 tháng 06 năm 2016 để thực hiện chương trình hành động củathành ủy về thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW Chỉ đạo kiện toàn và nângcao hoạt động của Ban chỉ đạo CNTT mà trược tiếp là Sở Khoa học và Côngnghệ, từ đó chỉ đạo kịp thời điều chỉnh việc phát triển CNTT cho phù hợp vớithực tế; kiểm tra đôn đốc, giám sát, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo thành
2929/QĐ-ủy, UBND thành phố về kết quả triển khai thực hiện
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều dự án triển khai áp dụng CNTT tại địa bàncòn gặp nhiều bất cập, một trong những yếu tố gây ra vấn đề này đến từ việcthiếu đồng bộ trong qui trình thực hiện, chậm trễ trong việc giải ngân kinhphí, chưa minh bạch trong việc đấu thầu, mời thầu, giám định thầu các hợpđồng nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT, làm kéo dài dự án triển khai dù
dự án được phê duyệt từ 2015 nhưng đến nay vẫn chưa đem lại hiệu quả trongcông tác quản lý, đổi mới Một số nguyên nhân khác đến từ việc bất cập trongviệc liên lạc giữa các bộ phận, thiếu đồng bộ trong triển khai cơ sở hạ tầngCNTT, kinh phí hạn chế, kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, trình độ và năng
Trang 32lực tiếp nhận của cán bộ chưa đạt các yêu cầu về cải cách hành chính…
Từ thực trạng triển khai CNTT tại địa bàn, một số bài học đã được rút ranhư sau: Việc triển khai ứng dụng CNTT cần có kế hoạch bài bản, rõ ràng, có
sự kế thừa từ hệ thống quản lý cũ, không nên triển khai một cách đột ngột màchưa có sự chuẩn bị kỹ càng về mặt nhân sự, công nghệ, trình độ quản lý Cần
có sự liên kết và liên lạc giữa các phòng ban nhằm nâng cao tích tích hợp vàliên hợp khi triển khai đồng bộ ứng dụng CNTT tại đơn vị; việc triển khai ứngdụng CNTT cần có sự hậu thuẩn từ cơ quan quản lý, các đoàn thể, các cấp ủyđảng nhằm tận dụng tiềm năng của các tổ chức này hổ trợ tích cực cho việchoàn thiện hệ thống ứng dụng CNTT, nâng cao tinh thần học hỏi trong nội bộcác cơ quan hành chính nhà nước, đưa các giá trị của việc ứng dụng CNTTvào đời sống, vào quản lý hành chính nhà nước ngày một tốt hơn
2.3.2 Thực trạng về phân công, phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện chính sách phát triển công nghệ thôn tin tại Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10 năm 2015 củaThủ tướng Chính phủ vê việc “Phê duyệt Chương trình quốc gia vê ứng dụngCNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020” Để tăngcường trách nhiệm của các sở, ngành có liên quan trong việc thực hiện chínhsách phát triển CNTT, UBND quận 9 đã ban hành nhiều quyết định dựa theocác văn bản sau: Căn cứ Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm
2012 của Bộ Chính trị vê xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằmđưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm2020; Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị
vê Phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm2020; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị
vê thúc đẩy ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập