1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM

102 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã góp phần quan trọng trong tổng thu ngân sách Nhà nước, ổn định hơn cán cân thanh toán, giúp đất nước thực hiện nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa – h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Sinh viên thực hiện : Vũ Hoàng Anh

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Trung Vãn

Hà Nội - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 3

1.1 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI 3

1.1.1 Tình hình tiêu thụ dầu thô 3

1.1.2 Tình hình sản xuất dầu thô 6

1.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu dầu thô trên thế giới 9

1.1.4 Tình hình giá cả dầu thô thế giới thời gian gần đây 14

1.1.5 Dự báo thị trường dầu thô thế giới trong những năm tới 14

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU 15

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2.2 Các bước xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu 20

1.2.3 Tổ chức thực hiện các chiến lược Marketing 29

1.2.4 Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA 33

2.1 KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA 33

2.1.1 Trữ lượng và chiến lược khai thác dầu thô của Việt Nam 33

2.1.2 Thực trạng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam thời gian qua 35

2.2 THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM 39

2.2.1 Thực tế phân tích SWOT ngành dầu khí Việt Nam 39

2.2.2 Đặc điểm một số thị trường xuất khẩu dầu thô chủ yếu của Việt Nam 45

2.2.3 Chiến lược Marketing trong xuất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam 49

Trang 3

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG

HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM 63

2.3.1 Những kết quả nổi bật 63

2.3.2 Những tồn tại chủ yếu 64

2.3.3 Nguyên nhân chính của những tồn tại trên 65

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 67

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 67

3.1.1 Một số quan điểm trong định hướng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 67

3.1.2 Những định hướng chủ yếu trong chiến lược Marketing xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 71

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC MARKETING 76

3.2.1 Nhóm giải pháp về hoạt động thăm dò khai thác 76

3.2.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường và cơ cấu thị trường 76

3.2.3 Nhóm giải pháp đảm bảo cơ cấu sản phẩm hợp lý 79

3.2.4 Nhóm giải pháp về chất lượng và giá cả trong cạnh tranh 82

3.2.5 Nhóm giải pháp xúc tiến thương mại 85

3.2.6 Nhóm các giải pháp khác 88

3.3 KIẾN NGHỊ 89

3.3.1 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu dầu thô 89

3.3.2 Đối với Nhà nước 91

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1 Tiêu thụ dầu thô theo khu vực giai đoạn 2000-2007 3 Bảng 1.2 Mức tiêu thụ dầu thô của thế giới năm 2008 4 Bảng 1.3 Tiêu thụ dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007 5 Bảng 1.4 Sản xuất dầu thô của thế giới và các khu vực 7 Bảng 1.5 Sản xuất dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007 8 Bảng 1.6 Nhập khẩu dầu thô của thế giới và các khu vực 10 Bảng 1.7 Nhập khẩu dầu thô của 10 nước lớn nhất thế giới năm 2007 11 Bảng 1.8 Xuất khẩu dầu thô của thế giới và khu vực giai đoạn 2000-2007 12 Bảng 1.9 Xuất khẩu dầu thô của các nước OPEC những năm 2000-2007 13

Bảng 2.2 Đặc tính kỹ thuật các chủng loại dầu thô Việt Nam 58

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Dầu thô hay dầu mỏ, nguồn năng lượng quý hiếm số một trên thế giới, hiện nay đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi một quốc gia và cũng là tiêu điểm chính trị, ngoại giao trên thế giới Các nước công nghiệp phát triển có nhu cầu lớn về dầu thô thường cố gắng bù đắp những thiếu hụt bằng nguồn tài chính nhập khẩu khổng lồ của mình, trong khi các nước đang phát triển lại coi công nghiệp dầu mỏ là công cụ phát triển kinh tế

Việt Nam được đánh giá là nước có trữ lượng dầu thô lớn thứ 3 trong khu vực và thứ 31 trên thế giới với tổng trữ lượng trên 4,3 tỷ tấn dầu quy đổi

Từ năm 1987 đến nay, trị giá xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đạt 37,7 tỷ USD, khối lượng là 184,2 triệu tấn Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã góp phần quan trọng trong tổng thu ngân sách Nhà nước, ổn định hơn cán cân thanh toán, giúp đất nước thực hiện nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và thực hiện được các mục tiêu chiến lược của quốc gia Thực tế, trong hoạt động xuất khẩu dầu thô, vấn đề thị trường và lựa chọn chiến lược Marketing sao cho phù hợp là nội dung quyết định Trước những diễn biến phức tạp của thị trường dầu thô trên thế giới hiện nay cũng như chiến lược phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên quốc gia của Nhà nước ta, xuất khẩu dầu thô Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, đặc biệt

là những thách thức cho sự phát triển tối ưu

Ý thức được tình hình đó, em quyết định chọn đề tài: “ Thị trường dầu thô thế giới và chiến lược Marketing trong kinh doanh xuất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình Khóa luận được kết

cấu theo 3 chương như sau:

Trang 6

Chương 1: Tổng quan thị trường dầu thô thế giới và lý luận chung về chiến lược Marketing xuất khẩu

Chương 2: Thực trạng chiến lược Marketing trong kinh doanh xuất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam những năm qua

Chương 3: Định hướng và giải pháp cho chiến lược Marketing trong kinh doanh xuất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam những năm tới

Do những hạn chế về mặt thời gian, về tài liệu và về khả năng bản thân người thực hiện, nội dung khóa luận khó tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô giáo trong trường cũng như thầy giáo hướng dẫn trực tiếp, PGS.TS Nguyễn Trung Vãn, và

xin chân thành biết ơn

Trang 7

CHƯƠNG 1 :

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU

1.1 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI

1.1.1 Tình hình tiêu thụ dầu thô

1.1.1.1 Mức tiêu thụ của toàn thế giới những năm qua

Nghiên cứu tình hình tiêu thụ dầu thô chính là xem xét cụ thể lượng cầu

về mặt hàng này Nhìn chung từ năm 1983 đến nay lượng tiêu thụ dầu thô toàn thế giới tăng đều qua các năm Để có thể đánh giá chi tiết hơn tình hình, chúng ta tiếp tục xem xét lượng tiêu dùng dầu thô theo từng khu vực từ năm

2000 trở lại đây qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Tiêu thụ dầu thô theo khu vực giai đoạn 2000-2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Bắc Mỹ 23,5 23,6 23,7 24,1 25,4 25,6 25,4 25,5

Mỹ Latinh 4,9 5,1 5,0 4,8 4,9 5,1 5,2 5,5 Châu Âu- Đông

Âu

19,6 19,7 19,7 19,9 20,1 20,3 20,5 20,2

Trung Đông 4,7 4,8 5,1 5,2 5,5 5,7 6,0 6,2 Châu Phi 2,5 2,5 2,5 2,6 2,6 2,8 2,9 3,0 Châu Á - TBD 21,1 21,2 21,9 22,7 24,0 24,4 24,9 25,5 Thế giới 76,3 76,9 77,9 79,3 82,5 83,9 84,9 85,9

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Trang 8

Bảng trên cho thấy, tiêu thụ dầu trong 8 năm kể từ năm 2000 đến nay khá ổn định và có xu hướng tăng dần qua các năm Hai khu vực tiêu thụ dầu thô chính trên toàn thế giới là Bắc Mỹ và Châu Á – TBD, đến năm 2007, cả hai khu vực này có mức tiêu thụ gần bằng nhau và chiếm hơn 50% tổng tiêu thụ dầu thô toàn cầu Đứng thứ ba là Châu Âu và các nước Đông Âu với lượng tiêu thụ 20,2 triệu thùng một ngày vào năm 2007 Tiếp theo đó là khu vực Trung Đông với lượng tiêu thụ 6,2 triệu thùng / ngày Mỹ Latinh khiêm tốn với vị trí thứ 5 – 5,5 triệu thùng / ngày Và tiêu thụ ít dầu thô nhất thế giới

là khu vực Châu Phi với con số 3 triệu thùng / ngày

Trong năm 2008, dưới ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tiêu dùng về dầu mỏ có nhiều biến động Cụ thể biểu hiện qua từng quý trong năm như sau:

Bảng 1.2 Mức tiêu thụ dầu thô của thế giới năm 2008

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Thời gian Quý 1/2008 Quý 2/2008 Quý 3/2008 Quý 4/2008 Tổng tiêu dùng

dầu thô toàn cầu

Nguồn: OPEC Bullentin 11 – 12/2008

Theo bảng trên, lượng tiêu thụ dầu thô trong quý 2 và quý 3 năm 2008 giảm so với năm 2007 Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1983 đến nay, cầu trên thị trường dầu thô bị giảm Tuy nhiên, bình quân lượng tiêu thụ năm 2008 là 86,2 vẫn tăng so với năm 2007

1.1.1.2 Mức tiêu thụ của những nước chủ yếu

Có một nhận xét rằng cường độ tiêu thụ dầu thô ở các nước hiện nay bị thu hẹp nhiều so với năm 1970 Nguyên nhân chủ yếu là do các sức ép từ nhiều phía như: dầu thô là nguồn tài nguyên có hạn nên trữ lượng dầu đang ngày càng cạn kiệt, các nước xuất khẩu dầu thô buộc phải tính toán lại lượng

Trang 9

bán, mức giá và mức lợi nhuận hàng năm nhằm sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên quý hiếm không tái sinh này, đồng thời giảm thiểu những rủi ro kinh

tế, kỹ thuật và chính trị trong buôn bán dầu…

Dưới đây là tình hình tiêu thụ dầu thô của những nước chủ yếu năm 2007:

Bảng 1.3 Tiêu thụ dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Bảng 1.3 thống kê 10 nước tiêu thụ dầu thô lớn nhất thế giới năm

2007, trong đó, Mỹ đứng đầu và vượt xa các nước còn lại với con số 20,69 triệu thùng/ngày; gần gấp 3 nước tiêu thụ nhiều thứ hai là Trung Quốc với 7,85 triệu thùng/ngày Điều này rất dễ hiểu, vì nhu cầu tiêu thụ dầu của Mỹ trên thực tế là rất lớn, phải thỏa mãn cho nền kinh tế với GDP đạt 13.811 tỷ

Trang 10

USD, chiếm 25,4% tổng GDP toàn cầu năm 2007 Nước tiêu thụ dầu lớn thứ

ba thế giới là Nhật Bản Do khả năng tự cung tự cấp trong nước hầu như không đáng kể cho nên Nhật Bản phải dựa hầu hết vào nhập khẩu Với GDP xếp thứ hai thế giới năm 2007, đạt 4.376 tỷ cùng một nền công nghiệp hiện đại, Nhật Bản đang là nước đi đầu trong việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này Ấn Độ năm 2007, với lượng tiêu thụ là 2,74 triệu thùng/ngày, đã vượt Nga, Đức lên xếp vị trí thứ tư Bên cạnh đó, Hàn Quốc, Canada, Brazil hay Ả Rập Saudi cũng là những thị trường tiêu thụ dầu thô đáng kể trên thế giới trong những năm qua (Bảng 1.3)

1.1.2 Tình hình sản xuất dầu thô

1.1.2.1 Mức sản lƣợng trên toàn thế giới

Dầu thô là dạng lỏng hỗn hợp của hydrocarbon đã được khai thác từ những mỏ dầu ở dưới lòng đất, nhờ công nghệ khoan và hút để đưa lên khỏi giếng dầu Dạng hỗn hợp tự nhiên đầu tiên thu được này, theo quá trình công nghệ, được đưa vào các bể chứa tại cảng dầu hay các tàu dầu lớn, sau đó qua

hệ thống ống dẫn dầu được chuyển đến nhà máy lọc dầu và chế biến ra các dạng sản phẩm dầu Như vậy, sản lượng và chất lượng dầu thô khai thác được

từ mỏ dầu sẽ quyết định công suất của mỗi nhà máy lọc dầu cũng như chất lượng của các chế phẩm từ dầu, quyết định quy mô toàn ngành công nghiệp dầu của mỗi nước Nghiên cứu mức sản lượng dầu thô là cơ sở cho việc phân tích khả năng cung cấp và thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ cho việc phát triển kinh

tế của các nước trên thế giới

Bảng 1.4 dưới đây cho thấy, đến năm 2007, sản xuất dầu thô trên thế giới tương đối ổn định, không có nhiều biến động Khu vực sản xuất chính vẫn là khu vực Trung Đông với sản lượng 25,5 triệu thùng/ngày, chiếm 30,8% sản lượng toàn cầu Tiếp đến là Châu Âu và Đông Âu với sản lượng 17,8 triệu thùng/ngày Bắc Mỹ xếp thứ ba với con số 13,7 triệu thùng/ngày

Trang 11

Châu Phi sản lượng 10,3 triệu thùng xếp thứ tư Cuối cùng là khu vực Châu

Mỹ Latin với sản lượng 6,6 triệu thùng

Bảng 1.4 Sản xuất dầu thô của thế giới và các khu vực

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Bắc Mỹ 13,9 13,9 14,1 14,2 14,1 13,7 13,7 13,7

Mỹ Latin 6,8 6,7 6,6 6,3 6,7 6,9 6,8 6,6 Châu Âu-Đông

Âu

15,0 15,4 16,3 17,0 17,6 17,5 17,6 17,8

Trung Đông 23,5 23,0 21,6 23,3 24,8 25,4 25,6 25,2 Châu Phi 7,8 7,9 8,0 8,4 9,3 9,8 10,0 10,3 Châu Á - TBD 7,9 7,9 7,9 7,8 7,8 7,9 7,9 7,9 Thế giới 74,9 74,8 74,5 77,0 80,3 81,2 81,6 81,5

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

So sánh với nhu cầu tiêu dùng dầu thô ở phần trên, có thể thấy nét nổi bật nhất trên thị trường dầu thô của thế giới hiện nay chính là mâu thuẫn giữa cung và cầu Trong khi mức tiêu thụ phải tăng kịp với mức tăng trưởng kinh

tế của hàng loạt nước, thì quy mô sản xuất và xuất khẩu lại bị hạn chế vì trữ lượng dầu ngày càng cạn kiệt nhanh và vì bản thân các nước xuất khẩu muốn điều tiết sản xuất nhằm thiết lập quan hệ cung cầu, giá cả có lợi nhất cho mình đồng thời tiết kiệm tài nguyên quý hiếm đó

1.1.2.2 Những nước sản xuất chính

Những nước này chia thành hai khối: các nước OPEC và các nước ngoài OPEC Trong các nước ngoài OPEC lại chia làm hai: các nước thuộc Liên Xô cũ và các nước còn lại

Hiện nay, các nước OPEC chiếm khoảng 43% tổng sản lượng khai thác dầu thô thế giới Sản xuất của OPEC tập trung chủ yếu vào năm quốc gia: Ả Rập Saudi, Iran, các tiểu Vương quốc Ả Rập, Kuwait và Iraq Năm nước này

Trang 12

chiếm 2/3 sản lượng của OPEC Dưới đây là bảng 10 nước sản xuất dầu nhiều nhất 2007 (Bảng 1.5):

Bảng 1.5 Sản xuất dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Như vậy, năm nước thành viên OPEC nói trên đóng vai trò lớn trong sản xuất và xuất khẩu dầu của thế giới Đứng đầu là Ả Rập Saudi với sản lượng 10,4 triệu thùng/ngày Tiếp theo là Nga và Mỹ với sản lượng lần lượt là 9,9 và 6,8 triệu thùng/ngày

Những năm gần đây, sản lượng của các nước ngoài OPEC liên tục tăng khá rõ nét Đặc điểm sản xuất của các nước ngoài OPEC là sản lượng khó có khả năng tăng lớn Hiện này sản lượng của các nước này khoảng 33,5 triệu

Trang 13

thùng/ngày, chiếm 41% tổng sản lượng toàn thế giới, giữ vai trò quan trọng không kém Tuy sản lượng khai thác của các nước OPEC là nguồn cung cấp chủ yếu của thế giới, nhưng các nước này thường không thật ổn định về chính trị, kinh tế, gây nên sự mâu thuẫn nội bộ làm cho tình hình cung cấp và giá cả dầu cũng không ổn định Trong tình hình đó, vai trò của các nước ngoài OPEC càng trở nên quan trọng, đảm bảo cho thị trường dầu mỏ thể giới giảm bớt những biến động bất lợi

1.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu dầu thô trên thế giới

1.1.3.1 Tình nhập khẩu dầu thô

Dầu thô là mặt hàng có khối lượng giao dịch rất lớn trong thương mại quốc tế Đơn cử năm 2007, mức nhập khẩu hiện vật đạt 43,7 triệu thùng/ngày

Thương mại dầu thô thế giới cũng mang tính chính trị rõ nét Nhà nước thường tác động mạnh đến buôn bán dầu thô nhằm đảm bảo kịp thời cho an ninh năng lượng và an ninh xã hội, quốc phòng, đặc biệt là thể chế chính trị

Nhập khẩu dầu thô tập trung chủ yếu ở các nền kinh tế lớn, trước hết thuộc khu vực phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, Châu Á – TBD

Những dữ liệu theo bảng 1.6 cho thấy:

- Tổng nhập khẩu dầu thô của thế giới trong 8 năm qua đã tăng từ 36,96 lên 43,72 triệu thùng/ngày, mức tăng đạt 12,2% Tình hình nhập khẩu diễn ra trong bối cảnh các nước xuất khẩu đã hạn chế mức cung cấp, còn các nước nhập khẩu buộc phải tiết kiệm tiêu dùng dầu thô và tìm mọi cách thay thế bằng các loại năng lượng khác

Trang 14

Bảng 1.6 Nhập khẩu dầu thô của thế giới và các khu vực

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Bắc Mỹ 9,98 10,24 10,00 10,54 10,98 11,02 10,94 10,85

Mỹ Latin 1,86 1,83 1,85 1,87 1,95 1,93 1,94 1,94 Đông Âu 0,97 0,97 0,95 0,96 1,01 1,09 1,17 1,20 Tây Âu 11,48 11,51 11,42 11,76 12,11 12,03 11,81 11,67 Trung Đông 0,49 0,48 0,49 0,50 0,50 0,50 0,51 0,51 Châu Phi 0,76 0,73 0,73 0,72 0,87 0,91 0,89 0,91 Châu Á - TBD 13,39 13,13 12,95 13,89 14,85 15,53 16,10 16,62 Thế giới 38,96 38,91 38,41 40,27 42,30 43,04 43,38 43,72

Nguồn:http://www.opec.org/library/

- Châu Á – TBD là khu vực nhập khẩu dầu thô đứng đầu thế giới, với 16,62 triệu thùng/ngày trong năm 2007, chiếm 38% tổng nhập khẩu của thế giới Đứng thứ hai là Tây Âu, chiếm 26,7% và Bắc Mỹ đứng thứ ba, chiếm 24,8% Tổng ba khu vực này chiếm 89,5% nhập khẩu dầu toàn cầu Như vậy, nói đến nhập khẩu dầu thô trước hết phải nói đến ba khu vực này

- Bốn khu vực khác chỉ chiếm tỷ trọng nhập khẩu nhỏ bé, trong đó

Mỹ Latin chiếm 4,4%, Đông Âu: 2,7%, Châu Phi: 2,0% và Trung Đông, khu vực nhập khẩu ít nhất , chỉ chiếm 1,2%

Bảng 1.7 cho thấy 10 nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu dầu thô năm 2007:

Trang 15

Bảng 1.7 Nhập khẩu dầu thô của 10 nước lớn nhất thế giới năm 2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Nguồn: Annual Statistical Bullentin 2007

Như vậy, Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu cũng như tiêu dùng dầu thô Tổng nhập khẩu dầu thô của Mỹ năm 2007 là 10,01 triệu thùng/ngày, chiếm gần 25% nhập khẩu toàn cầu, gần gấp 3 Nhật Bản là nước nhập khẩu dầu thô lớn thứ nhì thế giới với 3,98 triệu thùng/ngày Trung Quốc

từ vị trí số năm vào năm 2003, đã vượt lên thành nước nhập khẩu dầu thô thứ

ba thế giới Ở vị trí thứ tư là Ấn Độ với lượng nhập khẩu 2,40 triệu

thùng/ngày Theo sau đó lần lượt là Hàn Quốc, Đức, Ý, Pháp, Singapore và Tây Ban Nha vốn là những nền kinh tế phát triển truyền thống và các nền kinh tế mới nổi với tốc độ tăng trưởng cao

1.1.3.2 Tình hình xuất khẩu dầu thô trên thế giới

Năm 2007, mức xuất khẩu dầu thô của thị trường toàn cầu đạt 44,83 triệu thùng/ngày so với 38,79 triệu thùng/ngày năm 2000

Trang 16

Bảng 1.8 Xuất khẩu dầu thô của thế giới và khu vực giai đoạn 2000-2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Bắc Mỹ 1,23 1,16 1,17 1,25 1,37 1,37 1,39 1,42

Mỹ Latin 4,90 4,81 4,47 4,52 4,60 4,73 4,90 5,16 Đông Âu 4,14 4,59 5,58 6,48 7,30 7,72 8,19 8,55 Tây Âu 4,99 4,88 4,79 4,41 4,26 3,64 3,76 3,91 Trung Đông 16,08 15,23 13,79 14,59 16,38 16,89 16,94 16,96 Châu Phi 5,20 5,09 5,12 5,76 6,38 6,48 6,58 6,88 Châu Á –

TBD 2,23 2,27 2,33 2,09 2,00 1,96 1,87 1,92 Thế giới 38,79 38,06 37,28 39,12 42,32 42,83 43,66 44,83

Nguồn:http://www.opec.org/library/

Cùng với sự phát triển trì trệ của xuất khẩu dầu thô thế giới trong 2 năm 2001, 2002, lượng xuất khẩu dầu thô còn rất không đều giữa các khu vực Trung Đông vẫn là khu vực xuất khẩu dầu thô lớn nhất, năm 2007 đạt 16,96 triệu thùng/ngày, chiếm 37,8% tổng xuất khẩu dầu thô toàn cầu Ngoài

ra, khu vực xuất khẩu lớn thứ hai cần được quan tâm, đó là Đông Âu với mức 8,55 triệu thùng/ngày, chiếm 19% tổng xuất khẩu toàn cầu (Bảng 1.8) Trong

số 8,55 triệu thùng này của Đông Âu, hầu hết là của Liên Xô cũ, chính xác hơn là của Liên bang Nga bởi lẽ trữ lượng dầu của Nga chiếm tới hơn 80% trong toàn bộ trữ lượng của Liên Xô Như vậy khi nói tới xuất khẩu dầu thô, không thể không nhắc đến Liên bang Nga

Cần lưu ý rằng, Trung Đông vẫn chưa phải trung tâm quyết định nhất trong xuất khẩu dầu thô của thế giới OPEC mới thực sự đóng vai trò quyết định này bởi vì OPEC bao gồm 12 nước thành viên cho đến thời điểm hiện nay, trong đó có 6 nước ở Trung Đông, 2 nước Châu Mỹ Latin và 4 nước

Trang 17

Châu Phi, 28/5/2008 Indonesia đã tuyên bố rút khỏi OPEC khi hết hạn tư cách thành viên vào cuối năm

Bảng 1.9 dưới đây cho thấy tình hình xuất khẩu dầu thô của OPEC giai đoạn từ 2000-2007:

Bảng 1.9 Xuất khẩu dầu thô của các nước OPEC những năm 2000-2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Algeria 0,46 0,44 0,56 0,74 0,89 0,97 0,94 1,25 Angola 0,74 0,69 0,84 0,82 0,94 0,95 1,01 1,15 Ecuador 0,25 0,26 0,24 0,27 0,37 0,38 0,37 0,34 Indonesia 0,62 0,60 0,64 0,43 0,41 0,37 0,30 0,32 Iran 2,49 2,18 2,09 2,39 2,68 2,39 2,37 2,46 Iraq 2,03 1,71 1,49 0,38 1,45 1,47 1,46 1,64 Kuwait 1,23 1,21 1,13 1,24 1,41 1,65 1,72 1,61 Lybian 1,00 0,98 0,98 1,12 1,28 1,30 1,42 1,37 Nigeria 1,98 2,01 1,79 2,16 2,35 2,32 2,24 2,14 Qatar 0,61 0,60 0,56 0,54 0,54 0,67 0,62 0,61

Ả Rập Saudi 6,25 6,03 5,28 6,52 6,81 7,20 7,02 6,96 Các tiểu vương

quốc Ả Rập 1,81 1,78 1,61 2,04 2,17 2,19 2,42 2,34 Venezuela 2,00 1,96 1,57 1,53 1,56 1,78 1,92 2,11 OPEC 21,52 20,49 18,84 20,22 22,90 23,69 23,86 24,35

Nguồn: Annual Statistical Bullentin 2007

Năm 2007, lượng xuất khẩu của OPEC đạt 24,35 triệu thùng/ngày chiếm hơn ½ tổng xuất khẩu dầu thô toàn cầu, nếu so với năm 2000 thì vẫn tăng tuyệt đối nhưng lại giảm về tương đối (tỷ trọng)

Hiện nay OPEC chiếm tới hơn 40% sản xuất và hơn 50% xuất khẩu dầu thô của thế giới Hơn nữa, quan hệ cung cầu dầu thô lại đang có nhiều lợi thế cho nhà cung cấp

Trang 18

Một khi có mục tiêu chiến lược đúng đắn và sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ các thành viên, OPEC càng củng cố vững chắc hơn vai trò quyết định cung cầu và biến động giá cả trên thị trường dầu thô thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả cho việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu của mình

1.1.4 Tình hình giá cả dầu thô thế giới thời gian gần đây

Giá dầu thô biến động theo sát tình hình kinh tế thế giới, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, thời tiết, khí hậu, đầu cơ, chiến tranh, xung đột xã hội…

Nhìn chung, từ năm 2000 đến nay, giá dầu không còn ổn định như trước nữa Năm 2008 là năm điển hình của sự bất ổn, mức biến động giá dầu lớn và đạt kỷ lục chỉ trong một thời gian ngắn Biểu đồ giá dầu thế giới 2008

có hình chóp nhọn, thể hiện thị trường dầu thế giới 2008 theo hai giai đoạn: trước và sau ngày 11/7 – thời điểm giá dầu thô ngọt nhẹ tại thị trường New York đạt đỉnh 147,27 USD/thùng [14]

Sau khi tăng liên tục từ giữa năm 2007, giá dầu vào đầu năm 2008 tăng quá mốc 100 USD/thùng – mốc giá cao nhất kể từ năm 1983 đến nay Kể từ đó, giá dầu liên tiếp tăng đến đỉnh (147,27 USD/thùng) nhưng ngay sau ngày lập đỉnh, giá dầu thế giới lại bắt đầu một quá trình giảm mạnh; chỉ trong vòng khoảng 4 tháng, giá dầu đã giảm đi tới 100 USD/thùng tương đương hơn 70%

Khi giá dầu giảm xuống dưới mức 100 USD/thùng hồi đầu tháng 9 năm

2008, OPEC đã tìm cách giữ giá dầu ở mức 75 USD/thùng Tuy nhiên, sang đầu tháng 12, giá dầu chỉ còn 40 USD/thùng OPEC dường như đang bó tay trong việc ngăn đà giảm của giá dầu

Cùng với khủng hoảng tài chính, giá dầu giảm mạnh đang trở thành yếu

tố xấu đối với kinh tế nhiều nước

1.1.5 Dự báo thị trường dầu thô thế giới trong những năm tới

Theo nguyên lý cơ bản của Marketing, mọi hoạt động kinh doanh đều phải xuất phát từ nhu cầu thị trường Muốn thành công, doanh nghiệp phải đi

Trang 19

tìm nhu cầu và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu đó của thị trường Chính vì vậy, nhất thiết cần phải dự báo cho được xu hướng vận động của thị trường dầu thô trong tương lai để có cơ sở cho việc xây dựng định hướng và giải pháp xuất khẩu dầu thô

Trong những năm tiếp theo, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, cầu về dầu thô được dự đoán là sẽ tiếp tục giảm song không có gì là đảm bảo cho những dự đoán này Dự báo thị trường giá cả thực sự không đơn giản nói chung và dự báo giá dầu càng không đơn giản nói riêng, đặc biệt là sau những biến động trong năm 2008 Đã có nhiều dự báo giá dầu nhưng không đạt độ chính xác mong muốn Dường như các chuyên gia dự báo giá dầu vẫn chưa tiếp cận được đầy đủ thực tiễn biến động phong phú với quá nhiều đột biến tưởng chừng không theo quy luật nào cả trên thị trường giá cả dầu

Tuy nhiên có thể nhấn mạnh 3 điểm cơ bản sau:

- Dầu thô trước hết là hàng tư liệu sản xuất, đồng thời cũng là hàng tư liệu tiêu dùng, là tài nguyên quý thuộc nhu cầu tối thiết của tất cả các nước trên thế giới trong nền kinh tế dầu

- Thị trường giá cả dầu thô chịu tác động của rất nhiều yếu tố: kinh tế,

kỹ thuật, thời tiết, môi trường, xã hội, đặc biệt là yếu tố chính trị, cho nên là thị trường siêu nhạy cảm

- Trong tương lai, quan hệ biến động cung cầu và giá cả của thị trường dầu thô vẫn sẽ vận động theo xu hướng tăng, có lợi cho nhà xuất khẩu

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƢỢC MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm Marketing và Marketing trong kinh doanh xuất khẩu

a) Khái niệm về Marketing

Hiện nay trong các tác phẩm về marketing trên thế giới, có đến 2000 định nghĩa Marketing Tuy nhiên, các định nghĩa ấy về thực chất không khác

Trang 20

nhau lắm và điều lý thú là chưa có định nghĩa nào được coi là duy nhất đúng, bởi lẽ các tác giả của các định nghĩa về marketing đều có quan điểm riêng của mình Có thể nêu ra một vài định nghĩa của những tổ chức và cá nhân tiêu biểu: [6]

- Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng”

- Theo Viện Marketing của Anh: “Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ việc phát hiện ra sức mua và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến việc sản xuất và đưa hàng đến người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận dự kiến”

- Theo Giáo sư Mỹ Philip Kotler: “Marketing – đó là một hình thức hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng nhu cầu thông qua trao đổi”

- Một công ty của Anh quốc đã định nghĩa: “Marketing – đó là quy trình công nghệ giúp cho công ty thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng

và thu được lợi nhuận mong muốn”

- Năm 1957, John Mekeherick, lúc đó là chủ tịch công ty General Electric đã coi Marketing như một triết lý kinh doanh mà tiêu điểm của nó là người tiêu dùng và lợi nhuận

Như vậy, có thể nói, Marketing là bán cái thị trường cần, chứ không phải bán cái mình có

b) Khái niệm và bản chất của Marketing quốc tế trong kinh doanh xuất khẩu

Về Marketing quốc tế, có nhiều khái niệm khác nhau Theo Gerald Albaum, Marketing quốc tế là một hoạt động kinh doanh bao gồm việc lập kế hoạch, xúc tiến, phân phối và quyết định giá những hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn những mong muốn của các trung gian và người tiêu dùng cuối cùng ngoài biên giới quốc gia Còn Joel Revans thì cho rằng Marketing quốc tế là

Trang 21

Marketing về hàng hóa và dịch vụ ở bên ngoài biên giới quốc gia của doanh nghiệp Đối với Ld Dahringer, Marketing quốc tế là sự áp dụng cùng một chiến lược Marketing hỗn hợp trên phạm vi hơn một thị trường quốc gia Một định nghĩa khác về Marketing quốc tế là hoạt động Marketing vượt qua phạm

vi biên giới của từng quốc gia cụ thể

Những định nghĩa và khái niệm trên đây về Marketing quốc tế đều có một điểm chung là khẳng định sự giống nhau về nguyên tắc, quy trình và nội dung cơ bản của Marketing nội địa và Marketing quốc tế, đồng thời chỉ rõ sự khác biệt cơ bản về phạm vi và môi trường mà ở đó chúng được áp dụng

Marketing quốc tế bao gồm những hoạt động như nghiên cứu, phân tích

và dự báo thị trường nước ngoài; làm sao thích ứng cung với cầu của thị trường; tác động đến nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu

Trong hoạt động xuất khẩu, khái niệm về Marketing quốc tế được hiểu với nghĩa hẹp hơn theo Marketing xuất khẩu Có thể nói, Marketing xuất khẩu

là sự phát triển chuyên sâu của Marketing quốc tế trong lĩnh vực xuất khẩu

Marketing xuất khẩu là tiến trình kế hoạch và phối hợp thành công các yếu tố: sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến để đưa hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất đến thị trường thế giới nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp xuất khẩu

Từ những khái niệm về Marketing và Marketing xuất khẩu, chúng ta có thể rút ra bản chất của Marketing xuất khẩu như sau: [16]

Một là, Marketing xuất khẩu đáp ứng những nhu cầu của người tiêu

dùng nước ngoài

Hai là, các hoạt động Marketing xuất khẩu đều hướng đến khách hàng

nước ngoài, cho nên khi ứng dụng Marketing xuất khẩu phải bắt đầu từ nghiên cứu môi trường thị trường nước ngoài để từ đó xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu thích hợp

Trang 22

Ba là, môi trường hoạt động của Marketing xuất khẩu ở từng nước

khác nhau nên không thể áp dụng toàn bộ chiến lược Marketing ở thị trường trong nước cho thị trường nước ngoài mà phải thích ứng phù hợp với từng khu vực thị trường nhất định

Bốn là, Marketing xuất khẩu nhấn mạnh đến hoạt động thâm nhập vững

chắc vào thị trường thế giới bằng các chiến lược sản phẩm bền vững, chiến lược giá, phân phối và xúc tiến Qua đó các hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển trên thị trường thế giới và đạt được mục tiêu đề ra

Nếu như Marketing xuất khẩu trở nên cần thiết với tất cả các quốc gia, các công ty, hoạt động của Marketing xuất khẩu cũng chịu tác động của nhiều nhân tố khác như thị trường và môi trường của nó; lĩnh vực sản xuất; chiến lược xuất khẩu của quốc gia hay công ty với hai vấn đề trọng yếu khác là lựa chọn thị trường và đánh giá mức độ thích ứng của sản phẩm

1.2.1.2 Khái niệm chiến lƣợc Marketing và chiến lƣợc Marketing xuất khẩu

a) Chiến lược Marketing

Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan đến việc lựa chọn các phương tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định Chiến lược cũng có thể được định nghĩa thông qua một loạt các nhân tố như là các nhiệm vụ, việc lựa chọn các lĩnh vực hoạt động, sự bổ sung giữa các nguồn lực, các phương tiên hoạt động và chiến thuật, các ưu tiên và

sự chuẩn bị cho các tình huống bất ngờ nhằm hoàn thành các nhiệm vụ đề ra

Có ba cấp độ chiến lược là chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp đơn

vị kinh doanh và chiến lược chức năng Chiến lược Marketing là chiến lược chức năng

Chiến lược Marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý, làm căn

cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức, tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ

Trang 23

Marketing của mình Nó bao gồm những chiến lược cụ thể đối với các thị trương mục tiêu, đối với phức hệ Marketing và mức chi phí cho Marketing

Mục tiêu hàng đầu của chiến lược Marketing là phân bổ có hiệu quả, phối hợp các nguồn lực Marketing và các hoạt động để hoàn thành mục tiêu trong thị trường – sản phẩm cụ thể Do vậy, những quyết định về phạm vi chiến lược Marketing liên quan đến xác định phân đoạn thị trường mục tiêu, dòng sản phẩm cung, Kế đến là xác định lợi thế cạnh tranh và nguồn lực thông qua chương trình Marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến) được thiết kế cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở thị trường mục tiêu [9]

b) Chiến lược Marketing xuất khẩu

Các doanh nghiệp ngoại thương phải lập chiến lược Marketing xuất khẩu cho sản phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài Quá trình hình thành, thực hiện và kiểm tra chiến lược Marketing xuất khẩu cũng tuân thủ các bước[16]:

 Hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu:

Trên cơ sở phân tích môi trường bên trong, bên ngoài mà hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu cho sản phẩm phù hợp với từng thị trường mục tiêu đã chọn, cụ thể là:

- Trước hết, đánh giá và chọn thị trường mục tiêu xuất khẩu

- Kế đến, hoạch định phương thức thâm nhập thị trường mục tiêu đó

- Sau cùng, hoạch định chiến lược Marketing hỗn hợp cho sản phẩm xuất khẩu (sản phẩm, định giá, phân phối, xúc tiến)

 Thực hiện và kiểm tra chiến lược Marketing xuất khẩu:

- Trên cơ sở chiến lược Marketing xuất khẩu được đề ra, các doanh nghiệp tiến hành tổ chức thực hiện chiến lược thông qua các nguồn lực

Trang 24

- Kiểm tra chiến lược Marketing xuất khẩu nhằm đánh giá những việc

đã làm được và chưa làm được của chiến lược, có đạt mục tiêu đề ra hay không, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho thời gian tới

1.2.2 Các bước xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu

1.2.2.1 Nghiên cứu thị trường

Để hoạt động xuất khẩu thành công, công ty cần phải xác định thị trường nào là thị trường xuất khẩu hấp dẫn và đánh giá được tiềm năng xuất khẩu của từng sản phẩm của công ty vào những thị trường đó một cách càng chính xác càng tốt Do vậy việc nghiên cứu và dự báo thị trường là vô cùng cần thiết và quan trọng Công ty cần đánh giá được quy mô và tầm cỡ của thị trường, đặc trưng của cầu, nhu cầu của người tiêu dùng ở thị trường đó, các kênh thương mại cũng như sự khác biệt về văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của công ty mình

Quá trình nghiên cứu thị trường bao gồm các bước: [16]

 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu nào còn phụ thuộc vào bản chất của vấn đề cần nghiên cứu và mức độ hiểu biết của người làm công tác nghiên cứu Có hai phương pháp nghiên cứu có thể sử dụng để trả lời bất kỳ vấn đề nào cần nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm Sự khác biệt chính của hai phương pháp này là ở chỗ phương pháp thực nghiệm cần phải có sự can thiệp của người làm công tác nghiên cứu bằng cách khống chế những biến số không liên quan và điều khiển ít nhất một biến số còn phương pháp phi thực nghiệm thì không cần có

Trang 25

sự can thiệp của các nhà nghiên cứu Sau khi lựa chọn phương pháp nghiên cứu bước tiếp theo là xây dựng mô hình nghiên cứu Đây là bước cụ thể hóa của phương pháp nghiên cứu và những thủ tục thu thập thông tin cần thiết

 Kỹ thuật thu thập dữ liệu

Có hai kỹ thuật thu thấp dữ liệu chính được áp dụng, đó là thông qua giao tiếp và thông qua quan sát Thông qua giao tiếp bao gồm việc hỏi câu hỏi

và nhận câu trả lời, có thể là trực tiếp, có thể thông qua thư từ, điện thoại hay qua phiếu điều tra Thông qua quan sát là quá trình quan sát hành vi quá khứ

và hành vi hiện tại Quan sát hành vi quá khứ có thể xem xét những dữ liệu thứ cấp như những sổ sách lưu trữ của công ty, những ấn phẩm của các nguồn thuộc bên ngoài công ty

 Lấy mẫu

Không một công trình nghiên cứu marketing nào có thể nghiên cứu được toàn bộ dân số có liên quan đến một vấn đề Trong hầu hết các trường hợp người ta chỉ chọn ra một nhóm có liên quan gọi là phương pháp lấy mẫu Trong khi chọn mẫu, các nhà nghiên cứu cần cụ thể hóa ba vấn đề: (1) mẫu được chọn từ đâu, (2) quá trình chọn mẫu, (3) quy mô của mẫu Chọn mẫu phải đúng từ số dân số có liên quan, thường được cụ thể hóa trong giai đoạn hình thành những vấn đề cần nghiên cứu Những dữ liệu lấy được từ những mẫu chọn sẽ được dùng để suy diễn cho một phạm vi dân số lớn hơn

 Thu thập dữ liệu

Sau khi hoàn thành các bước trên, bước tiếp theo là thu thập dữ liệu Thu thập dữ liệu dù bằng kỹ thuật giao tiếp hay bằng kỹ thuật quan sát cũng phải sử dụng đến con người và như vậy sẽ sinh ra vấn đề quản lý những con người này Thu thập dữ liệu có thể rất tốn kém Công ty có thể tự làm công tác thu thập dữ liệu hoặc có thể mua dữ liệu của các tổ chức chuyên thu thập

và bán dữ liệu Đôi khi do trình độ thu thập dữ liệu của công ty còn yếu kém,

do không có chuyên môn, do không am hiểu thị trường, không có trình độ

Trang 26

ngoại ngữ… việc mua thông tin từ bên ngoài có thể kinh tế hơn là tự làm công tác thu thập, trừ một vài nghiên cứu có thể tiến hành tại bàn, sử dụng những dữ liệu thứ cấp

 Phân tích và xử lý dữ liệu

Một khi dữ liệu đã được thu thập nếu để ở dạng nguyên thủy thì khoongmaays ai có thể sử dụng được Do vậy dữ liệu thu thập cần phải được kiểm tra, hiệu đính, mã hóa, phân tích và xử lý trước khi đưa vào sử dụng

 Báo cáo kết quả nghiên cứu

Bước cuối cùng của quá trình nghiên cứu là báo cáo kết quả nghiên cứu Mọi vấn đề nghiên cứu cần phải được báo cáo, rút ra kết luận và nếu có thể đưa ra các kiến nghị hành động một cách chính xác, rõ rang và chân thật

Một báo cáo nghiên cứu marketing cần cung cấp đầy đủ mọi thông tin người đọc cần, dùng ngôn ngữ dễ hiểu với nội dung đã được sàng lọc

và lựa chọn

1.2.2.2 Phân tích SWOT và lựa chọn thị trường mục tiêu

Thực chất của phương pháp SWOT là phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, đe dọa đối với hoạt động Marketing SWOT là chữ viết tắt tiếng Anh của: Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (đe dọa) Mục đích của phương pháp này là so sánh những cặp phối hợp: điểm mạnh, điểm yếu với những cơ hội và đe dọa tương ứng tác động đến hoạt động của doanh nghiệp

Ma trận SWOT được xây dựng bằng cách liệt kê, đánh giá và tổng hợp các yếu tố nội tại của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (điểm mạnh, điểm yếu) và các yếu tố bên ngoài của môi trường kinh doanh (cơ hội, đe dọa) Sau đó, so sánh những cặp kết hợp có liên quan đó để tìm ra những cặp phối hợp logic Các cặp này sẽ giúp xem xét các phương án khác nhau của chiến lược doanh nghiệp Do đó, SWOT là sự tóm lược các yếu tố ảnh hưởng

Trang 27

trong phân tích chiến lược doanh nghiệp, để từ đó có thể đưa ra phương thức lựa chọn thị trường thích hợp nhất

Quá trình lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu để thâm nhập thường được tiến hành theo 2 bước: phân chia thị trường về địa lý và về tiêu thụ hay khách hàng Để lựa chọn thị trường thích hợp, các nhà quản trị Marketing xuất khẩu cần phải đánh giá thị trường xuất khẩu, có thể áp dụng quá trình

gồm năm bước như sau: [16]

- Đánh giá tiềm năng hiện tại của từng thị trường xuất khẩu;

- Dự đoán tiềm năng bán tương lai của từng thị trường;

- Dự đoán thị phần của công ty;

- Dự đoán chi phí và lợi nhuận trên từng thị trường;

- Đánh giá khả năng sinh lợi của đầu tư trên từng thị trường

Người ta đưa ra một quá trình hỗn hợp để lựa chọn thị trường xuất khẩu Giai đoạn thứ nhất: phân đoạn địa lý dựa trên các chỉ dẫn chung về thị trường; các chỉ dẫn chi tiết gắn liền với sản phẩm như các đặc tính sản phẩm

bị cấm kỵ; đánh giá tiềm năng thị trường

Giai đoạn thứ hai: phân đoạn kinh tế - xã hội tức là đánh giá tiềm năng của cầu về số lượng và chất lượng; tiềm năng của cung như cạnh tranh, phân phối, các phương tiện thông tin

Giai đoạn thứ ba: đánh giá tiềm năng bán theo thị trường và đoạn thị trường

Giai đoạn thứ tư: đánh giá lợi nhuận (sắp xếp thị trường/ đoạn và lựa chọn cuối cùng)

Giai đoạn thứ năm: lập kế hoạch chiến lược cho các thị trường, nghiên

cứu và đánh giá mức độ thành công của các kế hoạch này [16]

1.2.2.3 Quyết định chiến lƣợc Marketing

Chiến lược Marketing hỗn hợp bao gồm 4 chiến lược bộ phận là sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến hay còn gọi là chiến lược 4P (Product –

Trang 28

Price – Place – Promotion) Chiến lược Marketing hỗn hợp cùng với chiến lược thâm nhập thị trường thế giới tạo thành chiến lược kinh doanh trong một thời gian dài (5, 10 năm) theo một mục tiêu đã định sẵn của doanh nghiệp xuất khẩu Để có thể ra quyết định về chiến lược Marketing, đặc biệt là với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, còn cần phải chú ý thêm tới các yếu tố khác như bản chất của sản phẩm bao gồm số lượng, khối lượng sản phẩm, quy mô hoạt động hay khả năng sản xuất…; và chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia Chiến lược Marketing được chọn phải là chiến lược Marketing có thể giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra nhưng không đi trái lại, ngược chiều với định hướng, chính sách phát triển của quốc gia

a) Chiến lược sản phẩm

Theo quan điểm Marketing, sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất và tâm lý mà người tiêu dùng thu nhận được như: chất lượng, mẫu mã, bao bì, bảo hành, tín dụng và thông tin về sản phẩm

Do đó sản phẩm gắn liền với thị hiếu và mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường

Sản phẩm xuất khẩu là những sản phẩm được sử dụng ở những quốc gia khác nhau, nói chung đó là những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng nước ngoài Chính vì vậy cần có những khác biệt so với sản phẩm nội địa Sự khác biệt đó xuất phát từ những đặc điểm sau: Một là,

sự khác biệt về khí hậu, thời tiết làm cho sản phẩm thích ứng với sự thay đổi Hai là, sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ Ba là, sự khác biệt về môi trường pháp lý Bốn là, sự khác biệt về phong tục, tập quán tiêu dùng Năm là, những khác biệt khác: xã hội, tôn giáo… làm ảnh hưởng đến việc tiêu dùng [16]

Đối với chiến lược sản phẩm dầu thô xuất khẩu của Việt Nam, cần nhấn mạnh cụ thể hai điểm cốt lõi sau:

Thứ nhất là số lượng xuất khẩu Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam nhằm tích lũy ngoại tệ mạnh, đảm bảo nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại, phục vụ

Trang 29

kịp thời công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Trong bước đi ban đầu, việc tích lũy vốn cho công nghiệp hóa có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết Mặc

dù vậy, số lượng xuất khẩu dầu thô của ta không phải càng nhiều càng tốt Xuất khẩu dầu thô phải đảm bảo, tiết kiệm nguồn tài nguyên quý hiếm không tái tạo này Xuất khẩu dầu thô phải được điều chỉnh về số lượng một cách hợp lý khi các cơ sở công nghiệp lọc hóa dầu đã khánh thành và đi vào hoạt động Xuất khẩu dầu thô phải gắn chặt với hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm và khai thác dầu thô ở nước ngoài để tái xuất khẩu hoặc để nhập khẩu phục vụ cơ sở lọc dầu trong nước Xuất khẩu dầu thô phải giảm hợp lý theo từng năm, sao cho đến năm 2020, Việt Nam sẽ chuyển từ nước xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu các thành phẩm xăng dầu thành quốc gia không chỉ tự túc mà còn tham gia xuất khẩu xăng dầu, đồng thời nhập khẩu dầu thô cho cơ sở lọc hóa dầu trong nước

Đó cũng là bước ngoặt chiến lược từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp với phong cách kinh doanh mới và hiệu quả

Thứ hai là chất lượng xuất khẩu Chất lượng xuất khẩu dầu thô, gắn liền với hàm lượng hữu ích (càng cao càng tốt) của bản thân hợp chất dầu thô (hydro và cacbon) có sẵn khi khai thác từ các mỏ dầu Bên cạnh đó, chất lượng dầu thô xuất khẩu còn phụ thuộc vào tỷ lệ tạp chất như chì, lưu huỳnh và nước

bị lẫn vào (càng thấp và không có càng tốt) Thực tế trong những năm xuất khẩu cho thấy chất lượng dầu thô Việt Nam được xếp loại tốt trên thị trường dầu thô khu vực và thế giới

b) Chiến lược giá

Giá cả sản phẩm là lượng tiền mà người bán trù tính thu được của người mua, để đổi lại người mua được sở hữu hay sử dụng sản phẩm đó

Chiến lược giá xuất khẩu thường hướng vào các mục tiêu như: thâm nhập thị trường quốc tế, phát triển thị phần và doanh số bán, tối đa hóa lợi nhuận Về phương diện quốc tế, chính sách giá có thể có ba hướng lựa chọn: chính sách giá duy nhất, tức là quy định giá thống nhất cho sản phẩm trên

Trang 30

toàn thế giới; chính sách giá thích ứng theo từng khu vực thị trường; và thứ ba

là xác định các thông số chung cho tất cả các thị trường và sử dụng chúng khi quyết định giá

Để có được một chính sách giá đúng đắn, trước hết cần phải hiểu biết những đặc điểm chiến lược giá xuất khẩu như: chi phí; các điều kiện thị trường và hành vi khách hàng; cạnh tranh; các vấn đề pháp luật và chính trị; các chính sách chung của nhà xuất khẩu bao gồm các chính sách về tài chính, sản xuất, cơ cấu tổ chức và về các hoạt động Marketing

Khi đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài cần có các chiến lược định giá thích hợp nhất Định giá là việc ấn định giá với một sản phẩm được người mua chấp nhận, đồng thời cũng làm thỏa mãn người bán Có rất nhiều cách

xây dựng giá, có thể lựa chọn và kết hợp các cách xây dựng sau:

- Định giá theo chi phí: chủ yếu dựa vào toàn bộ chi phí cho một đơn vị sản

phẩm và cộng thêm vào đó một tỷ lệ % cố định sẽ cho ra giá bán sản phẩm

- Định giá theo thời giá: dựa theo mức giá phổ biến trên thị trường thế giới để xác định giá xuất của mình ở mức độ tương tự hay thấp hơn để cạnh tranh

Cách này thường được áp dụng nhiều trong xuất khẩu dầu thô của Việt Nam

- Định giá thâm nhập thị trường: là phương pháp định giá dùng để thực hiện mục tiêu cạnh tranh, được căn cứ trên hai yếu tố là tiềm năng thị trường (quan hệ cung cầu, giá cả, sự co giãn cầu - giá) và cạnh tranh

(sản phẩm cạnh tranh)

- Giá độc quyền: dựa trên cơ sở độc quyền về giá

- Định giá hớt váng: thực chất là định giá cao hơn giá thị trường cho

sản phẩm xuất khẩu, mục đích là thu lợi nhuận cao trong một thời gian nào đó

- Định giá theo tâm lý khách hàng: khách hàng thường cảm nhận rằng

giá cao có nghĩa là sản phẩm có chất lượng tốt

c) Chiến lược phân phối sản phẩm

Phân phối là các hoạt động có liên quan đến việc tổ chức điều hành và vận chuyển các hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng,

Trang 31

nhằm đạt hiệu quả tối đa với các chi phí tối thiểu Đường đi và phương thức di chuyển của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng hình thành nên kênh phân phối của sản phẩm, bao hàm cả các khâu trung gian mang tính chất thương nghiệp

Một sự khác biệt lớn giữa các kênh phân phối là chiều dài của chúng Một kênh phân phối chỉ có vài trung gian hay chỉ có một nếu người sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu thụ hay người sử dụng sản phẩm cuối cùng Kênh phân phối dài bao gồm nhiều trung gian Kênh phân phối nào ngắn hơn thì dường như có hiệu lực hơn hay ít tốn kém hơn các kênh phân phối dài

Trong môi trường phân phối quốc tế nói chung hay xuất khẩu nói riêng, đặc điểm của chiến lược này được xuất phát từ: đặc điểm của sản phẩm; điều

kiện thị trường; khoảng cách địa lý; khả năng của nhà xuất khẩu

Đặc điểm của sản phẩm: loại sản phẩm được đưa ra thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định kênh phân phối xét theo đặc tính lý

hóa của sản phẩm và xét về phương diện giới tiêu thụ;

Điều kiện thị trường mục tiêu: Do có sự cách biệt về văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng rất lớn ở các thị trường, mà có những sản phẩm thành công ở quốc gia này nhưng không thành công ở các quốc gia khác Điều này đòi hỏi nhà phân phối phải điều tra tìm hiểu, lựa chọn khả năng phân phối tùy theo bối cảnh thị trường mục tiêu, ở mỗi thị trường khác

nhau phải có những hệ thống phân phối khác nhau;

Nhân tố về khoảng cách địa lý: Có ảnh hưởng đến việc chọn hệ thống phân phối, khoảng cách giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu càng xa thì việc thu thập và xử lý những thông tin sẽ càng gặp nhiều khó khăn và trở ngại, đòi

hỏi trong kinh doanh các quyết định cần nhanh chóng, chính xác, kịp thời;

Mức độ liên kết: Là khả năng liên kết giữa cơ sở kinh doanh này với cơ

sở kinh doanh khác Sự liên kết này được đặt trên nền tảng của sự thông hiểu

lẫn nhau;

Trang 32

Khả năng của nhà xuất khẩu: Đây là nhân tố chủ quan của nhà xuất khẩu, nó quyết định hệ thống phân phối Nếu các nhân tố về môi trường, về khoảng cách địa lý có thuận lợi nhưng về khả năng tài chính, tổ chức nhân sự, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng về cạnh tranh của nhà xuất khẩu yếu kém thì việc chọn kênh phân phối sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn

Để lựa chọn được các chiến lược phân phối trong xuất khẩu một cách hoàn thiện, trước hết phải xác định mục tiêu tiêu dùng theo nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu và cố gắng Marketing của các doanh nghiệp, trong đó lựa chọn các trung gian xuất khẩu là một trong những nội dung quan trọng nhất Có những hình thức trung gian phân phối khác nhau, là: phân phối qua trung gian được sử dụng với những nhà xuất khẩu có quy mô nhỏ, kinh nghiệm xuất khẩu còn hạn chế, chưa am hiểu nhiều về thị trường; phân phối trực tiếp khi nhà xuất khẩu có quy mô lớn, thông thạo nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm, thiết lập nhiều mối quan hệ với nước ngoài

d) Chiến lược xúc tiến hỗn hợp

Xúc tiến trên thị trường xuất khẩu là việc xúc tiến giữa các đoạn thị trường quốc tế có nền văn hóa không giống nhau Việc thực hiện chiến lược xúc tiến được biểu hiện ở các khía cạnh: một là quảng cáo (ad), hai là khuyến mại (sales promotion) và quan hệ công chúng, ba là triển lãm và hội chợ thương mại quốc tế

 Thực hiện chiến lược quảng cáo quốc tế: Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin về sản phẩm cho khách hàng trong khoảng thời gian

và không gian nhất định Để hiểu rõ và thực hiện tốt quảng cáo quốc tế, cần nghiên cứu các chiến lược, phương tiện và nội dung quảng cáo quốc tế Các nhà xuất khẩu có thể áp dụng những chiến lược tiêu chuẩn quảng cáo và thích nghi hóa quảng cáo như:

Trang 33

Tiêu chuẩn hóa quảng cáo: là chiến lược quảng cáo được thực hiện tương tự như trong nước;

Làm thích ứng chiến lược quảng cáo trong nước khi đưa ra thị trường nước ngoài (chiến lược thích nghi hóa): tức là các nhà xuất khẩu cần phải xây dựng các chiến lược quảng cáo phù hợp thị trường từng nước;

Phương tiện quảng cáo: là việc sử dụng các phương tiện không gian và thời gian để truyền tin định trước về sản phẩm cho người bán lẻ hay người tiêu dùng;

Nội dung quảng cáo: phải ngắn gọn, xác thực, dễ hiểu, nêu bật được sự khác biệt giữa sản phẩm của mình với sản phẩm của các nhà sản xuất khác

 Khuyến mãi và quan hệ công chúng:

Khuyến mãi là tập hợp những kỹ thuật nhằm duy trì và tăng thêm thị phần, thu hút sự chú ý của khách hàng tới sản phẩm, thúc đẩy họ mua sản phẩm, từ đó tăng khối lượng hàng bán được

Quan hệ công chúng nhằm thiết lập và duy trì tốt mối quan hệ, tạo hình ảnh thuận lợi, bầu không khí trong mát giữa bên trong và bên ngoài

Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm là dịch vụ được nhà sản xuất và nhà phân phối cung cấp cho khách hàng mua và sử dụng những hàng hóa của họ

 Triển lãm và hội chợ thương mại quốc tế: là những công cụ Marketing đầu tiên để thúc đẩy xuất khẩu Đó là nơi trưng bày sản phẩm và điểm gặp nhau giữa người bán và người mua

1.2.3 Tổ chức thực hiện các chiến lƣợc Marketing

Một kế hoạch Marketing xuất sắc mấy cũng không dẫn đến thành công nếu không có quá trình thực hiện đúng đắn Thực hiện là quá trình biến những

Trang 34

kế hoạch Marketing thành hành động kèm theo những nhiệm vụ nhằm thực hiện những mục tiêu kế hoạch đề ra Trong khi chiến lược Marketing trả lời câu hỏi “cái gì”, “tại sao” thì thực hiện sẽ trả lời câu hỏi “cho ai”, “ở đâu”,

“khi nào” và “bằng cách nào” Chiến lược và thực hiện quan hệ mật thiết với nhau Chiến lược đòi hỏi phải có những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện chiến thuật ở mức độ thấp hơn như tổ chức các bước hoạt động Marketing, xây dựng ngân quỹ hoạt động, tổ chức hậu cần, tài trợ xuất khẩu, theo dõi hoạt động…

Để tổ chức thực hiện các kế hoạch Marketing thành công, các nhà kinh doanh xuất khẩu cần thiết phải có những khả năng sau:

- Khả năng dự đoán (dự đoán xu thế phát triển của thị trường thế giới,

dự đoán doanh thu, dự đoán lợi nhuận thu được…)

- Trình độ của công ty (trình độ kinh doanh, trình độ quảng cáo, xúc tiến bán hàng, trình độ thu thập và xử lý thông tin…)

- Khả năng thực hiện (khả năng tổ chức, nghe ngóng, tương tác, khả năng điều khiển kế hoạch hàng năm, điều khiển khả năng sinh lợi nhuận, điều khiển hiệu suất và điều khiển chiến lược)

- Khả năng đánh giá thực hiện Trong quá trình thực hiện cần lập ra một thời gian biểu chi tiết, phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các hoạt động

từ việc xin cô-ta xuất khẩu đến việc dự đoán doanh số bán, việc xây dựng kế hoạch sản xuất cho từng mặt hàng, thu gom hàng, quản lý kho hàng, nhu cầu nhân lực, phân bổ ngân sách cho các hoạt động như bán hàng, tài chính, xúc tiến xuất khẩu (quảng cáo, hội chợ triển lãm, thu lượm thông tin, thăm viếng thị trường nước ngoài…)

Quá trình thực hiện là quá trính chi tiết hóa các hoạt động nhằm thực hiện từng bước kế hoạch đề ra Do kế hoạch Marketing xuất khẩu không phải

là sản phẩm cuối cùng của hoạt động Marketing xuất khẩu cho nên trong quá trình thực hiện phải luôn được rà soát, kiểm tra, rút kinh nghiệm khi có những

Trang 35

thông tin phản hồi từ các thị trường xuất khẩu Để có được những thông tin phản hồi từ các thị trường xuất khẩu, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch là vô cùng cần thiết

1.2.4 Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh

Kiểm tra và đánh giá phải được tiến hành liên tục căn cứ vào những mục tiêu đã được đề ra trong kế hoạch Marketing có thể là hàng năm, hàng quý thậm chí hàng tháng Kiểm tra, kiểm soát là để giảm bớt tính không chắc chắn, tăng khả năng dự đoán và đảm bảo sự thông suốt, ăn ý của các hoạt động trong các bộ phận khác nhau của công ty với mục đích đạt được mục tiêu chung của công ty Công ty có thể kiểm tra việc thực hiện kế hoạch sản phẩm, kiểm tra khả năng đạt lợi nhuận, kiểm tra tính hiệu quả của các hoạt động Marketing hỗn hợp trong năm đầu tiên và dùng những dữ liệu này làm

cơ sở cho việc lập ra kế hoạch cho những năm tiếp theo Căn cứ vào mục tiêu

đề ra đo lường sự thực hiện, và tìm biện pháp sửa chữa hay thay đổi chương trình hành động hoặc ngay cả mục tiêu

Việc kiểm tra có thể được thực hiện trên cơ sở: (1) phân tích bán hàng bao gồm việc đo lường và đánh giá doanh số thực hiện, liên quan đến những mục tiêu bán hàng; (2) phân tích thị phần ở các thị trường và các đoạn thị trường ở nước ngoài Nếu thị phần tăng có nghĩa là công ty đang thâm nhập thành công vào thị trường nước ngoài và các hoạt động Marketing là có hiệu quả Nếu thị phần giảm, cần phải lập tức xem xét lại các hoạt động Marketing, đưa ra những giải pháp cứu vãn tình thế ví dụ như thay đổi phương thức quảng cáo khuyếch trương, xem xét lại vấn đề định giá, kiểm tra các kênh phân phối… tìm ra nguyên nhân suy giảm thị phần; (3) phân tích chi phí và phân tích tài chính; (4) theo dõi sự phản ứng của khách hàng (cả phản ứng thuận và phản ứng nghịch) trên các thị trường nước ngoài bằng cách thu thập

và phân tích ý kiến khách hàng, tổ chức hội thảo, tiến hành điều tra trực tiếp

Trang 36

hoặc gián tiếp khách hàng bằng những cuộc viếng thăm nước ngoài, phỏng vấn trực tiếp khách hàng nước ngoài hay phát phiếu điều tra

Sau khi đã có những thông tin phản hồi từ các bước kiểm tra nêu trên,

ta có thể đánh giá hiệu quả của các hoạt động Marketing (hiệu quả của các kênh phân phối, hiệu quả của các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ xuất khẩu, hiệu quả của việc phân bổ ngân sách…) nhằm thực hiện các kế hoạch đề ra, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cái đạt được và cái chưa đạt được để từ đó rút ra kinh nghiệm nhằm điều chỉnh và có thể phải thay đổi một hay nhiều phần của kế hoạch cho phù hợp với tính hình thực tế

Trang 37

CHƯƠNG 2 :

THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG

KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM

Là một quốc gia có bờ biển dài, thềm lục địa thoải, với độ sâu không quá 200m chiếm gần nửa diện tích bờ biển, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng

về dầu mỏ Diện tích thềm lục địa gấp ba lần diện tích đất liền, lên tới 1triệu km2, gồm nhiều bể trầm tích đệ tam có trữ lượng dầu mỏ khá dồi dào Chúng

ta đã tìm kiếm thăm dò, khai thác, xác định chính xác cấu trúc địa tầng, tiềm năng của các bể trầm tích quan trọng với tiềm năng khí đầy triển vọng ở các

bề Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu và sông Hồng, gồm cả phần đất liền đã phát hiện và đang khai thác dầu khí Theo số liệu thu thập vào tháng 6/2007, Việt Nam hiện đang sản xuất khoảng 362.000 thùng dầu thô mỗi ngày, được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về dầu khí Hiện Việt Nam

Trang 38

là quốc gia đứng thứ tư trong khu vực Đông Á với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn dầu quy đổi, chỉ sau Trung Quốc, Indonexia và Malaysia.

2.1.1.2 Chiến lƣợc khai thác dầu thô của Việt Nam

Cho dù trữ lượng dầu của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, song so với thế giới, con số 3,9 tỷ vẫn là một con số nhỏ bé Hơn nữa vì dầu thô không phải là nguồn tài nguyên vô hạn và không thể tái tạo được, an ninh năng lượng đang là vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết không phải chỉ của riêng Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Nguồn dầu thô phát hiện được của Việt Nam đang cạn dần Các nguồn dầu mới, nếu

có tìm được, cũng ở trong những địa bàn phức tạp, khó khai thác

Trong những năm tới, chiến lược khai thác của Việt Nam là giảm dần mức khai thác dầu thô trong nước nhưng vẫn đảm bảo gia tăng trữ lượng trung bình hàng năm bằng cách tích cực triển khai đầu tư, tìm kiếm, thăm dò dầu khí ra nước ngoài, gia tăng sản lượng khai thác từ bên ngoài

Dưới đây là mục tiêu định hướng phát triển cụ thể của ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2006-2025 [27]:

- Thứ nhất, về sản lượng khai thác dầu khí:

 Giai đoạn 2006-2010: 25 ~ 30 triệu tấn dầu quy đổi(TOE)/1 năm; trong đó dầu thô khai thác trong nước từ 18~19 triệu tấn; khí đốt từ 8~10 tỷ m3; dầu thô khai thác ở nước ngoài từ 0,2~1 triệu tấn

 Giai đoạn 2011-2015: 31~34 triệu TOE/năm; trong đó dầu thô khai thác trong nước: 16~18 triệu tấn; khí đốt 11~15 tỷ m3; dầu thô khai thác ở nước ngoài: 1,2~3 triệu tấn

 Giai đoạn 2016-2025: 34~35 triệu TOE/năm; trong đó dầu thô khai thác trong nước: 13~15 triệu tấn; khí đốt 15~16 tỷ m3; dầu thô khai thác ở nước ngoài: 3,5~5,5 triệu tấn

- Thứ hai, đầu tư phát triển bổ sung các mỏ dầu khí hiện đang khai thác và mở thêm các mỏ mới

Trang 39

- Thứ ba là phát triển công nghệ chế biến dầu khí nhằm đảm bảo an ninh nhiên liệu, hoàn thành đúng kế hoạch việc xây dựng các trung tâm lọc hóa dầu

2.1.2 Thực trạng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam thời gian qua 2.1.2.1 Kim ngạch và khối lƣợng xuất khẩu

Trong bối cảnh nhà máy lọc dầu Dung Quất vừa chính thức đi vào hoạt động từ ngày 22/2 vừa rồi, Việt Nam đang điều chỉnh hoạt động kinh doanh sang hướng giảm dần lệ thuộc vào xuất khẩu dầu thô, do phải cung cấp nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu và sử dụng tối ưu trữ lượng các mỏ dầu có hạn Tuy nhiên có thể thấy rằng, do công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam mới chỉ bắt đầu những bước đi chập chững nên trong thời gian sắp tới, phần lớn sản lượng khai thác dầu thô của Việt Nam vẫn tiếp tục được xuất khẩu để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Trước đây, những năm 90, sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu của chúng ta không cao Điều này cũng là dễ hiểu khi ngành công nghiệp dầu khí của chúng ta còn quá non trẻ, công nghệ khai thác còn lạc hậu, các khâu trong quá trình xuất khẩu chưa đạt được mức chuyên nghiệp Sau năm 1990, hoạt động xuất khẩu dầu thô của Việt Nam mới thực sự bắt đầu khởi sắc Dầu

mỏ trở thành mặt hàng xuất khẩu, năm đầu tiên đạt kim ngạch xuất khẩu trên

1 tỷ USD năm 1995 Tới nay dầu mỏ vẫn luôn khằng định vị trí dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Trang 40

Bảng 2.1 Xuất khẩu dầu thô từ năm 2000-2008

Năm Lƣợng

(triệu tấn)

Trị giá (tỷ USD)

Giá bình quân (USD/tấn)

Ngày đăng: 24/06/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kiến Anh (2003), Hoạt động kinh doanh xuất khẩu dầu thô của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu dầu thô của Việt Nam
Tác giả: Phan Kiến Anh
Năm: 2003
2. Bộ Chính trị (1988), Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1988
4. Bộ Công thương, Tạp chí thương mại (2007, 2008), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí thương mại
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Phan Trung Điền (2000), Ngành dầu khí Việt Nam trước thềm thế kỷ 21, Tuyển tập hội nghị khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dầu khí Việt Nam trước thềm thế kỷ 21
Tác giả: Phan Trung Điền
Năm: 2000
8. PGS.TS Lưu Văn Nghiêm (2005), Cung cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển của Việt Nam, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển của Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Lưu Văn Nghiêm
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2005
9. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2007, 2008, 2009), Tạp chí Dầu khí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dầu khí
10. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2000), 30 năm dầu khí Việt Nam: cơ hội mới, thách thức mới, Tuyển tập báo cáo các hội nghị khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm dầu khí Việt Nam: cơ hội mới, thách thức mới
Tác giả: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Năm: 2000
11. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2007, 2008), Thông tin Dầu khí thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Dầu khí thế giới
12. Đoàn Thiên Tích (2001), Dầu khí Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu khí Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thiên Tích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
13. Trần Thị Thu Trang (2006), Thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. "Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Thu Trang
Năm: 2006
14. Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (2009), Số 4 + 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
Tác giả: Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
Năm: 2009
15. PGS.TS Nguyễn Trung Vãn (2005), Định hướng và giải pháp xuất khẩu dầu thô của Việt Nam trong những năm tới, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và giải pháp xuất khẩu dầu thô của Việt Nam trong những năm tới
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Trung Vãn
Năm: 2005
16. Đỗ Hữu Vinh (2006), Marketing xuất nhập khẩu, NXB Tài chính, Thành phố Hồ Chí Minh.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing xuất nhập khẩu
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
19. BP Statistical Review of World Energy (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: BP Statistical Review of World Energy
23. World Oil Outlook (2008). MẠNG INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Oil Outlook
Tác giả: World Oil Outlook
Năm: 2008
7. Dương Hữu Hạnh (2007), Hướng dẫn thực hành kinh doanh xuất nhập khẩu, NXB Thống kê, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w