1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRNG DI HC NGOI THNG KHOA KINH t (1)

102 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Dầu Thô Thế Giới Và Chiến Lược Marketing Trong Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu Dầu Thô Của Việt Nam
Tác giả Vũ Hoàng Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Trung Vãn
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƢỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƢỢC MARKETING XUẤT KHẨU

    • 1.1. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI

      • 1.1.1. Tình hình tiêu thụ dầu thô

      • 1.1.2. Tình hình sản xuất dầu thô

      • 1.1.3. Tình hình xuất nhập khẩu dầu thô trên thế giới

      • 1.1.4. Tình hình giá cả dầu thô thế giới thời gian gần đây

      • 1.1.5. Dự báo thị trường dầu thô thế giới trong những năm tới

    • 1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

      • 1.2.1. Một số khái niệm cơ bản

      • 1.2.2. Các bước xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu

      • 1.2.3. Tổ chức thực hiện các chiến lược Marketing

      • 1.2.4. Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh

  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

    • 2.1. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

      • 2.1.1. Trữ lượng và chiến lược khai thác dầu thô của Việt Nam

      • 2.1.2. Thực trạng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam thời gian qua

    • 2.2. THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM

      • 2.2.1. Thực tế phân tích SWOT ngành dầu khí Việt Nam

      • 2.2.2. Đặc điểm một số thị trường xuất khẩu dầu thô chủ yếu của Việt Nam

      • 2.2.3. Chiến lược Marketing trong xuất nhập khẩu dầu thô của Việt Nam

    • 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM

      • 2.3.1. Những kết quả nổi bật

      • 2.3.2. Những tồn tại chủ yếu

      • 2.3.3. Nguyên nhân chính của những tồn tại trên

  • CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CHIẾN LƢỢC MARKETING TRONG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI

    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI

      • 3.1.1. Một số quan điểm trong định hƣớng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam

      • 3.1.2. Những định hướng chủ yếu trong chiến lược Marketing xuất khẩu dầu thô của Việt Nam

    • 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC MARKETING

      • 3.2.1. Nhóm giải pháp về hoạt động thăm dò khai thác

      • 3.2.2. Nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường và cơ cấu thị trường

      • 3.2.3. Nhóm giải pháp đảm bảo cơ cấu sản phẩm hợp lý

      • 3.2.4. Nhóm giải pháp về chất lượng và giá cả trong cạnh tranh

      • 3.2.5. Nhóm giải pháp xúc tiến thương mại

      • 3.2.6. Nhóm các giải pháp khác

    • 3.3. KIẾN NGHỊ

      • 3.3.1. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu dầu thô

      • 3.3.2. Đối với Nhà nƣớc

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƢỢC MARKETING XUẤT KHẨU

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ THẾ GIỚI

1.1.1 Tình hình tiêu thụ dầu thô

1.1.1.1 Mức tiêu thụ của toàn thế giới những năm qua

Nghiên cứu tình hình tiêu thụ dầu thô tập trung vào việc phân tích nhu cầu của mặt hàng này Từ năm 1983 đến nay, lượng tiêu thụ dầu thô toàn cầu đã tăng đều qua các năm Để có cái nhìn chi tiết hơn, chúng ta sẽ xem xét lượng tiêu dùng dầu thô theo từng khu vực trong thời gian qua.

2000 trở lại đây qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Tiêu thụ dầu thô theo khu vực giai đoạn 2000-2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Trung Đông 4,7 4,8 5,1 5,2 5,5 5,7 6,0 6,2 Châu Phi 2,5 2,5 2,5 2,6 2,6 2,8 2,9 3,0 Châu Á - TBD 21,1 21,2 21,9 22,7 24,0 24,4 24,9 25,5 Thế giới 76,3 76,9 77,9 79,3 82,5 83,9 84,9 85,9

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Tiêu thụ dầu thô toàn cầu từ năm 2000 đến nay đã ổn định và có xu hướng tăng dần Bắc Mỹ và Châu Á – TBD là hai khu vực tiêu thụ dầu chính, đến năm 2007, cả hai khu vực này chiếm hơn 50% tổng tiêu thụ dầu thô Châu Âu và các nước Đông Âu đứng thứ ba với 20,2 triệu thùng/ngày, tiếp theo là Trung Đông với 6,2 triệu thùng/ngày Mỹ Latinh đứng thứ năm với 5,5 triệu thùng/ngày, trong khi Châu Phi là khu vực tiêu thụ ít dầu thô nhất với 3 triệu thùng/ngày.

Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra sự biến động lớn trong tiêu dùng dầu mỏ, thể hiện rõ qua các số liệu theo từng quý.

Bảng 1.2 Mức tiêu thụ dầu thô của thế giới năm 2008

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Thời gian Quý 1/2008 Quý 2/2008 Quý 3/2008 Quý 4/2008

Tổng tiêu dùng dầu thô toàn cầu

Trong quý 2 và quý 3 năm 2008, lượng tiêu thụ dầu thô đã giảm so với năm 2007, đánh dấu lần đầu tiên kể từ năm 1983, cầu trên thị trường dầu thô bị sụt giảm Mặc dù vậy, bình quân lượng tiêu thụ dầu thô trong năm 2008 đạt 86,2, vẫn cao hơn so với năm trước đó.

1.1.1.2 Mức tiêu thụ của những nước chủ yếu

Cường độ tiêu thụ dầu thô hiện nay đã giảm đáng kể so với năm 1970 do nhiều yếu tố, trong đó nguyên nhân chính là sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên này Các nước xuất khẩu dầu thô phải điều chỉnh lượng bán, giá cả và lợi nhuận hàng năm để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên quý hiếm và giảm thiểu rủi ro kinh tế, kỹ thuật và chính trị trong giao dịch dầu.

Dưới đây là tình hình tiêu thụ dầu thô của những nước chủ yếu năm 2007:

Bảng 1.3 Tiêu thụ dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Số thứ tự Nước Lượng tiêu thụ

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Bảng 1.3 thống kê 10 nước tiêu thụ dầu thô lớn nhất thế giới năm

Năm 2007, Mỹ dẫn đầu thế giới với mức tiêu thụ dầu lên tới 20,69 triệu thùng/ngày, gấp gần ba lần so với Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ nhiều thứ hai với 7,85 triệu thùng/ngày Sự chênh lệch này phản ánh nhu cầu tiêu thụ dầu khổng lồ của Mỹ, nhằm đáp ứng cho nền kinh tế có GDP đạt 13.811 tỷ USD.

Năm 2007, USD chiếm 25,4% tổng GDP toàn cầu, trong khi Nhật Bản là nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới, phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu do khả năng tự cung tự cấp hạn chế Với GDP đứng thứ hai toàn cầu, đạt 4.376 tỷ USD, Nhật Bản tiên phong trong việc sử dụng hiệu quả tài nguyên Cùng năm, Ấn Độ đã vượt Nga và Đức để trở thành nước tiêu thụ dầu lớn thứ tư với 2,74 triệu thùng/ngày Ngoài ra, Hàn Quốc, Canada, Brazil và Ả Rập Saudi cũng là những thị trường tiêu thụ dầu thô quan trọng trên thế giới trong những năm gần đây.

1.1.2 Tình hình sản xuất dầu thô

1.1.2.1 Mức sản lƣợng trên toàn thế giới

Dầu thô là hỗn hợp lỏng của hydrocarbon được khai thác từ mỏ dầu dưới lòng đất thông qua công nghệ khoan Sau khi được đưa lên giếng dầu, dầu thô được chuyển đến các bể chứa tại cảng hoặc tàu dầu lớn, rồi qua hệ thống ống dẫn đến nhà máy lọc dầu để chế biến thành sản phẩm dầu Sản lượng và chất lượng dầu thô từ mỏ sẽ quyết định công suất và chất lượng của nhà máy lọc dầu, ảnh hưởng đến quy mô ngành công nghiệp dầu của mỗi quốc gia Nghiên cứu sản lượng dầu thô là yếu tố quan trọng trong việc phân tích khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, góp phần vào sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Đến năm 2007, sản xuất dầu thô toàn cầu tương đối ổn định, với khu vực Trung Đông dẫn đầu, sản xuất 25,5 triệu thùng/ngày, chiếm 30,8% tổng sản lượng Châu Âu và Đông Âu theo sau với 17,8 triệu thùng/ngày, trong khi Bắc Mỹ đứng thứ ba với 13,7 triệu thùng/ngày.

Châu Phi sản lượng 10,3 triệu thùng xếp thứ tư Cuối cùng là khu vực Châu

Mỹ Latin với sản lượng 6,6 triệu thùng

Bảng 1.4 Sản xuất dầu thô của thế giới và các khu vực

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Mỹ Latin 6,8 6,7 6,6 6,3 6,7 6,9 6,8 6,6 Châu Âu-Đông Âu

Trung Đông 23,5 23,0 21,6 23,3 24,8 25,4 25,6 25,2 Châu Phi 7,8 7,9 8,0 8,4 9,3 9,8 10,0 10,3 Châu Á - TBD 7,9 7,9 7,9 7,8 7,8 7,9 7,9 7,9 Thế giới 74,9 74,8 74,5 77,0 80,3 81,2 81,6 81,5

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Thị trường dầu thô toàn cầu hiện đang đối mặt với mâu thuẫn rõ rệt giữa cung và cầu Mặc dù nhu cầu tiêu thụ dầu thô đang gia tăng theo đà tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, nhưng sản xuất và xuất khẩu lại bị giới hạn do trữ lượng dầu cạn kiệt nhanh chóng Đồng thời, các nước xuất khẩu cũng có xu hướng điều tiết sản xuất để thiết lập quan hệ cung cầu và giá cả có lợi nhất cho họ, nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này.

1.1.2.2 Những nước sản xuất chính

Các quốc gia được phân chia thành hai khối chính: các nước OPEC và các nước ngoài OPEC Trong số các nước ngoài OPEC, lại có sự phân chia thành hai nhóm: các nước thuộc Liên Xô cũ và các quốc gia còn lại.

Hiện nay, OPEC đóng góp khoảng 43% tổng sản lượng dầu thô toàn cầu, với sự tập trung sản xuất chủ yếu từ năm quốc gia: Ả Rập Saudi, Iran, các tiểu Vương quốc Ả Rập, Kuwait và Iraq, chiếm 2/3 sản lượng của OPEC Dưới đây là bảng 10 quốc gia sản xuất dầu nhiều nhất năm 2007 (Bảng 1.5).

Bảng 1.5 Sản xuất dầu thô của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2007

(Đơn vị tính: triệu thùng/ngày)

Số thứ tự Nước Sản lượng

8 Các tiểu Vương quốc Ả Rập 2,9

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2008

Năm nước thành viên OPEC, bao gồm Ả Rập Saudi, Nga và Mỹ, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và xuất khẩu dầu toàn cầu Ả Rập Saudi dẫn đầu với sản lượng 10,4 triệu thùng/ngày, tiếp theo là Nga với 9,9 triệu thùng/ngày và Mỹ với 6,8 triệu thùng/ngày.

Trong những năm gần đây, sản lượng dầu của các nước ngoài OPEC đã tăng lên rõ rệt, hiện đạt khoảng 33,5 triệu thùng/ngày, chiếm 41% tổng sản lượng toàn cầu Mặc dù OPEC vẫn là nguồn cung chính cho thị trường dầu mỏ, nhưng sự không ổn định về chính trị và kinh tế trong các nước thành viên khiến tình hình cung cấp và giá cả dầu trở nên bấp bênh Do đó, vai trò của các nước ngoài OPEC ngày càng quan trọng, giúp giảm thiểu những biến động bất lợi trên thị trường dầu mỏ thế giới.

1.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu dầu thô trên thế giới

1.1.3.1 Tình nhập khẩu dầu thô a) Tổng mức nhập khẩu dầu thô trên toàn thế giới

Dầu thô là mặt hàng có khối lượng giao dịch rất lớn trong thương mại quốc tế Đơn cử năm 2007, mức nhập khẩu hiện vật đạt 43,7 triệu thùng/ngày

Thương mại dầu thô toàn cầu chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố chính trị, khi các chính phủ thường can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động buôn bán để đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh xã hội và quốc phòng, đặc biệt là trong bối cảnh của thể chế chính trị.

Nhập khẩu dầu thô tập trung chủ yếu ở các nền kinh tế lớn, trước hết thuộc khu vực phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, Châu Á – TBD

Những dữ liệu theo bảng 1.6 cho thấy:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƢỢC MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm Marketing và Marketing trong kinh doanh xuất khẩu a) Khái niệm về Marketing

Hiện nay, có khoảng 2000 định nghĩa về marketing trên toàn thế giới, nhưng hầu hết chúng không khác biệt nhiều Điều thú vị là chưa có định nghĩa nào được coi là hoàn toàn chính xác, vì các tác giả đều có quan điểm riêng Một số định nghĩa tiêu biểu từ các tổ chức và cá nhân có uy tín cũng đã được nêu ra.

Theo Hiệp hội Marketing Mỹ, marketing được định nghĩa là các hoạt động kinh doanh liên quan trực tiếp đến quá trình vận chuyển hàng hóa và dịch vụ từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng.

Theo Viện Marketing của Anh, marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình này bao gồm việc phát hiện sức mua của người tiêu dùng và chuyển đổi nó thành nhu cầu thực sự về một sản phẩm cụ thể Cuối cùng, marketing đảm bảo sản phẩm được sản xuất và phân phối đến tay người tiêu dùng, nhằm đạt được lợi nhuận dự kiến cho công ty.

- Theo Giáo sư Mỹ Philip Kotler: “Marketing – đó là một hình thức hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng nhu cầu thông qua trao đổi”

Một công ty tại Anh đã định nghĩa marketing là quy trình công nghệ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và đạt được lợi nhuận mong muốn.

Năm 1957, John Mekeherick, chủ tịch công ty General Electric, đã định nghĩa Marketing như một triết lý kinh doanh, trong đó người tiêu dùng và lợi nhuận là trung tâm.

Marketing là quá trình cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ mà thị trường thực sự cần, thay vì chỉ bán những gì mình đã có Marketing quốc tế trong kinh doanh xuất khẩu liên quan đến việc hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở các thị trường khác nhau, đồng thời phát triển các chiến lược phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.

Marketing quốc tế là một hoạt động kinh doanh quan trọng, theo Gerald Albaum, bao gồm lập kế hoạch, xúc tiến, phân phối và quyết định giá cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của các trung gian và người tiêu dùng cuối cùng ở ngoài biên giới quốc gia Joel Revans cũng có những quan điểm riêng về lĩnh vực này, nhấn mạnh sự đa dạng trong các khái niệm liên quan đến marketing quốc tế.

Marketing quốc tế liên quan đến việc tiếp thị hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp ra ngoài biên giới quốc gia Theo Ld Dahringer, nó là việc áp dụng chiến lược Marketing hỗn hợp giống nhau trên nhiều thị trường quốc gia Một định nghĩa khác về Marketing quốc tế là các hoạt động Marketing diễn ra vượt qua ranh giới của từng quốc gia cụ thể.

Các định nghĩa và khái niệm về Marketing quốc tế đều chỉ ra rằng Marketing nội địa và Marketing quốc tế có những nguyên tắc, quy trình và nội dung cơ bản tương đồng Tuy nhiên, chúng cũng nhấn mạnh sự khác biệt rõ rệt về phạm vi và môi trường áp dụng của hai loại hình marketing này.

Marketing quốc tế bao gồm nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường nước ngoài, nhằm thích ứng cung cầu và tác động đến nhu cầu, mong muốn của thị trường mục tiêu.

Trong lĩnh vực xuất khẩu, Marketing quốc tế được hiểu một cách hẹp hơn là Marketing xuất khẩu, phản ánh sự phát triển chuyên sâu của Marketing quốc tế trong hoạt động xuất khẩu.

Marketing xuất khẩu là quá trình lập kế hoạch và phối hợp hiệu quả các yếu tố như sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến Mục tiêu của hoạt động này là đưa hàng hóa và dịch vụ từ nhà sản xuất đến thị trường toàn cầu, nhằm đạt được thành công cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Từ những khái niệm về Marketing và Marketing xuất khẩu, chúng ta có thể rút ra bản chất của Marketing xuất khẩu như sau: [16]

Một là, Marketing xuất khẩu đáp ứng những nhu cầu của người tiêu dùng nước ngoài

Các hoạt động Marketing xuất khẩu tập trung vào khách hàng nước ngoài, do đó, việc nghiên cứu môi trường thị trường quốc tế là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng chiến lược Marketing xuất khẩu hiệu quả.

Môi trường hoạt động của Marketing xuất khẩu ở mỗi quốc gia có sự khác biệt, do đó không thể áp dụng một cách đồng nhất các chiến lược Marketing từ thị trường nội địa sang thị trường quốc tế Việc thích ứng chiến lược phù hợp với từng khu vực thị trường cụ thể là rất cần thiết để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động Marketing xuất khẩu.

Marketing xuất khẩu tập trung vào việc thâm nhập vững chắc vào thị trường toàn cầu thông qua các chiến lược sản phẩm bền vững, chiến lược giá, phân phối và xúc tiến Nhờ đó, hoạt động xuất khẩu ngày càng phát triển và đạt được các mục tiêu đề ra trên thị trường thế giới.

THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG

KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

2.1.1 Trữ lƣợng và chiến lƣợc khai thác dầu thô của Việt Nam

Trữ lượng dầu khí là yếu tố then chốt trong các tính toán kinh tế liên quan đến ngành này, đặc biệt khi doanh thu từ xuất khẩu dầu thô chiếm 28-30% tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm Một số quốc gia như Nigeria và Indonesia, từng là những nhà xuất khẩu dầu lớn, hiện đang đối mặt với khó khăn trong ngành xăng dầu do quản lý kém nguồn tài nguyên, thiếu nỗ lực trong việc thăm dò và phát triển tài nguyên dầu khí, cũng như tình trạng tham nhũng nghiêm trọng, đặc biệt là ở Nigeria.

Việt Nam, với bờ biển dài và thềm lục địa rộng lớn, có tiềm năng dầu mỏ lớn với diện tích thềm lục địa gấp ba lần đất liền, lên tới 1 triệu km2 Nhiều bể trầm tích đệ tam tại đây chứa đựng trữ lượng dầu mỏ dồi dào, đặc biệt là ở các bề Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu và sông Hồng Tính đến tháng 6/2007, Việt Nam sản xuất khoảng 362.000 thùng dầu thô mỗi ngày, đứng thứ tư trong khu vực Đông Á với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ tấn dầu quy đổi, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Malaysia.

2.1.1.2 Chiến lƣợc khai thác dầu thô của Việt Nam

Mặc dù trữ lượng dầu của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, con số 3,9 tỷ thùng vẫn còn khiêm tốn so với tổng trữ lượng toàn cầu Hơn nữa, dầu thô là nguồn tài nguyên không tái tạo, khiến an ninh năng lượng trở thành vấn đề cấp bách không chỉ của Việt Nam mà còn của toàn thế giới Nguồn dầu thô hiện có tại Việt Nam đang dần cạn kiệt, và các nguồn dầu mới, nếu được phát hiện, thường nằm ở những khu vực phức tạp và khó khai thác.

Trong những năm tới, Việt Nam sẽ giảm dần mức khai thác dầu thô trong nước, đồng thời tập trung vào việc gia tăng trữ lượng dầu khí hàng năm thông qua việc đầu tư mạnh mẽ và tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở nước ngoài Chiến lược này nhằm nâng cao sản lượng khai thác từ các nguồn bên ngoài.

Dưới đây là mục tiêu định hướng phát triển cụ thể của ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2006-2025 [27]:

- Thứ nhất, về sản lượng khai thác dầu khí:

Giai đoạn 2006-2010, sản lượng dầu quy đổi đạt từ 25 đến 30 triệu tấn dầu quy đổi (TOE) mỗi năm, trong đó dầu thô khai thác trong nước chiếm từ 18 đến 19 triệu tấn, khí đốt đạt từ 8 đến 10 tỷ m3, và dầu thô khai thác ở nước ngoài dao động từ 0,2 đến 1 triệu tấn.

 Giai đoạn 2011-2015: 31~34 triệu TOE/năm; trong đó dầu thô khai thác trong nước: 16~18 triệu tấn; khí đốt 11~15 tỷ m3; dầu thô khai thác ở nước ngoài: 1,2~3 triệu tấn

 Giai đoạn 2016-2025: 34~35 triệu TOE/năm; trong đó dầu thô khai thác trong nước: 13~15 triệu tấn; khí đốt 15~16 tỷ m3; dầu thô khai thác ở nước ngoài: 3,5~5,5 triệu tấn

- Thứ hai, đầu tư phát triển bổ sung các mỏ dầu khí hiện đang khai thác và mở thêm các mỏ mới

Phát triển công nghệ chế biến dầu khí là yếu tố quan trọng để đảm bảo an ninh nhiên liệu, đồng thời cần hoàn thành đúng tiến độ xây dựng các trung tâm lọc hóa dầu.

2.1.2 Thực trạng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam thời gian qua 2.1.2.1 Kim ngạch và khối lƣợng xuất khẩu

Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã chính thức hoạt động từ ngày 22/2, đánh dấu bước chuyển mình của Việt Nam trong việc giảm dần phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô Việc này nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy và tối ưu hóa trữ lượng dầu có hạn Tuy nhiên, do ngành lọc hóa dầu của Việt Nam còn mới mẻ, phần lớn sản lượng dầu thô vẫn sẽ được xuất khẩu trong thời gian tới để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Trong những năm 90, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu dầu khí của Việt Nam còn thấp do ngành công nghiệp này còn non trẻ và công nghệ khai thác lạc hậu Tuy nhiên, sau năm 1990, hoạt động xuất khẩu dầu thô bắt đầu khởi sắc, đưa dầu mỏ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng đáng kể trong năm đầu tiên.

1 tỷ USD năm 1995 Tới nay dầu mỏ vẫn luôn khằng định vị trí dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Bảng 2.1 Xuất khẩu dầu thô từ năm 2000-2008

Giá bình quân (USD/tấn)

Nguồn: www.sgtt.com.vn

Trước năm 2004, sản lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam thường tăng trưởng đồng thời với kim ngạch xuất khẩu, trong đó kim ngạch thường tăng cao hơn Dù giá cả thị trường có lúc giảm, nhưng nhờ vào các biện pháp tăng sản lượng khai thác, kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Tuy nhiên, từ năm 2004 trở lại đây, sản lượng xuất khẩu dầu thô có xu hướng giảm dần, mặc dù kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng nhanh nhờ vào giá dầu cao Ví dụ, năm 2008, mặc dù lượng xuất khẩu giảm 8,7% so với năm 2007, nhưng nhờ giá bình quân tăng 33,6%, kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 10,4 tỷ USD, tăng 22% so với năm trước Ngày 22/2/2009, ngành dầu khí Việt Nam đã khánh thành nhà máy lọc dầu Dung Quất, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong ngành công nghiệp Việt Nam.

12 triệu tấn vẫn đảm bảo hoàn thành kế hoạch

2.1.2.2 Thực trạng thị trường xuất khẩu theo cách tư duy mới

Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây, với sự mở rộng thị trường đa dạng hơn so với trước đây, khi chủ yếu chỉ xuất khẩu sang Nhật Bản Việt Nam cần tập trung vào việc phát triển ngành công nghiệp chế biến dầu khí trong nước để tối ưu hóa giá trị dầu thô, vì trữ lượng dầu không lớn và vị trí trên thị trường thế giới chỉ đứng thứ 31 Xuất khẩu dầu thô với giá thấp trong khi giá sản phẩm lọc dầu cao cho thấy cơ hội lớn cho Việt Nam Mặc dù nhà máy lọc dầu Dung Quất đã hoạt động, nhưng sản lượng hiện tại chỉ đáp ứng 30% nhu cầu tiêu dùng trong nước, khiến Việt Nam vẫn phải nhập khẩu dầu thành phẩm Do đó, cần đẩy nhanh tiến trình xây dựng các nhà máy hóa lọc dầu để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Hiện nay, dầu thô vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu mang lại nguồn thu ngoại tệ cho Việt Nam, vì vậy việc khai thác và thăm dò dầu khí cần được tăng cường Việt Nam đang có những thị trường ổn định và đáng tin cậy, nhưng để nâng cao vị thế của dầu thô Việt Nam, cần xây dựng hình ảnh và uy tín vững chắc Dầu thô Việt Nam được đánh giá có chất lượng tốt, phù hợp với các thị trường khó tính, tuy nhiên thương hiệu của nó chưa được phát triển tương xứng với giá trị Trong khi đó, các nước khác có sản phẩm dầu thô chất lượng tương tự nhưng đã xây dựng được thương hiệu ổn định hơn.

Thị trường xuất khẩu trực tiếp của Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu chỉ hợp tác với các tập đoàn lớn như Mitsubishi (Nhật Bản), Shell (Mỹ), Sinopec (Pháp) và BP Singapore Việc chưa thiết lập được nhiều thị trường trực tiếp đã gây khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới trên toàn cầu.

Việt Nam đang nỗ lực duy trì tốc độ khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, nhưng cần gắn kết hoạt động này với việc đảm bảo an ninh năng lượng Trữ lượng dầu của Việt Nam có hạn và một phần lớn phải được giữ lại để phục vụ cho ngành công nghiệp lọc hóa dầu trong nước, trong khi nhu cầu từ các thị trường toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng Do đó, Việt Nam cần cân nhắc và xác định mức xuất khẩu hợp lý, phù hợp với trữ lượng hiện có và chiến lược phát triển ngành chế biến dầu khí.

Hướng đi của dầu thô Việt Nam cần tập trung vào việc gia tăng giá trị xuất khẩu và giảm tỷ trọng hàng hóa thô Mở rộng thị trường không phải là thách thức lớn, bởi nhu cầu tăng nhanh và lo ngại về an ninh năng lượng của các nước phát triển Tuy nhiên, việc xuất khẩu dầu thô nhanh chóng có thể dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên quý giá Do đó, cần chú trọng hơn đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên dầu thô.

THỰC TRẠNG CHIẾN LƢỢC MARKETING TRONG KINH

2.2.1 Thực tế phân tích SWOT ngành dầu khí Việt Nam

Việt Nam sở hữu tiềm năng dầu khí lớn trong khu vực Đông Nam Á, với sản lượng khai thác hàng năm đạt khoảng 18-20 triệu tấn dầu quy đổi, đứng thứ ba về xuất khẩu dầu thô Trong khi sản lượng dầu khí đang có xu hướng gia tăng, chính phủ vẫn chú trọng đến chính sách an ninh năng lượng quốc gia, định hướng giảm dần sản lượng khai thác trong nước và mở rộng tìm kiếm, thăm dò ở nước ngoài Năm 2008, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ký kết 10 hợp đồng dầu khí quốc tế, góp phần nâng tổng sản lượng khai thác lên 22,5 triệu tấn dầu quy đổi và xuất khẩu 14,66 triệu tấn dầu thô.

Chất lượng dầu thô Việt Nam được đánh giá cao, phù hợp với nhu cầu thị trường và có ưu thế tại các quốc gia nhập khẩu lớn như Nhật Bản, Australia và Mỹ Điều này không chỉ nâng cao uy tín mà còn tăng giá trị cho mặt hàng dầu thô Việt Nam trên thị trường toàn cầu Nhiều quốc gia đã nhập khẩu dầu thô Việt Nam, đặc biệt là dầu Bạch Hổ, để pha trộn nhằm cải thiện chất lượng dầu của họ Ưu thế này tạo nền tảng vững chắc cho các sản phẩm dầu Việt Nam trên thị trường quốc tế trong tương lai.

Chính trị và an ninh ổn định là thế mạnh của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xuất khẩu dầu thô Sự ổn định này không chỉ mang lại niềm tin cho các nhà đầu tư mà còn giúp ngành dầu khí phát triển bền vững Chính phủ và Đảng luôn quan tâm, chỉ đạo kịp thời đối với ngành dầu khí, xem đây là lĩnh vực trọng điểm có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Các dự án dầu khí được ưu tiên và chỉ đạo trực tiếp, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đồng thời cung cấp nguồn ngoại tệ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhân công tại Việt Nam có giá thành thấp hơn so với nhiều quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực, giúp giảm chi phí thuê lao động Các dịch vụ dầu khí tại Việt Nam cũng có mức giá cạnh tranh, rẻ hơn so với các nước lân cận Sự phong phú và giá rẻ của nhân công và dịch vụ bên ngoài trong ngành dầu khí góp phần giảm giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm dầu khí Việt Nam.

Trình độ lao động trong ngành dầu khí tại Việt Nam ngày càng được nâng cao, với một đội ngũ lao động được đào tạo bài bản từ các quốc gia phát triển trong lĩnh vực này Trước đây, Việt Nam phải phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài cho nhiều công việc, nhưng hiện nay, người lao động Việt Nam đã có thể đảm nhận nhiều vị trí quan trọng và vẫn đảm bảo chất lượng công việc Từ việc thiếu hụt lao động và kinh nghiệm, Việt Nam giờ đây đã có khả năng tự triển khai các hoạt động dầu khí không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Nhiều lao động trong ngành đã được các nhà thầu dầu khí quốc tế công nhận cao về chuyên môn, thể hiện sức mạnh nội tại của ngành dầu khí Việt Nam.

Quan hệ quốc tế thuận lợi đã giúp Dầu khí Việt Nam hòa nhập với chủ trương mở cửa, hòa bình và hợp tác của Đảng và Chính phủ, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt với nhiều quốc gia nhằm phát triển kinh tế Sau hàng chục năm phát triển, Dầu khí Việt Nam đã thiết lập được mối quan hệ tích cực với các công ty dầu khí nước ngoài như Petronas, BP, Knoc, Conoco-Philips, Unocal và nhận được đánh giá cao về năng lực từ các đối tác này, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập.

Việt Nam có tiềm năng dầu khí nhưng vị trí các mỏ dầu lại không thuận lợi, chủ yếu nằm ở thềm lục địa và có trữ lượng không lớn so với các quốc gia Trung Đông Điều này dẫn đến chi phí sản xuất dầu thô cao hơn, làm giảm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực.

Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển, vẫn đối mặt với nhiều hạn chế trong năng lực quản lý, đặc biệt là tính tùy tiện trong xử lý công việc Việc chưa đặt lợi ích của ngành lên hàng đầu trong nhiều hoạt động đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Những yếu điểm này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai.

Năng lực tài chính của Việt Nam vẫn còn yếu, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và hạn chế vốn đầu tư Nhu cầu kinh tế thấp cùng với tiềm năng dầu khí chưa phong phú khiến nhiều công trình dầu khí có quy mô nhỏ, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh so với sản phẩm tương tự từ các nhà máy lớn hơn.

Khoa học công nghệ tại Việt Nam đã có sự chuyển biến với cơ cấu công nghệ đa dạng và tiếp cận trình độ hiện đại, nhưng vẫn còn ở mức thấp và chậm tiến bộ Mặc dù có những cải tiến về thiết bị công nghệ, ngành vẫn thiếu một đội ngũ khoa học công nghệ mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu trong các lĩnh vực hoạt động.

Hoạt động marketing trong ngành chưa được chú trọng đầy đủ, với các chiến lược tiếp thị và nghiên cứu thị trường còn hạn chế Các đơn vị thường áp dụng cách tiếp cận “ăn sổi”, tập trung vào từng sản phẩm trong thời gian ngắn mà không xây dựng chiến lược lâu dài cho sản phẩm của mình.

Phân cấp quản lý trong ngành dầu khí còn thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động của ngành Sự chồng chéo trong cơ chế quản lý qua nhiều cấp và bộ ngành không chỉ làm chậm quy trình ra quyết định mà còn cản trở những quyết định nhạy cảm về mặt thời gian.

Xu hướng giảm nguồn cung dầu trong khi nhu cầu tăng cao đang khiến giá dầu biến động theo chiều hướng tích cực Điều này mang lại lợi thế cho chúng ta, cho phép giảm dần lượng xuất khẩu phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Chúng ta có thể giảm tỷ trọng xuất khẩu hàng nguyên liệu thô, chưa chế biến mà không lo kim ngạch xuất khẩu bị giảm, đồng thời tiếp tục thúc đẩy các hoạt động thị trường.

Mặc dù khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2007 và 2008 đã làm giảm nhu cầu về dầu thô, nhưng đầu năm 2009 đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi, dự đoán nhu cầu sẽ tiếp tục tăng Sự gia tăng dân số ở các nước đang phát triển và nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đã thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm nguồn cung dầu mỏ Trong khi nguồn tài nguyên này dự kiến sẽ đạt đỉnh trong vài năm tới, sản lượng khai thác của OPEC và ngoài OPEC chỉ có khả năng tăng tối đa 2,4 triệu thùng/ngày, trong khi nhu cầu tăng 2,75 triệu thùng/ngày, dẫn đến tình trạng cung giảm cầu tăng, gây áp lực tăng giá dầu Việt Nam có tiềm năng tăng sản lượng khai thác và đảm bảo nguồn cung nhờ vào việc xác minh trữ lượng hàng năm và gia tăng nhập khẩu dầu thô từ thị trường nước ngoài.

Xu hướng thương mại toàn cầu hiện nay đang chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản phẩm đã qua chế biến, và dầu thô cũng không phải là ngoại lệ Các quốc gia xuất khẩu dầu thô đang lên kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu nhằm giảm xuất khẩu dầu thô, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng giá trị xuất khẩu Việt Nam cũng tham gia vào xu hướng này, chuyển từ xuất khẩu dầu thô sang dầu đã qua chế biến, qua đó nâng cao giá trị xuất khẩu và giảm kim ngạch nhập khẩu dầu thành phẩm với giá cao.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CHIẾN LƯỢC

Ngày đăng: 24/06/2021, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kiến Anh (2003), Hoạt động kinh doanh xuất khẩu dầu thô của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu dầu thô của Việt Nam
Tác giả: Phan Kiến Anh
Năm: 2003
2. Bộ Chính trị (1988), Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1988
4. Bộ Công thương, Tạp chí thương mại (2007, 2008), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí thương mại
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Phan Trung Điền (2000), Ngành dầu khí Việt Nam trước thềm thế kỷ 21, Tuyển tập hội nghị khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dầu khí Việt Nam trước thềm thế kỷ 21
Tác giả: Phan Trung Điền
Năm: 2000
8. PGS.TS Lưu Văn Nghiêm (2005), Cung cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển của Việt Nam, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển của Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Lưu Văn Nghiêm
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2005
9. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2007, 2008, 2009), Tạp chí Dầu khí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dầu khí
10. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2000), 30 năm dầu khí Việt Nam: cơ hội mới, thách thức mới, Tuyển tập báo cáo các hội nghị khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm dầu khí Việt Nam: cơ hội mới, thách thức mới
Tác giả: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Năm: 2000
11. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2007, 2008), Thông tin Dầu khí thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Dầu khí thế giới
12. Đoàn Thiên Tích (2001), Dầu khí Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu khí Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thiên Tích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
13. Trần Thị Thu Trang (2006), Thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. "Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Thu Trang
Năm: 2006
14. Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (2009), Số 4 + 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
Tác giả: Tuần tin Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
Năm: 2009
15. PGS.TS Nguyễn Trung Vãn (2005), Định hướng và giải pháp xuất khẩu dầu thô của Việt Nam trong những năm tới, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và giải pháp xuất khẩu dầu thô của Việt Nam trong những năm tới
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Trung Vãn
Năm: 2005
16. Đỗ Hữu Vinh (2006), Marketing xuất nhập khẩu, NXB Tài chính, Thành phố Hồ Chí Minh.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing xuất nhập khẩu
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
19. BP Statistical Review of World Energy (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: BP Statistical Review of World Energy
23. World Oil Outlook (2008). MẠNG INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Oil Outlook
Tác giả: World Oil Outlook
Năm: 2008
7. Dương Hữu Hạnh (2007), Hướng dẫn thực hành kinh doanh xuất nhập khẩu, NXB Thống kê, Hà Nội Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w