Từ thực tế cho thấy, mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định về cho phép mang thai hộ, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP cấm tất cả các việc về mang thai hộ khoản 1 Điều 6 song
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
***
-TIỂU LUẬN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề tài: “Điều kiện đối với bên mang thai hộ theo
luật hôn nhân và gia đình 2014”
Họ và tên: Phạm Đức Tâm Lớp: K7B
SBD: TKS000210 MSSV: 193801010112
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 3
1 Khái niệm mang thai hộ 3
2 Điều kiện mang thai hộ 4
2.1 Điều kiện của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ 5
2.2 Điều kiện của người mang thai hộ 6
2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 8
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện đối với người mang thai hộ 9
C KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3A MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) đã có nhiều ý kiến trái chiều về việc có nên quy định vấn đề mang thai hộ trong Dự thảo hay không? Có thật sự cần thiết không? Có cấp thiết không? Các vấn đề pháp lý thực tiễn có được hoàn toàn giải quyết không nếu Dự thảo được thông qua?
Từ thực tế cho thấy, mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định về cho phép mang thai hộ, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP cấm tất cả các việc về mang thai hộ (khoản 1 Điều 6) song việc mang thai hộ vẫn diễn ra và nhà nước vẫn phải áp dụng các biện pháp hành chính và pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích cho những trẻ em được sinh ra từ việc mang thai hộ trái pháp luật này Bên cạnh đó, như trên đã phân tích, trong thực tế, vì các lý do khác nhau mà có nhiều cặp vợ chồng vô sinh do người vợ không thể thụ thai, mang thai và sinh con, ngay cả khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các cặp vợ chồng này luôn có nguyện vọng được thực hiện quyền làm cha, mẹ; được có con mang quan hệ huyết thống của vợ chồng thông qua việc mang thai hộ Trước thực tiễn này, pháp luật cần có phương thức điều chỉnh hợp lý
để vừa giảm thiểu những tác động tiêu cực từ việc mang thai hộ vừa tạo điều kiện (cơ hội) cho các cặp vợ chồng vô sinh thực hiện được quyền làm cha, mẹ theo nguyện vọng Cách thức lựa chọn được đưa ra là bên cạnh quy định về cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại, Luật Hôn nhân và Gia đình cần quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo với những quy định chặt chẽ, cụ thể liên quan đến việc mang thai hộ này đồng thời cho phép mang thai hộ cũng phải phù hợp với các thiết chế, quy định của pháp luật có liên quan
Theo xu hướng này, Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 19/6/2014 (Luật
Trang 4Hôn nhân và Gia đình năm 2014); Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Luật gồm 9 chương, 133 điều, trong đó các quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Mục 2 Chương V từ Điều 94 đến Điều 100 Các quy định của Luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
là quy định mới, lần đầu tiên được ghi nhận và thể hiện tính nhân văn sâu sắc của pháp luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước ta [3] Để hiểu thêm về vấn đề này em xin được lựa chọn phân tích về “Điều kiện đối với bên mang thai hộ theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014” Do hiểu biết còn hạn chế nên trong bài còn thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để cho bài làm cũng như kiến thức của em thêm hoàn thiện
Trang 5B NỘI DUNG
1 Khái niệm mang thai hộ
Hiện nay, các cặp vợ chồng gặp vấn đề vô sinh không thể có con thì thường tìm đến phương pháp hỗ trợ sinh sản (bao gồm thụ tinh trong ống nghiệm và thụ tinh nhân tạo) hoặc mang thai hộ Việc này sẽ giúp cho những gia đình muốn có con được hoàn thiện mong muốn của mình Đồng thời, đây còn là một việc làm mang tính nhân đạo
Tại Việt Nam, năm 2014, lần đầu tiên Quốc hội nước ta cho phép việc mang thai hộ với mục đích nhân đạo và điều này được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Theo đó, tại khoản 22 của Điều 3 có đưa ra
hai khái niệm về mang thai hộ như sau: “Mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người
vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai
và sinh con”.
Bên cạnh đó, một số nước trên thế giới cũng có đưa ra khái niệm về mang thai hộ:
Ở nước Anh: Mang thai hộ là một thỏa thuận, thường được hỗ trợ bởi một thỏa thuận pháp lý, theo đó một người phụ nữ (người mẹ mang thai hộ) đồng ý mang con cho một hoặc nhiều người khác, người sẽ trở thành cha mẹ của đứa trẻ sau khi sinh
Ở Ấn Độ: Mang thai hộ là tinh trùng của người cha được thụ tinh với buồng trứng của người phụ nữ khác Trong đó, mối quan hệ di truyền chỉ là
Trang 6với người cha, trong khi mang thai hộ, buồng trứng và tinh trùng của cha mẹ được ghép bằng phương pháp Shonli và phôi được cấy vào tử cung của con gái mang thai hộ
Ở Hàn Quốc: Mang thai hộ là phương pháp người phụ nữ thứ ba được thụ tinh nhân tạo hoặc cấy trứng đã thụ tinh để mang thai và sinh con theo yêu cầu của cặp vợ chồng vô sinh Mang thai hộ của người mẹ mang thai hộ còn được gọi là sinh đẻ thay thế, và người phụ nữ thứ ba nhận tiền bồi thường và sinh ra người mang thai hộ được gọi là mẹ đẻ thay thế
Ở Thái Lan: Mang thai hộ là việc người phụ nữ nhận mang thai hộ cho một cặp vợ chồng khác mà vợ không có khả năng tự thụ thai Đây là một trong những công nghệ điều trị vô sinh hàng đầu dành cho các cặp vợ chồng khó thụ thai
2 Điều kiện mang thai hộ
Việc Luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận cho phép việc mang thai hộ
đã góp phần giúp cho các cặp vợ chồng không có khả năng có con có thể có
cơ hội được làm cha làm mẹ Tuy nhiên, không phải ai cũng được quyền mang thai hộ hay được nhờ người khác mang thai hộ, mà pháp luật nước ta hiện nay có quy định rất chặt chẽ về vấn đề này Điều đó nhằm ngăn chặn những hành vi lợi dụng việc mang thai hộ để tìm kiếm lợi nhuận, mưu cầu cho lợi ích cá nhân, đồng thời còn góp phần ngăn chặn việc thương mại hóa hành vi mang thai hộ Vì thế, điều kiện mang thai hộ được đặt ra và chỉ khi cá nhân nào đáp ứng được những điều kiện này thì mới được quyền mang thai hộ hoặc nhờ người khác mang thai hộ Nhưng trước hết phải nói đến điều kiện tiên quyết đầu tiên tạo cơ sở để hai bên xem xét các điều kiện tiếp theo để tiến hành các trình tự, thủ tục mang thai hộ, đó là “Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập
Trang 7thành văn bản” (khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) Đây
là một điều kiện bắt buộc, phải dựa trên sự tự nguyện của các bên và thỏa thuận này phải được thể hiện dưới hình thức là văn bản có công chứng [1] Tiếp theo đó chúng ta mới xem xét đến điều kiện của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và điều kiện của người mang thai hộ
2.1 Điều kiện của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cụ thể tại khoản 2 Điều 95, có đặt ra các điều kiện đối với cặp vợ chồng có nhu cầu nhờ mang thai hộ như sau:
Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
Điều này được hiểu là ngay cả khi áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, bơm tinh trùng vào tử cung, trưởng thành trứng trong ống nghiệm mà vẫn không thể sinh con thì mới được nhờ mang thai hộ Những người phụ nữ bị vô sinh nhưng vẫn có khả năng tự mang thai sinh con khi được sự hỗ trợ về mặt y học thì không thuộc đối tượng được nhờ mang thai hộ
Vợ chồng đang không có con chung;
Điều kiện này dẫn đến cách hiểu nếu vợ, chồng đã có con riêng nhưng đang không có con chung thì vẫn thuộc trường hợp được nhờ mang thai hộ Tuy nhiên, nếu vợ chồng không có con riêng mà có con chung nhưng con chung mắc những căn bệnh như down thì không thuộc diện được nhờ mang thai hộ Điều này là không hoàn toàn phù hợp trong thực tế Mặt khác, do pháp luật không quy định việc có được phép nhờ mang thai hộ nhiều lần hay không nên có thể suy đoán rằng trường hợp nhờ mang thai hộ mà việc mang thai gặp những tai biến bất thường hoặc sau khi sinh con, đứa con chết thì họ
Trang 8vẫn đảm bảo điều kiện là đang không có con chung và sẽ được nhờ mang thai
hộ tiếp (không có giới hạn).[4]
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Theo quan điểm của một tác giả, bên nhờ mang thai hộ cần được tư vấn một số vấn đề như sau: Các phương án khác ngoài việc mang thai hộ hoặc xin con nuôi; Quy trình thực hiện mang thai hộ; Các khó khăn có thể có khi thực hiện mang thai hộ; Nguy cơ các hành vi, thói quen của người mang thai hộ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe đứa trẻ,…
Điều này là rất cần thiết để cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ hình dung được toàn bộ quá trình mang thai hộ Từ đó, họ sẽ quyết định có thực hiện việc nhờ mang thai hộ hay không
2.2 Điều kiện của người mang thai hộ
Về điều kiện của người mang thai hộ thì pháp luật nước ta quy định cụ thể trong khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
“Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng” được hiểu theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP bao gồm: chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ
Người đó đã từng sinh con một lần và chỉ được mang thai hộ một lần;
Mang thai và sinh con là một quá trình đặc biệt, việc đã từng sinh con
sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lí, tinh thần, cũng như có kinh nghiệm, kĩ năng trong việc chăm sóc bản thân và thai nhi nhằm đảm bảo thực
Trang 9hiện việc mang thai hộ Quy định chỉ mang thai hộ một lần nhằm tránh tình trạng lợi dụng để đạt được mục đích thương mại
Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định người mang thai hộ phải có
độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ Tuy nhiên pháp luật còn bỏ ngỏ, chưa quy định cụ thể về “độ tuổi phù hợp” là bao nhiêu Theo Tiến sĩ - Bác sĩ Lê Thị Thu Hà, Trưởng khoa
Hậu sản N, Bệnh viện Từ Dũ, Thành Phố Hồ Chí Minh cho rằng: “độ tuổi
làm mẹ tốt nhất trước hết cơ thể phát triển toàn diện để đảm nhiệm khả năng sinh sản tốt, vững vàng về kiến thức, định hình về tính cách, ổn định tâm lý,
tự tin vào bản thân và độc lập về tài chính Độ tuổi sinh sản tốt là không dưới
18 tuổi Phụ nữ còn trẻ đã mang thai, lúc này cơ thể chưa phát triển đầy đủ
và cũng chưa sẵn sàng về cả mặt tâm lý lẫn sinh lý nên dễ dẫn đến sẩy thai hoặc các hiện tượng khác như thai yếu, sinh non Bởi cơ thể người mẹ còn quá trẻ sẽ chưa phát triển đầy đủ, xương chậu chưa nở tốt dễ bị sang chấn khi sinh đẻ, tỷ lệ mổ lấy thai cũng cao hơn Việc nuôi con của các bà mẹ trẻ cũng gặp không ít khó khăn do thiếu về tài chính lẫn kiến thức Ngược lại với phụ nữ trên 35 tuổi thì khả năng mang thai giảm so với độ tuổi dưới 30, và nguy cơ trẻ mắc bệnh down và các hiện tượng đột biến gene cũng tăng cao.
Tỷ lệ này là 1/400 đối với độ tuổi 35 và sẽ dần tăng lên mức 1/109 ở các bà
mẹ sinh con khi ở tuổi 40 Khi ở tuổi 45, nguy cơ này là 1/32 (so với tỉ lệ 1/1.500 ở tuổi 25) Ngoài ra, các nguy cơ khác như các dị tật, bệnh bẩm sinh
do sự biến đổi gene Như vậy độ tuổi mang thai tốt nhất trung bình khoảng 22 – 33 tuổi [5].
Trang 10Điều kiện có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền không chỉ nhằm đảm bảo cho sức khỏe người nhận mang thai hộ mà còn đảm bảo sức khỏe cho đứa trẻ, hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra
Phải có sự đồng ý của chồng ( nếu người được nhờ mang thai hộ đã có chồng);
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đặt ra nguyên tắc xây dựng gia đình tiến bộ, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Việc mang thai hộ không chỉ làm cho người vợ có nguy cơ với một số biến chứng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tâm lí người thân trong gia đình, các mối quan hệ gia đình Chính vì vậy, vấn đề này cần phải được sự bàn bạc, thống nhất, thỏa thuận và đồng ý bằng văn bản của người chồng
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Theo quan điểm của cá nhân, bên mang thai hộ cần được tư vấn một số vấn đề như: Quy trình thực hiện mang thai hộ; Khả năng phải mang đa thai; Khả năng có sự phản đối, không đồng tình của người trong gia đình hoặc bạn
bè trong thời gian thực hiện mang thai hộ; Các nguy cơ, biến chứng có thể có khi mang thai như sẩy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết sau sinh… Điều này giúp cho người mang thai hộ cân nhắc việc có nên thực hiện mang thai hộ người khác hay không
2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì bên mang thai hộ có các quyền và nghĩa vụ như sau:
Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng cho con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải gio đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ
Trang 11Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế
Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ Trong trường hợp kể từ ngày sinh cho đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sác dân số và
kế hoạch hóa gia đình
Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện đối với người mang thai hộ
Thứ nhất, theo quan điểm của một tác giả nào đó: một trong những yêu
cầu quan trọng về điều kiện của người mang thai hộ là bản thân người này phải đã từng sinh con Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP thì có thể xác định, việc xác nhận người mang thai hộ đã
Trang 12từng sinh con thuộc thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, nhưng điều này là không cần thiết bởi lẽ sẽ làm tăng tính phức tạp về thủ tục, tạo ra sự rườm rà không cần thiết
vì việc người mang thai hộ đã từng sinh con có thể chứng minh dễ dàng qua việc họ xuất trình giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh của bất kì người con nào của họ và như vậy sẽ trở nên đơn giản hóa về mặt thủ tục cũng như phù hợp với Luật Hộ tịch, tạo thuận lợi cho các bên trong việc thực hiện hồ sơ đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Do đó, tác giả cho rằng với điểm e khoản 1 Điều 14 Nghị định số
10/2015/NĐ-CP, bên nhờ mang thai hộ chỉ cần cung cấp “Bản xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này”.
Với quan điểm này thì có thể thấy việc áp dụng luật trong thực tế sẽ đơn giản hơn rất nhiều so với việc áp dụng theo quy định trên của Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP, đồng thời có thể rút ngắn được thời gian cho việc thực hiện các thủ tục
Thứ hai, cũng với quan điểm của tác giả trên, tại điểm h Điều 14 Nghị
định số 10/2015/NĐ-CP yêu cầu hồ sơ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
cần phải có “Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người
phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ” Tuy nhiên,
thực tiễn cho thấy, pháp luật hiện hành chưa dự liệu về việc nếu rơi vào trường hợp người chồng của người mang thai hộ bị mất năng lực hành vi dân
sự, khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi thì sẽ được giải quyết như thế nào
Rõ ràng, đối với trường hợp người chồng mất năng lực hành vi dân dự hoặc có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi thì không thể có khả