1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ HÀNH VI ĐẾN HIỆU QUẢĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

88 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 731,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (13)
    • 1.1 Lý do hình thành đề tài (13)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3 Ý nghĩa của nghiên cứu (14)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
  • CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT (15)
    • 2.1 Lý thuyết tự nghiệm (Heuristic) (15)
    • 2.2 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) (17)
    • 2.3 Các yếu tố thị trường (Market factors) (18)
    • 2.4 Hiệu ứng bầy đàn (Herding effect) (18)
    • 2.5 Hiệu quả đầu tư (19)
    • 2.6 Mô hình nghiên cứu (20)
      • 2.6.1 Mô hình nghiên cứu của Waweru et al. (2008) (20)
      • 2.6.2 Mô hình nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011) (21)
      • 2.6.3 Mô hình nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan (2013) (22)
      • 2.6.4 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước (23)
      • 2.6.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất (24)
  • CHƯƠNG 3: MÔ TẢ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (26)
    • 3.1 Thị trường chứng khoán là gì? (26)
      • 3.1.1 Khái niệm (26)
      • 3.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán (27)
    • 3.2 Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam (28)
    • 3.3 Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn hiện tại (29)
  • CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (30)
    • 4.1 Quy trình nghiên cứu (30)
    • 4.2 Thiết kế mẫu (31)
      • 4.3.1 Thang đo sơ bộ (32)
      • 4.3.2 Hiệu chỉnh thang đo (37)
      • 4.3.3 Phiếu khảo sát hoàn chỉnh (40)
    • 4.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu (42)
  • CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU (45)
    • 5.1 Mô tả mẫu (45)
    • 5.2 Đánh giá độ tin cậy các thang đo (48)
    • 5.3 Phân tích nhân tố khám phá của các biến hành vi ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và các biến hiệu quả đầu tư (50)
      • 5.3.1 Phân tích nhân tố khám phá của các biến hành vi ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư (50)
      • 5.3.2 Phân tích nhân tố khám phá của các biến hiệu quả đầu tư (51)
    • 5.4 Kiểm định độ tin cậy của thang đo sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA (52)
    • 5.5 Mức độ đồng thuận của người trả lời trên các đánh giá (53)
      • 5.5.1 Mức độ đồng thuận của người trả lời trên các đánh giá về Tự nghiệm (53)
      • 5.5.2 Mức độ đồng thuận của người trả lời trên các đánh giá về Triển vọng (54)
      • 5.5.3 Mức độ đồng thuận của người trả lời trên các đánh giá về Yếu tố thị trường (56)
      • 5.5.4 Mức độ đồng thuận của người trả lời trên các đánh giá về Hiệu ứng bầy đàn (57)
    • 5.6 Phân tích tương quan và hồi quy (57)
      • 5.6.1 Phân tích tương quan (58)
      • 5.6.2 Phân tích hồi quy (59)
    • 5.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu (61)
      • 5.7.1 Yếu tố tự nghiệm – Tương quan tích cực (62)
      • 5.7.2 Yếu tố triển vọng – Tương quan tiêu cực (64)
      • 5.7.3 Yếu tố thị trường – Tương quan tích cực (65)
      • 5.7.4 Yếu tố hiệu ứng bầy đàn – Tương quan tích cực (65)
  • CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (66)
    • 6.1 Kết luận (66)
    • 6.2 Hạn chế của nghiên cứu (67)
    • 6.3 Kiến nghị (67)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (68)
  • PHỤ LỤC (72)
    • 5.1.1 Kết quả chạy biến tự nghiệm (77)
    • 5.1.2 Kết quả chạy biến triển vọng (77)
    • 5.1.3 Kết quả chạy biến yếu tố thị trường (78)
    • 5.1.4 Kết quả chạy biến hiệu ứng bầy đàn (79)
    • 5.1.5 Kết quả chạy biến hiệu quả đầu tư (79)
    • 5.2.1 Kết quả chạy phân tích nhân tố khám EFA của biến độc lập (80)
    • 5.2.2 Kết quả chạy phân tích nhân tố khám EFA biến phụ thuộc (82)
    • 5.3.1 Kết quả chạy biến tự nghiệm (83)
    • 5.3.2 Kết quả chạy biến triển vọng (84)
    • 5.3.3 Kết quả chạy biến yếu tố thị trường (84)
    • 5.3.4 Kết quả chạy biến hiệu ứng bầy đàn (85)
    • 5.3.5 Kết quả chạy biến hiệu quả đầu tư (85)
    • 5.4.1 Kết quả chạy phân tích tương quan (86)
    • 5.4.2 Kết quả chạy phân tích hồi quy (87)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do hình thành đề tài

Lĩnh vực tài chính hành vi đang phát triển nhanh chóng, sử dụng kiến thức tâm lý học để hiểu cách hành vi con người ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Nghiên cứu của Waweru et al (2008) đã tạo nền tảng cho nhiều nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt về vai trò tâm lý nhà đầu tư tại Sở giao dịch chứng khoán Nairobi Nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011) cho thấy các yếu tố hành vi như hiệu ứng bầy đàn, triển vọng và tự nghiệm không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà còn đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Tương tự, nghiên cứu của L.Kengatharan và N.Kengatharan (2013) cũng chỉ ra rằng hiệu ứng bầy đàn và tự nghiệm có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang tiến vào giai đoạn 20 năm phát triển kể từ khi hoạt động chính thức vào năm 2000 với 2 mã cổ phiếu đầu tiên là REE và SAM, hiện nay đã có hơn 750 công ty niêm yết, với vốn hóa thị trường đạt 3.9 triệu tỷ đồng, tương đương 71.6% GDP năm 2018 Năm 2019, nhà đầu tư kỳ vọng thị trường sẽ được nâng hạng lên thị trường mới nổi, điều này có thể thu hút nguồn vốn nước ngoài và phản ánh sự phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, việc nâng hạng vẫn chưa xảy ra, dòng tiền nước ngoài rút dần do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, dẫn đến sự chán nản của nhà đầu tư trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân Quyết định đầu tư của nhà đầu tư ảnh hưởng đến xu hướng thị trường, và sự thận trọng trong đầu tư khiến thị trường dao động trong phạm vi hẹp, không rõ xu hướng.

Nghiên cứu này nhằm xem xét ảnh hưởng của các yếu tố hành vi đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn mới Mục tiêu là đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân.

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố hành vi ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam

Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị quan trọng dành cho các nhà đầu tư cá nhân, nhằm điều chỉnh hành vi đầu tư của họ để đạt được kết quả tốt hơn.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhà đầu tư cá nhân trong việc phân tích xu hướng thị trường chứng khoán trước khi ra quyết định đầu tư Đối với các tổ chức tài chính, nó cung cấp nền tảng vững chắc để dự đoán xu hướng thị trường trong tương lai và tăng cường độ tin cậy trong tư vấn cho nhà đầu tư Ngoài ra, nghiên cứu cũng mang lại cơ hội cho các tác giả để hiểu sâu hơn về lý thuyết và thực tiễn của thị trường chứng khoán cũng như các khía cạnh của tài chính hành vi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nhà đầu tư cá nhân đang giao dịch chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt Nam

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Lý thuyết tự nghiệm (Heuristic)

Tự nghiệm (Heuristic) là quy tắc ngón tay cái giúp ra quyết định dễ dàng hơn trong môi trường phức tạp và không chắc chắn bằng cách giảm độ phức tạp trong việc đánh giá xác suất và dự đoán giá trị Mặc dù các tự nghiệm này hữu ích khi thời gian hạn chế, chúng cũng có thể dẫn đến sai lệch, gây ra quyết định đầu tư dưới mức tối ưu Tversky và Kahneman xác định ba loại tự nghiệm: tình huống điển hình, sự thiên vị sẵn có và neo quyết định Ngoài ra, Waweru et al cũng đề cập đến hai yếu tố khác là ảo tưởng con bạc và sự tự tin thái quá vào lý thuyết tự nghiệm.

Tính đại diện có thể dẫn đến sai lệch khi mọi người quá chú trọng vào kinh nghiệm gần đây và bỏ qua tỷ lệ dài hạn trung bình (Ritter, 2003) Một ví dụ điển hình là các nhà đầu tư thường cho rằng một công ty có tốc độ tăng trưởng dài hạn cao chỉ dựa trên một vài quý tăng trưởng (Waweru et al., 2008) Tính đại diện cũng gây ra hiện tượng bỏ qua kích thước mẫu, khi mọi người suy luận từ quá ít dữ liệu (Barberis & Thaler, 2003) Trong thị trường chứng khoán, việc các nhà đầu tư chọn mua cổ phiếu nóng thay vì cổ phiếu hoạt động kém cho thấy sự ảnh hưởng của tính đại diện Hành vi này giải thích cho phản ứng thái quá của nhà đầu tư (DeBondt và Thaler, 1995).

Sự thiên vị sẵn có (Availability bias) là một hiện tượng nhận thức, trong đó con người thường dựa vào thông tin dễ dàng có sẵn thay vì khám phá các lựa chọn khác Hiện tượng này xuất hiện khi mọi người sử dụng thông tin dễ tiếp cận quá mức, dẫn đến việc đầu tư vào các công ty địa phương mà họ quen thuộc, bất chấp các nguyên tắc cơ bản về đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm tối ưu hóa.

Quyết định neo (Anchoring) là hiện tượng mà mọi người dựa vào các giá trị ban đầu để đưa ra ước tính, dẫn đến việc các ước tính này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những giá trị khởi đầu khác nhau Các nghiên cứu của Kahneman và Tversky chỉ ra rằng điểm bắt đầu khác nhau có thể tạo ra những ước lượng khác nhau, làm nổi bật tầm quan trọng của yếu tố neo trong quá trình ra quyết định.

Trong thị trường tài chính, neo quyết định xảy ra khi giá trị được cố định dựa trên các quan sát gần đây, khiến nhà đầu tư thường tập trung vào giá mua ban đầu khi thực hiện giao dịch Điều này dẫn đến việc giá cổ phiếu và thu nhập của công ty được xác định dựa trên các xu hướng lịch sử, tạo ra phản ứng chậm trước những thay đổi bất ngờ Ngoài ra, neo quyết định còn liên quan đến tính đại diện, khi mọi người có xu hướng lạc quan khi thị trường tăng và bi quan khi thị trường giảm Trong khi đó, ảo tưởng con bạc là niềm tin sai lầm rằng một mẫu nhỏ có thể phản ánh chính xác quần thể lớn hơn, dẫn đến việc dự đoán sai các điểm đảo ngược của thị trường Khi chịu ảnh hưởng của thiên vị nguyên trạng, nhà đầu tư thường chọn phương án đã được lựa chọn trước đó, bất chấp sự thay đổi của tình hình thị trường.

Tự tin quá mức (Overconfidence) là xu hướng mà con người thường đánh giá cao kiến thức, khả năng và độ chính xác của thông tin mà họ nắm giữ, đồng thời lạc quan thái quá về tương lai và khả năng kiểm soát tình huống Khi mọi người đánh giá quá cao độ tin cậy của kỹ năng và kiến thức của bản thân, điều này thể hiện rõ sự tự tin thái quá (DeBondt & Thaler, 1995) Đặc biệt, các nhà đầu tư thường có xu hướng tự tin vào khả năng của mình và khả năng dự đoán kết quả, dẫn đến những quyết định đầu tư không chính xác.

Nghiên cứu này khảo sát năm thành phần của tự nghiệm, bao gồm sự tự tin thái quá, ảo tưởng của con bạc, thiên vị sẵn có, neo quyết định và tính đại diện, nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

Lý thuyết triển vọng (Prospect theory)

Lý thuyết triển vọng cho thấy rằng phản ứng của con người đối với các tình huống tương đương phụ thuộc vào bối cảnh thua lỗ hay lãi (Kahneman & Tversky, 1979) Nó mô tả các trạng thái tâm lý ảnh hưởng đến quyết định cá nhân như ác cảm hối hận, ác cảm mất mát và tính toán bất hợp lý (Waweru et al., 2008) Ác cảm hối hận là cảm xúc tiêu cực xảy ra khi mọi người mắc sai lầm, đặc biệt là các nhà đầu tư sau khi đưa ra quyết định thua lỗ, dẫn đến việc họ từ chối bán cổ phiếu giảm giá và sẵn sàng bán cổ phiếu đang tăng Ngoài ra, các nhà đầu tư thường hối hận hơn về việc giữ cổ phiếu thua lỗ quá lâu so với việc bán cổ phiếu chiến thắng quá sớm (Forgel & Berry, 2006; Lehenkari & Perttunen, 2004) Ác cảm mất mát liên quan đến mức độ khác nhau của cảm giác bị phạt tinh thần từ việc giảm hoặc tăng kích thước tương tự (Barberis & Huang).

Nghiên cứu cho thấy rằng con người cảm thấy đau khổ hơn khi đối mặt với khả năng thua lỗ so với sự hài lòng từ lợi nhuận tương đương (Barberis & Thaler, 2003) Đặc biệt, một mất mát xảy ra sau khi đã đạt được lợi nhuận trước đó thường ít đau đớn hơn, trong khi một mất mát tiếp theo sau một lần thua lỗ lại gây đau đớn hơn (Barberis & Huang, 2001) Thêm vào đó, Lehenkari và Perttunen (2004) chỉ ra rằng cả lợi nhuận tích cực và tiêu cực trong quá khứ đều có thể làm tăng mối quan hệ tiêu cực giữa xu hướng bán và lỗ vốn của các nhà đầu tư, phản ánh việc họ không thích thua lỗ.

Lo ngại rủi ro là hành vi thường thấy ở các nhà đầu tư, nhưng nếu không được kiểm soát, nó có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, ảnh hưởng tiêu cực đến tài sản và sự giàu có của họ (Odean, 1998a).

Tính toán bất hợp lý (Mental accounting) là một tập hợp các hoạt động nhận thức mà cá nhân và hộ gia đình sử dụng để tổ chức, đánh giá và theo dõi hoạt động tài chính của họ Thuật ngữ này mô tả quy trình mà mọi người suy nghĩ và đánh giá các giao dịch tài chính (Barberis & Huang, 2001) Tính toán riêng biệt (Barberis & Thaler, 2003; Ritter, 2003) cho thấy rằng, theo nghiên cứu của Rockenbach (2004), sự kết nối giữa các khả năng đầu tư khác nhau thường không được thực hiện, điều này có lợi cho việc định giá miễn phí.

Nghiên cứu này tập trung vào ba yếu tố quan trọng trong khía cạnh triển vọng: ác cảm mất mát, ác cảm hối hận và tính toán bất hợp lý Những yếu tố này được sử dụng để đánh giá tác động của chúng đến hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các yếu tố thị trường (Market factors)

Thị trường tài chính chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hành vi của nhà đầu tư, như được phân tích trong lý thuyết tài chính hành vi Nếu lý thuyết này chính xác, các nhà đầu tư có thể có phản ứng thái quá hoặc không đủ với biến động giá và thông tin mới, cũng như có xu hướng ngoại suy các xu hướng quá khứ vào tương lai Họ thường thiếu chú ý đến các nguyên tắc cơ bản của cổ phiếu và tập trung vào những cổ phiếu phổ biến cùng các chu kỳ giá theo mùa Những yếu tố này, bao gồm thay đổi giá, thông tin thị trường, xu hướng cổ phiếu trước đó, sự ưa thích của khách hàng, và phản ứng thái quá đối với biến động giá, đều ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ (DeBondt và Thaler, 1995; Waweru et al., 2008).

Các yếu tố thị trường không được xem là yếu tố hành vi vì chúng là những tác động bên ngoài đến các nhà đầu tư Tuy nhiên, chúng ảnh hưởng đến cả nhà đầu tư hành vi và nhà đầu tư hợp lý theo những cách khác nhau, do đó việc không đề cập đến các yếu tố này khi phân tích hành vi đầu tư sẽ không đầy đủ Nghiên cứu của Waweru et al (2008) khẳng định rằng các yếu tố thị trường cũng là những yếu tố hành vi quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Hiệu ứng bầy đàn (Herding effect)

Hiệu ứng bầy đàn trong thị trường tài chính là xu hướng mà các nhà đầu tư thường theo dõi và bắt chước hành động của người khác, dẫn đến lo ngại về quyết định đầu tư của chính mình Việc dựa vào thông tin tập thể thay vì thông tin cá nhân có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hiện tại Các nhà nghiên cứu học thuật đã chỉ ra rằng hiệu ứng bầy đàn có tác động đáng kể đến sự thay đổi giá cổ phiếu, ảnh hưởng đến các thuộc tính của mô hình rủi ro và lợi nhuận, từ đó tác động đến lý thuyết định giá tài sản (Tan et al., 2008).

Khi các nhà đầu tư rót vốn lớn vào khoản đầu tư, họ thường có xu hướng theo dõi và hành động theo những gì người khác làm để giảm thiểu rủi ro Sở thích bầy đàn này có sự khác biệt giữa các loại nhà đầu tư; cụ thể, các nhà đầu tư cá nhân thường dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đám đông trong quyết định đầu tư hơn so với các nhà đầu tư tổ chức (Goodfellow et al., 2009).

Waweru et al (2008) chỉ ra rằng việc bầy đàn có thể thúc đẩy giao dịch chứng khoán và tạo động lực cho thị trường Tuy nhiên, tác động này có thể bị giảm sút khi chi phí theo đàn gia tăng, làm cho việc đạt được lợi nhuận bất thường trở nên khó khăn hơn Nghiên cứu cũng xác định rằng các quyết định đầu tư của nhà đầu tư, như mua, bán, lựa chọn cổ phiếu, thời gian nắm giữ và khối lượng giao dịch, có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của những người khác.

Nghiên cứu này sẽ khám phá tác động của hiệu ứng bầy đàn đối với hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Hiệu quả đầu tư

Oberlechner và Osler (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của sự tự tin thái quá đến hiệu quả đầu tư, được đo bằng tỷ lệ hoàn vốn đầu tư và kinh nghiệm giao dịch Họ cho rằng tỷ lệ hoàn vốn là một chỉ số khách quan phản ánh hiệu quả đầu tư, khi được so sánh với lợi nhuận của các nhà đầu tư cùng ngành Kinh nghiệm giao dịch của nhà đầu tư được xác định qua thời gian tham gia thị trường chứng khoán Nghiên cứu cho thấy rằng sự tự tin thái quá không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận đầu tư, nhưng có thể tác động đến kinh nghiệm giao dịch của các nhà đầu tư cá nhân.

Nghiên cứu này yêu cầu các nhà đầu tư tự đánh giá hiệu quả đầu tư của họ, dựa trên tỷ lệ hoàn vốn đầu tư theo phương pháp của Oberlechner và Osler (2004) Tỷ lệ hoàn vốn được xem xét từ cả hai góc độ khách quan và chủ quan; trong đó, đánh giá chủ quan dựa trên tỷ lệ hoàn vốn dự kiến của nhà đầu tư, còn đánh giá khách quan so sánh tỷ lệ hoàn vốn thực tế với tỷ lệ trung bình của thị trường Mức độ hài lòng với quyết định đầu tư cũng được xem là tiêu chí quan trọng để đo lường hiệu quả đầu tư Thực tế cho thấy, có những nhà đầu tư hài lòng với kết quả đầu tư dù lợi nhuận không cao, trong khi những người khác lại không hài lòng mặc dù lợi nhuận tương đối cao Vì vậy, mức độ hài lòng và tỷ lệ hoàn vốn được đề xuất là các phép đo chính cho hiệu quả đầu tư trong nghiên cứu này.

Mô hình nghiên cứu

2.6.1 Mô hình nghiên cứu của Waweru et al (2008):

Nghiên cứu này khám phá vai trò của tâm lý nhà đầu tư và tài chính hành vi trong quyết định đầu tư tại Sở giao dịch chứng khoán Nairobi, đặc biệt chú trọng đến các nhà đầu tư tổ chức.

Nghiên cứu dựa trên mẫu 23 nhà đầu tư tổ chức đã chỉ ra rằng các yếu tố hành vi như Tự nghiệm, bao gồm sự tự tin thái quá, neo quyết định, ngụy biện của người đánh bạc và thiên vị sẵn có, cùng với Lý thuyết triển vọng, với các yếu tố như ác cảm mất mát, hối hận và tính toán bất hợp lý, cùng hiện tượng Bầy đàn, đều có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư tổ chức tại Sàn giao dịch Chứng khoán Quốc gia (NSE).

Hình 1 Mô hình nghiên cứu của Waweru et al (2008)

2.6.2 Mô hình nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011):

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố hành vi tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Các yếu tố này bao gồm tâm lý thị trường, thông tin đầu tư và kinh nghiệm cá nhân, ảnh hưởng đến sự lựa chọn và chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi đầu tư, giúp cải thiện hiệu quả ra quyết định trong môi trường chứng khoán.

Nghiên cứu dựa trên 172 phản hồi từ 300 bảng câu hỏi gửi đến các nhà đầu tư cá nhân cho thấy hầu hết các biến hành vi thuộc 4 yếu tố chính: tự nghiệm, triển vọng, thị trường và bầy đàn, đều ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

Nghiên cứu cho thấy ba yếu tố hành vi chính ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư: Bầy đàn, Triển vọng và Tự nghiệm Bầy đàn bao gồm các hành vi như mua bán, lựa chọn cổ phiếu và khối lượng giao dịch, nhưng chỉ có tác động tích cực ở mức độ thấp Triển vọng, với các yếu tố như ác cảm mất mát và hối tiếc, lại có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư Trong khi đó, Tự nghiệm, bao gồm sự tự tin thái quá và ảo tưởng con bạc, được xác định là có tác động tích cực cao nhất đến hiệu quả đầu tư.

Hình 2 Mô hình nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011)

2.6.3 Mô hình nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan (2013)

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố hành vi tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại sở giao dịch chứng khoán Colombia, đồng thời kiểm tra mối quan hệ giữa những yếu tố này và hiệu quả đầu tư.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra bốn yếu tố hành vi chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Colombo, bao gồm Hiệu ứng bầy đàn, Tự nghiệm, Triển vọng và Các yếu tố thị trường Trong đó, hầu hết các biến từ các yếu tố này đều có tác động vừa phải, ngoại trừ biến neo quyết định từ yếu tố tự nghiệm có ảnh hưởng cao, trong khi sự lựa chọn biến cổ phiếu từ yếu tố bầy đàn lại có ảnh hưởng thấp đến quyết định đầu tư.

Nghiên cứu này khám phá ảnh hưởng của các yếu tố hành vi đến hiệu quả đầu tư, trong đó ba yếu tố được xác định có tác động rõ rệt Đầu tiên, lựa chọn cổ phiếu bị ảnh hưởng tiêu cực bởi yếu tố bầy đàn Thứ hai, sự tự tin từ yếu tố tự nghiệm cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả đầu tư Cuối cùng, quyết định từ yếu tố tự nghiệm lại mang đến ảnh hưởng tích cực Những yếu tố còn lại không cho thấy tác động rõ rệt đến hiệu quả đầu tư.

Hình 3 Mô hình nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan (2013)

2.6.4 Tóm tắt kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước

Tên đề tài Tác giả Kết quả nghiên cứu

The effects of behavioural factors in investment decision-making: a survey of institutional investors operating at the Nairobi

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố hành vi như Tự nghiệm, bao gồm sự tự tin thái quá và thiên vị sẵn có, cũng như Lý thuyết triển vọng với các biến như ác cảm mất mát và tính toán bất hợp lý, cùng với ảnh hưởng của Bầy đàn, đã tác động mạnh mẽ đến quyết định của các nhà đầu tư tổ chức tại NSE.

Behavioral factors influencing individual investors’ decision- making and performance:

A survey at the Ho Chi

Le Phuoc Luong và Doan Thi

Nghiên cứu chỉ ra rằng ba yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư là bầy đàn, triển vọng và tự nghiệm Trong đó, bầy đàn bao gồm các hành vi như mua bán, lựa chọn cổ phiếu và khối lượng giao dịch, có ảnh hưởng tích cực nhưng ở mức thấp hơn Triển vọng, với các yếu tố như ác cảm mất mát và ác cảm hối tiếc, lại tác động tiêu cực đến hiệu quả đầu tư Đặc biệt, tự nghiệm, bao gồm sự tự tin thái quá và sai lầm của đánh bạc, được xác định là có tác động tích cực cao nhất đến hiệu quả đầu tư.

Nghiên cứu cho thấy chỉ có ba yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư: lựa chọn cổ phiếu bị tác động tiêu cực bởi yếu tố bầy đàn, sự tự tin từ yếu tố tự nghiệm có tác động tiêu cực đến hiệu quả đầu tư, trong khi quyết định từ yếu tố tự nghiệm lại có ảnh hưởng tích cực Các yếu tố khác không có tác động đáng kể đến hiệu quả đầu tư.

2.6.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Sinh viên dựa vào hai mô hình nghiên cứu tương tự của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011) cùng với Lingesiya Kengatharan (2013), vì đây là những nghiên cứu tiên phong về các yếu tố hành vi tác động đến quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư, được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín.

Mô hình của Doan Thi Thu Ha (2011) được áp dụng trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, chứng minh tính phù hợp và hiệu quả khi nghiên cứu tại quốc gia này.

Hình 4 Mô hình nghiên cứu đề xuất Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết H1: Tự nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả đầu tư

Tự nghiệm giúp đơn giản hóa quá trình ra quyết định, đặc biệt trong môi trường phức tạp và không chắc chắn, bằng cách giảm độ phức tạp trong việc đánh giá xác suất và dự đoán giá trị Tuy nhiên, tự nghiệm cũng có thể dẫn đến những sai lệch, gây ra quyết định đầu tư không tối ưu (Ritter, 2003) Nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011) cùng với Lingesiya Kengatharan đã chỉ ra những vấn đề này.

(2013) đã có kết luận khác nhau về sự ảnh hưởng của tự nghiệm đến hiệu quả đầu tư

Nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011) tại thị trường Việt Nam chỉ ra rằng tự nghiệm có tác động tích cực mạnh mẽ đến hiệu quả đầu tư, từ đó xác nhận giả thuyết H1.

Giả thuyết H2: Triển vọng có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư

MÔ TẢ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Thị trường chứng khoán là gì?

Thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong thị trường vốn, giúp huy động nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ xã hội và tập trung thành nguồn vốn lớn Điều này hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và Chính phủ nhằm phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện các dự án đầu tư.

Thị trường chứng khoán là không gian cho các giao dịch mua bán chứng khoán, bao gồm cả thị trường sơ cấp và thứ cấp Tại đây, chứng khoán được phát hành và trao đổi giữa các nhà đầu tư.

Thị trường sơ cấp: người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành;

Thị trường thứ cấp: nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.

Thị trường chứng khoán giao dịch các loại hàng hóa như cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm Đặc điểm nổi bật của thị trường này là hình thức tài chính trực tiếp, nơi người cần vốn và người cung cấp vốn tham gia trực tiếp mà không cần qua trung gian tài chính.

Thị trường chứng khoán gần gũi với mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mọi người có quyền tự do tham gia Giá cả trên thị trường không bị áp đặt mà được hình thành dựa trên mối quan hệ cung và cầu.

Thị trường chứng khoán là một thị trường liên tục, cho phép các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp được giao dịch nhiều lần trên thị trường thứ cấp Điều này đảm bảo rằng các nhà đầu tư có khả năng chuyển đổi chứng khoán của mình thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ mong muốn.

3.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán thực hiện các chức năng chủ yếu sau:

- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

- Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán

- Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô

Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngày 28-11-1996 thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, 2 năm sau đó, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh khi Nghị định số 48/CP của Chính phủ được ký vào ngày 11-7-1998.

Ngày hôm đó, Chính phủ đã ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, với trụ sở chính được đặt tại TP.HCM và Hà Nội.

Vào ngày 28 tháng 7 năm 2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chính thức khai trương, đánh dấu phiên giao dịch đầu tiên với hai mã cổ phiếu REE và SAM.

Vào ngày 8/3/2005, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK Hà Nội) chính thức ra mắt, đóng vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán Việt Nam Trong khi TTGDCK TP.HCM chủ yếu niêm yết các công ty lớn, TTGDCK Hà Nội tập trung vào việc niêm yết các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo cơ hội cho những công ty này tiếp cận nguồn vốn và phát triển.

Trong hơn 20 năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều biến động nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn khác nhau.

Giai đoạn 2000-2005 là thời kỳ khởi đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam, được ví như giai đoạn tập đi Trong thời gian này, vốn hóa thị trường chỉ đạt khoảng 1% GDP và gần như không có sự biến động đáng kể nào.

Kể từ năm 2006, khi Luật Chứng khoán được ban hành và có hiệu lực từ đầu năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đã cải thiện đáng kể những bất cập và xung đột với các văn bản pháp lý khác Điều này đã giúp thị trường chứng khoán nước ta có khả năng hội nhập tốt hơn với các thị trường vốn quốc tế và khu vực.

Thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên an toàn minh bạch hơn, tăng khả năng quản lý giám sát cho các cơ quan quản lý nhà nước.

Về quy mô thị trường, năm 2006 đánh dấu bước nhảy vọt mạnh mẽ khi đạt 22,7% GDP, con số thậm chí tiếp tục tăng mạnh tới mức trên 43% vào năm 2007.

Năm 2008, thị trường tài chính chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ, với mức vốn hóa thị trường chỉ đạt 18% GDP, phản ánh ảnh hưởng tiêu cực từ nền kinh tế trong nước và thế giới.

Năm 2009, thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận sự hồi phục nhẹ với vốn hóa thị trường đạt 37,71% GDP, đồng thời số lượng công ty niêm yết trên thị trường cũng tăng đáng kể.

Tính đến thời điểm hiện tại, mức vốn hóa thị trường chứng khoán đã tăng mạnh mẽ, đạt hơn 82% GDP, cho thấy sự bùng nổ ấn tượng của thị trường này.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và sẽ tiếp tục mở rộng trong những năm tới Các nhà đầu tư nên nhanh chóng nắm bắt cơ hội tham gia vào thị trường trước khi bước vào giai đoạn bão hòa.

Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn hiện tại

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về quy mô và đang không ngừng hoàn thiện cấu trúc, trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế.

Hơn thế nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong đợt rà soát hàng năm của FTSE Russell diễn ra vào tháng 9 vừa qua, chứng khoán Việt Nam đã được đưa vào danh sách theo dõi để nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging).

Theo quy định, một thị trường phải được theo dõi ít nhất một năm trước khi FTSE xem xét nâng hạng, và sau đó cần thêm một năm nữa để chính thức nâng hạng Do đó, chứng khoán Việt Nam dự kiến sẽ được nâng hạng vào năm 2020.

Chính phủ hiện tại đang thực hiện cải cách thể chế mạnh mẽ và xác định kinh tế tư nhân là trụ cột quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Điều này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới Với những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng gần đây, triển vọng tương lai của thị trường chứng khoán Việt Nam hứa hẹn nhiều điểm tích cực.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Hình 5 Quy trình nghiên cứu (Thọ, 2011)

Bước đầu tiên trong nghiên cứu là xác định vấn đề nghiên cứu để đặt ra câu hỏi cần giải đáp Ở đây, vấn đề nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hành vi đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Bước 2: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết để có các lý thuyết, khái niệm cũng như các kết quả nghiên cứu trước đó.

Tổng quan về các lý thuyết hành vi tài chính bao gồm Lý thuyết tự nghiệm, Lý thuyết triển vọng, cùng với các yếu tố thị trường, Hiệu ứng bầy đàn và Hiệu quả đầu tư Những lý thuyết này giúp giải thích cách mà tâm lý và hành vi của nhà đầu tư ảnh hưởng đến quyết định tài chính và diễn biến của thị trường Lý thuyết tự nghiệm nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm cá nhân trong việc ra quyết định, trong khi Lý thuyết triển vọng tập trung vào cách mà con người đánh giá rủi ro và lợi nhuận Các yếu tố thị trường và Hiệu ứng bầy đàn thể hiện sự tương tác giữa các nhà đầu tư, dẫn đến những hiện tượng như đầu cơ và biến động giá Cuối cùng, Hiệu quả đầu tư đề cập đến khả năng sinh lời của các chiến lược đầu tư dựa trên hành vi của thị trường.

Các mô hình nghiên cứu trước đó như: Mô hình nghiên cứu của Waweru et al (2008),

Mô hình nghiên cứu của Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011), Mô hình nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan (2013).

Bước 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu.

Mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên các mô hình nghiên cứu trước đó, bao gồm mô hình của Waweru et al (2008) và mô hình của Le Phuoc Luong cùng Doan Thi Thu.

Ha (2011), Mô hình nghiên cứu của Lingesiya Kengatharan (2013).

Bước 4: Thiết kế thang đo và bảng câu hỏi

Thang đo và bảng câu hỏi được đưa ra dựa trên 2 nghiên cứu trước đó của Waweru et al (2008) và Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011).

Bước 5: Tiến hành nghiên cứu sơ bộ, từ kết quả nghiên cứu sơ bộ tiếp tục điều chỉnh thang đo cho ra thang đo chính thức.

Phỏng vấn: Phỏng vấn 2 nhà đầu tư/chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trên thị trường và có hiểu biết và lĩnh vực tài chính hành vi.

Khảo sát thử nghiệm đã được thực hiện với bảng câu hỏi chi tiết gửi đến 20 nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo và xác định các hiệu chỉnh cần thiết.

Bước 6: Hiệu chỉnh thang đo và cho ra thang đo chính thức.

Bước 7: Nghiên cứu chính thức.

Bước 8: Nhập và làm sạch dữ liệu.

Tiến hành nhập và làm sạch dữ liệu nghiên cứu từ kết quả khảo sát chính thức.

Bước 9: Nhập dữ liệu từ các bảng khảo sát đạt yêu cầu và tiến hành xử lý, phân tích dữ liệu thông qua các hoạt động như thống kê mô tả, kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích tương quan hồi quy.

Bước 10: Cuối cùng, đọc kết quả, rút ra kết luận và đề xuất kiến nghị.

Thiết kế mẫu

Trong nghiên cứu này, bảng câu hỏi tự hoàn thành được sử dụng để thu thập dữ liệu, nhờ vào việc các câu hỏi nghiên cứu đã được xác định rõ ràng, giúp chuẩn hóa và dễ dàng xử lý, phân tích Việc không có người phỏng vấn trình bày khi hoàn thành bảng câu hỏi đảm bảo rằng kết quả không bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài Hơn nữa, phương pháp này cũng tiết kiệm chi phí hơn so với các phương pháp khác và người tham gia thường trung thực hơn khi trả lời câu hỏi một cách độc lập (Bryman & Bell).

Năm 2007, các nhà đầu tư có thể tiết kiệm thời gian hiệu quả bằng cách sử dụng bảng câu hỏi, đặc biệt khi họ không có nhiều thời gian rảnh.

Trong nghiên cứu nhằm khám phá các yếu tố hành vi tại sàn giao dịch, cỡ mẫu lớn được coi là cần thiết để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả (Saunders et al., 2009) Tuy nhiên, cỡ mẫu còn phụ thuộc vào các yếu tố như thời gian, tài chính và nguồn lực con người Hair et al (1998) khuyến nghị rằng ít nhất 100 người tham gia cần được khảo sát trong nghiên cứu định lượng Gorush (1983) chỉ ra rằng kích thước mẫu tối thiểu nên là 200, trong khi Hatcher (1994) đề xuất cỡ mẫu tối thiểu gấp năm lần tổng số biến quan sát hoặc tối thiểu là 100 Trong nghiên cứu này, tác giả đã chọn kích thước mẫu là 135, đáp ứng yêu cầu 27 biến quan sát và đảm bảo rằng 135 lớn hơn 100, phù hợp với các yếu tố tài chính và thời gian.

Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng trong nghiên cứu nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao hiệu quả thu thập phản hồi từ khảo sát Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là nó thuộc loại lấy mẫu phi xác suất, không thể cung cấp mẫu đại diện, dẫn đến việc kết quả không thể được khái quát cho toàn bộ dân số (Bryman & Bell, 2007).

Để tiến hành lấy mẫu, chúng tôi đã gửi phiếu khảo sát trực tuyến đến các nhà đầu tư được chọn thông qua công cụ Google Form Phiếu khảo sát này được đính kèm với các bài viết trên diễn đàn và nhóm đầu tư chứng khoán, đồng thời cũng được gửi riêng đến từng nhà đầu tư qua Facebook Messenger.

Thang đo Likert 5 điểm là công cụ phổ biến để khảo sát ý kiến và thái độ của người tham gia, đặc biệt trong việc yêu cầu các nhà đầu tư cá nhân đánh giá mức độ thỏa thuận với tác động của các yếu tố hành vi đến hiệu quả đầu tư của họ Thang đo này bao gồm 5 mức độ từ 1 đến 5: Rất đồng ý, Đồng ý, Bình thường (Không ý kiến), Không đồng ý, và Rất không đồng ý.

Bảng 1 Thang đo sơ bộ (Nguồn: Le Phuoc Luong và Doan Thi Thu Ha (2011))

Thang đo gốc Thang đo sơ bộ Waweru et al (2008 )

Investors often choose to buy "hot" stocks while steering clear of those that have underperformed recently.

Trend analysis of select representative stocks is utilized to inform investment decisions across a broader portfolio of stocks This approach enables investors to make informed choices based on the performance and patterns observed in key market indicators.

You are confident that your expertise and understanding of the stock market can enable you to achieve returns that exceed the market average.

You base your future investment decisions on the insights gained from your past market experiences.

You predict future fluctuations in stock prices by analyzing current market trends This approach allows for informed forecasting based on recent price movements.

You can typically predict the turning points of both positive and negative market returns at the Ho Chi Minh Stock Exchange.

You prioritize investing in local stocks over international ones because information about domestic stocks is more readily available and comprehensive.

You view information from close friends and family as a trustworthy source for making investment decisions.

9 Triển vọng After a prior gain, you are more risk seeking than usual.

Sau những đầu tư thành công, ông/bà trở nên mạo hiểm hơn.

10 After a prior loss, you become more risk averse.

Sau những đầu tư thất bại, ông/bà ít mạo hiểm hơn.

Investors often hesitate to sell shares that have lost value, while they are quick to sell those that have appreciated This behavior can lead to missed opportunities for recovery in underperforming stocks and potential tax implications from realizing gains on successful investments.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

Trước khi tiến hành nhập và mã hóa dữ liệu vào SPSS, cần rà soát và loại bỏ các câu hỏi không đạt chuẩn Những trường hợp bị loại bỏ bao gồm phiếu khảo sát có giá trị trống, phiếu khảo sát có các giá trị giống nhau, và các đánh giá sai lệch.

Các kỹ thuật thống kê như Thống kê mô tả, Phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích tương quan hồi quy được áp dụng để xử lý dữ liệu, nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu.

Thống kê mô tả, bao gồm chế độ, trung vị, trung bình, phương sai và độ lệch chuẩn, được áp dụng để phân tích thông tin cá nhân của người trả lời Nó cũng giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến hành vi đến hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Tuy nhiên, chỉ những biến hành vi đã được xác nhận qua phân tích nhân tố khám phá và kiểm tra độ tin cậy Cronbach’s Alpha mới được xem xét trong thống kê mô tả.

Kiểm tra Cronbach’s Alpha là một chỉ số quan trọng trong nghiên cứu xã hội và hành vi, được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của thang đo (Liu et al., 2010) Việc áp dụng Cronbach’s Alpha trong nghiên cứu này là cần thiết để đảm bảo tính chính xác trước khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, nhằm loại bỏ các biến không phù hợp có thể gây ra các yếu tố giả và ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2008).

Theo Nunnally (1978), giá trị Cronbach’s Alpha cần đạt ít nhất 0.7 để đảm bảo độ tin cậy của phép đo Tuy nhiên, nhiều nhà thống kê cũng chấp nhận giá trị Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 (Shelby, 2011).

Một tiêu chí quan trọng để đánh giá độ tin cậy của thang đo là loại bỏ các biến quan sát có hệ số tương quan nhỏ hơn 0.3, theo nghiên cứu của Shelby (2011).

Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn Cronbach’s Alpha đạt giá trị ít nhất là 0.6 và loại các biến quan sát có hệ số tương quan nhỏ hơn 0.3.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là phương pháp thống kê đa biến nhằm xác định cấu trúc cốt lõi trong ma trận dữ liệu, giúp phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến EFA xác định một tập hợp các yếu tố, cho phép rút gọn các biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến ít hơn nhưng vẫn giữ lại hầu hết thông tin của tập biến ban đầu (Ghauri & Gronhaug, 2010; Hair và các đồng sự, 1998).

Phân tích nhân tố EFA được sử dụng để kiểm tra tính đơn hướng của thang đo, đồng thời đánh giá độ giá trị hội tụ và độ giá trị phân biệt của thang đo.

Phân tích nhân tố EFA được thực hiện theo phương pháp trích Principal Component với phép xoay Varimax nhằm rút gọn dữ liệu và kiểm định các yếu tố đại diện trong mô hình nghiên cứu Để kiểm tra thang đo bằng phương pháp EFA, cần tuân thủ các điều kiện nhất định.

- Phần trăm phương sai tích lũy phải trên 50% biến thiên của các biến quan sát (Hair và đồng sự, 1998)

Tổng độ lệch bình phương của một nhân tố (Eigenvalue) là đại lượng thể hiện mức độ biến thiên được giải thích bởi nhân tố đó, hay còn gọi là phương sai của nhân tố Để đảm bảo tính hợp lệ, giá trị của đại lượng này cần phải lớn hơn 1.

Nguyên tắc lựa chọn biến thuộc một nhân tố yêu cầu biến đó phải có chỉ số lớn hơn 0.5 trong nhân tố tương ứng và không vượt quá 0.35 ở các nhân tố khác (Igbaria và đồng sự, 1995) Ngoài ra, khoảng cách giữa hai trọng số tải của cùng một biến ở hai nhân tố cũng cần lớn hơn 0.3.

Trị số KMO (Kaiser – Meyer - Olkin) là chỉ số quan trọng để đánh giá sự phù hợp của phân tích nhân tố Nếu trị số KMO lớn hơn 0.5, điều này cho thấy phân tích nhân tố là thích hợp, trong khi trị số nhỏ hơn 0.5 có thể chỉ ra rằng phân tích không phù hợp với dữ liệu.

- Hệ số sig phải nhỏ hơn 0.05 nhằm đảm bảo kiểm định có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.

Phân tích tương quan hồi quy:

Hệ số tương quan (r) là chỉ số thống kê quan trọng đo lường mối liên hệ giữa hai biến số, có giá trị dao động từ -1 đến 1 Giá trị r bằng 0 cho thấy không có mối liên hệ giữa các biến, trong khi giá trị -1 hoặc 1 chỉ ra mối liên hệ tuyệt đối Trong luận văn này, tác giả áp dụng kiểm định hệ số tương quan Pearson để khảo sát mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, với điều kiện tương quan được xác định qua hệ số sig.

Phân tích hồi quy là một kỹ thuật thống kê quan trọng, giúp ước lượng phương trình phù hợp nhất cho mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Kỹ thuật này cho phép xác định mối liên hệ thực sự giữa các biến số, từ đó đưa ra những ước lượng chính xác Dựa vào phương trình ước lượng, người dùng có thể dự đoán giá trị của biến phụ thuộc chưa biết dựa trên các giá trị đã biết của biến độc lập.

Nếu hai biến độc lập và phụ thuộc có tương quan tuyến tính mạnh mẽ qua hệ số R, và chúng ta đã xem xét kỹ lưỡng bản chất mối liên hệ giữa chúng, thì có thể mô hình hóa mối quan hệ này bằng mô hình hồi quy tuyến tính Mô hình hồi quy này sẽ giúp mô tả hình thức mối liên hệ và cho phép dự đoán mức độ của biến phụ thuộc với độ chính xác trong một phạm vi nhất định khi biết giá trị của biến độc lập (Trọng và Ngọc, 2008).

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Ngày đăng: 24/06/2021, 19:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w