Pháp luật Việt Nam có quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chứcCông Đoàn để thực hiện các chính sách và đường lối triệt để, chấp hành và tuânthủ pháp luật theo một cách thiết
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trải qua quá trình tìm hiểu cùng với những hiểu biết của mình về khóa
luận tốt nghiệp “Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động từ thực tiễn tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”, em
đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ quý thầy cô và các cô chú đơn vị thựctập đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến người đãhướng dẫn em hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp này, đó là TS.Phạm ThịThanh Huyền Cảm ơn cô vì suốt thời gian qua đã tận tâm hướng dẫn chỉ bảo cho
em Những lời khuyên của cô đã giúp em có hướng đi đúng trong triển khai việcthực hiện khóa luận cũng như việc hoàn thành bài viết của mình
Em xin cảm ơn tất cả các Thầy, Cô trong khoa Luật - Trường Đại họcCông Đoàn, cảm ơn các Thầy các Cô vì đã giảng dạy truyền đạt kiến thức chochúng em Những lời dạy của các thầy các cô qua những giờ học trên lớp và cảnhững giờ thực hành là bài học quý giá giúp em có kinh nghiệm đề em có nhữnghướng đi đúng đắn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Liên đoàn lao động huyện ChợMới, tỉnh Bắc Kạn đã không ngừng hỗ trợ tạo điều kiện giúp em hoàn thành quátrình thực tập cũng như sự hướng dẫn nhiệt tình về thông tin thực tiễn của đề tàikhóa luận này
Em xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến các quý Thầy Cô, chúc Thầy Cô vàmọi người luôn mạnh khỏe công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trần Hương Ly
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng dân sự : BLTTDS
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tình thế cấp thiết 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN, QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức Công Đoàn 8
1.1.1 Khái niệm tổ chức Công Đoàn 8
1.1.2 Chức năng của tổ chức Công đoàn 15
1.1.3 Hệ thống tổ chức của Công Đoàn Việt Nam 23
1.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn 27
1.2.1 Khái niệm quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn 27
1.2.2 Phân loại quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn 28
1.3 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật 30
1.3.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động đối với cá nhân 32
Trang 41.3.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong
giải quyết tranh chấp lao động đối với tập thể 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 41
2.1 Giới thiệu tổng quan về huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn và Liên đoàn Lao động huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 41
2.1.1 Giới thiệu tổng quan huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 41
2.1.1 Giới thiệu tổng quan Liên đoàn Lao động huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 44
2.2 Thực hiện quyền và trách nhiệm tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 47
2.2.1 Thực hiện quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân 47
2.2.2 Thực hiện quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động đối với tranh chấp lao động tập thể 52
2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 56
2.3.1 Kết quả đạt được 56
2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
Trang 5CHƯƠNG 3 66 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN 66 3.1 Hoàn thiện pháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động 66 3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 66 3.1.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể 69 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tại huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn 74 3.2.1 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 74 3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể 77 3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh
Trang 6chấp lao động phối hợp với các cơ quan tổ chức có thẩm
quyền và thúc đẩy đồng bộ hệ thống pháp luật 80
TIÊU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
I Phần các tài liệu tham khảo 87
II Các trang web 88
III Tài liệu nước ngoài 89
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tình thế cấp thiết
Có thể nói , nếu ví quốc gia là một cơ thể sống thì hệ thống chính trị chínhđóng vai trò tương đương như đại não – nơi tập trung quyền lực và có quyền chiphối tất cả các hoạt động của cơ thể Hơn nữa, Hệ thống chính trị Việt Nam hiệnnay là một hệ thống nhất, tuy làm việc một cách độc lập nhưng luôn gắn bó,đứng dưới nền của cùng một chính sách, đường lối và tư tưởng
Các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam hiện tại gồm có ĐảngCộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam , Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội khác Theo đó, phải kể đến các
tổ chức chính trị xã hội là những tổ chức chính trị hợp pháp, được thành lập đểtập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân nhưng phải trên tinh thần tự nguyện đểđại diện cho tầng lớp đó tự quản, lập ra các đường lối, tôn chỉ phù hợp với mụcđích hoạt động Và Công Đoàn Việt Nam là một trong những tổ chức chính trị xãhội có vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước, thực tiễn gắn kết mật thiết với các tổ chức đoàn thể và liên kết chặtchẽ giữa mọi công dân, giữa công đoàn và người lao động
Hơn nữa, Pháp luật là nhân tố quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ
xã hội, là phương tiện để nhà nước quản lý các mặt quan trọng trong đời sống xãhội Là công cụ bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, của nhân dân Và đặcbiệt, là nó tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Pháp luật Việt Nam có quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chứcCông Đoàn để thực hiện các chính sách và đường lối triệt để, chấp hành và tuânthủ pháp luật theo một cách thiết thực và đúng đắn Tổ chức Công đoàn đại diện,bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, cùng tham gia
1
Trang 8quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tuyên truyền, vận động, giáo dụcngười lao động.
Tuy nhiên, không phải bất kì hoat động nào giữa người lao động và người
sử dụng lao động và các chủ thể khác đều diễn ra thuận lợi Bên cạnh đó, cònphát sinh xảy ra các tranh chấp, các mẫu thuẫn Nguyên nhân có thể là do hành
vi vi phạm pháp luật do người sử dụng lao động, quy phạm pháp luật chưa phùhợp, thiếu tính nghiêm minh , răn đe, hoặc chức trách cơ quan có thẩm quyềnchưa đáp ứng được đòi hỏi của người lao động Chính vì thế, Công Đoàn với vaitrò là tổ chức đại diện pháp lí tham gia giải quyết tranh chấp lao động để bảo vềquyền và lời ích của người lao động cả về cá nhân và tập thể Chủ yếu, tranhchấp lao động là về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quanhệ lao động
Sự tham gia của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao độngcùng với quyền và trách nhiệm đã được quy định trong các văn bản pháp luật củanhà nước như Hiến pháp, Bộ luật lao động, Luật công đoàn, Luật an toàn vệsinh lao động … và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, trên thực tếtrong những năm qua vai trò của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao độngtại các doanh nghiệp,doanh nghiệp cổ phần hóa , cá nhân lao động còn mờ nhạt.Cán bộ công đoàn chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng, nghiệp vụ, hạn chế thựchiện tốt chức năng đại diện cho người lao động; pháp luật chưa có chế tài xử lýcác doanh nghiệp không thực hiện các quy định của pháp luật lao động và luậtcông đoàn nên việc vi phạm vẫn còn xảy ra; chưa có giải pháp bảo vệ cán bộcông đoàn nên họ chưa mạnh dạn thực hiện tốt vai trò của mình
Trong những năm gần đây, số vụ người lao động đình công, ngừng việctập thể trong các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng Nhiều vụ diễn ra với quy
mô lớn, thời gian kéo dài nhiều ngày khiến sản xuất đình trệ nghiêm trọng Lý do
mà người lao động đưa ra để ngừng việc tập thể, đình công phần lớn do chủ sử
Trang 9dụng lao động không thực hiện đúng quy định pháp luật lao động, dẫn đến quyềnlợi của ngưỡilao động bị vi phạm, tập trung vào các vấn đề như phải làm tăng ca,điều kiện làm việc không bảo đảm, lương thưởng quá thấp không đủ sống, nộiquy lao động quá khắt khe Trong quan hệ lao động giữa các cá nhân còn phátsinh mâu thuẫn về nhiều lí do trong thái độ làm việc Do đó, cần nâng cao quyền
và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động,góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa đang là vấn đề được nhiều ngườiquan tâm
Với những lí do đó, việc lựa chọn vấn đề “ Quyền và trách nhiệm của tổchức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động từ thực tiễn tại huyện ChợMới, tỉnh Bắc Kạn ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp luật học của tôi với mongmuốn góp phần nâng cao hiệu quả về quyền và trách nhiệm của tổ chức côngđoàn trong giải quyết tranh chấp lao động
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranhchấp lao động được nhiều nhà nghiên cứu phân tích và đánh giá cả ở Việt Nam
và trên thế giới Các nghiên cứu này khá đa dạng cả về đề tài lẫn phương pháptiếp cận Có một số tác giả nghiên cứu thành công về nội dung giải quyết tranhchấp lao động như Nguyễn Duy Hùng, Nguyễn Văn Trọng, Trần Hoàng Hải,…Các tác giả đều đi theo xu hướng chung là phân tích các quy định thực tại, thamkhảo các quy định của pháp luật một số quốc gia liên quan và đưa ra các đónggóp để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện tại về các vấn đề liên quan
Đối với Việt nam từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, môitrường lao động giữa doanh nghiệp tư nhân và người lao động xuất hiện, cáctranh chấp lao động có xu hướng tăng nên việc tìm ra các hướng giải quyếtchúng ngày càng được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiềulĩnh vực ở những phạm vi và mức độ khác nhau, đã có khá nhiều công trình đề
3
Trang 10cập tới vấn đề quyền và trách nhiệm giải quyết tranh chấp lao động như " Tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động” của Nguyễn Xuân Thu; "Một
số vấn đề pháp lý về đình công ở Việt Nam" của tác giả Lê Thị Hoài Thu.
“Vai trò của tổ chức Công đoàn trong bảo vệ quyền của người lao động ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
của tác giả Vũ Xuân Kiểm (2014); " Thực hiện tốt Bộ luật Lao động và Luật công đoàn, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Đặng Ngọc Tùng (2013); "Luật công đoàn - Một số bất cập và hướng hoàn thiện" Tạp tapchicongsan.org.vn: Lê Thị Hoài Thu (2009); Nghiên cứu lập pháp, "Vai trò của Công đoàn trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và đình công",
Dân chủ và pháp luật nghiên cứu về quyền , trách nhiệm công đoàn và các quyđịnh về giải quyết tranh chấp lao động
Những thành tựu trong nghiên cứu mà các luận văn, bài viết trên đã đưa rađược khái niệm giải quyết tranh chấp lao động , phân tích và làm rõ vai trò, vị trícủa tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động Hơn nữa, cáccông trình nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp nhằm cụ thể hóa pháp luật vềquyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, nâng cao chất lượng các biện phápbảo vệ người lao động cũng như giải quyết các tranh chấp về cá nhân và tập thểnhằm đạt được hiệu quả tốt nhất của hoạt động công đoàn trong bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của người lao động
Tuy nhiên, việc nghiên cứu của các công trình vẫn còn một số hạn chế nhưquyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn chưa được phân tích chi tiết ,phương pháp giải quyết tranh chấp lao động chưa được liệt kê, các dâu hiệu nhậnbiết và vướng mắc của người lao động còn chưa được biểu hiện rõ
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ vềvấn đề "Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh
Trang 11chấp lao động từ thực tiễn tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn " là việc làm mang
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật điều chỉnh về quyền vàtrách nhiệm của tổ chức Công Đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đánhgiá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền
và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, mục đích nhằm đề xuất một số giải pháphoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp laođộng của tổ chức Công đoàn ở Việt Nam hiện nay
Hơn nữa , phân tích đánh giá một cách hệ thống, toàn diện việc giải quyếtcác tranh chấp lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, chỉ ra các
ưu điểm cũng như những hạn chế tồn tại đồng thời đưa ra những ý kiến giảipháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết các tranhchấp lao động
Việc nghiên cứu nhằm làm rõ về quyền và trách nhiệm của tổ chức CôngĐoàn nói chung, và Liên Đoàn lao động huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nói riêng.Đặc biệt, là nhằm làm sáng tỏ quá trình hoạt động , thống kê được thực trạng vàthực tiễn thực hiện pháp luật, cho thấy vai trò quan trọng của tổ chức Công Đoàntrong việc thực hiện chính sách Nhà Nước, tuân thủ pháp luật và trách nhiệmtrong quan hệ lao động
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành (Bộ luật LaoĐộng 2012 và các văn bản hướng dẫn cũng như các văn bản pháp luật có liênquan) điều chỉnh , lý luận và thực tiễn về vấn đề liên quan đến quyền và tráchnhiệm của tổ chức Công Đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động
5
Trang 12Ngoài các quy định của pháp luật Việt Nam, khóa luận cũng tham khảo và
đề cập đến một số quan điểm của Tổ chức lao động thế giới (ILO) và pháp luậtcủa một số quốc gia trên thế giới về giải quyết chấp lao động nhằm tạo cơ sởpháp lý cũng như có sự so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Cũng như cácquy định của Hiến pháp, Bộ Luật Lao Động, Luật Công Đoàn và các văn bảnquy phạm có hướng dẫn thi hành
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các phương phápnghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm:
Trang 13Phương pháp phân tích: Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam vềquyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp laođộng.Nhằm lý giải những vấn đề thuộc về bản chất, các quan điểm liên quan đếnvấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng.
Phương pháp tổng hợp: Vận dụng để tổng hợp những số liệu, kết quả phântích từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và trách nhiệm tổchức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động , hoàn thiện pháp luật vềtranh chấp lao động cá nhân và tập thể
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhưphương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp so sánh luật học,phương pháp dự báo khoa học để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu theo yêucầu của đề tài
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn được kết cấu 3 chương, cụ thể :
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về tổ chức Công Đoàn, quyền và tráchnhiệm của tổ chức Công Đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động
Chương 2 : Thực tiễn thực hiện quyền và trách nhiệm của tổ chức CôngĐoàn trong giải quyết tranh chấp lao động tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn trong giải quyết tranhchấp lao động tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
7
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN, QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức Công Đoàn
1.1.1 Khái niệm tổ chức Công Đoàn
Sự ra đời và phát triển của tổ chức công đoàn gắn liền với sự hình thành
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Giai cấp công nhân rađời từ cuộc khai thác thuộc địa lần I ( 1894 – 1919) , theo đó giai cấp công nhânphát triển nhanh vào những năm 1914 – 1929 Chủ nghĩa Mác Lênin đượctruyền bá sâu rộng vào Việt Nam đã làm cho phong trào công nhân phát triểnmạnh mẽ Sự phát triển của phong trào cách mạng, đòi hỏi phải có sự lãnh đạocủa Đảng để đưa phong trào tiếp tục đi lên
Công đoàn ra đời khi giai cấp công nhân và những người lao động ý thứcđược sức mạnh của tập thể lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các thành viên của mình Tổ chức Công đoàn ra đời là một sản phẩm tất yếutrong quá trình lịch sử đấu tranh của giải cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Đây là nhân tố chứng minh quá trình lớn mạnh về chất lượng của giải cấp vô sảnnhằm tiến tới đấu tranh tự giác bước lên vũ đài chính trị và thực hiện sứ mệnhlịch sử của mình Qua thực tế đấu tranh, giai cấp vô sản – giai cấp công nhân đãrút ra kinh nghiệm và xây dựng nên tổ chức Công doàn nhằm tiến tới xây dựng
tổ chức chính trị là chính đảng tiên phong của giai cấp mình
Ở Việt Nam sự hình thành và ra đời của công đoàn gắn liền với sự hìnhthành và phát triển của phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam Trải quanhững thời kỳ lịch sử công đoàn Việt Nam đã có những tên gọi khác nhau, cụthể: Tổ chức Công hội đỏ (1929 - 1935); Hội công nhân phản đế (1939 - 1941);
Trang 15Hội công nhân cứu quốc (1941 - 1946); Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam(1946 -1961); Tổng Công đoàn Việt Nam (1961 - 1988); Tổng Liên đoàn laođộng Việt Nam (1988 – đến nay).
Theo khái niệm thông thường, tổ chức là tổng hợp các quá trình (hoặc hoạtđộng) dẫn tới việc tạo ra một thực thể ( hệ thống ), cùng với tổ hợp các mối quanhệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành của thực thể đó
Theo nghĩa hẹp, tổ chức được hiểu là tổ chức có con người trong đó, là sựliên kết con người cùng thực hiện một chương trình hay một mục tiêu nào đó vàcùng hoạt động trên cơ sở một số nguyên tắc nhất định Theo nghĩa hẹp thì kháiniệm tổ chức được hiểu bằng hai nội dung , đó là :
Tổ chức bộ máy : Là sự cấu thành các cá thể thành tập thể, các phân hệthành hệ thống, trong mối quan hệ có tính nguyên tắc, và cùng thực hiện các mụctiêu, nhiệm vụ nhất định
Tổ chức hoạt động : Là tổng hợp các mục tiêu, nội dung, biện pháp vàđiều kiện thực thi một công việc nào đó
Chính vì vậy, để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất, liên minh lợi ích vàbảo vệ người lao động thì cần đông đảo nhiều sự đóng góp, tinh thần quyết liệt
và đòi hỏi phải có một tổ chức Vậy, tổ chức ở đây có nghĩa là các hoạt động cầnthiết để xác định cơ cấu, những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận
và giao phó các bộ phận cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năngnhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao Thiết lập tậpthể một cách hệ thống đối với các yếu tố , thành phần và các mối quan hệ giữacác yếu tố đó Vậy nên, ta thấy nên nghiên cứu tổ chức trên quan điểm với nộidung tổ chức bộ máy
Công đoàn là gì ? Theo Wikipedia : “ Công đoàn là một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ”.
9
Trang 16Các tài liệu của Việt Nam định nghĩa : “ Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng rãi của giải cấp công nhân, có chung quyền lợi trong tài sản xuất, công tác, xuất hiện vào thế kỷ XVIII ở Tây Âu, Bắc Mĩ” “ Công đoàn Việt nam
là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam , là thành viên trong hệ thống chính trị của Việt Nam , là trường học Chủ nghĩa xã hội của người lao động”.
Cùng với sự phát triển trải qua các thời kì, tổ chức công đoàn ngày mộtphát triển Pháp luật Việt nam đã ghi nhận sự tồn tại của tổ chức công đoàn
Theo Luật Công đoàn năm 1957 quy định “ Công đoàn là tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân tự nguyện lập ra Tất cả những người lao động chân tay
và lao động trí óc làm công ăn lương, đều có quyền gia nhập Công đoàn 1 ”.
Công đoàn tổ chức theo đúng những nguyên tắc của điều lệ Tổng liên đoàn laođộng Việt Nam
Đối với Luật công đoàn 1957 chỉ quy định vể phạm vi thành lập và trên cơ
sở tinh thần tự quyền Vị trí đặt ra mang bản chất của giai cấp công nhân có tínhchất quần chùng rộng lớn theo tổ chức Tuy nhiên đến năm 1990, Luật Côngđoàn đã được sửa đổi khẳng định rằng được vai trò quan trong cốt lõi là tổ chứcchính trị - xã hội
Luật Công đoàn năm 1990 quy định “ Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung
là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động” 2
1 Điều 1 “ Điều khoản chung” Lu t Công đoàn 1957 ật Công đoàn 1957
2 Khoản 1 Điều 1 “ Những quy định chung” Lu t Công đoàn 1990 ật Công đoàn 1957
Trang 17Điểm mới pháp lý năm 1990 này cho thấy, Công đoàn đã được Đảng vàNhà nước quan tâm và sự tồn tại của tổ chức Công đoàn khẳng định được vị thế
và giá trị pháp lý cũng như sự phát triển giáp dục tư tưởng của giai cấp côngnhân và người lao động Là tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và làcầu nối giữa Đảng , Nhà nước và nhân dân
Do sự tồn tại và phát triền của các lĩnh vực ngày một khác nhau , dẫn đếnvai trò pháp luật đặt ra với từng thời điểm để phù hợp với thực tại là khác nhau
Điều 1 “ Công Đoàn ” , Luật Công đoàn Việt Nam năm 2012 quy định “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Lại một lần nữa, khái niệm Công đoàn được xác định và quy định rõ ràngtại Luật Công Đoàn , để làm sảng tỏ vai trò cũng như sự hình thành cần thiết của
tổ chức Công đoàn
Căn cứ tại điều 10 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tái khẳng định : “
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra,
11
Trang 18thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Có thể thấy rằng Hiến pháp 2013 đã kế thừa lại các bản hiến pháp như
1946, 1959, 1980 và 1992 nhưng đã được chắt lọc ngắn gọn và súc tích hơn.Cách thể hiện trong các điều hợp lý hơn, thể hiện được mối quan hệ mật thiếtgiữa Đảng và Nhân dân Trong đó, mô hình Nhà nước được giữ nguyên, nhưngnhững quy định hoạt động của bộ máy Nhà nước được đổi mới hơn so với Hiếnpháp năm 1992 Và Công Đoàn chính là một nội dung trong những điểm mớitrong chương 1 chế độ chính trị tại Hiến pháp 2013 Theo đó, Hiến pháp 1992không đề cập tới sự thành lập tự nguyện của người lao động mà chỉ quy địnhviệc Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân, người laođộng cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội Thêm nữa, Hiến pháp
2013 đã chỉ rõ chính xác chức năng cốt lõi của Công đoàn là đại diện bảo vệngười lao động, tham gia quản lý nhà nước và tuyên truyền vận động nâng caotrình độ người lao động , còn Hiến pháp 1992 lại chỉ quy định về việc tham giaquản lý nhà nước , bảo vệ người lao động và giáo dục công nhân viên chứcngười lao động, mà không đề cập tầm quan trọng của Công đoàn về đại diện vàtuyên truyền vận động cho người lao động
Hơn nữa Ngoài ra, trong Điều lệ Công đoàn Việt Nam 2003 còn nhấn
mạnh: “ Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội ”.
Trang 19Tại Điều lệ Công đoàn Việt Nam cũng đã nhấn mạnh sự xuất hiện của tổchức Công đoàn và đối tượng tham gia là tất cả tầng lớp tự nguyện , thực hiệnnhằm mục đích xây dứng và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức cũng như đảmbao vai trò quan trọng trong quan hệ lao động
Vậy nên, căn cứ vào Hiến pháp 2013 và Luật Công Đoàn 2012 đã khẳngđịnh và quy định khái niệm về tổ chức Công đoàn một cách rõ ràng và chính xác
Ngoài ra, phong trào công đoàn trên thế giới cũng được thành lập như Anh( cuối thế kỷ XVIII) , Mỹ ( 1824) , Pháp ( 1830) , một số nước trên thế giới cũng
quy định về tổ chức công đoàn như Liên Bang Nga “Công đoàn là một hiệp hội gồm các nhân viên của các doanh nghiệp, tổ chức, tổ chức thuộc các hình thức
tổ chức và pháp lý khác nhau, sinh viên và sinh viên của các tổ chức giáo dục chuyên nghiệp Họ đoàn kết để cùng nhau bảo vệ nhau khỏi sự độc đoán của người sử dụng lao động và người đại diện của anh ta, bằng nỗ lực chung để đạt được điều kiện làm việc tốt hơn và lương của họ, chỉ để giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn 3 ”
“Các tổ chức công đoàn chính và các cơ quan của họ đại diện cho quan
hệ đối tác xã hội ở cấp địa phương, lợi ích của người lao động của một chủ lao động nhất định là thành viên của công đoàn có liên quan, và trong các trường hợp và cách thức được thiết lập bởi Bộ luật này, lợi ích của tất cả các nhân viên của chủ lao động này bất kể là thành viên của công đoàn trong thương lượng tập thể , việc ký kết hoặc sửa đổi thỏa thuận tập thể, cũng như trong việc xem xét
và giải quyết tranh chấp lao động tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Đối với quy định về Công đoàn của Liên Bang Nga thì phạm vi về thànhphần bao gồm là một hiệp hội có sinh viên , nhân viên của doanh nghiệp , chứ
3 Bộ luật Lao động của Liên bang Nga" ngày 30 tháng 12 năm 2001 N 197-FZ (sửa đổi vào ngày 16 tháng 12 năm 2019)
13
Trang 20không phải là tổ chức chính trị - xã hội như luật Việt Nam Và tổ chức côngđoàn lập ra để cùng nhau bảo vệ những thành phần trong hiệp hội của họ, đạidiện bảo vệ lợi ích trong quan hệ lao động về hợp đồng, ký kết, thương lượng vàgiải quyết tranh chấp
Theo quy định Luật Lao động sửa đổi năm 2018 của Trung Quốc “ Công nhân có quyền tham gia và tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật Công đoàn là đại diện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, và thực hiện các hoạt động độc lập và theo quy định của pháp luật”.
Trong số các tổ chức xã hội hiện đại , công đoàn là các tổ chức xã hội đặc biệt bao gồm các công nhân Phong trào công đoàn liên quan đến tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế và xã hội của người lao động , đặc biệt là trong quan hệ lao động” 4
Đối với quy định của pháp luật Trung Quốc thì công đoàn là các tổ chức
xã hội và thành phần chủ yếu là công nhân Sự tồn tại của công đoàn cũng đóngvai trò là đại diện của người lao động và đàm phán với người sử dụng lao động
về xung đột lao động và các vấn đề lao động, như tiền lương lao động, giờ laođộng, lợi ích lao động, để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Là đạidiện của nhóm lao động, công đoàn trở thành nền kinh tế thị trường
Bên cạnh đó, tại Hoa Kỳ thì các công đoàn doanh nghiệp đã trải qua mộtquá trình phát triển từ một tổ chức công đoàn nhất định thành Liên đoàn Côngđoàn Quốc gia Ngay từ năm 1790 - 1885, các tổ chức công đoàn tiếp tục pháttriển và các tổ chức công đoàn quốc gia của các công đoàn địa phương khácnhau dần dần được thành lập Cuối cùng, bắt đầu từ năm 1886, cấu trúc kim tựtháp của cấu trúc tổ chức công đoàn Mỹ dần hình thành Năm 1886, AFL rađời ,đánh dấu đỉnh cao của tổ chức công đoàn đại diện cho khoảng một nửa sốcông nhân Mỹ Kể từ đó, cấu trúc tổ chức công đoàn hình kim tự tháp đã tiếp tục
4 Điều 7 Lu t Lao đ ng năm 1995 sửa đổi năm 2018 C ng hòa nhân dân Trung Hoa ật Công đoàn 1957 ộng năm 1995 sửa đổi năm 2018 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ộng năm 1995 sửa đổi năm 2018 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trang 21hình thành và cải thiện trong thực tế Trải qua nhiều năm, các tổ chức công đoàn
đã tách ra thành các hiệp hội công đoàn riêng thành lập tổ chức mới như CIO Kể
từ cuối thế kỷ 20, các công đoàn Hoa Kỳ đã tự lập trình biến mình thành một đạidiện toàn diện cho tất cả các công nhân
Ở Đức tổ chức công đoàn xuất hiện muộn hơn ở Hoa Kỳ, và mãi đếnnhững năm 1920 và 1930, Đức mới bắt đầu thành lập các tổ chức công đoàn đầutiên Năm 1848, một hiệp hội của các công đoàn xuất hiện ở Đức Kể từ đó, chođến Thế chiến thứ hai, các công đoàn Đức đã phát triển đáng kể Năm 1949, Đứcchính thức thành lập "Liên đoàn Công đoàn Đức" (gọi tắt là Công đoàn Đức),đánh dấu rằng cơ cấu tổ chức của các công đoàn Đức đã bước vào một giai đoạnhoàn hảo và phát triển cho đến nay
1.1.2 Chức năng của tổ chức Công đoàn
Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấpcông nhân, của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản Việt Nam và tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Cũng bởi vì tính chất công đoàn có tính chất giai cấp của giai cấp côngnhân và tính chất quần chúng nên việc thực hiện mục tiêu chính trị , hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, sự tín nhiệm của đông đảoquần chúng thực sự cần thiết Hai tính chất này có quan hệ gắn bó mật thiết ,phản ánh bản chất của Công đoàn Việt Nam và quyết định sự tồn tại, phát triểncác hoạt động tư tưởng chỉ đạo của công đoàn Việt Nam Chức năng của Côngđoàn là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một cách tương đối ổn định
và hợp lý trong điều kiện lịch sử – xã hội nhất định của Công đoàn để phân biệt
tổ chức Công đoàn với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, hoạt động theonhững nguyên tắc, như là đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, Liên hệ mật thiết vớiquần chúng, đảm bảo tính sự nguyện của quần chúng và tập trung dân chủ
15
Trang 22Với những điều kiện và lịch sử khác nhau nên chức năng cũng khác nhau.Bởi lẽ, chức năng của công đoàn gắn chặt với hoạt động của đời sống xã hội, sảnxuất kinh doanh , quản lí kinh tế , chính trị tư tưởng , văn hóa xã hội, đời sốngvật chất và tinh thần của người lao động.
Ở dưới chế độ tư bản chủ nghĩa chỉ hình thành hai chức năng Thứ nhất ,Công đoàn tập hợp công nhân lao động đấu tranh chống lại áp bức bóc lột củachủ nghĩa tư bản để bảo vệ lợi ích cho công nhân lao đông Đây là chức năngbẩm sinh của Công đoàn và rất quan trọng , vừa là mục tiêu và hoạt động củaCông đoàn Thứ hai , Công đoàn vận động, giáo dục người lao động đấu tranhbảo vệ lợi ích Nhưng để bảo vệ lợi ích công nhân, lao động công đoàn phải tậphợp, vận động, giáo dục họ hiểu được nguồn gốc của sự đói nghèo, đau khổ, hiểuđược cách tiến hành đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình Vì thế , giáo dục đãphát triển trở thành chức năng của Công đoàn Như vậy, dưới chế độ tư bản chủnghĩa thì Công đoàn đã có chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục công nhânlao động Hai chức năng có sự thống nhất trong mối quan hệ tác động qua lại,thúc đẩy và khăng khít với nhau
Việc xác định chức năng của Công đoàn Việt Nam có ý nghĩa lý luận,thực tiễn và tư tưởng sâu sắc Về mặt lý luận, sẽ phản ánh được đầy đủ và toàndiện bản chất của công đoàn Về mặt thực tiễn, nó tránh được sự trùng lặp, chồngchéo giữa công đoàn với Nhà nước và các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hộikhác Đồng thời , có có ý nghĩa tư tưởng là giải đáp những vướng mắc, phân vâncủa quần chúng, củng cố lòng tin, đáp ứng nguyện vọng của công nhân, viênchức và lao động, song đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, bôi đen chứcnăng của công đoàn cách mạng
Theo quan điểm của Mac – Lê nin về tổ chức Công đoàn , hai nhà lý luận
đã khẳng định và thể hiện rõ được công đoàn mang tính chất giai cấp, tính chấtquần chúng rộng rãi, là cầu nối giữa Đảng và quần chúng công nhân , là trường
Trang 23học của chủ nghĩa cộng sản, trường học đấu tranh giai cấp của giải cấp côngnhân , với nhiệm vụ đấu tranh kinh tế và đấu tranh lâu dài về chính trị , xây dựngtrên nguyên tắc tập trung dân chue, có kỷ luật và thống nhất về mọi mặt Những
lý luận sắc bén của CN Mác và Lênin đã làm sáng tỏ cơ bản về đường lối , địnhhướng cho phòng trào công đoàn trong thế kỉ XIX và năm đầu thế kỷ XX
Ở trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và trải qua XI kì đại hội
Công Đoàn Việt Nam với phương châm “ Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động , vì sự phát triển bền vững của đất nước , tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn” Mặt khác, Tổ
chức Công đoàn Việt Nam kế thừa những chức năng vốn có của tổ chức Côngđoàn trong chủ nghĩa tư bản đồng thời vừa phát triển những chắc năng mới Việc đại diện cho ý chí , phát huy truyền thống vẻ vang của dân độc nên chứcnăng Công đoàn ở trong điều kiện giai cấp công nhân giành được chính quyềnnày có sự thay đổi và khẳng định một cách cụ thể hơn nên Công đoàn Việt Namcó ba chức năng
Một là , chức năng bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp , chính đáng cho công nhân viên chức lao động
Với chức năng này , Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước pháttriển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần củangười lao động Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ ràng về chức năng này trongLuật Công Đoàn 2012 tại điều 10 ( quyền, trách nhiệm của Công đoàn )
Trong chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm đến việc bảo vệ người lao động bởi vì bảo vệ người lao động làthể hiện quan điểm vì con người, do con người, trước hết là người lao động Bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động không chỉ là trách nhiệm của
17
Trang 24riêng ai mà là vấn đề chung của toàn xã hội, trong đó thiết thực nhất vẫn là tổchức công đoàn.
Trong điều kiện mở cửa, hội nhập, phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài đã được khuyến khích hoạt động làmcho xu hướng thay đổi cơ cấu giai cấp công nhân rõ nét, số lượng công nhân khuvực ngoài nhà nước có xu hướng tăng lên Quan hệ chủ thợ, tình trạng bóc lột,
ức hiếp người lao động đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ và có xu hướng pháttriển
Trên thực tế , bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng công nhân viênchức lao động là chức năng trung tâm của Công Đoàn Việt Nam Sự bảo vệ nàykhác hẳn với sự bảo vệ của Công Đoàn dưới chế độ tư bản về nội dung, hìnhthức và phương pháp Nó không mang tính đối kháng giai cấp, không phải là đấutranh giai cấp Vì vậy, chức năng bảo vệ lợi ích công nhân viên chức lao độngcủa Công đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng , biểu hiện ở việc :
Công đoàn tham gia xây dựng và thực hiện chính sách, chế độ về tiềnlương, phân phối thu nhập như xây dựng thang lương, bảng lương , xây dựng cácchế độ phụ cấp, quy chế trả lương, định mức lao động, kiểm tra giám sát quy chếtrả lương Đối với tiền thưởng , Công đoàn thực hiện các hoạt động khen thưởngvượt mức, sáng kiến , có sự đóng góp trong quá trình tiêu thụ hàng hóa Hơnnữa, còn có phúc lợi tập thể để nhằm cải thiện nâng cao đời sống tinh thần chongười lao động, hỗ trợ phát triển văn nghệ thể thao Công Đoàn giúp đỡ ngườilao động ký kết hợp đồng đúng quy định pháp luật, đại diện công nhân lao động
ký kết thỏa ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đìnhcông hợp pháp
Quản lý và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động cùng vớiphát triển kinh tế gia đình, tham gia giải quyết khiếu nại và tố cáo của công nhân
Trang 25viên chức lao động Phát huy dân chủ bình đẳng , công bằng xã hội và phát triểncác hoạt động tham quan , du lịch nhằm tạo tinh thần làm việc cho người laođộng Ngoài ra, Công đoàn cũng tham gia giải quyết việc làm cho người laođộng , xây dựng chính sách pháp luật nhà nước , khuyến khích người sử dụng laođộng cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động và tổ chức hoạt động đốithoại xã hội nhằm nâng cao nhận thức và quyền lợi cho người lao động.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nội dung hoạt động nhằm bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của công nhân viên chức lao động thì Công đoànluôn cần phải có nhận thức đầy đủ sâu sắc Mọi lợi ích của người lao động nêngắn liền với doanh nghiệp, cả về lợi ích kinh tế , chính trị và xã hội Và cả lợiích trước mắt , lâu dài cùng với cá nhân tập thể , Nhà nước Bồi dưỡng nâng caotrình độ cán bộ công đoàn, thực hiện việc cầu nối mối quan hệ khăng khít giữacông đoàn với Đảng và Nhà nước , các tổ chức chính trị xã hội khác Tuyềntruyền giáo dục tư tưởng cho người lao động để bảo vệ lợi ích của họ, công đoàntham gia cùng tổ chức đảng, chính quyền, doanh nghiệp tìm việc làm và tạo điềukiện làm việc cho công nhân, viên chức và người lao động Đặc biệt là trong mốiquan hệ Nhà nước và doanh nghiệp , là người đảm bảo lợi ích vật chất cũng nhưtinh thần của người lao động, còn công đoàn chính là người bảo vệ lợi ích của
họ Đây là vấn đề thực sự quan trọng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ mỗibên trong nền kinh tế xã hội hiện tại và tiếp bước phát triển
Hai là , chức năng tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội.
Việc công đoàn tham gia quản lý về kinh tế - xã hội, quản lý công việcNhà nước là một thay đổi về chất của tổ chức Công đoàn trong điều kiện Nhànước là của giai cấp công nhân và nhân dân lao động , làm cho hoạt động thamgia quản lý của công đoàn trở thành một chức năng của công đoàn trong điềukiện mới Đây chính là chức năng cũng như điểm mới so với dưới thời chủnghĩa tư bản đã không có chức năng này và chỉ có trong điều kiện giai cấp công
19
Trang 26nhân giành được chính quyền Chính vì thế , người lao động trở thành người chủ, họ có quyền và có trách nhiệm tham gia quản lý kinh tế - xã hội Bên cạnh đó,cần có nhận thức đúng đắn về chức năng tham gia quản lý Bởi lẽ, Công đoàncần thực hiện quyền của Công đoàn, quyền của công dân , viên chức và lao động, là để bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động từ gốc đồng thời để bảo vệquyền , lợi ích trước mắt , lâu dài của công nhân viên chức lao động
Tại điều 11 Luật Công đoàn năm 2012 quy định “ Công đoàn tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp”, “ Tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” 5
Tại điều 7 Bộ Luật Lao động 2012 quy định “ Công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn đinh và tiến bộ ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động” 6
Như vậy, pháp luật đã quy định một cách chi tiết và cụ thể về Công đoànkhi tham gia quản lý Công đoàn tham gia quản lý là để đảm bảo giám sát, kiểmtra , nắm bắt được quá trình quản lý về lao động, sản xuất và phát huy quyền làmchủ của người lao động
Thực hiện chức năng tham gia quản lý đòi hỏi Công đoàn nên tổ chức cácphong trào thi đua lao động sản xuất, lấy đó làm biện pháp tổng hợp nhất đểcông nhân viên chức lao động trực tiếp tham gia quản lý Vận đồng và tổ chứcxây dựng tốt kế hoạch sản xuất, kinh doanh , thực hiện tốt nhiệm vụ công tác tạoviệc làm và tạo điều kiện cho người lao động Tham gia cùng với cơ quan nhànước xây dựng chính sách , pháp luật trong chế độ tiền lương , tiền thưởng, bảo
5 Căn cứ khoản 4, khoản 5 điều 11 “ Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã h i LCĐ 2012 ộng năm 1995 sửa đổi năm 2018 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
6 Căn cứ khoản 2 điều 7 “ Quan h lao đ ng “ BLLĐ 2012 ệ lao động “ BLLĐ 2012 ộng năm 1995 sửa đổi năm 2018 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trang 27hiểm xã hội, việc làm và các chính sách khác liên quan đến tổ chức công đoàn,quyền nghĩa vụ người lao động , giải quyết khiếu nại, tố cáo , tranh chấp tronglao động Tham gia kiểm tra, giám sát việc xây dựng và tổ chức quy chế trongdoanh nghiệp về vật tư, kĩ thuật, tài chính Hơn hết , là nâng cao hiệu quả sửdụng vật tư kỹ thuật nhằm giảm chi phí sản xuất cùng với việc phát huy sángkiến , tiềm năng lao động kết hợp với các phòng trào thi đua , vận động và tổchức tốt Hội nghị người lao động, Hội nghị cán bộ công chức ở đơn vị
Ba là , chức năng tuyên truyền, vận động và giáo dục.
Nếu như trong xã hội có giai cấp bóc lột, Công đoàn giáo dục công nhânlao động hiểu bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đấu tranh không khoannhượng với giai cấp tư sản bảo vệ lợi ích công nhân lao động ,thì đối với điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước do giai cấp côngnhân lãnh đạo Công đoàn thực hiện chức năng tuyên truyền, vận động khôngphải với tư cách chỉ giáo dục mà gắn liền với chức năng giáo dục với hoạt độngthực tiễn Một trong những nội dung quan trọng của giáp dục là công đoàn tuyêntruyền giáo dục để công nhân viên chức lao động hiểu được lợi ích của họ gắnvới tập thể, lợi ích xã hội
Thực hiện giáo dục công nhân viên chức lao động để hoàn thành tốt nghĩa
vụ , trách nhiệm , củng cố kỉ luật lao động , tích cực nâng cao trình độ học vấn,tay nghề, nghiệp vụ và tự giác trong lao động, công tác Thường xuyên giác ngộchính trị tư tưởng để người lao động tin tưởng vào thắng lợi sự nghiệp đổi mới ,cảnh giác với những khuynh hướng sai lầm , mơ hồ và làm sai lệch mụctiêu Tuyên truyền phổ biến các chính sách kinh tế - xã hội , mở rộng hình thứctuyên truyền , tích cực hưởng ứng cuộc vận động , tìm hiểu pháp luật , nâng cao
ý thức chấp hành pháp luật Và chú trọng giáo dục truyền thống , phát triểnphong trào xây dựng nếp sống văn hóa công nghiệp một cách văn minh
21
Trang 28Vì thế, bất kì một tổ chức nào cũng đều nên làm công tác tuyên truyềngiáo dục nhằm tôn chỉ , thể hiện rõ vị trí , chức năng của tổ chức mình để phát
huy ảnh hưởng của mình đối với xã hội và quốc tế Đảng ta đã xác định “ Công tác tuyên truyền giáo dục là một công cụ quan trong trên mặt trật tư tưởng , có vị trí hàng đầu để trang bị lý luận và nâng cao nhận thức, hướng dẫn và cổ cũ quần chúng hoạt động”.
Có thể thấy rằng, chức năng công đoàn là một chỉnh thể thống nhất có mốiquan hệ khăng khít không tách rời, là tiền đề điều kiện để cho nhau phát triển Trong đó, chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích là trung tâm là mục tiêu hoạtđộng của công đoàn, chức năng tuyên truyền giáo dục là điều kiện xã hội để thựchiện mục tiêu, chức năng tham gia quản lý là phương tiện để công đoàn thựchiện mục tiêu Cả ba chức năng đều có vai trò quan trọng, làm tiền đề và bổsung hỗ trợ cho nhau trong việc xây dựng chính sách pháp luật, phát triển cáclĩnh vực kinh tế văn hóa xa hội , và bảo vệ chính quyền và lợi ích của công nhânviên chức lao động
Trang 291.1.3 Hệ thống tổ chức của Công Đoàn Việt Nam
Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị và tổ chức theocác cấp cơ bản dưới sơ đồ sau
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Công đoàn ngành trung ương
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố ( TW)
ban Đảng, T/chức
xã hội
CĐ tổng công ty tuộc Ngành
CĐ ngành địa phương
CĐ Tổng C.ty thuộc tỉnh,TP
CĐ khu Công nghiệp
CĐ quận, huyện, thị xã, T.phố
cơ sở
Công đoàn
cơ sở
Công đoàn cơ
sở thành viên
Công đoàn
cơ sở trực thuộc
Công đoàn
cơ sở
Công đoàn
cơ sở
Công đoàn cơ
sở thành viên
Công đoàn
cơ sở
Công đoàn cơ
sở trường học
Công đoàn
cơ sở
và nghiệp đoàn
Công đoàn cơ
sở trực thuộc
Chỉ đạo trực tiếp
Phối hợp
23
Trang 30Tổ chức Công đoàn ra đời ngày 28/07/1929, tiền thân là Tổng Công hội
Đỏ Bắc Kỳ, trong quá trình ra đời và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng đứngđầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã vận dụng một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác –
Lê nin, tiếp thu những tinh hóa về lý luận và hoạt động thực tiễn của Công đoànthế giới vào phong trào công nhân, Công đoàn Việt Nam , làm cho tổ chức Côngđoàn Việt Nam ngày càng lớn mạnh và trưởng thành
Công đoàn Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấpcông nhân, của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản Việt Nam và tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ Vì vậy, khi nghiên cứu về tổ chức công đoàn cũng mang một ý nghĩa quantrọng trong nghiên cứu pháp luật lao động vì hoạt động của công đoàn trong việcbảo vệ quyền lợi của người lao động phải thông qua một hệ thống tổ chức nhấtđịnh Việc nghiên cứu tổ chức công đoàn là một biện pháp tiếp cận địa vị pháp lýcủa công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
Căn cứ Điều lệ Công đoàn thì Công đoàn Việt Nam tổ chức theo các cấp
cơ bản đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Liên đoàn lao động tỉnh, thànhphố ( TW) và Công Đoàn ngành Trung Ương; Công đoàn cấp trên cơ sở; Côngđoàn cơ sở, nghiệp đoàn
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam là cơ quan lãnh đạo của các cấp côngđoàn, thay mặt cho công nhân viên chức lao động tham gia quản lí kinh tế, xãhội Quyết định phương hướng, chương trình, nội dung hoạt động Công đoàn,nhằm thực hiện Nghi quyết Đại hội Công đoàn toàn quốc Chỉ đạo công tácnghiên cứu lý luận, tổng kết phong trào công nhân và hoạt động công đoàn Tham gia xây dựng pháp luật , chế độ chính sách liên quan và bảo vệ quyền lợi,nghĩa vụ của công nhân, viên chức và lao động Đối tượng chỉ đạo trực tiếp làcác liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ướng, các công đoànngành trung ương, tổng công ty và đơn vị trực thuộc Cơ cấu cơ quan trung ướng
Trang 31Tổng liên đoàn lao động Việt Nam gồm có chủ tịch, các phó chủ tịch , các ủyviên đoàn chủ tịch và các ủy viên ban chấp hành
Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và công đoànngành Trung ương là tổ chức Công đoàn theo địa bàn, tỉnh, thành phố có nhiệm
vụ đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, côngnhân lao động trên địa bàn Triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của BanChấp hành Tổng Liên đoàn , Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và Nghị quyết BanChấp hành Công đoàn tỉnh, thành phố Đối với Liên đoàn lao động tỉnh , thànhphố trực thuộc Trung ước thì tổ chức theo địa giới hành chính tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương Do đoàn chủ tịch Tổng Liên Đoàn quyết định thành lập
và chỉ đạo trực tiếp Chỉ đạo trực tiếp các liên doàn lao động quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh; công đoàn ngành địa phương; công đoàn Tổng công ty( thuộc tỉnh) ; công đoàn khu công ngiệp; công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn trựcthuộc đóng trên địa bàn Cùng phối hợp với công đoàn ngành trung ương chỉđọa các công đoàn cơ sở trực thuộc công đoàn ngành trung ương đóng trên địabàn Còn đối với Công đoàn ngành Trung ướng thì tổ chức theo đặc điểm ngành,
do Đoàn chủ tịch Tổng Liên Đoàn quyết định thành lập và chỉ đạo trực tiếp Chỉđạo trực tiếp Công đoàn các cơ quan bộ, các Ban của Đảng , đoàn thể trung ươngcông đoàn Tổng công ty thuộc ngành và các công đoàn cơ sở trực thuộc Cùngphối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo ,hướng dẫn các công đoàn ngành địa phương về nội dung thuộc ngành
Công đoàn cấp trên cơ sở là Liên đoàn Lao động huyện quân, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh do Liên đoàn lao động tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ươngquyết định thành lập và chỉ đạo trực tiếp, Liên đoàn lao động huyện thành lập vàchỉ đạo trực tiếp công đoàn cấp trên cơ sở giáo dục huyện , công đoàn cơ sở vànghiệp đoàn đóng trên địa bàn ; Công đoàn ngành địa phương là do Liên đoànlao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ướng quyết định thành lập và chỉ đạo
25
Trang 32trực tiếp , công đoàn ngành địa phương chỉ đạo trực tiếp các công đoàn cơ sở ,nghiệp đoàn trực thuộc ngành trên địa bàn tỉnh, thành phố; Công đoàn các khucông nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao ( gọi chung là côngđoàn khu công nghiệp) là do Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ướng quyết định và thành lập, thực hiện chỉ đạo các công đoàn cơ sởthuộc các đơn vị do địa phương thành lập, hoạt động trong các khu công nghiệp
và chỉ đạo các công đoàn cơ sở thuộc công đoàn ngành Trung ương, công đoàntổng công ty của Trung ương trong khu công nghiệp; Công đoàn Tổng Công ty
và một số Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc thù khác ( gọi chung là Côngđoàn cấp trên trực tiếp cơ sở) Cấp này gồm Công đoàn Tổng công ty, Côngđoàn ngành nghề địa phương, Công đoàn quận, huyện , thị xã thuộc tỉnh, Côngđoàn các cơ quan Bộ , Công đoàn ngành giáo dục quận, huyện trực thuộc Liênđoàn lao động quận , huyện
Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn là công đoàn cơ sở được thành lập ở cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế , các đơn vị sự nghiệp và cơ quanNhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội có 05 đoàn viên trởlên và được Công đoàn cấp trên quyết định công nhận Nghiệp đoàn Lao động,tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành, nghề được thành lậptheo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động có mười đoàn viên trở lên và được Côngđoàn cấp trên ra quyết định công nhận
Ngoài ra, còn có Công đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công
an nhân dân là những tổ chức Công đoàn ngành nằm trong hệ thống Công đoànViệt Nam, tập hợp những công nhân viên chức lao động làm việc hưởng lươngtrong các đơn vị sản xuất, kỹ thuật, hành chính sự nghiệp, dịch vụ trong lựclượng quốc phòng và an ninh Tổ chức và hoạt động của Công đoàn trong Quânđội nhân dân Việt Nam và công đoàn trong Công an nhân dân do Đoàn Chủ tịchTổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quy định sau khi thảo luận thống nhất với
Trang 33lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trên nguyên tắc bảo đảm đúng các quyđịnh của Luật Công đoàn và Điều lệ Công đoàn Việt Nam
Như vậy, hệ thống tổ chức của Công Đoàn Việt Nam đã thiết lập các mốiquan hệ chặt chẽ , có sự phân công và cơ chế phối hợp hoạt động của tổ chức.Mỗi cấp đều được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhấtđịnh Được bố trí nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của tổ chức và phục vụmục tiêu chung đã được xác định Hệ thống tổ chức được cấu thành bởi các bộphận giúp hệ thống tổ chức của Công đoàn Việt nam thêm hoàn chỉnh , hợp lý vàhoạt động có hiệu quả
1.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn
1.2.1 Khái niệm quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn
Quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp
luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhânhoặc tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản,hạn chế
Phải có sự ghi nhận về mặt pháp lí và được bảo đảm thực hiện bởi các quyđịnh của pháp luật và phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cánhân, tổ chức được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ
xã hội cụ thể của cá nhân, tổ chức trong một cộng đồng nhất định
Như vậy, quyền của tổ chức Công đoàn là tổng hợp các quyền của tổ chứccông đoàn được pháp luật ghi nhận, có thể thực hiện hoặc phải thực hiện mộtcách độc lập với tư cách là một chủ thể, trong một giới hạn nhất định Quyền hạntrong việc đại diện cho tập thể người lao động trong mối tương quan với người
sử dụng lao động, vừa là quyền hạn trong việc tham gia “điều chỉnh” quan hệ laođộng
Trách nhiệm là việc chủ thể phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý được
đề cập đến trong phần quy định của quy phạm pháp luật hay trách nhiệm là việc
27
Trang 34chủ thể phải thực hiện một mệnh lệnh cụ thể của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhâncó thẩm quyền Hoặc là, trách nhiệm là việc chủ thể phải gánh chịu những hậuquả pháp lý bất lợi được quy định trong phần chế tài của các quy phạm phápluật Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý theo nghĩa này khi họ vi phạmpháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luậtquy định.
Vì thế, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn là việc tổ chức công đoàn thựchiện những nghĩa vụ pháp lý đã được pháp luật quy định, phải thực hiện mộtcách độc lập với tư cách là một chủ thể, đảm bảo chấp hành pháp luật và bảo vệquyền lợi ích người lao động
Nhà nước quy định cho công đoàn những quyền hạn và trách nhiệm nhấtđịnh trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông quaLuật Công đoàn Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn là các quyền hạn
và trách nhiệm được xác định trong Luật Công đoàn trên các mặt kinh tế - xã hội, pháp luật và bảo vệ lợi ích của người lao động , là cơ sở để thực hiện các quyền
và trách nhiệm cụ thể khác của tổ chức và cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp
lý cũng như vị trí của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị
1.2.2 Phân loại quyền và trách nhiệm của tổ chức Công Đoàn
Việc phân loại các quyền của tổ chức Công đoàn là cần thiết và có ý nghĩa
cả về lý luận lẫn thực tiễn Không những cho thấy được tính chất các quyền củacông đoàn mà còn cho thấy sự tương quan về địa vị pháp lý của tổ chức này vớiđịa vị pháp lý của các cơ quan, tổ chức hữu quan khác, đặc biệt là với người sửdụng lao động
Tùy theo những tiêu chí phân biệt khác nhau, quyền hạn của tổ chứcCông đoàn được phân thành những loại khác nhau
Căn cứ vào lĩnh vực tác động, công đoàn có quyền trên hai lĩnh vực chủyếu sau:
Trang 35Lĩnh vực tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội về lao động,quản lý sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ tập thể của người laođộng, nghiên cứu xây dựng chính sách pháp luật và quan hệ lao động ổn địnhtiến bộ.
Lĩnh vực đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của ngườilao động về việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, điều kiện về lợi ích laođộng
Căn cứ vào tính chất, công đoàn có ba loại quyền sau :
- Quyền tham gia: Công đoàn có quyền tham gia thanh tra, kiểm tra, giámsát hoạt động của cơ quan, tổ chức , doanh nghiệp Trình dự án luật, pháp lệnh
và kiến nghị xây dựng chính sách pháp luật
- Quyền chung : Tổ chức công đoàn và cơ quan Nhà nước, người sử dụnglao động có quyền như nhau trong khi quyết định một vấn đề nào đó Theo đó,Công đoàn có quyền tham dự các phiên họp, cuộc họp , kỳ họp và hội nghị
- Quyền độc lập : tổ chức Công đoàn có quyền quyết định những vấn đềliên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động , trong đó có tuyên truyền, vậnđộng giáo dục người lao động , phát triển đoàn viên công đoàn , đại diện bảo vệquyền lợi khi người lao động có yêu cầu
Ngoài ra, căn cứ vào cấp công đoàn, quyền hạn của Công đoàn cũng đượcphân theo cấp thẩm quyền :
- Thẩm quyền của Công đoàn Trung ương : Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam
- Thẩm quyền của Công đoàn cấp trên cơ sở : Các công đoàn tỉnh, quận,huyện, thị xã Công đoàn ngành, Công đoàn khu công nghiệp và Công đoànTổng Công ty và một số Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc thù khác
29
Trang 36- Các quyền của công đoàn cơ sở : Công đoàn của các đơn vị sản xuất,kinh doanh, dịch vụ và các đơn vị sự nghiệp ,cơ quan Nhà nước và các tổ chứcchính trị - xã hội
Dựa vào các yếu tố trên, quyền của tổ chức Công đoàn đã được phân loạimột cách rõ ràng Bên cạnh đó, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn cũng đượcbiểu hiện phân loại cụ thể , đó là :
Trách nhiệm đối với người lao động : Công đoàn có trách nhiệm đại diện,bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người lao động Công đoàntuyên truyền, vận động và giáo dục người lao động
Trách nhiệm đối với Nhà nước : Công đoàn có trách nhiệm tham gia quản
lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội Trình dự án luật, pháp lệnh , kiến nghị xâydựng chính sách pháp luật, tham dự các phiên họp kỳ họp và hội nghị Thực hiệnthanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan , tổ chức doanh nghiệp
Trách nhiệm đối với đoàn viên công đoàn , công đoàn cơ sở : Công đoàncó trách nhiệm phát triển đoàn viên, công đoàn cấp trên cơ sở có trách nhiệmhướng dẫn thành lập công đoàn cơ sở và bảo vệ lợi ích của người lao động ở cơquan , tổ chức , doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở
Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn được quy định tại Điều 10đến Điều 17 Luật Công Đoàn 2012 Căn cứ vào những tính chất , hoạt động ,đối tượng khác nhau nên quyền và trách nhiệm cũng được phân loại khác nhau
1.3 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật
Căn cứ tại khoản 7 điều 3 Luật Lao động 2013 pháp luật Việt nam thì “ Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động”
Trang 37Căn cứ tại khoản 6 điều 10 Luật Công đoàn 2012 Việt Nam thì quyền và
trách nhiệm của Công đoàn là “ Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động” để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng cho người lao động
Đối với một số nước trên thế giới cũng đưa ra quy định riêng Theo phápluật Liên Bang Nga quy định cũng có hai loại tranh chấp , bao gồm tranh chấp
lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể “Tranh chấp lao động cá nhân
- những bất đồng chưa được giải quyết giữa người sử dụng lao động và người lao động về việc áp dụng luật lao động và các hành vi pháp lý điều chỉnh khác
có luật lao động, thỏa thuận tập thể, thỏa thuận, hành vi pháp lý địa phương, thỏa thuận lao động “.
“Tranh chấp lao động tập thể - những bất đồng chưa được giải quyết giữa người lao động (người đại diện của họ) và người sử dụng lao động (người đại diện của họ) về việc thiết lập và thay đổi điều kiện làm việc (bao gồm tiền lương), kết luận, sửa đổi và thực hiện thỏa thuận tập thể, thỏa thuận, cũng như liên quan đến việc từ chối của chủ lao động một cơ quan đại diện được bầu của công nhân khi áp dụng các quy định của địa phương.” 7
Ở Đức, pháp luật cũng phân chia thành tranh chấp lao động cá nhân vàtranh chấp lao động tập thể Cụ thể, tranh chấp cá nhân là tranh chấp giữa một
cá nhân người lao động với người sử dụng lao động của mình còn các tranh chấplao động khác được xem là tranh chấp tập thể Trong khi tranh chấp lao động cánhân được giải quyết như các tranh chấp dân sự thông thường thì tranh chấp laođộng tập thể được giải quyết theo các cơ chế riêng biệt Tuy vậy, việc xác địnhđúng tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích có ý nghĩa quan trọng hơn vìcách phân loại này mới liên quan trực tiếp đến việc xác định thẩm quyền và cơchế giải quyết tranh chấp
7 Tại điều 381 và 398 Lu t Lao đ ng Liên Bang Nga 2001 sửa đổi 2019 ật Công đoàn 1957 ộng năm 1995 sửa đổi năm 2018 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
31
Trang 38Pháp luật Lào cũng không chia tranh chấp lao động thành tranh chấp cánhân và tranh chấp tập thể Bộ luật Lao động năm 2006 của Lào chỉ chia tranhchấp lao động thành hai loại là tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích.
1.3.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động đối với cá nhân
Có thể nói, tranh chấp lao động phát sinh từ nhiều mâu thuẫn, xung độtgiữa các bên Nguyên nhân tranh chấp có thể liên quan đến quyền và lợi ích phátsinh trong quan hệ lao động giữa các chủ thể, nó không chỉ liên quan đến các vấn
đề như tiền lương , thời giờ làm việc , bảo hiểm xã hội mà còn liên quan đếnnhiều vấn đề khác như sự thiệt hại hay chi phí Tranh chấp lao động có tác động
và ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế và xã hội , cũng như các quanhệ giữa người sử dụng lao động và người lao động
Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa người sử dụng lao độngvới người lao động hoặc một số người lao động không có tổ chức Về mặt chủthể, một bên là một cá nhân người lao động hoặc một nhóm người lao động đơnlẻ không có tổ chức tranh chấp với người sử dụng lao động Về tính chất , thìtranh chấp này mang tính đơn lẻ, không có tổ chức, không có sự liên kết tập thểgiữa những người lao động với nhau , không có sự tham gia của tổ chức côngđoàn với tư cách là một bên tranh chấp Thêm vào đó, là nội dung tranh chấp chỉliên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cá nhân lao động hoặc của nhómngười lao động hoặc của người sử dụng lao động Tranh chấp lao động cá nhânthường phát sinh trong quá trình thực hiện thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao độnghoặc trong việc thực hiện chế độ tiền lương , bảo hiểm xã hội
Căn cứ Điều 200 Bộ Luật Lao động 2012 thì Cơ quan , cá nhân có thẩmquyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm có Hòa giải viên lao động vàTòa án nhân dân Khi các bên có sự bất đồng về quan điểm , tranh chấp xảy rathì có thể thương lượng Nếu như thương lượng không thành hoặc một bên từ
Trang 39chối thì một trong các bên yêu cầu Hòa giải viên tiến hành hòa giải Đối với giảiquyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân thì các bên yêu cầu Tòa án giải quyết trong
hồ sơ phải có biên bản hòa giải không thành Về nguyên tắc thì Tòa án chỉ giảiquyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hòa giải viên lao động hòa giải khôngthành hoặc Hòa giải viên lao động không giải quyết trong thời hạn luật định hoặcmột bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành ( trừ 05 trườnghợp quy định tại khoản 1 điều 201 Bộ luật lao động 2012)
Ngoài việc , Hòa giải viên và Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyếttranh chấp lao động cá nhân thì việc tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranhchấp lao động cũng có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với cơ quan quản
lý nhà nước về lao động để thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ các bên tronggiải quyết tranh chấp lao động
Theo Bộ luật lao động tại khoản 1 điều 195 và khoản 8 điều 22 Luật Công
Đoàn cũng có quy định “ Cơ quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức công đoàn , tổ chức đại diện người sử dựng lao động hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động” “ Phối hợp với Công đoàn giải quyết tranh chấp lao động và những vấn đề liên quan đến việc thực hiện pháp luật về lao động”.
Công đoàn có quyền và trách nhiệm tham gia với cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động Công đoàn cơ sở có quyềnyêu cầu bằng văn bản đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyếttranh chấp lao động bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.Công đoàn cơ sở sẽ có quyền và trách nhiệm trong việc hướng dẫn, hỗ trợ ngườilao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân khi người lao động yêu cầu.Hơn nữa , còn đại diện cho người lao động tham gia quá trình giải quyết tranhchấp lao động cá nhân khi ủy quyền và tham gia họp giải quyết tranh chấp laođộng cá nhân của hòa giải viên lao động yêu cầu Vì bảo vệ quyền và lợi ích của
33
Trang 40chính cá nhân trong tranh chấp lao động, nên quyền và trách nhiệm của côngđoàn được biểu hiện rất rõ ràng và tạo điều kiện cho người lao động được giảiquyết đúng đắn theo pháp luật
Đối với tranh chấp lao động cá nhân , Công đoàn có quyền và trách nhiệm
“đại diện cho người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động ủy quyền” 8
“ Đại diện cho người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” 9
Khởi kiện và tham gia tố tụng là một trong những quyền năng quan trọngcủa tổ chức Công đoàn Pháp luật quy định quyền này cho Công đoàn để nhằmphát huy được vai trò cũng như chức năng bảo vệ quyền lợi của người lao động Công đoàn có thể thực hiện quyền này với tư cách là một chủ thể hoặc đại diệntheo ủy quyền của người lao động hoặc cả hai tư cách này trong cùng một sựviệc tùy theo tính chất liên quan của sự kiện đó đối với hoạt động của côngđoàn Mặt khác, với tư cách là người đại diện cho người lao động tham gia tốtụng trong vụ án lao động , hành chính hay doanh nghiệp
Như vậy, Công đoàn có quyền và trách nhiệm trong việc đại diện chongười lao động trong khởi kiện Tòa án và tham gia tố tụng nếu được người laođộng yêu cầu hoặc ủy quyền tham gia để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chínhđáng
1.3.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động đối với tập thể
Trong tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp lao động tập thể vềquyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
8 khoản 8 điều 10 Luật Công đoàn 2012
9 khoản 9 điều 10 Luật Công đoàn 2012.