[…] Cái sĩ chi quan hệ ư quốc gia như thử kì trọng cố sùng thượng chi đãi vô chung cùng, kí sủng chi dĩ khoa danh, hựu long chi dĩ tước trật..1 Bài văn bia nổi tiếng ghi danh các tiến sĩ
Trang 1Tiểu luận về Khoa Cử và kì Thi Đình trong Sử Liệu Việt Nam
Phùng Hiếu
Cho đến hôm nay, một câu nói từ thế kỉ 15 nhưng vẫn tràn đầy sinh lực để thổi bừng lên niềm tự hào trong bất cứ người dân Việt về công nghiệp giáo dục của nước nhà – câu nói ấy được khắc ghi đầu tiên trên tấm bia tiến sĩ cho khoa thi năm 1442 và tiếp tục được nhiều thế hệ trí thức sau này nhắc nhở lại:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng vượng, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn […] Kẻ sĩ có quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, nên quí chuộng họ cơ hồ không dường nào tận, đã sủng ái họ để đề cao bởi khoa danh, lại ưu ái họ ban cho tước trật.”
賢材國家之元氣。元氣盛則國勢強以隆,元氣餒則國勢弱以污。… 蓋士之關係於國家如此其重故崇尚之殆無終窮,既寵之以科名,又隆之以爵秩。
(Hiền tài quốc gia chi nguyên khí, nguyên khí thịnh tắc quốc thế
cường dĩ long, nguyên khí nỗi tắc quốc thế nhược dĩ ô […] Cái sĩ chi quan hệ ư quốc gia như thử kì trọng cố sùng thượng chi đãi vô chung cùng, kí sủng chi dĩ khoa danh, hựu long chi dĩ tước trật )1
Bài văn bia nổi tiếng ghi danh các tiến sĩ khoa thi năm Đại Bảo 3 (1442) do Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (1419-1499) soạn năm 1484 này là một trong những dấu
ấn lịch sử quan trọng thể hiện sự khẳng định của triều đình Lê sơ đối với thể chế khoa cử
Được quan niệm đã khởi phát trong lịch sử Việt Nam từ nhiều thế
kỉ trước, khoa cử Việt Nam đến thế kỉ 15 đã có một diện mạo thịnh vượng
và tiếp tục được duy trì qua các thăng trầm lịch sử sau đó cho đến khi nó
1 Thân Nhân Trung 申仁忠, Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 [tức 1442], (soạn năm 1484) Tham khảo: Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu,
biên dịch, và chú thích, Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, (Hà Nội: Nhà xuất bản
Giáo dục, tái bản lần 1, 2008)
Trang 2quan phương chấm dứt vào năm 1918.2 Mặc dù tồn tại dài lâu và có ảnh hưởng phong phú trong lịch sử hàng thế kỉ trước đây ở Việt Nam, thể chế khoa cử trong sự hiểu biết của hôm nay tuy nhiên vẫn còn khá khiêm tốn
so với những gì đáng ra nó cần được nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá
Sau khi khoa cử chấm dứt, “Lược khảo về khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ (1918)” của Trần Văn Giáp có thể xem như chuyên luận trước hơn cả của học giới hiện đại đối với thể chế khoa cử Trình bày một cách hàm súc những vấn đề cốt lõi nhất của “sử sự và hình thức khoa cử, trường thi cùng sự dưỡng dục nhân tài” giới hạn trong
“phạm vi trường thi Nam”, Trần Văn Giáp trong nghiên cứu này của ông
đã sớm đưa ra những chỉ dẫn cần làm tiếp tới đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa cử Một mặt, ông chỉ dẫn những tài liệu Hán Nôm cơ bản nhất can hệ
về khoa cử ở Việt Nam, như các ghi chép về khoa cử trong Kiến văn tiểu
lục của Lê Quí Đôn, mục “Khoa mục chí” trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần bàn về khoa cử trong Thoái thực kí văn
của Trương Quốc Dụng, sự khảo lược khoa cử Tàu trong Bắc triều lịch đại
điển yếu thông luận của Vũ Phạm Khải, các bài tổng luận về lịch sử khoa
cử trong các bộ đăng khoa lục cho đến những bộ sách muộn hơn như Cổ
kim khoa thí thông khảo (Nguyễn Chuyết Phu), Hoàng Việt khoa cử kính
(Nguyễn Văn Đào) Mặt khác, ông chỉ ra rằng, muốn “có thể kết luận một cách đích xác thiết thực” về khoa cử thì còn phải tiếp tục “bàn tiếp đến tinh thần cùng công hiệu của khoa cử”, nghĩa là “cần phải đem những văn chương từng thời đại còn lại ra giải thích, kể rõ bài nào hay, bài nào dở, phán đoán phân minh xem hiệu quả sự học thế nào”.3
Sau Trần Văn Giáp, đã có những nghiên cứu tiếp theo mở rộng thêm các mô tả lịch sử khoa cử Việt Nam.4 Các nhà nghiên cứu cũng đã dành thời gian và nhiều công sức cho việc chuyển dịch sang tiếng Việt hiện đại cũng như tiến hành khảo cứu ở những cấp độ khác nhau đối với tư liệu đăng khoa lục (登科錄), tức những tư liệu Hán Nôm ghi chép danh sách và
2 Xin xem: Nguyễn Văn Đào 阮文桃, Hoàng Việt khoa cử kính 皇越科舉鏡, (1919),
VHv.1277, 42b-46a Cũng xem: Trần Văn Giáp, “Lược khảo về khoa cử Việt Nam:
Từ khởi thủy đến khoa Mậu Ngọ (1918)”, in lại trong: Viện Sử Học biên tập, Nhà sử học Trần Văn Giáp (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993), tr.191-192
Trang 3các thông tin tiểu sử của những người đỗ đạt qua các kì thi thuộc hệ thống khoa cử Việt Nam trước đây.5
Ngoài ra, bước đầu đã có những đề tài đi vào khảo cứu trực tiếp các văn sách thi Đình thời Lê và thời Nguyễn.6 Năm 1993, Hoàng Xuân Hãn
trong một lá thư gửi tác giả cuốn Khoa cử và giáo dục Việt Nam (mà tác
giả cuốn sách sau đó dùng lá thư này làm lời tựa tập sách của mình) đã nhấn mạnh việc cần thiết của sự nghiên cứu hệ thống văn bài trong các khoa thi như một trong những nội dung không thể bỏ qua khi xem xét tổng thể thể chế khoa cử.7 Có thể thấy, cho một sự hiểu biết toàn diện hơn về phức hợp khoa cử, nội dung nghiên cứu về các bài thi trong các kì thi trước đây không những quan trọng mà vẫn còn nhiều hướng mở lí thú để tìm hiểu
Vua Tự Đức (ở ngôi 1847-1883) triều Nguyễn từng viết trong chế sách ra đầu bài hỏi thi các sĩ tử kì thi Đình năm 1865:
“Các sĩ tử chăm chỉ giảng học, sẽ phải ra kinh bang tế thế, há chỉ dựa vào đó để cầu khoa danh? Mỗi người hãy hết lòng, suy nghĩ sâu xa, để gợi ý nói với trẫm, đừng phù phiếm, chớ che dấu, cho xứng đáng với ý trẫm Nếu còn có kế sách hay gì để có thể được nhiều hiền tài, làm cho láng giềng mạnh phải tin phục, tiễu bình giặc phía bắc, làm cho vận chuyển đường biển được yên ổn thì cũng cho phép trình bày đầy đủ, ngõ hầu giúp cho thực dụng.”8
5 Các tài liệu đăng khoa lục đã được chuyển dịch sang tiếng Việt hiện đại như: Cao
Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nguyễn Thị Lâm, Nguyễn Thúy Nga, Cao Tự
Thanh phiên dịch (TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 1992); Ngô Đức
Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi (biên soạn), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học tái bản, 2005) Chuyên luận nghiên cứu tài liệu đăng khoa lục nổi bật phải kể đến: Nguyễn Thúy Nga, Nghiên cứu văn bản học Đăng khoa lục Việt Nam (Hà Nội: Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, 1999)
6 Chẳng hạn, các luận án, luận văn như: Nguyễn Văn Thịnh, Bước đầu tìm hiểu văn chương khoa cử thời Lê sơ (Luận án Phó Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996); Đinh Thanh Hiếu, Bước đầu tìm hiểu văn sách đình đối thời Nguyễn, (Luận văn Thạc
sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003)
7 Nguyễn Q Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, tr.10
8 Phần chữ Hán và phiên âm trích dẫn chế sách này, xin tham khảo phần bài sách văn thi Đình của Nguyễn Tuyên đỗ khoa Ất Sửu năm Tự Đức 18 [1865] được tuyển dịch trong tập sách này
Trang 4Đây là một ý niệm đã sống qua nhiều thế kỉ của lịch sử khoa cử, rằng mỗi
kì Đình đối sách văn là mỗi lần hoàng đế đích thân đặt lời hỏi cho sĩ tử, người là sĩ tử phải “hết lòng suy nghĩ sâu xa” những điều được hỏi, nhằm
“gợi ý nói với” nhà vua những kế sách có thể “giúp cho thực dụng” Dù có thể từ một niềm tin đến một hiện thực vẫn cách khoảng đường nhiều ít, mỗi người học trò chắp bút viết bài văn sách Đình đối không thể không từng nuôi dưỡng chung một tâm thức này
THI ĐÌNH VÀ VĂN SÁCH THI ĐÌNH TRONG THỂ CHẾ KHOA
CỬ
Mùa xuân năm 1442, hơn 450 sĩ tử từ các vùng miền khác nhau trẩy hội về kinh ứng thí Qua bốn trường thi (cũng giống như gọi “các vòng thi” ngày nay) ngặt ngoèo, cuối cùng 33 người được lấy đỗ Họ tiếp đó được vời vào sân điện Hội Anh để làm bài văn sách Đình đối kính đáp những lời hỏi của nhà vua về việc kinh bang trị quốc. 9 Trong 33 người được dâng văn sách Đình đối ở khoa thi năm ấy, bài văn của Nguyễn Trực (1417-1474) là đỗ đầu, ông được ban danh vị Trạng nguyên Nguyễn Trực viết trong bài văn sách của mình:
“Hoàng thượng kế thừa nghiệp lớn, chế trị bảo bang, sớm tối cầu hiền để giúp nên nghiệp lớn, mà lại đặt khoa thi cầu kẻ sĩ, đưa chúng thần vào điện đình, ban Chế sách đem những điều cốt yếu của việc làm chính trị và quân tử, tiểu nhân để hỏi
(…) Thần thực không đủ để học rộng việc xưa, tài không đủ để thông hiểu việc này, nhưng bình thường có một lòng ngu mà vẫn
9 Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều nói kì thi
Hội vào tháng Ba năm Đại Bảo 3 [1442] Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi này thì nói thi Hội và thi Đình đều vào tháng Hai, mùng 3 tháng Ba là lễ xướng danh treo bảng Xin xem: Lê Văn Hưu 黎文休, Phan Phu Tiên 潘孚先, Ngô Sĩ Liên 吳士連… (soạn),
Đại Việt sử kí toàn thư 大越史記全書, (1697), A3/3, Bản kỉ, 11/55a (Từ đây trở
xuống: ĐVSK) - Tham khảo bản dịch tiếng Việt của Viện Sử học Việt Nam được dịch và in nhiều lần từ năm 1967-1992 (Hà Nội); Quốc sử quán triều Nguyễn (biên
soạn), Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑑綱目, (1856-1881),
A.1/5, Chính biên, 17/21a (Từ đây trở xuống: VSCM) - Tham khảo bản dịch tiếng Việt của Viện Sử học Việt Nam (Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục tái bản, 1998); Thác bản văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3, No01358 (dẫn theo:
Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu, biên dịch, và chú thích, Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam)
Trang 5luôn muốn nhàm tấu thánh minh, huống chi nay là lúc được nói, dám chẳng dốc hết những điều được nghe để hiến dâng sao?” Người ta gọi đây là những kì thi Đình, và việc được “vào điện đình”, nhận
“chế sách” vua ban để được “dốc hết những điều được nghe để hiến dâng”
kế sách với nhà vua, với triều đình là một vinh dự tột bậc, một cơ hội trọng đại trong sự nghiệp học hành cử nghiệp của mỗi người sĩ trí thức xưa
Trong lịch sử Việt Nam, đã có rất nhiều kì thi Đình được diễn ra; nhiều bài văn sách xuất sắc từng được viết nên qua những kì thi ấy Định vị văn sách Đình đối với tư cách một thành tố hợp nên phức thể khoa cử,
chúng ta có thể hiểu một cách giản dị trước hết, văn sách Đình đối là một
nội dung thi tại kì thi Đình, một kì thi cấp cao trong hệ thống thi cử thuộc thể chế khoa cử Ở đây, chúng ta cần xem xét về kì thi Đình trong cấu trúc
thể chế khoa cử; tiếp đó tìm hiểu vấn đề “sách” từ tư cách một thể loại của văn viết sau đó dần trở thành nội dung căn bản của kì thi Đình
Thể chế khoa cử ra đời trên mảnh đất Trung Hoa và nó đã thành một lịch sử phức tạp và dài lâu xuyên suốt các triều đại do những tác động ảnh hưởng quan trọng của nó trong xã hội Thể chế này cũng đóng vai trò quan trọng tương tự trong lịch sử các triều đại Việt Nam trước đây
Khẳng định tầm quan trọng của thể chế khoa cử trong lịch sử, nhà nghiên cứu khoa cử hàng đầu Trung Quốc đương đại Lưu Hải Phong (Liu Haifeng) nhận xét:
“Khoa cử là một văn minh thể chế xuyên không gian thời gian Nó
là chế độ tuyển chọn người tài căn bản xuyên suốt các triều đại từ Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh đến Thanh, là sự trải nghiệm chung trong đời sống trăm vạn người trí thức Trung Quốc xưa, là nguyên tố cùng chia sẻ trong lịch sử văn hóa của rất nhiều nước
thuộc khu vực Đông Á Lấy khoa cử làm một từ khóa, người ta có
thể xâu chuỗi lại với nhau rất rất nhiều nhân tố trong lịch sử như nhân vật, nền văn hiến, các vùng miền, những tập tục…”10
Đối với các học giả phương Tây, khoa cử càng không thể không là một trong những từ khóa then chốt nhất khi nhận diện lịch sử và văn minh Trung Hoa Chẳng hạn, từ những năm cuối thập kỉ 50 của thế kỉ XX, học giả người Mỹ E A Kracke đã nói:
10 Liu Haifeng 劉海峰, “Lời nói đầu”, Khoa cử học luận tùng 科舉學論叢 1
(Shanghai: Shanghai Zhongguo Keju Bowuguan, Shanghai Jiading Bowuguan, 2007)
Trang 6“Một trong những đóng góp đáng kể nhất đối với thế giới của Trung Quốc là sự sáng tạo nên thể chế quan liêu [đặc thù] của nó và sáng tạo nên khoa cử, thứ được thực hành từ năm 622 đến 1905 với
tư cách nòng cốt của thể chế nói trên.”11
Vậy khoa cử là gì và nó được đánh giá với tầm quan trọng như thế nào? Khoa cử, về mặt lí thuyết, đó là một chế độ tuyển quan hay tuyển dụng người tài giỏi để tham gia vào bộ máy quan liêu của triều đình Đây
có thực sự là chức năng căn cốt mà vì nó khoa cử đã được duy trì suốt
1300 năm trong lịch sử Trung Hoa và hơn 800 năm trong lịch sử Việt Nam hay không, hay khoa cử đã được duy trì với những công năng khác trong quá khứ, đó là những câu hỏi đã được rất nhiều chuyên gia khoa cử bàn luận và để đề cập tới thì trước mắt chưa thể giải quyết trong khuôn khổ của chuyên luận này Tuy nhiên, một thực tế không cần tranh luận là đi cùng sự
tồn tại của khoa cử, đó là sự nuôi dưỡng những tín niệm như “quốc gia dĩ
khoa mục thủ sĩ, sĩ dĩ khoa mục tiến thân” (nhà nước dùng khoa mục để
chọn kẻ sĩ, kẻ sĩ dùng khoa mục mà tiến thân)12 hay “khoa mục sĩ tử thản
đồ” (khoa mục là con đường bằng thẳng [để thành tựu trong sự nghiệp] của
kẻ sĩ)13 Những tín niệm như thế sở dĩ đã được lưu chuyển từ đời này qua đời khác cùng dòng chảy lịch sử khoa cử vì người ta đã tin rằng hoặc ít nhất muốn hiện thực hóa một niềm tin rằng khoa cử là thiết chế công bằng, bất luận người nào từ thường dân đến con em quí tộc đều được báo danh công khai để vào dự thi, hễ người có tài năng thì sẽ được đỗ, đỗ sẽ được làm quan, được triều đình trọng dùng tín thác những việc lớn; hay nói cách khác, bất luận người nào trong xã hội chỉ cần ra thi và thi đỗ thì ắt sẽ bước lên hàng ngũ quan lại, đạt được một vị trí trọng vọng trong xã hội đương thời
Về mặt thể chế, khoa cử đánh dấu một bước phát triển đột khởi của
nó dưới triều đại nhà Tống (960-1279) Những nghiên cứu từ nhiều giác độ đối với thể chế khoa cử đã chỉ ra, mặc dù được xác lập từ những năm thuộc niên đại nhà Tùy (581-618), tiếp tục duy trì trong thời đại nhà Đường (618-
11 Edward A Kracke, Jr., “Family vs Merit in Chinese Civil Service Examinations
Under the Empire” [Gia đình và Tài năng trong Khoa cử Trung Quốc dưới các triều
vua], Harvard Journal of Asiatic Studies 10 (1947): 103
12 Ma Duanlin (Mã Đoan Lâm) 馬端臨, Văn hiến thông khảo 文獻通考, quyển 33,
mục “Tuyển cử khảo”
13 Quốc sử quán triều Nguyễn (biên soạn), Đại Nam thực lục 大南寔錄, (1821-1847),
A.27/6, Chính biên, Đệ nhất kỉ, 18/29a-b (Từ đây trở xuống: ĐNTL.)- tham khảo bản dịch tiếng Việt của Viện Sử học Việt Nam (Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục tái bản lần 1, 2001-2007)
Trang 7907), khoa cử phải đợi đến sau khi Triệu Khuông Dận (tức Tống Thái Tổ,
ở ngôi 960-976) xác lập nên nhà Tống, nó mới thực sự làm nên những ý nghĩa chính trị và xã hội quan trọng trong lịch sử.14 Chẳng hạn về thể thức
ba năm một lần khảo thí, trích dẫn của Lưu Hồng (Liu Hong) từ Tống sử
chỉ cho chúng ta thấy thể thức này chính thức được điển chế hóa năm 1066 thời vua Tống Anh Tông (ở ngôi 1063-1067)
“Vua Anh Tông (nhà Tống) lên ngôi, có người nghị bàn dùng phép cống sĩ cách năm một lần không tiện, bèn xuống chiếu cho bộ Lễ
cứ ba năm một lần “cống cử” [tức tổ chức khảo thí theo lối khoa cử].”
英宗即位,議者以間歲貢士法不便,乃詔禮部三歲一貢舉。
(Anh Tông tức vị, nghị giả dĩ gián tuế cống sĩ pháp bất tiện, nãi
chiếu Lễ bộ tam tuế nhất cống cử.)15
Mô hình phép thi tam cấp Hương, Hội, Đình được triển khai đồng
bộ cũng dưới những năm thuộc niên đại nhà Tống Theo thuật ngữ khoa cử đời Tống, ba cấp thi tương đương trong một kì khảo thí lần lượt được gọi
là Châu thí (hay “Giải thí”, “Phát giải”), Sảnh thí và Điện thí Kì Châu thí được tổ chức vào mùa thu, người thi đỗ qua kì thi này được gọi là “cống sĩ” hay “cử nhân”, và được đến kinh dự kì Sảnh thí Kì Sảnh thí được tổ chức vào mùa xuân kế tiếp và do bộ Lễ đứng ra chủ trì nên còn gọi là “Lễ
bộ thí” Kì Điện thí còn gọi là “Đình thí” hay “Ngự thí” là kì thi cao nhất trong mô hình tam cấp khoa cử, nó trở thành kì thi kế sau kì Sảnh thí với ý nghĩa phúc khảo những người đã đỗ tại kì Sảnh thí bắt đầu từ năm Khai
14 Một số ít học giả chủ trương sự bắt đầu của thể chế khoa cử cần tính từ thời đại nhà Hán (206TCN-220SCN), hoặc muộn hơn một chút là giai đoạn Nam Bắc triều (420- 589) Theo quan điểm này, người ta cho rằng khoa cử bao hàm trong đó mọi hình thức mang tính chất thi lấy đỗ và vì mục đích tuyển người ra làm quan Phổ biến hơn, các nhà nghiên cứu cho rằng sự bắt đầu của khoa cử là vào những năm niên đại nhà Tùy (581-618) Tuy nhiên, người ta cũng đã tranh luận với khuynh hướng quan điểm nói trên; có học giả đã đẩy lùi thời điểm bắt đầu của thể chế khoa cử thực sự, tức dưới
thời Đường (960-1127) Xin xem: Liu Haifeng 劉海峰, Khoa cử học đạo luận 科舉
學導論 [Tổng luận khoa cử học] (Hubei: Huazhong Shifan Daxue chubanshe, 2005), tr.65-94
15 Tống sử 宋史, phần “Chí”, quyển 108 Chuyển dẫn: Liu Hong (Lưu Hồng) 劉虹, Trung Quốc tuyển sĩ chế độ sử 中國選士制度史 [Lịch sử chế độ tuyển sĩ Trung
Quốc] (Hunan: Hunnan Jiaoyu chubanshe, 1992), tr.215
Trang 8Bảo thứ 5 [972] đời Tống Thái Tổ.16 Bình luận về sự ra đời của kì Điện thí, một chuyên gia nghiên cứu giáo dục và khoa cử đời Tống là Thomas H C Lee nói: “Kì thi sau cùng, kì thi Điện, là một phát kiến của nhà Tống.”17
Với sự thể chế hóa khoa cử trong giai đoạn Bắc Tống như vừa nói, địa vị của kì thi Tiến sĩ và danh vị Tiến sĩ được nâng lên một tầm quan trọng mới Theo các chuyên gia nghiên cứu khoa cử, Minh kinh và Tiến sĩ
là hai kì thi quan trọng nhất dưới triều nhà Đường,18 có lẽ do thường được
tổ chức thường niên nên được xếp vào loại “thường khoa” (kì thi tổ chức theo thời gian cố định có tính quay vòng); phân biệt với hình thức “chế khoa” (kì thi bất thường, được tổ chức khi có chiếu chỉ đặc biệt của nhà vua) Trong giai đoạn này, sĩ tử thi đỗ sau kì Sảnh thí hay Lễ bộ thí được nhận danh vị Tiến sĩ; việc đánh giá đỗ trượt cơ bản do bộ Lễ thực thi, nhà vua không trực tiếp can dự vào Thêm vào đó, như học giới thống nhất nhận định, sản phẩm đầu ra của các kì thi Tiến sĩ đời Đường, tuy nhiên, vẫn không phải là nguồn lực chính để “thay máu” bộ máy quan liêu của triều đình.19 Bước sang đời Tống, “phát kiến” về kì Điện thí và việc danh
vị Tiến sĩ được ban chỉ sau khi người ứng thí trải qua sự đích thân hỏi thi của nhà vua đã tạo nên một bước chuyển mới trong lịch sử khoa cử Những điều tra xã hội học đối với khoa cử đời Tống đồng thời chỉ ra số lượng tăng đáng kể các tiến sĩ dưới triều Tống, chứng tỏ kì thi Tiến sĩ cũng dần chiếm
vị trí tôn quí nhất trong tầm nhìn của triều đình và xã hội đương thời.20
Những thảo luận trên về một vài phương diện mang tính thể chế của hệ thống khoa cử cho thấy, trong phạm vi hẹp của khái niệm này, khoa
cử chủ yếu để đặc chỉ khoa cử của các kì thi Tiến sĩ Đồng thời, trong hệ thống cấp bậc của thể chế, kì Điện thí hay thi Đình là kì thi cao nhất, là
16 Mặc dù có người có thể giữ quan điểm cho rằng kì Điện thí đầu tiên đã được xuất hiện dưới thời Võ Tắc Thiên, nhưng kì thi Điện thí với tư cách kì thi kề sau kì Sảnh thí trong mô hình khoa cử tam cấp thì chỉ đến đời Tống mới thực sự được thi hành
Xin xem: Liu Hong, Trung Quốc tuyển sĩ chế độ sử, tr.215-224; Thomas H.C Lee, Government Education and Examinations in Sung China [Giáo dục và Khoa cử đời
Tống] (Hong Kong: Chinese University Press, 1985), tr.142-146; He Zhongli (Hà
Trung Lễ) 何忠禮, Khoa cử dữ Tống đại xã hội 科舉與宋代社會 [Khoa cử và xã hội
đời Tống], (Beijing: Shangwuyin shuguan, 2006), tr.46-48
17 Lee, Sđd, tr.146
18 Liu Hong, Trung Quốc tuyển sĩ chế độ sử, tr.132-133; Lee, Sđd, tr.140
19 Lee, Sđd, tr.139-142; Benjamin A Elman, A Cultural History of Civil
Examinations in Late Imperial China [Lịch sử văn hóa Khoa cử hậu kì Đế chế Trung
Hoa] (Berkeley: University of California Press, 2000), tr.7-8
20 Kracke, Bđd, tr.103-123
Trang 9“rào cản sau cùng của người ứng thí để đạt được danh vị cao quí tiến sĩ
(tức “văn sĩ được tiến lên để hoàng đế chọn dùng”) – một danh vị cần có
để một người được bổ nhiệm những vị trí chính trị cấp cao”.21
*
Rõ ràng, kì thi Đình có vị trí quan trọng trên con đường cử nghiệp của một vị tiến sĩ tương lai Trong những giai đoạn phát triển đã dày dặn của thể chế khoa cử, người vào dự kì thi Đình luôn được khảo thí bằng nội dung văn sách Bàn về thể tài văn sách, Từ Sư Tăng (1517-1580) trong
Văn thể minh biện tự thuyết luận rằng có ba loại “sách” khác nhau:
“Loại thứ nhất là “chế sách”, thiên tử ban lời Chế để hỏi mà người dưới đối lại; loại thứ hai là “thí sách”, quan viên có chức trách dùng sách để hỏi thi học trò mà người đi thi đối lại; loại thứ ba là “tiến sách”, tức viết “sách” rồi dâng lên.”
一曰制策,天子稱制以問而對者是也;二曰試策,有司以策試士而對者是也;三曰進策,著策而上進者是也。
(Nhất viết chế sách, thiên tử xưng chế dĩ vấn nhi đối giả thị dã; nhị
viết thí sách, hữu ti dĩ sách thí sĩ nhi đối giả thị dã; tam viết tiến sách, trứ sách nhi thượng tiến giả thị dã.)22
Đối chiếu với ba loại “sách” này, văn sách trong khoa cử tức là “thí sách” Vậy đến thời điểm nào trong lịch sử khoa cử, “sách” từ một thể văn viết trở thành một văn thể đặc thù trong khoa cử, và nhất là nó đã trở thành nội dung thi độc tôn trong kì thi Đình như thế nào?
Nhiều nhà nghiên cứu dẫn thiên “Nghị đối” sách Văn tâm điêu long
của Lưu Hiệp (465-521) để minh giải về đặc trưng và duyên khởi của
“sách” Trong thiên sách này, Lưu Hiệp giải thích “sách” là một “thể
riêng” (biệt thể) của “nghị” “Nghị” có hai đặc trưng chính: “Nghị” là
những lời bàn thích đáng được phát ra sau khi đã suy xét sự việc kĩ càng;
và đã là “nghị” phải trọng ở sự có tính nghi tắc điển chế
“[Như Kinh Thi có câu] “Thế là thành tâm triệu vời người hiền tài
đến bàn tính sự việc”, đó gọi là “nghị” [Nói như thế để chỉ] “nghị”
21 Elman, A Cultural History of Civil Examinations in Late Imperial China [Lịch sử
văn hóa Khoa cử hậu kì Đế chế Trung Hoa], tr.8
22 Xu Shizeng (Từ Sư Tăng) 徐師曾, Văn thể minh biện tự thuyết 文體明辨序說, Luo
Genze (La Căn Trạch) 羅根澤 hiệu điểm (Beijing: Renmin Wenxue chubenshe, 1998), tr.130
Trang 10có nghĩa là lời nói ra được phù hợp, đó cũng là do suy xét sự việc
phù hợp [mà có lời nói ra phù hợp vậy] Quẻ “Tiết” của Dịch nói:
“Người quân tử nghị luận về phẩm cách đạo đức [của một người]
giống như phép tính mực nước, đều có qui tắc nhất định.” Sách Chu
Thư nói: “Nghị bàn quốc sự phải có phép tắc, như thế chính sự mới
không khỏi lạc lối.” “Nghị” mà trọng ở sự có pháp độ chế ước, ấy
là thể thức mang tính kinh điển.”
「周爰咨謀」,是謂為議。議之言宜,審事宜也。《易》之
《節卦》︰「君子以制度數,議德行。」《周書》曰︰「議事以制,政乃弗迷。」議貴節制,經典之體也。
(“Chu viện tư mưu”, thị vị vi nghị Nghị chi ngôn nghi, thẩm sự
nghi dã Dịch chi “Tiết quái”: “Quân tử dĩ chế độ sổ, nghị đức hạnh.” Chu Thư viết: “Nghị sự dĩ chế, chính nãi phất mê.” Nghị quí tiết chế, kinh điển chi thể dã.)23
Là một thể riêng của “nghị”, “sách” theo biện luận của Lưu Hiệp có sự phân biệt giữa hai loại: “đối sách” và “xạ sách”
“Về đối sách, tức là tiếp chiếu mà trình bày kiến giải của mình về chính sự lên thiên tử; xạ sách, tức là suy xét sự lí mà tâu bày với thiên tử luận thuyết của bản thân Lời dâng lên trúng đúng, sự lí xét suy chuẩn xác, như tên bắn trúng hồng tâm vậy Tên gọi của hai thể này (tức đối sách và xạ sách) tuy khác nhau nhưng cùng là thể riêng của “nghị” Từ xưa kẻ sĩ theo nghiệp học, nếu có tài năng hầu được tuyển dùng đều phải qua xét khảo sự họ nghị bàn nói năng như thế nào.”
又對策者,應詔而陳政也;射策者,探事而獻說也。言中理准,譬射侯中的。二名雖殊,即議之別體也。古者造士,選事考言。
(Hựu đối sách giả, ứng chiếu nhi trần chính dã; xạ sách giả, thám
sự nhi hiến thuyết dã Ngôn trúng lí chuẩn, thí xạ hầu trúng đích Nhị danh tuy thù, tức nghị chi biệt thể dã Cổ giả tạo sĩ, tuyển sự khảo ngôn.)24
23 Liu Xie (Lưu Hiệp) 刘勰, Văn tâm điêu long 文心雕龍, tham khảo bản dịch bạch thoại của: Long Bigun (Long Tất Côn) 龍必錕 dịch chú, Văn tâm điêu long toàn dịch
文心雕龍全譯 (Hubei: Quizhou Renmin chubenshe, 1992), tr.292
24 Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, tham khảo: Long Bigun dịch chú, Văn tâm điêu long toàn dịch, tr.300
Trang 11Như thế, “sách” là một hình thức khảo thí kẻ sĩ ở phương diện “nghị bàn nói năng” trước khi người làm thiên tử quyết đoán dùng hay không dùng một người vào chính sự Những ví dụ mang tính mẫu mực về “đối sách”
theo bình xét ở Văn tâm điêu long, đó là các đối sách đời Hán như đối sách
của Triều Thố (晁錯, 200?-154TCN), Đổng Trọng Thư (董仲舒, 104TCN), Công Tôn Hoằng (公孫弘, 200-121TCN), Đỗ Khâm (杜欽, người thời Hán Thành Đế), Tào Phi (曹丕, người thời Đông Hán) Từ những luận bàn của Lưu Hiệp khoảng cuối thế kỉ 5 SCN, “sách” tuy nhiên còn đợi một thời gian khá lâu nữa để trở thành nội dung khảo thí cơ bản độc tôn ở kì thi Đình, kì cuối cùng trong các cấp khảo thí khoa cử
179-Sử liệu ghi chép lại cho biết những kì thi Tiến sĩ của nhà Tùy và
nhà Đường đều có dùng “sách” làm nội dung khảo thí Chẳng hạn, Cựu
Đường thư – quyển 119 ghi về thí sách thời Tùy: “Gần đây [Tùy] Dạng Đế
bắt đầu đặt khoa Tiến sĩ, đương thời cũng dùng “sách” khảo thí sĩ tử mà
thôi.” (Cận Dạng đế thủy trí Tiến sĩ chi khoa, đương thời do thí sách nhi
đầu thi Tiến sĩ cũng chỉ áp dụng thí sách.26 Tuy nhiên, thi Tiến sĩ trong thời gian này còn chưa phát triển hệ thống tam cấp Châu thí, Sảnh thí, và Điện thí (chế độ đó chỉ được thực thi từ triều Tống về sau, như đã trình bày ở phần trước) Đến khoảng cuối thế kỉ 7, việc khảo thí dùng “sách” trong khoa cử có sự thay đổi khác trước Phân tích về sự thay đổi này trên cơ sở đối chiếu nhiều nguồn sử liệu khác nhau, học giả Phó Tuyền Tông (Fu Xuanzong) từ năm 1984 đã chỉ ra một cách thỏa đáng rằng:
“Tình hình khoa Tiến sĩ chỉ thi văn sách đến cuối đời Cao Tông, tức khi Võ Tắc Thiên thực tế đã nắm quyền chính, đã có biến đổi;
đó là việc khoa Tiến sĩ chỉ thi một trường văn sách nay đổi thành thi tam trường thiếp kinh, tạp văn, và sách văn Phương thức thi tam trường này sau đó trở thành định chế của khoa Tiến sĩ đời Đường.”27
Bên cạnh đó, người ta có thể đọc ra từ các tài liệu sử nói rằng năm
690 là mốc bắt đầu của kì Điện thí – năm ấy, Võ Tắc Thiên khảo thí sĩ tử ở
25 Cựu Đường thư 舊唐書, quyển 119 Dẫn theo: Yang Xuewei (Dương Học Vi) 楊學
爲 (chủ biên), Trung Quốc khảo thí chế độ sử tư liệu tuyển biên 中國考試制度史資
料選編, (Anhui: Huangshan shushe, 1992), tr.63
26 Fu Xuanzong (Phó Tuyền Tông) 傅璇琮, Đường đại khoa cử dữ văn học 唐代科舉
與文學, (Shanxi: Shanxi Renmin chubenshe, 1986), tr.165-166
27 Dẫn theo: Fu Xuanzong, Sđd, tr.168
Trang 12điện Lạc Thành – nhưng như các chuyên gia khoa cử đời Tống đã phân tích, kì Điện thí với tư cách kì thi liền kề sau kì Sảnh thí trong hệ thống tam cấp của khoa Tiến sĩ thì chỉ thực sự bắt đầu dưới thời Bắc Tống Chẳng hạn, trong nhiều cứ liệu lịch sử đưa ra, Hà Trung Lễ (He Zhongli) dẫn ghi chép của Mã Đoan Lâm viết về sự kiện gọi là “kì Điện thí” vào năm 690 như sau: “[Sự việc] Võ hậu khảo thí cống sĩ các lộ, đại khái giống
như kì Sảnh thí về sau, không phải là kì Điện thí kề sau kì Sảnh thí.” (Vũ
hậu sở thí chư lộ cống sĩ, cái như hậu thế chi Sảnh thí, phi Sảnh thí chi ngoại tái hữu Điện thí dã – 武后所試諸路貢士,蓋為後世之省試,非
省試之外再有殿試也。)28 Do đó, cho dù văn sách đã được sử dụng phổ biến trong các khoa Tiến sĩ đời Đường, và cho dù có trong sử có ghi kì Điện thí khởi thủy từ năm 690 thời Võ Tắc Thiên, thì cái gọi là “văn sách thi Đình” vẫn không là sản phẩm của khoa cử đời Đường
Như đã nói, kì Điện thí với tư cách một sự khảo thí những người đã trúng cách ở kì Sảnh thí trong hệ thống tam cấp khoa cử Tiến sĩ đã bắt đầu được thực hành năm 972 Bấy giờ, nội dung thi ở kì Điện thí, tuy nhiên, lại không phải là văn sách, mà là một đề Thơ và một đề Phú.29 Nội dung thi trong kì Điện thí sau đó có những diên cách không nhất định Cho đến những năm 1070, trong nhiều hạng mục của công cuộc cải cách Tân pháp, Vương An Thạch (1021-1086) đã áp dụng những định chế mới cho khoa
cử Theo đó, nội dung thi Thơ và Phú trong kì thi Đình khoa Tiến sĩ bị bãi
bỏ, thay vào đó chỉ thực hiện duy nhất nội dung thi văn sách; đồng thời các khoa thi như Minh kinh cũng chấm dứt Những sự kiện này trên thực tế đã khiến khoa Tiến sĩ trở thành nội dung căn bản và trọng yếu nhất trong thể chế khoa cử từ đó về sau; và cũng dẫn đến sự xác lập mô hình mang tính điển phạm, tức văn sách là nội dung duy nhất cho kì thi Đình khoa Tiến sĩ