1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại việt nam giai đoạn 2008 2018

54 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Nợ Xấu Và Các Biện Pháp Xử Lý Nợ Xấu Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam Giai Đoạn 2008 – 2018
Tác giả Trịnh Phong
Người hướng dẫn TS. Trần Việt Dung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế và Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (7)
  • 2. Tổng quan tài liệu (9)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (11)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 6. Kết cấu của đề tài (12)
  • CHƯƠNG 1. (12)
    • 1.1. Ngân Hàng Thương Mại (13)
      • 1.1.1. Khái niệm (13)
      • 1.1.2. Các hoạt động (14)
      • 1.1.3. Phân loại (19)
      • 1.1.4. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế (19)
    • 1.2. Nợ xấu (21)
      • 1.2.1. Khái niệm (21)
      • 1.2.2. Phân loại (21)
      • 1.2.3. Các tiêu chí nhận biết nợ xấu (22)
      • 1.2.4. Nguyên nhân của nợ xấu (22)
      • 1.2.5. Tác động của nợ xấu (23)
    • 1.3. Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu ở các ngân hàng thương mại (25)
      • 1.3.1. Nội dung quản lý (25)
      • 1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu (28)
  • CHƯƠNG 2: (12)
    • 2.1 Thực trạng chung về nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (31)
      • 2.1.1. Giai đoạn 2008 – 2010 (31)
      • 2.1.2. Giai đoạn 2010 – 2015 (33)
      • 2.1.3. Giai đoạn 2015 – 2018 (36)
    • 2.2 Các biện pháp quản lý nợ xấu tại một số Ngân hàng Thương Mại tại Việt Nam (38)
      • 2.2.1. Các biện pháp quản lí nợ xấu tại Ngân hàng thương mại BIDV (38)
      • 2.2.2. Các biện pháp xử lí nợ xấu tại Ngân hàng Thương Mại Vietcombank (41)
  • CHƯƠNG 3. (12)
    • 3.1 Kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu ở một số quốc gia (44)
    • 3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam (49)
  • KẾT LUẬN (30)
  • Tài liệu tham khảo (52)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, hoạt động vay nợ nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến, với sự tham gia của các quốc gia cho vay, quốc gia đi vay và các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB và ngân hàng Phát triển châu Á Kể từ thập niên 50 và 60 của thế kỷ XIX, các nhà chính trị đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển giao nguồn lực nước ngoài qua các khoản vay và viện trợ, nhằm bổ sung vốn cho các quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Theo thống kê từ Văn phòng Phát triển thế giới của Anh, trong khoảng thời gian từ 1973 đến 1993, nợ công của các nước đang phát triển đã tăng trung bình 20% mỗi năm, từ 300 tỷ USD lên 1.500 tỷ USD, góp phần vào sự phát triển kinh tế ấn tượng của nhiều quốc gia.

Mặc dù quản lý nợ mang lại nhiều lợi ích, nhưng ở một số quốc gia, việc này không được thực hiện hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thể trả nợ và phát sinh các khoản nợ xấu Những khoản nợ khó đòi này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến các tổ chức mà còn tác động xấu đến nền kinh tế quốc gia Do đó, cần có các biện pháp xử lý phù hợp để quản lý nợ, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa chủ nợ và con nợ.

Nợ xấu và quản lý đang trở thành chủ đề nóng được thảo luận rộng rãi trên toàn cầu, từ các diễn đàn quốc tế đến các tổ chức trong nước Chủ đề này thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, bao gồm chính trị gia, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và công chúng Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề nợ xấu đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, nó chỉ mới được chú ý nhiều trong những năm gần đây.

Quản lý nợ xấu là một yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế, đặc biệt sau các cuộc khủng hoảng tài chính như giai đoạn 2007-2009 và khủng hoảng nợ công châu Âu 2009-2011, khi nợ công gia tăng nhanh chóng Nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả, nợ xấu có thể dẫn đến khó khăn tài chính nghiêm trọng, thậm chí là khủng hoảng nợ Việc giám sát quá trình vay và trả nợ xấu cần được thực hiện chặt chẽ để tránh mất cân đối trong tài chính quốc gia Sử dụng nguồn vốn vay công không hiệu quả và trì trệ trong thay đổi chính sách có thể làm tăng nguy cơ nợ nần cho các quốc gia Do đó, việc tìm ra cách quản lý nợ xấu hiệu quả là vấn đề cấp bách mà mỗi quốc gia cần đối mặt để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam kéo dài hơn 20 năm, ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế - xã hội và an ninh tài chính của đất nước.

Quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và các chuẩn mực quốc tế, dẫn đến việc chưa xây dựng được hệ thống quản lý nợ xấu hiệu quả Đây là lĩnh vực mới mẻ cả về lý luận lẫn thực tiễn, do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quản lý nợ xấu là cần thiết và cấp bách Đề tài “Tình hình nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2018” sẽ giúp làm rõ hơn về vấn đề này.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của bài viết là phân tích sự thiếu bao quát trong hệ thống ngân hàng, tập trung vào một số ngân hàng tiêu biểu để tìm ra các giải pháp quản lý và hạn chế nợ xấu cũng như nợ khó đòi Bài viết sẽ xem xét nguyên nhân và các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Đầu tiên, cần tìm hiểu mục đích và vai trò của nợ xấu trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, cũng như tình hình hiện tại của nó Các chỉ số phản ánh nợ xấu (NPL) và các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu cần được phân tích kỹ lưỡng Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả cũng là một phần quan trọng để cải thiện tình hình tài chính của các ngân hàng.

Thứ hai, tìm hiểu về cách thức xử lý, kinh nghiệm phòng ngừa nợ xấu ở một số quốc gia

Thứ ba, tìm hiểu về nợ xấu, thực trạng và các biện pháp xử lí nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Thứ tư, từ bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia và thực trạng NPL ở Việt Nam  rút ra bài học cho Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

Phương pháp thu thập số liệu trong bài viết này chủ yếu dựa vào việc kế thừa và tổng hợp thông tin từ các nghiên cứu đã được công bố, bao gồm sách, báo, tạp chí, khóa luận, luận án, cùng với các trang thông tin điện tử chính thức của các bộ, ngành liên quan.

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm

Dựa trên tài liệu thứ cấp, bài viết phân tích và tổng hợp các chính sách cùng kinh nghiệm hiệu quả từ các quốc gia khác để áp dụng vào Việt Nam Mục tiêu là nâng cao hiệu quả quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Kết cấu của đề tài

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luận được trình bày theo 3 chương:

Ngân Hàng Thương Mại

Ngân hàng có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia và hệ thống pháp luật của mỗi vùng lãnh thổ Tuy nhiên, điểm chung trong các định nghĩa này là ngân hàng thương mại được xem là một tổ chức kinh tế có nhiệm vụ chuyên biệt trong lĩnh vực tài chính, cung cấp các dịch vụ tiền tệ và tài chính liên quan đến mối quan hệ giữa ngân hàng và công chúng.

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, bao gồm nhiều loại hình như Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư và Ngân hàng chính sách Trong số đó, Ngân hàng thương mại thường có quy mô tài sản, thị phần và số lượng lớn nhất, phản ánh tầm quan trọng của nó trong hệ thống tài chính.

Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, ngân hàng thương mại được định nghĩa là tổ chức kinh doanh tiền tệ, chủ yếu nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả Ngân hàng sử dụng số tiền này để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ, ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng cùng các hoạt động kinh doanh liên quan nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tài chính của khách hàng.

14 tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khách của pháp luật ”

Ngân hàng thương mại (NHTM) là các định chế tài chính có khả năng nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác nhau Trong nghĩa hẹp, NHTM chỉ các ngân hàng tổng hợp thực hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi viết séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay ngắn hạn và môi giới chứng khoán.

Ngân hàng thương mại (NHTM) không chỉ là doanh nghiệp chuyên về tiền tệ mà còn là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường Sự phát triển của ngân hàng gắn liền với sự tiến bộ của nền kinh tế và đời sống xã hội Khi nền kinh tế phát triển, đời sống người lao động được cải thiện, kéo theo sự gia tăng hoạt động gửi tiền ngân hàng Điều này thúc đẩy NHTM không ngừng hoàn thiện và khẳng định vai trò thiết yếu của mình trong nền kinh tế quốc gia.

Hoạt động huy động nguồn vốn là một phần thiết yếu trong kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM), có vai trò quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn cho toàn xã hội Nghiệp vụ này cho phép NHTM sử dụng các công cụ và biện pháp hợp pháp để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ xã hội, từ đó tạo ra nguồn vốn tín dụng phục vụ cho việc cho vay trong nền kinh tế.

Các thành phần nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác

Vốn tự có của ngân hàng thương mại (NHTM) bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ Vốn tự có được hình thành từ nguồn vốn của chủ sở hữu khi ngân hàng mới được thành lập, đóng vai trò là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho hoạt động của ngân hàng.

Vốn tự có của ngân hàng thương mại, bao gồm lợi nhuận hàng năm và vốn góp từ chủ sở hữu, đóng vai trò quyết định trong năng lực và sự phát triển của ngân hàng Sự tăng trưởng liên tục của vốn tự có không chỉ thể hiện quy mô và khả năng tài chính của ngân hàng mà còn đảm bảo khả năng xử lý các khoản nợ phát sinh Vốn điều lệ của ngân hàng thương mại được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng được đầu tư vào các dự án liên doanh và cho vay.

Các quỹ dự trữ của ngân hàng được hình thành qua quá trình phát triển và được trích lập theo tỷ lệ quy định trên lợi nhuận ròng Những quỹ này bao gồm quỹ dự trữ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ và quỹ khen thưởng.

Vốn huy động của ngân hàng thương mại (NHTM) là nguồn vốn tiền tệ và các khoản đầu tư được thu hút từ tổ chức kinh tế và cá nhân, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền tiết kiệm, trái phiếu và kỳ phiếu Đây là tài sản thuộc về các chủ sở hữu khác nhau mà NHTM chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn khi các chủ sở hữu yêu cầu Vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM, chiếm khoảng 80% tổng nguồn vốn, là nguồn lực chính để ngân hàng thực hiện các giao dịch tài chính.

Vốn đi vay của ngân hàng thương mại (NHTM) là khoản tiền mà NHTM vay từ ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tín dụng khác để đảm bảo thanh khoản và bù đắp khi khả năng huy động vốn bị hạn chế Mặc dù nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của ngân hàng, nhưng chủ yếu là vốn ngắn hạn với chi phí cao, phụ thuộc vào chính sách tiền tệ và lãi suất của ngân hàng trung ương.

Các loại vốn khác của ngân hàng thương mại (NHTM) bao gồm các nguồn vốn huy động từ việc cung cấp phương tiện thanh toán như séc và tiền ký quỹ để mở thư tín dụng (L/C), cũng như việc cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư.

 Hoạt động sử dụng vốn:

Cho vay và đầu tư là hai hoạt động cốt lõi, đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại, hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện hoạt động dự trữ liên quan đến tài sản tự có của mình.

Dự trữ là nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ lại để đảm bảo an toàn tài chính và duy trì lòng tin của khách hàng và nhà đầu tư NHTM sử dụng vốn để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, nhưng cần có phần tài sản tự có để sẵn sàng xử lý các tình huống khó khăn và đáp ứng nhu cầu rút tiền Ngân hàng nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và ổn định hệ thống tài chính.

+ Dự trữ sơ cấp (Primary reserves): tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tại các ngân hàng khác

Nợ xấu

Nợ xấu, hay nợ quá hạn, là khoản nợ mà người vay, bao gồm cá nhân và doanh nghiệp, không thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Theo QĐ 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 Về Phân Loại Nợ, Trích Lập Và

Sử Dụng Dự Phòng Rủi ro Tín Dụng Trong HĐ Của Tổ Chức Tín Dụng của thống đốc NHNN ban hành, nợ xấu được phân loại thành:

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 điều này

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 điều này

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý

- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 điều này

1.2.3 Các tiêu chí nhận biết nợ xấu

Dấu hiệu của một khoản vay có biểu hiện nguy cơ nợ xấu:

- Tính khả thi của dự án thấp

- Sản phẩm làm ra của dự án không tiêu thụ được, bị ứ đọng, trì trệ

- Thu nhập của bên đi vay giảm sút hoặc không ổn định

- Vốn vay bị sử dụng sai mục đích

- Nợ vay hoản trả không đẩy đủ, không đúng thời hạn

Báo cáo tài chính cần thiết phải được nộp cho ngân hàng thường bị bên đi vay trì hoãn, thể hiện sự không thiện chí và có dấu hiệu lẩn tránh khi có người từ ngân hàng đến kiểm tra.

- Ban lãnh đạo của doanh nghiệp đi vay thay đổi hoặc lục đục nội bộ

- Thiên tai, hỏa hoạn cũng có thể gây ảnh hưởng tới các chính sách vay vốn

1.2.4 Nguyên nhân của nợ xấu

Nợ xấu gia tăng chủ yếu do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, vay quá số tiền lớn, tạo ra rủi ro cao cho ngân hàng Nhiều khách hàng thiếu thiện chí trong việc chi trả nợ, trốn tránh trách nhiệm và không minh bạch trong việc khai báo tình hình tài chính, dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi vốn cho các ngân hàng thương mại.

Các nguyên nhân chủ quan từ phía các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) liên quan đến quy trình hoạt động và cơ cấu giám sát, đề phòng, xử lý rủi ro đã dẫn đến sự phát sinh các khoản nợ khó đòi, nợ quá hạn và nợ xấu Sự hạn chế trong năng lực quản lý tài chính và thiếu kỷ luật trong việc tuân thủ các quy chế, quy trình quản lý cũng góp phần làm tình hình nợ xấu trở nên phức tạp hơn.

Nợ xấu trong pháp luật có 23 lý do, trong đó một phần nhỏ liên quan đến đạo đức nghề nghiệp của nhân viên và cán bộ tại các tổ chức tín dụng (TCTD) và ngân hàng thương mại (NHTM) Những cá nhân này có thể bị biến chất và lợi dụng quyền hạn để thực hiện các hành động phi pháp, thiếu tính lành mạnh và an toàn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và an ninh của TCTD và NHTM.

Sự biến động và thiếu ổn định trên thị trường tài chính toàn cầu có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là ở những nước đang phát triển như Việt Nam Với chất lượng kinh tế chưa cao và nợ công gia tăng, các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào việc vay vốn từ ngân hàng thương mại, dẫn đến nguy cơ nợ xấu tăng nhanh trong hệ thống ngân hàng.

Môi trường tự nhiên, thời tiết và thiên tai như lũ lụt, hạn hán có ảnh hưởng lớn đến thị trường, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hoàn vốn vay từ ngân hàng thương mại Điều này dẫn đến tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp quy mô nhỏ, khiến tác động trở nên nghiêm trọng hơn.

Hệ thống hiện có một số cơ chế chính sách và quy định pháp luật nhằm xử lý tài sản và giảm thiểu nợ xấu của các tổ chức tín dụng, bao gồm các quy định về trích quỹ dự phòng rủi ro, phân loại nợ, xử lý tài sản đảm bảo, phát mại, khởi kiện và mua bán nợ Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, dẫn đến việc giải quyết nợ xấu chưa thực sự hợp lý và minh bạch, gây khó khăn và kéo dài thời gian trong quá trình thu hồi nợ.

1.2.5 Tác động của nợ xấu

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối với nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay Sự liên kết này không chỉ giúp thu hút nguồn vốn mà còn cung cấp các dịch vụ tài chính cần thiết để phát triển kinh tế.

Rủi ro tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc gia, vì nó liên quan đến nguồn vốn cho doanh nghiệp và cá nhân phục vụ hoạt động kinh doanh Khi rủi ro tín dụng thấp, cơ hội mở rộng sản xuất và kinh doanh của khách hàng sẽ giảm, từ đó hạn chế sự phát triển kinh tế Ngược lại, khi rủi ro tín dụng tăng cao, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản cho các ngân hàng thương mại (NHTM), gây hiệu ứng domino trong hệ thống ngân hàng và dẫn đến khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, ảnh hưởng đến xã hội.

Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến một ngân hàng thương mại mà còn tác động đến toàn bộ hệ thống tài chính, khiến khách hàng gặp khó khăn trong việc vay vốn Những khoản nợ xấu làm giảm uy tín của khách hàng đối với các ngân hàng thương mại Đặc biệt, trong trường hợp ngân hàng thương mại gặp nguy cơ phá sản, người vay có thể mất cả gốc lẫn lãi đã gửi.

Sự gia tăng nợ xấu khiến các ngân hàng thương mại (NHTM) không thu hồi được vốn cho vay và lãi suất, dẫn đến lợi nhuận không đạt kế hoạch Để duy trì hoạt động, NHTM cần trích nguồn vốn từ lợi nhuận, và khi lợi nhuận không đủ, họ phải sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp thiệt hại Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và kế hoạch mở rộng của ngân hàng Hơn nữa, nếu vốn tự có yếu, uy tín và hình ảnh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến mất mát nguồn lực tài chính từ nhà đầu tư, và có thể gây ra nguy cơ phá sản, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Thực trạng chung về nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong vài thập kỉ qua, nợ xấu (Non-performing - NPL) đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng không chỉ của hệ thống ngân hàng Việt Nam mà còn của toàn cầu, đặc biệt sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ Mỹ và đã lan rộng ra nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, gây ra lo ngại lớn cho hệ thống ngân hàng - tài chính.

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ đã gây ra tác động mạnh mẽ đến nhiều nền kinh tế lớn như Nhật Bản và các quốc gia EU, dẫn đến tăng trưởng kinh tế âm, sản xuất kinh doanh thu hẹp, và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Thị trường tài chính và chứng khoán các nước liên tục giảm điểm, tạo ra tâm lý tiêu cực đối với nền kinh tế Hệ thống ngân hàng và tài chính tại Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng đáng kể từ cuộc khủng hoảng này.

Tín dụng ngân hàng tăng trưởng chậm với mức tăng chỉ 23,5%, giảm mạnh so với 64,4% năm trước, do thị trường biến động mạnh và các ngân hàng thương mại thận trọng trong việc cho vay Đồng thời, các doanh nghiệp cũng hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh do gặp khó khăn trong tiêu thụ và ký kết hợp đồng.

2008, tỷ lệ này còn giảm hơn nữa

Sản xuất và kinh doanh đang gặp phải sự tăng trưởng chậm, dẫn đến tình trạng hàng hóa ứ đọng Điều này làm chậm quá trình luân chuyển vốn và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tín dụng do khả năng thanh toán bị hạn chế.

- Có những thời điểm tỷ lệ nợ xấu cao trên mức 3%

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ đã tác động nặng nề đến nền kinh tế Việt Nam, dẫn đến sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh Hệ quả là các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại (NHTM) cũng chịu tác động, làm gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống.

Các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại hiện đang thiếu chặt chẽ và chủ quan trong việc quản lý hoạt động tín dụng Công tác thẩm định và kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng chưa tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật hiện hành.

+ Đánh giá, phân tích thị trường chưa sát sao, khiến cho việc đưa ra các giải pháp để đối phó với nợ xấu chậm trễ

+ Năng lực thanh tra, giám sát của NHNN còn hạn chế, chưa phát huy tối đa hiệu quả

Trong giai đoạn hiện tại, Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn chưa tìm ra biện pháp khắc phục cụ thể cho vấn đề nợ xấu, đồng thời không có văn bản hướng dẫn quản lý nợ xấu rõ ràng Việt Nam vẫn tiếp tục phân loại nhóm nợ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, ban hành ngày 22/4/2005, về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên vẫn quyết định này vẫn còn lỗi thời và còn nhiều hạn chế

- Điểm tích cực trong giai đoạn này là Chính phủ đã ban hành Nghị định số

163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo , làm cơ sở cho

Việc xử lý tài sản bảo đảm của người vay vốn là rất quan trọng, nhưng văn bản hiện hành vẫn chưa đủ mạnh để các ngân hàng thương mại thực hiện hiệu quả trong việc xử lý nợ xấu phát sinh.

Năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đạt 27,65%, buộc các ngân hàng thương mại phải tự xử lý nợ xấu Điều này được thực hiện thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định, phát mại tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu nợ vay.

Năm 2011, nợ xấu tăng lên 85.000 tỉ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ, dẫn đến nhiều khó khăn về thanh khoản cho các ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh chững lại do chính sách tiền tệ quá thắt chặt và nợ xấu tích tụ từ nhiều năm trước bùng phát, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Trong giai đoạn 2012-2013, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng gia tăng đáng kể, đạt mức cao nhất 23,73% vào năm 2013 so với năm 2012 Tình trạng này đã vượt quá khả năng kiểm soát của các ngân hàng thương mại, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đến an ninh hệ thống ngân hàng và sự ổn định tài chính quốc gia.

Năm 2014, NHNN đã chủ động xử lý nợ xấu khi tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng nhanh, đạt 4,11% tổng dư nợ vào cuối tháng 7 Trong 7 tháng đầu năm, các TCTD đã xử lý thành công hơn 40,8 nghìn tỷ đồng nợ xấu, với VAMC đóng vai trò chiến lược trong việc giảm dần nợ xấu của các TCTD.

Năm 2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cùng toàn hệ thống đã quyết tâm giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3% trước cuối năm, theo chỉ tiêu của Chính phủ Sau 7 tháng triển khai, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã xử lý thành công bằng cách bán tài sản bảo đảm và thu hồi được 6.513 tỷ đồng từ việc mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng thông qua trái phiếu đặc biệt.

Dư âm từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh, hệ thống tín dụng và tài chính tại Việt Nam Sự suy giảm trong kinh doanh đã dẫn đến việc các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại gặp khó khăn, làm gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nợ xấu.

Từ đầu năm 2010, nợ xấu tăng chậm, không được chú trọng đúng mức, dẫn đến việc đánh giá sai mức độ nghiêm trọng của vấn đề Kết quả là vào năm 2011, nợ xấu đã bùng phát mạnh mẽ.

+ Sự tích tụ nợ xấu của nhiều năm trước

+ Các chính sách tiền tệ quá thắt chặt, khiến công việc làm ăn kinh doanh thua lỗ, gia tăng nợ xấu từ các NHTM

Kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu ở một số quốc gia

 Hàn Quốc và mô hình AMCs để xử lý nợ không có khả năng thanh toán:

Cấu trúc kinh tế Hàn Quốc gặp nhiều yếu kém do phụ thuộc vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cùng với việc dòng vốn nước ngoài bị rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 Điều này đã dẫn đến khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng tiền tệ Đến cuối tháng 3/1998, tổng nợ xấu của các tổ chức tài chính Hàn Quốc đạt 118 nghìn tỷ Won, tương đương 18% tổng dư nợ và chiếm 27% GDP Trong số đó, 50 nghìn tỷ Won là nợ quá hạn từ 3 đến 6 tháng, chiếm 42% tổng nợ xấu, trong khi 68 nghìn tỷ Won còn lại là nợ quá hạn trên 6 tháng với nguy cơ vỡ nợ cao.

Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định xử lý 100 nghìn tỷ Won trong tổng số 118 nghìn tỷ Won nợ xấu, trong đó bao gồm 68 nghìn tỷ Won là các khoản nợ quá hạn.

Trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, đặc biệt là các khoản nợ quá hạn từ 3 đến 6 tháng, cần có biện pháp khẩn cấp để xử lý Đầu tiên, các tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để giải quyết một nửa giá trị các khoản nợ xấu, yêu cầu khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp Thứ hai, Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc (KAMCO) nên mua lại một nửa các khoản nợ xấu để giảm thiểu rủi ro tài chính.

KAMCO không đặt ra các tiêu chí đặc thù cho tài sản mua lại, nhưng thường mua lại với mức giá chiết khấu cao, trung bình khoảng 64% vào tháng 11/2003 Đặc biệt, KAMCO áp dụng mức giá chiết khấu 40% cho các khoản nợ xấu, tương đương với tổng giá trị tài sản.

Các khoản cho vay không có tài sản thế chấp sẽ chịu mức phí 3% của mệnh giá, trong khi các khoản nợ xấu đặc biệt được định giá dựa trên phương pháp hiện giá thuần của dòng tiền từ dự án.

Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) sử dụng Quỹ quản lý tài sản xấu (NPA) với quy mô 21,6 nghìn tỷ won, trong đó 20,5 nghìn tỷ won được phát hành từ trái phiếu do Chính phủ bảo đảm, để xử lý nợ xấu Phương pháp chuyển đổi nợ thành vốn cổ phần đã được Hàn Quốc áp dụng thành công trong quá trình giải quyết nợ xấu.

Sau khi mua lại các khoản nợ xấu, KAMCO đã nhóm chúng lại để phát hành chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản, thu hút nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh Luật chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành nhằm thúc đẩy việc bán nợ cho các công ty chứng khoán hóa Hàn Quốc đã thành công trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào xử lý nợ xấu, điều này cũng khuyến khích nhà đầu tư trong nước tham gia KAMCO còn tịch thu tài sản thế chấp và cố gắng tái cơ cấu nợ, giảm lãi suất và giãn nợ cho các công ty có khả năng hồi phục Từ năm 1997 đến 2002, KAMCO đã thu hồi được 30,3 nghìn tỷ Won, đạt tỷ lệ thu hồi 46,8% trên giá trị khoản nợ.

Thông tin Điện tử Bộ Tài Chính)

Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17,7% vào năm 1998 xuống còn 14,9%, 10,4%, 5,6%, và 3,9% vào các năm 1999,

Giữa năm 2000 và 2002, Hàn Quốc đã thành công trong việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu doanh nghiệp, góp phần ổn định nền kinh tế nhờ vào sự can thiệp kịp thời và toàn diện của Chính phủ Các biện pháp hợp lý như việc đưa KAMCO vào hoạt động và phát triển thị trường thứ cấp cho nợ xấu đã giúp thu hút nhà đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch các chứng khoán đảm bảo bằng nợ xấu.

 Agentina và phương thức tài trợ nợ:

Cuối năm 2001, Argentina đối mặt với nguy cơ vỡ nợ với tổng nợ nước ngoài lên đến 146 tỷ USD, trong đó nợ chính phủ chiếm 132 tỷ USD, tương đương 46% GDP Chính phủ đã phải tuyên bố đình chỉ các khoản nợ nước ngoài lớn nhất trong lịch sử, khiến mỗi người dân Argentina gánh chịu khoảng 3000 USD nợ bình quân Đồng thời, nước này cũng thực hiện việc phá giá đồng Peso 29%.

Chính phủ đã quyết định tạm ngưng tất cả các giao dịch ngoại hối vô thời hạn cho đến khi tìm ra một chương trình kinh tế hiệu quả nhằm ngăn chặn tình trạng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng thương mại, hiện đang đạt trung bình khoảng 100 triệu USD mỗi ngày.

Một số sự kiện liên quan đến khủng hoảng nợ tại Argentina:

Vào tháng 3 năm 2000, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đồng ý một thỏa thuận cho vay dự phòng trị giá 7.2 tỷ USD trong vòng 3 năm, với điều kiện quốc gia này phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh tài chính nghiêm ngặt và đạt mức tăng trưởng 3.5% trong năm 2000 Tuy nhiên, thực tế cho thấy mức tăng trưởng của quốc gia này chỉ đạt 0.5% trong cùng năm.

Vào tháng 1 năm 2001, IMF đã tăng thêm 7 tỷ USD cho thỏa thuận hỗ trợ, trong khuôn khổ gói 40 tỷ USD viện trợ từ Ngân hàng phát triển trung ương Mỹ, Ngân hàng Thế giới (WB), Tây Ban Nha và các nguồn vay tư nhân, nhằm hỗ trợ nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái mạnh Thỏa thuận này được thiết lập để bảo đảm sự phục hồi của GDP quốc gia.

Argentina sẽ tăng trưởng ở mức 2.5% năm 2001 (thực tế năm 2001, GDP nước này chỉ đạt mực -5%)

Vào tháng 6 năm 2001, Chính phủ đã công bố việc hoán đổi khoản nợ 29.5 tỷ USD từ nợ ngắn hạn sang nợ mới với thời gian đáo hạn dài hơn và lãi suất cao hơn (Nguồn: NHNN Việt Nam)

 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại của Mỹ

Mỹ là ví dụ điển hình về việc xử lý nợ xấu, bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 do Mỹ khởi xướng Cuộc khủng hoảng này liên quan đến công nghệ chứng khoán hóa bất động sản, khi các ngân hàng thương mại Mỹ vi phạm quy tắc an toàn tín dụng bằng cách cho vay cho những khách hàng có rủi ro cao mà không xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính của họ Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong khả năng giám sát và quản trị rủi ro của các ngân hàng Mỹ, không theo kịp sự phát triển của thị trường tài chính Cuối năm 2007, khủng hoảng bùng nổ, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều công ty tài chính lớn như Bear Stearns và Countrywide Financial, cùng với hàng loạt tập đoàn tài chính khác Sự lan rộng của khủng hoảng ra toàn cầu được minh chứng qua việc ngân hàng Sal.Oppenheim tại Luxembourg đóng cửa quỹ đầu tư trị giá 750 triệu USD và ngân hàng NIBC của Đức thua lỗ gần 200 triệu USD Theo Moody’s Economy.com, từ tháng 8/2007 đến cuối năm 2008, các định chế tài chính toàn cầu đã thua lỗ khoảng 925 tỷ USD do khủng hoảng nợ xấu, và đến cuối năm 2009, 120 ngân hàng Mỹ được xác định là “có vấn đề” theo FDIC.

Mỹ phá sản Tỷ lệ nợ xấu ở Mỹ từ 1.1% năm 2001 lên 3.8% năm 2009 ( Theo tailieu.ttbd.gov.vn )

Các ngân hàng thương mại Mỹ đang chấp nhận rủi ro cao và nới lỏng chính sách tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn, điều này đã dẫn đến sự gia tăng các khoản vay rủi ro và hình thành một khối lượng nợ xấu lớn.

Ngày đăng: 24/06/2021, 19:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thế Anh và cộng sự (2013), Nợ công và tính bền vững của Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ công và tính bền vững của Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai
Tác giả: Phạm Thế Anh và cộng sự
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2013
2. Nguyễn Thị Thùy Dương (2015), Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương
Năm: 2015
3. Nguyễn Tiến Đức (2017), Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình, Luận Văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Tiến Đức
Năm: 2017
4. Vũ Đình Ánh (2008), Sử dụng công cụ vay nợ của Chính phủ trong điều tiết kinh tế vĩ mô, Đề tài nghiên cứu cấp bộ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công cụ vay nợ của Chính phủ trong điều tiết kinh tế vĩ mô
Tác giả: Vũ Đình Ánh
Năm: 2008
5. Bài thảo luận chính sách, CS-10 (2015), “Những đặc điểm của nợ công Việt Nam” của phòng nghiên cứu VEPR Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những đặc điểm của nợ công Việt Nam”
Tác giả: Bài thảo luận chính sách, CS-10
Năm: 2015
6. Bộ Tài chính (2013), Đề án “Tổng kết về vay - trả nợ công giai đoạn 2006 - 2012 và Kế hoạch vay - trả nợ công đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết về vay - trả nợ công giai đoạn 2006 - 2012 và Kế hoạch vay - trả nợ công đến năm 2020
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
7. Bộ Tài chính (2014), Quyết định số 2328/2014/QĐ-BTC về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, ngày 9/9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2328/2014/QĐ-BTC về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
9. Bộ Tài chính (2015), Báo cáo “Tổng kết 6 năm thực hiện Luật Quản lý nợ công năm 2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 6 năm thực hiện Luật Quản lý nợ công năm 2009
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
10. Nguyễn Thị Thu Đông (2012), “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Đông
Năm: 2012
11. Chính phủ Việt Nam (2006), Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 16/10/2008 Ban hành quy chế thu thập, tổng hợp, báo cáo, chia sẻ và công bố thông tin về nợ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 232/QĐ-TTg "ngày 16/10/2008
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2006
18. Chính phủ Việt Nam (2013), Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam - VAMC&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2013
19. Chính phủ Việt Nam (2013), Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 09/09/2013, quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD (VAMC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 09/09/2013
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2013
23. Hoàng Ngọc Âu và cộng sự (2010), Quản lý đầu tư cấp xã, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đầu tư cấp xã
Tác giả: Hoàng Ngọc Âu và cộng sự
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
24. Hoàng Ngọc Âu (2012), Quản lý nguồn vốn ODA Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở đã nghiệm thu. Đơn vị chủ trì: Khoa Quản lý Tài chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn vốn ODA Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Hoàng Ngọc Âu
Năm: 2012
25. Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), “Quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam”,luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Phương
Năm: 2012
26. Hoàng Ngọc Âu (2013), "Nâng cao hiểu quả đầu tư công cho nông nghiệp nông thôn", Tạp chí Lý luận Chính trị, , tr. 43-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiểu quả đầu tư công cho nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Hoàng Ngọc Âu
Năm: 2013
27. PGS.TS Tô Ngọc Hưng (2012), “Xử lí nợ xấu trong quá trinh tái cấu trúc các NHTM Việt Nam”Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lí nợ xấu trong quá trinh tái cấu trúc các NHTM Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Tô Ngọc Hưng
Năm: 2012
29. Arellano C., Ramanarayanan A., (2012), Default and the maturity structure in sovereign bonds. Journal of Political Economy, 120: 187-232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Political Economy
Tác giả: Arellano C., Ramanarayanan A
Năm: 2012
30. Bank for International Settlements - BIS (2010), "The Future of Public debt: prospects and implication ", Working Paper N 0 300, Basel Switzeland Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Future of Public debt: prospects and implication
Tác giả: Bank for International Settlements - BIS
Năm: 2010
31. Bank for International Settlements, (2011), The impact of sovereign credit risk on bank funding conditions. CGFS Papers, 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CGFS Papers
Tác giả: Bank for International Settlements
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w