Dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là một trong những dịch vụ quan trọng đóng vai trò lớn trong các giao dịch quốc tế.. Nhờ có các ngân hàng làm trung gian giữa c
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NHỮNG TRANH CHẤP PHÁT SINH KHI THANH TOÁN QUỐC TẾ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS HÀ VĂN HỘI SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN HOÀNG TÙNG LỚP: QH2016 E KINH TẾ QUỐC TẾ CHẤT LƯỢNG CAO HỆ: CHẤT LƯỢNG CAO
Hà Nội, tháng 4 năm 2020
Trang 2TOÁN QUỐC TẾ” được hoàn thành là kết quả của những nỗ lực trong suốt 3
tháng nghiên cứu của tác giả cũng như sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, cán bộ, chuyên viên Khoa Kinh tế & Kinh doanh quốc tế, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Văn Hội – giảng viên hướng dẫn đã nhiệt tình và kiên trì chỉ bảo cho em hoàn thành đề tài này
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài nghiên cứu này
Do thời gian và công cụ nghiên cứu còn hạn chế, bài nghiên cứu của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận được những lời góp ý từ hội đồng để đề tài hoàn thiện hơn và có giá trị thực tiễn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ 4
DANH MỤC ĐỒ THỊ 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc của khóa luận 8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 9
1.1 Khái quát về thanh toán quốc tế 9
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế 9
1.1.2 Phương thức thanh toán quốc tế 10
1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế 12
1.1.4 Tranh chấp phát sinh khi thanh toán quốc tế 21
CHƯƠNG 2: TRANH CHẤP PHÁT SINH TTQT 25
2.1 Khái quát về tình hình XNK và thanh toán quốc tế của NHTM Việt Nam 25
2.2 Khái quát về các hoạt động TTQT 29
2.3 Thực trạng tranh chấp trong TTQT hiện nay 34
2.3.1 Khái quát chung về các tranh chấp xảy ra trong hoạt động TTQT 34
2.3.2 Các dạng tranh chấp trong TTQT 37
2.3.3 Tranh chấp liên quan tới hóa đơn thương mại 40
Trang 42.5 Tác động tiêu cực tới các chủ thể khi gặp phải tranh chấp 61
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA NHẰM HẠN CHẾ XẢY RA TRANH CHẤP PHÁT SINH 63
3.1 Biện pháp phòng ngừa rủi ro 63
3.1.1 Doanh nghiệp thương mại cần nâng cao nhận thức về rủi ro và tranh chấp trong TTQT 63
3.1.2 Các lưu ý cần trong quy trình thanh toán và giao dịch 64
3.2 Biện pháp khi gặp phải rủi ro 65
3.2.1 Giải quyết qua trọng tài quốc tế 65
3.2.2 Giải quyết thông qua tòa án 66
3.2.3 Giải quyết qua đối thoại 67
3.3 Kiến nghị đối với chính phủ 69
KẾT LUẬN 72
Tài liệu tham khảo: 73
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ
bằng tiếng Anh
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
L/C Letter of credit Thư tín dụng
Nhờ thu trả chậm
Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Trang 614
Sơ đồ 1.3
Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu
19
Trang 7DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.1 Kim ngạch thương mại
Việt Nam giai đoạn 1997-2016
26
Đồ thị 2.2 Kim ngạch xuất khẩu,
nhập khẩu, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2005-2017
28
Đồ thị 2.3 Kim ngạch, tốc độ tăng
xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại trong 9 tháng đầu năm, giai đoạn 2011-2019
30
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ sau Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 chính sách đổi mới đất nước đã được thực hiện và sau đó 21 năm (11/1/2007) Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Một dấu mốc quan trọng trong sự đổi mới và mở cửa kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới
Việc kí hiệp định và với sự tham gia của Việt Nam vào WTO đã giúp Việt Nam giao thương với các nước trên thế giới Nhờ thế các hoạt động kinh
tế trong và ngoài nước của chúng ta đang ngày càng được mở rộng mạng lưới trên khắp toàn cầu Các doanh nghiệp trong nước mở rộng quy mô sản xuất, xuất khẩu các loại mặt hàng sang nước ngoài từ đó tạo ra các giao dịch giữa doanh nghiệm, tổ chức và nhà nước Việt Nam tới các doanh nghiệp, tổ chức, chính phủ nước ngoài Việc các giao dịch ngày càng tăng lên về cả số lượng lẫn giá trị trên mỗi giao dịch là cơ sở để phát triển mạnh mẽ các dịch vụ thanh toán quốc tế qua ngân hàng thương mại giữa các nước Trong các giao dịch quốc tế ngân hàng thương mại của các nước đóng vai trò là trung gian giữa 2 bên Dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là một trong những dịch vụ quan trọng đóng vai trò lớn trong các giao dịch quốc tế Khoản tiền phí dịch vụ đã đem lại lợi nhuận lớn cho các ngân hàng đồng thời khi làm trung gian giữa các giao dịch ngân hàng cũng có thể phát triển được các mặt khác như bảo lãnh quốc tế, kinh doanh ngoại tế, độ uy tín trên thương mại toàn cầu, các cơ hội đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
Ngoài những lợi ích mà các giao dịch thương mại quốc tế đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam thì cũng có những rủi ro không mong muốn tạo ra các tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại quốc tế Trong các giao dịch khi tranh chấp ngoài mong muốn xảy ra sẽ đều gây thiệt hại tới cả bên xuất
Trang 9khẩu và bên nhập khẩu Việc kéo dài thời gian giao dịch, chi phí kiện tụng ra tòa án quốc tế hay việc chậm thanh toán đều để lại rất nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp
Việc Việt Nam mới gia nhập vào tổ chức WTO và chưa có nhiều kinh nghiệm trong các giao dịch thương mại quốc tế đã khiến rất nhiều doanh nghiệp lúng túng khi thực hiện giao dịch và việc này đã làm doanh nghiệp trong nước của chúng ta bị ảnh hưởng và thiệt hại rất lớn khi xuất khẩu hàng sang nước ngoài
Đối mặt với những rủi ro tranh chấp trong thương mại quốc tế là một vấn
đề quan trọng cần được nhiều doanh nghiệp quan tâm trước khi bắt đầu thực hiện một giao dịch Chính vì những lí do trên trong quá trình học tập và nghiên
cứu tại Đại Học Quốc Gia Việt Nam em thực hiện đề tài :’’ Tranh chấp trong giao dịch thương mại quốc tế ‘’ là một đề tài cần thiết có tính thiết thực và
phù hợp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh ngày càng nhiều các giao dịch thương mại quốc tế được thực hiện đi cùng với rủi ro kèm theo ngày càng lớn
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về hoạt động giao dịch thương mại quốc tế
- Phân tích đánh giá cụ thể về các case study tranh chấp thanh toán quốc
tế của doanh nghiệp Việt Nam
- Đề xuất, đưa ra biện pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam giảm thiểu rủi
ro khi giao dịch thương mại quốc tế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải tranh chấp phát sinh khi giao dịch thương mại quốc tế
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu: Trong lãnh thổ Việt Nam và Doanh nghiệp Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng cùng với duy vật lịch sử trong chủ nghĩa mác lênin để nghiên cứu ra những vấn đề thực tiễn và lý luận Ngoài
ra còn sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát và tổng hợp những case study phổ biến để lập luận dựa theo bản đồ chứng minh, minh họa đưa ra kết luận cuối cùng
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn còn được kết cấu bởi 3 chương sau:
Chương 1: Khái quát về tranh chấp phát sinh trong thanh toán quốc tế Chương 2: Các tranh chấp phát sinh khi thanh toán quốc tế
Chương 3: Các biện pháp và biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế xảy ra tranh chấp phát sinh
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1 Khái quát về thanh toán quốc tế
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thế giới ngày nay là một thế giới phẳng, một thế giới mà những đường biên giới chỉ mang ý nghĩa là biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với nhau Việc mở cửa và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã tạo nên những giao dịch giữa các nước với nhau và phần lớn trong số đó là giao dịch về kinh tế Điều đó đã thúc đẩy nhu cầu về việc chi trả, thanh toán giữa các doanh nghiệp,
tổ chức và chính phủ ở các nước với nhau Đó chính là cơ sở để phát triển các mối quan hệ quốc tế mang tới nhiều lợi ích cho mỗi chủ thể trong các giao dịch Như vậy, TTQT đã được hình thành và phát triền và trong đó các ngân hàng thương mại của các quốc gia chính là cầu nối ở giữa các bên
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng
lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các
tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa ngân hàng của các nước liên quan [12]
Dựa vào khái niệm trên ta có thể thấy, TTQT có vai trò trong các hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên 2 hoạt động này có sự giao thoa với nhau, không có ranh giới rõ ràng Nhưng vì TTQT hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương vì vậy trong các qui chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta phân TTQT thành 2 lĩnh vục rõ ràng: Thanh toán trong ngoại thương ( thanh toán mậu dịch ) và Thanh toán phi ngoại thương ( thanh toán phi mậu dịch )
Trang 12TTQT là bước cuối cùng trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch
vụ giữa các tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân giữa các quốc gia khác nhau Việc nhà xuất nhập khẩu và nhập khẩu có thể trao đổi hàng hóa và thực hiện thanh toán trực tiếp gặp quá nhiều rủi ro và không phải lúc nào cũng có thể giao dịch trực tiếp Vậy nên giao dịch thông qua hệ thống mạng lưới NHTM với chi nhánh và ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu là một biện pháp mà nhiều doanh nghiệp hướng đến và sử dụng nhiều Hiện tại, các hoạt động thương mại quốc
tế luôn cần đến sự giam gia trung gian của các ngân hàng Ngân hàng sẽ đưa ra các phương án hiệu quả nhất tùy theo vào các điều kiện trong giao dịch nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào giao dịch thương mại quốc tế Nhờ có các ngân hàng làm trung gian giữa các giao dịch thương mại quốc tế điều đó đã tạo ra tiền đề các sự giao thương giữa các nước với nhau ngày càng phát triển, tạo dựng niềm tin khi trao đổi, mua bán, giao dịch quốc
tế
1.1.2 Phương thức thanh toán quốc tế
Thông thường khi thực hiện giao dịch giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau ngân hàng thương mại sẽ thực hiện làm trung gian trong cuộc giao dịch Trong quá trình thanh toán sẽ có rất nhiều thủ tục, cam kết và điều khoản chính vì vậy các bên liên quan cần phải có sự thoả thuận với nhau nội dung, điều kiện và cách thức tiến hành chuyển tiền hoặc trả tiền thích hợp để quá trình diễn ra thanh toán được rút ngắn và đúng theo kế hoạch không bị kéo dài Toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền
và trả tiền giữa người cư trú với người không cư trú gọi là phương thức thanh toán quốc tế
Vì thanh toán quốc tế trong ngoại thương là kết quả của hợp đồng giao dịch vậy nên ta đồng thời có khái niệm sau:
Trang 13Phương thức TTQT trong ngoại thương là toàn bộ quá trình, điều kiện qui định để người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ
Điều khoản phương thức thanh toán là một bộ phận không thể thiếu cấu thành nên hợp đồng ngoại thương Lựa chọn phương thức thanh toán sao cho thích hợp với từng thương vụ, mối quan hệ giữa các bên hợp đồng là một yếu
tố góp phần hạn chế rủi ro trong thị trường quốc tế
Trong cuộc sống hằng ngày, các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú làm phát sinh nhu cầu thanh toán cho nhau Thông thường, người thụ hưởng và người trả tiền không thanh toán trực tiếp cho nhau mà thông qua hệ thống ngân hàng
Do hoạt động ngoại thương đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế đối ngoại,
do đó, khi nói đến thanh toán quốc tế mà không nói rõ là thanh toán trong lĩnh
vực nào, thì ta hiểu đó là thanh toán trong ngoại thương
Thanh toán ngoại thương là kết quả của hợp đồng mua bán, do đó ta có
thể hiểu: Phương thức thanh toán quốc tế trong ngoại thương là toàn bộ quá
trình, điều kiện quy định để người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ
Như vậy, nội dung phương thức thanh toán chính là các điều kiện qui định trong hợp đồng thương mại, theo đó, người mua trả tiền nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và thu tiền
Việc giao, nhận hàng và thu tiền thường không diễn ra đồng thời, mà là một quá trình; quá trình này kết thúc khi người mua đã trả tiền và nhận được hàng; còn người bán đã nhận được tiền và giao hàng
Trong thực tế điều kiện quy định để các bên giao nhận hàng hóa và chi trả tiền là rất đa dạng, do đó, tồn tại nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác
Trang 14nhau, trong đó, mỗi phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định, thể hiện thành mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu
Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người xuất khẩu là thu tiền hàng nhanh, đầy đủ và từ yêu cầu người nhập khẩu là mua được hàng hóa đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn Việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên xuất khẩu
và nhập khẩu bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng ngoại thương
1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế
Trong các giao dịch ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau ví dụ như ghi sổ, nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ… Mỗi một loại phương thức thanh toán đều có những ưu điểm và nhược điểm, phù hợp với mỗi giao dịch xuất nhập khẩu khác nhau Vậy nên để có thể giao dịch một cách thuận lợi đúng theo kế hoạch của 2 bên thì giữa các bên cần tìm ra phương thức thanh toán phù hợp
Dưới đây là các phương thức thanh toán cơ bản và phổ biến thường được các NHTM sử dụng là:
1.1.3.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền TT/TTR
(telegraphic transfer): chuyển tiền bằng điện thông qua ngân hàng là hình thức người trả tiền ủy nhiệm chi NH đầu NK trích tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho người bán trong một khoảng thời gian nhất định
Quy trình thanh toán quốc tế bằng chuyển tiền
Người xuất khẩu chuyển giao hàng và bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu Người nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hóa (hoặc bộ chứng từ hàng hoá), nếu thấy phù hợp yêu cầu theo thỏa thuận đôi bên, lập thủ tục chuyển tiền gửi ngân hàng phục vụ mình
Trang 15Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế
(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ nhà nhập khẩu
(4) Ngân hàng chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền gửi qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình đến ngân hàng trả tiền
(5) Ngân hàng trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi đồng thời gửi báo có cho người hưởng lợi
Lợi ích khi sử dụng phương thức thanh toán TT
- Thủ tục nhanh gọn và không cần quá nhiều chứng từ gốc
- Mức phí rất thấp
- Có thể chuyển ở bất kỳ địa điểm nào
Trang 16Rủi ro khi sử dụng phương thức thanh toán TT
Đã thanh toán mà chưa chắc nhà XK sẽ gửi hàng hoặc gửi hàng ko đảm bảo chất lượng
Không biết chính xác được rằng bao giờ người bán sẽ chuyển hàng nếu mua nhóm C
1.1.3.2 Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C – letter of credit)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng ( người yêu cầu mở thư tín dụng ) một ngân hàng ( ngân hàng phát hành thư tín dụng ) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C ( Letter of credit ), theo đó ngân hàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba ( người thụ hưởng L/C ) khi người xuất trình cho ngân hàng phát hành một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C
Trang 17Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế
(4) Ngân hàng thông báo thông báo L/C cho người xuất khẩu
(5) Người xuất khẩu giao hàng
(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ gửi về NH phục
vụ mình (NH thông báo) để yêu cầu thanh toán
(7) Ngân hàng thông báo nhận, kiểm tra và chuyển bộ chứng từ bản gốc cho NH phát hành LC yêu cầu thanh toán
Trang 18(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp quy định của L/C thì tiến hành thanh toán
(9) Ngân hàng phát hành đòi tiền người nhập khẩu và giao bộ chứng từ cho người nhập khẩu nếu được chấp nhận
(10) Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
Dưới đây là một số loại Thư tín dụng phổ biến hiện nay:
- Thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable L/C)
- Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)
- Thư tín dụng có xác nhận (Confirmed L/C)
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C)
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Letter of Credit)
- Thư tín dụng dự phòng (Standby Letter of Credit)
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
- Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red Clause L/C)
Nội dung chính của L/C
- Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C
- Loại L/C
- Tên và địa chỉ các bên liên quan: người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi, các ngân hàng…
- Số tiền, loại tiền
- Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, và thời hạn giao hàng
- Điều khoản giao hàng: điều kiện cơ sở giao hàng, nơi giao hàng…
- Nội dung về hàng hóa: tên, số lượng, trọng lượng, bao bì…
- Những chứng từ người hưởng lợi phải xuất trình: hối phiếu, hóa đơn thương mại, vận đơn, chứng từ bảo hiểm, chứng nhận xuất xứ…
Trang 19- Cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng
- Những nội dung khác
Ưu nhược điểm của L/C
Lợi ích đối với người xuất khẩu:
- Ngân hàng (NH) sẽ thực hiện thanh toán đúng như quy định trong thư tín dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không
- Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa
- Khi chứng từ được chuyển đến NH phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm)
- KH có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng
Lợi ích đối với người nhập khẩu:
- Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền
- Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo quy định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền
Lợi ích đối với Ngân hàng:
- Được thu phí dịch vụ (phí mở L/C, phí chuyển tiền, phí thanh toán hộ…) – đại khái là có tiền
- Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế
- Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng
từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán Đối với Ngân hàng phát hành, sai sót trong việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất lớn
Trang 201.1.3.3 Phương thức nhờ thu
Thanh toán nhờ thu là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá để nhà nhập khẩu đi nhận hàng
Trong giao dịch này, ngân hàng ở cả 2 bên nước nhà nhập khẩu và xuất khẩu chỉ tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ, ngân hàng không cam kết, không bảo lãnh thanh toán đối với người bán cũng như với người mua
Căn cứ theo thời hạn, có 2 loại nhờ thu:
- Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này quy định người
mua/người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng
từ
– Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua
không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán/người xuất khẩu Thông thường hối phiếu đã chấp nhận sẽ được giữ tại nơi an toàn của ngân hàng nhờ thu (ngân hàng người nhập khẩu) cho đến ngày đáo hạn Tới ngày này, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận cộng đồng xuất nhập khẩu
Căn cứ theo chứng từ, có 2 loại nhờ thu:
– Nhờ thu phiếu trơn: Bộ chứng từ Nhờ thu chỉ gồm Hối phiếu và Yêu
cầu nhờ thu của Ngân hàng của người xuất khẩu
– Nhờ thu kèm chứng từ: Bộ chứng từ Nhờ thu ngoài Hối phiếu, Yêu
cầu nhờ thu của Ngân hàng còn có bộ chứng từ gửi hàng Khi đó người nhập
Trang 21khẩu nếu muốn nhận chứng từ thì sẽ phải thanh toán (D/P) hoặc ký chấp nhận hối phiếu
Sơ đồ 1.3: Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu:
Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế
(1) ký kết hợp đồng mua bán trong đó khoản thanh toán quy định áp dụng phương thức nhờ thu kèm chứng từ
(2) Nhà xuất khẩu giao hàng hóa cho nhà nhập khẩu nhưng không giao bộ chứng từ hàng hoá
(3) Nhà xuất khẩu gửi hối phiếu và bộ chứng từ hàng hoá đến ngân hàng nhận
uỷ thác để nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu
(4) Ngân hàng nhờ thu lập lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ tới ngân hàng thu hộ
(5) Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
(6) Nhà nhập khẩu chấp hành lệnh nhờ thu bằng cách:
Thanh toán ngay bằng hối phiếu, séc hay kỳ phiếu
Hoặc phát hành kỳ phiếu hay giấy nhận nợ
(7) Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu
Trang 22(8) Ngân hàng thu hộ chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận hay giấy
nợ cho ngân hàng nhờ thu
(9) Ngân hàng nhờ thu chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận hay giấy
nợ cho nhà xuất khẩu
Lợi ích đối với các bên khi sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu
Mở rộng tín dụng, các quan hệ với các ngân hàng khác
Rủi ro khi sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu
Đối với nhà xuất khẩu
Nếu ngân hàng thu hộ sai sót trong việc thực hiện lệnh nhờ thu thì hậu quả phát sinh do nhà XK chịu
Nhà NK khước từ thanh toán hay chấp nhận thanh toán trong khi hàng hóa đã được gửi đi trước Nhà XK có thể kiện nhưng sẽ tốn nhiều thời gian
Đối với nhà nhập khẩu
Trang 23Chịu rủi ro khi có gian lận trong thương mại (nhà XK lập bộ chứng từ giả), các ngân hàng ko chịu trách nhiệm khi chứng từ là giả mạo hay có sai sót hay hàng hóa không khớp với chứng từ
– Ngân hàng nhờ thu: nếu không nhận đc tiền từ NH thu hộ thì NH nhờ thu phải chịu rủi ro tín dụng từ phía nhà XK
– Ngân hàng thu hộ: nếu NH này chuyển tiền cho ngân hàng nhờ thu trc khi nhà NK chấp nhận thanh toán thì phải chịu rủi ro nếu như nhà NK ko nhận chứng từ và không thanh toán lớp học kế toán trưởng
Như vậy, Trong phương thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ, người xuất khẩu ngoài việc uỷ thác cho ngân hàng thu tiền còn nhờ ngân hàng thông qua việc khống chế bộ chứng từ hàng hoá để buộc người nhập khẩu phải trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền Nhờ vậy phương thức này đảm bảo khả năng thu tiền hơn phương thức chuyển tiền và nhờ thu hối phiếu trơn Đồng thời, Đã có
sự ràng buộc chặt chẽ giữa việc thanh toán tiền và việc nhận hàng của bên mua Tuy nhiên việc bên mua có nhận hàng và thanh toán hay không vẫn tuỳ thuộc vào thiện chí của người mua, như vậy quyền lợi của bên bán vẫn chưa được bảo đảm
Đó cũng là lý do vì sao phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ
được sử dụng khá nhiều trong thanh toán quốc tế
1.1.4 Tranh chấp phát sinh khi thanh toán quốc tế
Tranh chấp phát sinh xảy hoàn toàn từ nguyên nhân rủi ro bất ngờ, bất trắc ngoài ý muốn gây thiệt hại cho cả 2 bên Sự khác biệt về văn hóa, thời gian, luật pháp, ngôn ngữ và chính phủ giữa 2 nước đã gây ra những rủi ro khó tránh khỏi
Các tranh chấp trong TTQT thường xảy ra với nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan
Trang 24
1.1.4.1 Khái niệm về tranh chấp
- Tranh chấp kinh tế là mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ kinh
tế của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật kinh tế
- Đặc trưng của tranh chấp kinh tế là chúng phát sinh trực tiếp từ hoạt động kinh doanh; chủ thể tham gia tranh chấp chủ yếu là các doanh nghiệp; tranh chấp gắn liền với lợi ích riêng biệt của mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền
tự định đoạt của họ; nhiều tranh chấp liên quan tới giá trị tài sản lớn
- Trong điều kiện kinh tế thị trường, tranh chấp kinh tế phổ biến là tranh chấp hợp đồng kinh tế, tranh chấp trong nội bộ công ti, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
- Thuật ngữ tranh chấp kinh tế được sử dụng trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 nhưng không được sử dụng lại trong Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004 Thay vào đó, thuật ngữ tranh chấp về kinh doanh, thương mại” được sử dụng trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 để chỉ các loại tranh chấp sau:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý, ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác: đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác;
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
Trang 25- Tranh chấp giữa công tỉ với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ti với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
- Bất đồng, xung đột về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, thu nhập, điều kiện lao động giữa các bên trong quan hệ lao động; và một số tranh chấp trong các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động
Trên thế giới, tranh chấp lao động thường được thừa nhận đồng thời với quan hệ lao động Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới, thị trường lao động
đã hình thành phát triển và các quan hệ lao động cũng từng bước được mở rộng Cùng với việc ban hành Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 để giải quyết các tranh chấp lao động giữa các bên khi áp dụng các hình thức khác không thể giải quyết được
1.1.4.2 Tranh chấp phát sinh trong thanh toán quốc tế
Trước hết, có thể khẳng định, tranh chấp bắt nguồn từ rủi ro Trong thương mại quốc tế nói chung và hoạt động TTQT nói riêng, các bên trong hợp đồng thường ở các quốc gia có vị trí địa lý cách xa nhau, thiếu các thông tin cần thiết khi tìm hiểu về đối tác, việc am hiểu luật lệ, tập quán buôn bán của mỗi nước lại hạn chế Do vậy, các rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi Rủi ro trong TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn có thể gây thiệt hại đối với các bên tham gia giao dịch bằng L/C như: Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C và các ngân hàng tham gia
Trang 26
Các rủi ro, một khi không giải quyết được thường ảnh hưởng đến quyền lợi, gây tổn thất đối với các bên và kết cục là tranh chấp phát sinh, buộc các bên phải giải quyết hoặc bằng thương lượng hoặc đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế, tòa án để giải quyết
Các tranh chấp xảy ra trong thanh toán quốc tế bằng L/C thường rất đa dạng
và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, có hai loại tranh chấp điển hình thường gặp, đó là tranh chấp liên quan tới chứng từ do người bán tạo lập, xuất trình đòi tiền ngân hàng phát hành L/C và tranh chấp liên quan tới nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia vào giao dịch theo thư tín dụng
Trang 27
CHƯƠNG 2: TRANH CHẤP PHÁT SINH TTQT
2.1 Khái quát về tình hình XNK và thanh toán quốc tế của NHTM Việt Nam
Khái quát về tình hình chung xuất nhập khẩu ở Việt Nam tính từ thời điểm mở cửa kinh tế vào năm 1997 đến các giai đoạn đánh dấu sự tăng trưởng mạnh kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
Đồ thị 2.1: Kim ngạch thương mại của Việt Nam 1997 - 2016
Nguồn: Tạp chí công thương
2016: Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đã dẫn đến thâm
hụt cán cân thương mại của Việt Nam tăng lên đột biến năm 2007 Giá trị nhập siêu tăng vọt từ 5,06 tỷ USD năm 2006 lên mức 14,12 tỷ USD năm 2007 và đạt 18,02 tỷ USD vào năm 2008 Như vậy, chỉ trong hai năm 2007 - 2008, giá trị nhập siêu đã gấp 1,27 lần cả giai đoạn 2000 - 2006 Giai đoạn 2009 - 2011 giá trị nhập siêu của Việt Nam vẫn tiếp tục ở mức cao nhưng có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, năm 2012, cán cân thương mại đột biến thặng dư 748 triệu USD và con số này đã tăng lên 2,37 tỷ USD vào năm 2014 Năm 2015, cán cân thương mại lại rơi vào thâm hụt 3,55 tỷ USD và đến năm 2016 bất ngờ đổi
Trang 28chiều và đạt đỉnh thặng dư từ trước đến nay là 2,52 tỷ USD Việc cán cân
thương mại thặng dư trong giai đoạn 2012 - 2014 và năm 2016 là do xuất khẩu
của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng vọt kết hợp với việc giảm
nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước
2017: Những nỗ lực tạo thuận lợi thương mại đã cho thấy những kết quả rõ nét
khi xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đang dần tiến đến mốc 400 tỷ USD
trong năm 2017 với tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu đều trên 21%
Đồ thị 2.2: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại hàng
hóa của Việt Nam giai đoạn 2005-2017
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Các số liệu thống kê mới nhất cho thấy, tính đến hết tháng 11/2017, tổng
kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 385,77 tỷ USD Trong
đó, xuất khẩu đạt 194,47 tỷ USD, tăng 21,5% và nhập khẩu là 191,47 tỷ USD,
tăng 21,2%
Như vậy, chỉ còn hơn 14 tỷ USD nữa là xuất nhập khẩu Việt Nam cán
mốc 400 tỷ USD Nếu tính theo mức trung bình trong 11 tháng đầu năm, mỗi
Trang 29tháng đạt 35 tỷ USD, thì chỉ trong nửa đầu tháng 12, xuất nhập khẩu cả nước
sẽ đạt được con số 400 tỷ USD
Sau 1 thập kỷ, kể từ lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt
100 tỷ USD vào năm 2007, xuất nhập khẩu hàng hóa đã tăng gấp 4 lần Đặc biệt, chúng ta chỉ mất 2 năm để đưa kim ngạch xuất nhập khẩu từ mức 300 tỷ USD (năm 2015) lên mốc 400 tỷ USD
2018: Nhiều kỷ lục về xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam Trong
365 ngày qua, Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước lập kỷ lục, đạt 480,17 tỷ USD, tăng hơn 52 tỷ USD về mặt số tuyệt đối so với kết quả thực hiện của một năm trước đó Kết quả này vẫn còn thấp hơn mức tăng tuyệt đối 76,75 tỷ USD của năm 2017 so với năm 2016 Như vậy, chỉ số độ mở của nền kinh tế Việt Nam (xuất nhập khẩu hàng hóa/GDP) trong năm 2018 ước tính là 196%
Với kết quả ấn tượng của xuất nhập khẩu trong năm 2018 thì thứ hạng xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2018 có thể được cải thiện khi
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) công bố báo cáo tổng quan về xuất nhập khẩu toàn cầu dự kiến vào tháng 4/2019 Theo WTO, trong năm 2017, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam có vị trí thứ 27 trên thế giới và nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam có thứ hạng 25 trên phạm vi toàn cầu
Trang 30Đồ thị 2.3 : Kim ngạch, tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân
thương mại trong 9 tháng đầu năm, giai đoạn 2011-2019
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2019: Cho đến nay, tổng kết của năm 2019 đã đem tới các kết quả hết
sức khả quan về sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trên các con số xuất và nhập khẩu Lần đầu tiên khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2019 đã đạt tới một mức kỷ lục mới 500 tỷ USD Dựa vào số liệu đã cho thấy chúng ta đã tăng xuất nhập khẩu lên tới 170 lần so với thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới ( 1986 ).Tăng 37 lần thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN, tăng 5 lần thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập WTO (năm 2007) và năm
2019, với mốc 517 tỷ USD xuất nhập khẩu, trong vòng 8 năm, chúng ta tăng kim ngạch trên 2,5 lần Nhờ đó, xếp hạng xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh
Trang 312.2 Khái quát về các hoạt động TTQT
Khi xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng lên thì đồng thời việc thanh toán quốc tế cũng tăng tỉ lệ thuận Bởi lẽ hoạt động thanh toán quốc tế chính là cầu nối giữa các giao dịch thương mại Điều thể hiện rõ nhất đó chính là hệ thống ngân hàng không chỉ của nước ta phát triển mạnh mẽ rộng khắp các tỉnh thành
và đặt chi nhánh ở nước ngoài mà còn rất nhiều ngân hàng quốc tế đã đặt chi nhánh tại nước ta để thực hiện các giao dịch quốc tế thông qua các ngân hàng thương mại Nhận ra tầm quan trọng và sự phát triển mạnh mẽ của thanh toán quốc tế làm cầu nối cho các giao dịch xuất nhập khẩu vậy nên chính phủ Việt Nam đã đưa ra các Nghị định 161/2006/NĐ-CP quy định thanh toán bằng tiền mặt, Quyết định 291/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 Tỷ trọng tiền mặt trong tổngphương tiện thanh toán ở các ngân hàng đã giảm từ 20% năm 2004 đến 18% năm 2005, và đến cuối 2008 chỉ còn dưới 15%
Bắt đầu cuối 2005, hoạt động thanh toán đã được đổi mới theo hướng tổ chức thanh toán tập trung một tài khoản cho các Ngân hàng Thương mại tại Sở giao dịch Ngân Hàng Nhà Nước, đầu tiên là các chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam (Agribank), tiếp theo là một số chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển (BIDV) và gần đây là các chi nhánh Ngân hàng Công thương Các ngân hàng góp phần quan trọng mang lại nguồn doanh thu to lớn từ hoạt động thanh toán quốc tế, dẫn đầu là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), với doanh số 22,8 tỷ USD, chiếm 27% thị phần cả nước Tiếp theo là các ngân hàng BIDV, Incombank, Sacombank, Đông Á, VPBank…
Những thành tựu trong hoạt động TTQT kể trên cho thấy bước phát triển vượt bậc của các ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên không thể phủ nhận vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại, cả khách quan lẫn chủ quan đang tác động tiêu cực, làm hạn chế sự phát triển của TTQT Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ vẫn còn
Trang 32ở mức thô sơ và dưới mức tiềm năng Một số ngân hàng gần đây đã đi tiên phong trong phát triển thêm loại hình dịch vụ mới, như direct banking hoặc máy ATM
di động (NH Đông Á); đây có thể coi là cố gắng không nhỏ của ngân hàng nhằm
đa dạng hóa dịch vụ, đem đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn Sự bùng
nổ các chi nhánh ngân hàng, đi cùng với đó là những thay đổi về quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế đòi hỏi các ngân hàng phải đầu tư đồng bộ cả về cơ
sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin và cả nguồn nhân lực Tuy nhiên các chi nhánh ngân hàng ở vùng miền xa trung ương lại chưa đủ khả năng đáp ứng
cả 3 yếu tố trên Nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác thanh toán chưa được đào tạo chuyên sâu, chưa đáp ứng đòi hỏi về tác phong phục vụ và đạo đức nghề nghiệp Những nguyên nhân chủ quan này kết hợp với nguyên nhân khách quan – cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm vừa qua, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của hoạt động TTQT [12]
Nếu như trước đây trong giai đoạn nền kinh tế bao cấp, Vietcombank (VCB) là Ngân hàng duy nhất độc quyền kinh doanh trong lĩnh vực TTQT, từ khi chuyển sang cơ chế thị trường thì các NH đều được thực hiện TTQT, nhưng vẫn chủ yếu tập trung vào 4 NHTM lớn của Nhà nước (Vietcombank, NN&PTNN, BIDV và Vietinbank trong đó Vietcombank vẫn chiếm tỷ trọng cao) và một số NHTMCP như Exim, ACB…
Trong những năm vừa qua do các NHTMVN không ngừng đầu tư mạnh
mẽ vào dịch vụ TTQT Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng doanh thu hoạt động Doanh số TTQT qua hệ thống NHTMVN/ kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đều chiếm trên 80% Phần còn lại là các trường hợp hàng đổi hàng, thanh toán trực tiếp tại biên giới bằng tiền mặt và thành toán qua các ngân hàng nước ngoài Cho thấy các hoạt động TTQT qua NHTMVN đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Dịch vụ thanh toán quốc tế được các ngân hàng thực hiện hiện nay khá đa dạng
Trang 33● Doanh số trong TTQT
Hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều hỗ trợ thanh toán quốc tế cho cả doanh nghiệp và cho mọi công dân Vì vậy dịch vụ thanh toán quốc tế được đánh giá là một trong những dịch vụ chính của ngân hàng
Điển hình như ngân hàng thương mại Agribank đã được mở rộng đến
164 quốc gia và 5 châu lục, 40 sản phẩm thanh toán quốc tế cơ bản đáp đủ mọi nhu cầu cần thiết tại thị trường Việt Nam Gần nhất vào năm 2018 theo đánh giá của ngân hàng Agribank đã thu về 5.2 triệu usd tặng 182% so với năm 2017
Đầu tháng 4/2016, ngân hàng Standard Chartered - SCB (Vương quốc Anh) đã trao giải thưởng Chất lượng thanh toán quốc tế năm 2015 cho Agribank Từ năm 1996, Agribank và SCB đã thiết lập quan hệ đại lý, sau 20 năm liên tục hợp tác, đến nay đã có 22 chi nhánh thuộc tập đoàn SCB tại 22 quốc gia thiết lập quan hệ đại lý với Agribank
Với ngân hàng hiện tại đang đứng đầu trên cả nước về dịch vụ thanh toán quốc tế là ngân hàng Techcombank Tổ chức Thẻ Quốc tế Visa đánh giá cao những chỉ số vượt trội của hoạt động phát hành và thanh toán về Thẻ mà Techcombank đạt được trong thời gian gần đây so với các tổ chức khác trên thị trường Đối với thẻ tín dụng, giao dịch của Techcombank đứng số 1 thị trường với tỷ lệ hoạt động 87%, cao hơn thị trường 12% Đối với thẻ ghi nợ của Techcombank, giao dịch tăng trưởng 81%, hơn gấp đôi tốc độ tăng trưởng của thị trường Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ của Techcombank cũng ghi dấu ấn với mức tăng trưởng đều đặn qua 3 năm 2016 – 2017 – 2018 với nhiều chương trình hoạt động tích cực mà Techcombank mang đến trực tiếp cho khách hàng
và thị trường
● Chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế
Hiện nay hầu hết các ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam đều có các dịch vụ thanh toán quốc tế dành cho doanh nghiệp Ngân hàng sẽ hỗ trợ tối đa
Trang 34về các mặt dịch vụ như nhanh chóng, hiệu quả, an toàn với chi phí hợp lý Ngoài
ra hầu hết các loại tiền tệ sẽ đều được ngân hàng hỗ trợ với mức tỷ giá hợp lý, giúp doanh nghiệp có thể đổi tiền nhanh chóng và thực hiện các giao dịch Đi cùng với mạng lưới rộng với các ngân hàng trên thế giới, một số ngân hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp giao dịch với bất kì đâu, bất kỳ nước nào mà doanh nghiệp cần
Các chuyên viên tư vấn sẽ hỗ trợ doanh nghiệp 24/24 nhằm bảo đảm giao dịch sẽ được tiến hành một cách thuận lợi và giải đáp mọi thắc mắc của doanh nghiệp trong quá trình giao dịch Cùng với hệ thống thông tin bảo mật của khách hàng, doanh nghiệp có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng dịch vụ mà không lo bị lộ thông tin cần được bảo mật Quy trình rà soát các thông tin cũng như quy trình thực hiện sẽ được phía ngân hàng thực hiện đúng và có thông báo nhanh chóng cho các bên khi có các vấn đề xảy ra rủi ro
Hiện tại có một số ngân hàng có gói hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu với mức ưu đãi tốt, cùng với giải ngân nhanh chóng giúp doanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay một cách nhanh chóng và thuận tiện
Có thể nói đến nay các ngân hàng Việt Nam đều có các chuẩn dịch vụ thế giới khi ngày càng nhiều nhu cầu về dịch vụ thanh toán quốc tế và các ngân hàng cung cấp dịch vụ tăng lên đã giúp cho sự cạnh tranh trong nước tăng lên, tạo ra áp lực giúp các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ
● Ứng dụng công nghệ trong TTQT
Việc sử dụng công nghệ trong thanh toán quốc tế là một xu hướng tất yếu, các ngân hàng đang cố hoàn thiện việc trở thành một ngân hàng điện tử giúp thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch, giảm tối đa thời gian cũng như giúp khách hàng giao dịch hay cung cấp thông tin cho ngân hàng ở mọi lúc mọi nơi
Trang 35Khách hàng có thể theo dõi cập nhập thông tin quá trình giao dịch của mình thông qua các ứng dụng mà ngân hàng cung cấp Tài liệu và các biểu mẫu
có sẵn giúp khách hàng cung cấp thông tin cho ngân hàng ở bất kỳ đâu, giảm thời gian đi lại và gặp mặt Hiện hầu hết ngân hàng đều có hòm thư gmail hỗ trợ, tư vấn khách hàng luôn trả lời 24/24
Các app chuyển tiền ngay trên điện thoại di động giờ đã được phổ cấp tới tất cả khách hàng, chỉ cần vài thao tác khách hàng đã có thể chuyển tiền cho đối tác hoặc ủy thác cho ngân hàng mà không cần phải tới ngân hàng làm việc Việc ứng dụng công nghệ vào trong hoạt động ngân hàng đã đem tới một sự thay đổi lớn, thời gian làm các thủ tục đã giảm đi lên đến 70% và năng suất làm việc của ngân hàng cũng tăng lên đáng kể với cùng một thời gian ngân hàng có thể phục vụ số lượng khách nhiều hơn
● Các phương thức thanh toán quốc tế thường được sử dụng
- Chuyển tiền bằng: Điện chuyển tiền (TT: Telegraphic Transfer Remittance) hoặc bằng Thư chuyển tiền (MTR: Mail Transfer Remittance)
- Trả tiền lấy chứng từ (C.A.D: Cash Against Document)
Trang 36
Hoạt động thanh toán quốc tế là một quá trình phức tạp gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi bước đều cần phải có những thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật và các điều khoản riêng trong các hợp đồng mỗi giao dịch Điều này cần trình độ cán bộ trong TTQT phải thực sự hiểu kĩ các quy định trong giao dịch tránh gây sai sót làm thiệt hại các bên trong giao dịch
Hiện nay tại các trường đại học dều đã có bộ môn thanh toán quốc tế cùng với các môn khác bên cạnh nhằm phụ trợ hỗ trợ cán bộ có được kĩ năng cũng như kiến thức để có thể xử lí các tình huống khác nhau trong giao dịch Phía ngân hàng thương mại cũng thường xuyên có các buổi học giúp trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng được nâng cao chuyên môn năng lực cùng với dịch
vụ khách hàng cải thiện
2.3 Thực trạng tranh chấp trong TTQT hiện nay
2.3.1 Khái quát chung về các tranh chấp xảy ra trong hoạt động TTQT
Triển khai thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, các trung tâm trọng tài của nước ta từng bước được củng cố, kiện toàn về tổ chức và hoạt động Hiện nay, nước ta có 14 trung tâm trọng tài đang hoạt động với tổng số
349 trọng tài viên, trong đó, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) có
số trọng tài viên nhiều nhất, chiếm gần 43% tổng số trọng tài viên của cả nước Giai đoạn 2011 - 2015 là giai đoạn nước ta hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng hơn, lĩnh vực thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ Nhưng đi kèm theo đó là sự phát sinh tranh chấp thương mại quốc tế đòi hỏi phương thức giải quyết hữu hiệu hơn Các doanh nghiệp đã nhìn nhận và đánh giá tích cực phương thức hòa giải bằng trọng tài Số lượng vụ việc tranh chấp mà các Trung tâm trọng tài thụ lý giải quyết đã tăng lên 30% so với trước đây Theo số liệu thống kê trong giai đoạn từ năm 2011 đến 31/12/2015, các trung tâm trọng tài
đã ban hành 1.831 phán quyết trọng tài, riêng trong năm 2015, các trung tâm trọng tài đã giải quyết được 1.255 vụ tăng 389 vụ việc so với năm 2014 Trong
Trang 37đó, VIAC đã thụ lý, giải quyết 226 vụ, trung bình gần 60 vụ/năm; Trung tâm Trọng tài thương mại thành phố Hồ Chí Minh (TRACENT) thụ lý, giải quyết
291 vụ, trung bình hơn 70 vụ/năm Các trung tâm trọng tài khác chỉ giải quyết
từ 5 đến 10 vụ/năm Số vụ việc do các trung tâm trọng tài thụ lý, giải quyết cũng phong phú, đa dạng hơn, diễn ra trong nhiều lĩnh vực như mua bán hàng hóa, xây dựng, sở hữu trí tuệ, lao động, phân phối, đại lý và trung gian, bảo hiểm thương mại, đầu tư nước ngoài, tranh chấp hàng hải, tín dụng và thanh toán quốc tế và ngày càng có nhiều bên tranh chấp mang quốc tịch nước ngoài… Trong thời gian gần đây, với sự ra đời của các chế tài bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, thì số vụ việc tranh chấp giữa người tiêu dùng với công ty tài chính cho vay tiêu dùng, doanh nghiệp phân phối và doanh nghiệp sản xuất hàng hóa được trung tâm trọng tài thụ lý, giải quyết đã tăng lên một cách đáng kể
Những năm gần đây số vụ việc tranh chấp được giải quyết ở các trung tâm trọng tài cũng ngày càng tăng, điển hình như ở VIAC luôn có số vụ giải quyết tranh chấp trong năm cao: Năm 2015, trung tâm tiếp nhận và giải 146 vụ, năm 2016 là 155 vụ Năm 2017 trung tâm đã tiếp nhận và giải quyết 151 vụ tranh chấp với tổng trị giá lên đến 1.400 tỷ đồng
● Tồn tại những hạn chế việc giải quyết tranh chấp TTQT
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, thực tiễn cho thấy thời gian qua, hoạt động trọng tài thương mại đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập sau đây:
Thứ nhất, chất lượng đội ngũ trọng tài viên tuy đã được cải thiện nhưng
vẫn còn hạn chế Một số trọng tài viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức thương mại quốc tế; còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp trong việc giải quyết tranh chấp, nhất là các vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế; số trọng tài viên có