1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến tranh thương mại mỹ trung quốc và những tác động đối với việt nam

78 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ tìm ra và phân tích những tác động của cuộc chiến tranh thương mại này đến nền kinh tế thế giới cũng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ YẾN

CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ YẾN

CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu thống kê, điều tra đƣợc xử lí và sử dụng phân tích trong luận văn theo đúng quy định Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế

Tác giả

Nguyễn Thị Yến

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU ĐỒ i

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.1.1 Các nghiên cứu về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và tác động với Việt Nam 6

1.1.2 Đánh giá rút ra từ tổng quan và xác định vấn đề nghiên cứu tiếp theo 8

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến tranh thương mại 8

1.2.1 Khái niệm, nguyên nhân, cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại 8

1.2.2 Lợi ích trong buôn bán giao thương giữa các quốc gia trên thế giới 12

1.2.3 Lợi ích các nước khi đánh thuế quan 12

1.2.4 Lợi ích khi các nước lớn đánh thuế trả đũa lẫn nhau 20

Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Khung phân tích và nguồn số liệu 24

2.1.1 Khung phân tích 24

2.1.2 Nguồn số liệu 26

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 26

2.2.1 Phương pháp thống kê 26

2.2.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp 26

2.2.3 Phương pháp so sánh 26

Kết luận chương 2 26

Trang 5

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM 28

3.1 Khái quát về chiến tranh thương mại nói chung và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc nói riêng 28 3.1.1 Khái quát về chiến tranh thương mại 28 3.1.2 Khái quát về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc 29 3.2 Phân tích thực trạng Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đang diễn

ra hiện nay 29 3.2.1 Diễn biến của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 29 3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 34 3.2.3 Tình hình nền kinh tế Mỹ kể từ sau chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn ra 37 3.2.4 Tình hình nền kinh tế Trung Quốc từ sau chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn ra 43 3.3 Đánh giá những tác động của Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đến toàn cầu và những tác động đối với Việt Nam 45 3.3.1 Đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đến nền kinh tế toàn cầu 45 3.3.2 Đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đến Việt Nam 47

Kết luận chương 3 57 CHƯƠNG 4 CÁC GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM NHẰM VƯỢT QUA THÁCH THỨC VÀ KHAI THÁC CƠ HỘI TỪ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC 58

4.1 Mục tiêu, định hướng của Việt Nam để vượt qua thách thức và khai thác

cơ hội từ chiến tranh thương mại này 58 4.1.1 Mục tiêu của Việt Nam để vượt qua thách thức và khai thác cơ hội từ cuộc chiến tranh thương mại này là Việt Nam sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển bền vững bao gồm: 58

Trang 6

4.1.2 Định hướng của Việt Nam để vượt qua thách thức và khai thác cơ hội

từ cuộc chiến tranh thương mại này 58

4.2 Các giải pháp nhằm vượt qua thách thức và khai thác cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc 59

4.2.1 Giải pháp ở cấp vĩ mô 59

4.2.2 Giải pháp ở cấp vi mô 60

4.2.3 Giải pháp ở một số ngành cụ thể 61

4.3 Các kiến nghị 62

Kết luận chương 4 66

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Hình/Bản

1 Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng kinh tế Mỹ - Trung Quốc giai đoạn từ

Quý I/2018 đến Quý III/2019 chậm lại 39

2 Biểu đồ 3.2 Ngoại thương của Mỹ - Trung Quốc giai đoạn từ

Quý I/2018 đến Quý III/2019 sụt giảm 40

3 Biểu đồ 3.3 Sản xuất của Mỹ - Trung Quốc giai đoạn từ tháng

44

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đến thời điểm hiện tại, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc đã kéo dài được hơn 2 năm, tác động của nó lên kinh tế thế giới và nhiều nền kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã hiển hiện rõ Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc Trước hết nó là cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai cường quốc số 1 và số 2, cuộc cạnh tranh đó đã bao trùm cả về địa chính trị

và địa kinh tế Mặt trận kinh tế thương mại được đẩy lên hàng đầu Trong cuộc cạnh tranh đó, cuộc cạnh tranh thuế quan giữa hai nền kinh tế hàng đầu càng ngày càng gia tăng cả về quy mô và số lượng

Sự cạnh tranh về thương mại giữa hai nền kinh tế lớn trên thế giới không chỉ ảnh hưởng hai nước, mà còn tạo ra những lực tác động đến dòng luân chuyển thương mại và chuỗi cung ứng hàng hóa dịch vụ trên toàn cầu, người

ta cũng đã dự báo rằng nền kinh tế toàn thế giới có thể thất thu khoảng 1% GDP toàn thế giới, thậm chí nó còn có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu Nhưng cũng chính vì thế nó cũng có thể tạo ra những sự dịch chuyển rất lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu và phân công lại chuỗi sản xuất, giá trị toàn cầu

Cuộc cạnh tranh hiện tại khác rất nhiều so với cuộc cạnh tranh trước đây trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, người ta chạy đua với nhau nhưng không phải để triệt tiêu nhau mà để giành vị thế ưu tiên hơn Cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc và đặc biệt chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc tạo ra nhiều

sự bất ổn lớn trong nền kinh tế toàn cầu, và có thể có sự suy thoái của kinh tế thế giới Đã bắt đầu có những dấu hiệu của sự đi xuống, sự suy giảm này có nguyên nhân chính từ sự bất ổn và cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc trên thế giới Việt Nam là một nước xuất khẩu, là một nền kinh tế mở và

là một nền kinh tế hội nhập nên chắc chắn phải chịu tác động

Trang 9

Có thể coi cuộc xung đột Mỹ-Trung là một cuộc đấu tranh giữa một cường quốc hiện tại và một cường quốc đang trỗi dậy thách thức vị thế đó của

nó, một cường quốc bá chủ do sợ bị mất vị thế số một dẫn đến hành động theo cách có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh giành bá quyền toàn cầu Chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã theo đuổi chính sách đối ngoại dựa trên tiêu chí “Nước Mỹ trên hết”, tạo nên khoảng cách với các đồng minh truyền thống và gây lo lắng cho phần còn lại của thế giới vì các mục tiêu chính trị của mình

Việt Nam là một bạn hàng lớn của cả hai nước nói trên, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung chắc chắn tác động không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Khi Mỹ và Trung Quốc có chiến tranh thương mại, nó tạo ra nhiều sự dịch chuyển mới trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu, riêng điều này có cả sự khó khăn và sự thuận lợi

Nhận định về cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang diễn

ra, nhiều nhà kinh tế cho rằng, các Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội đa dạng hoá nguồn cung Chiến tranh thương mại đang tạo ra thách thức toàn cầu buộc lãnh đạo các nước phải đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề này trong đó có các giải pháp để cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường của Mỹ Bên cạnh đó, các Doanh nghiệp Việt Nam cũng phải có chính sách tiếp cận thị trường Mỹ trong ngắn hạn và dài hạn Hiện nay các Doanh nghiệp Mỹ tìm kiếm nguồn cung nhiều hơn ở Việt Nam để bù lại sự thiếu hụt ở thị trường Trung Quốc Với tác động của chiến tranh thương mại, quy trình sản xuất, chuỗi sản xuất trên thế giới bị ảnh hưởng nặng và có thể chuyển dịch sang Việt Nam Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể hưởng lợi từ căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc thông qua kênh xuất khẩu và đầu tư nước ngoài Việt Nam cũng có thể hưởng lợi từ sự chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó các doanh nghiệp chuyển dịch một số khâu sản xuất ra khỏi Trung

Trang 10

Quốc Các công ty đa quốc gia đang bắt đầu chuyển những công đoạn sản xuất có tỷ suất sinh lợi cao đến Việt Nam.Chiến tranh thương mại đem lại cả thách thức và cơ hội cho Việt Nam

Bên cạnh các tác động tích cực, Nguy cơ hàng Việt Nam cũng sẽ bị Mỹ

áp thuế cao do doanh nghiệp Trung Quốc núp bóng xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ Xu thế doanh nghiệp Trung Quốc chuyển cơ sở sản xuất sang Việt Nam tuy giúp tăng đơn hàng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ Việt Nam trở thành thiên đường ô nhiễm của các doanh nghiệp FDI Có thể nói rằng tác động của chiến tranh thương mại cơ bản là tiêu cực, hầu hết các nước đều sẽ phải chịu thiệt hại Các lỗ hổng thương mại

sẽ nhanh chóng được bù đắp từ các nguồn cung khác nhưng thiệt hại sẽ kéo dài và lan toả dần trong chuỗi sản xuất “Đối với Việt Nam bên cạnh sức ép

về phá giá còn phải chịu các tác động tiêu cực trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và cạnh tranh từ các nước ASEAN trong chuỗi sản xuất và các tác động bất lợi này sẽ mạnh hơn trong thời gian tới

Do vậy việc nghiên cứu đề tài: “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và những tác động đối với Việt Nam” có ý nghĩa cả lý luận và thực

tiễn đối với Việt Nam

Nghiên cứu đề tài này phù hợp với chuyên ngành đào tạo: Kinh tế quốc tế

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ tìm

ra và phân tích những tác động của cuộc chiến tranh thương mại này đến nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam từ đó có những gợi ý đối với Việt Nam nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, tìm ra giải pháp ứng phó với những thách thức được đặt ra và tranh thủ tận dụng các cơ hội có được đối với nền kinh tế nước nhà từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến tranh thương mại Mỹ

- Trung, những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam

- Đánh giá những cơ hội và thách thức đã, đang và sẽ đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam

- Đưa ra những nhận định và tìm ra giải pháp ứng phó với những thách thức được đặt ra và tận dụng các cơ hội có được đối với nền kinh tế Việt Nam

từ cuộc chiến tranh thương mại này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và những tác động đối với Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đặt trong bối cảnh toàn cầu kể từ khi bắt đầu xảy ra tức là từ tháng 3 năm 2018 đến nay Khởi đầu của cuộc chiến tranh vào ngày 22 tháng 3 năm 2018 khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố áp dụng mức thuế 50 tỷ đô la Mỹ cho hàng hóa Trung Quốc dựa theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974,

để ngăn chặn những gì Mỹ cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ từ phía Trung Quốc Kể từ thời điểm này Trung Quốc và Mỹ liên tục có những động thái trả đũa lẫn nhau bằng việc đưa ra những lệnh áp thuế đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu, các công ty của nhau

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Vì sao lại xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc ?

- Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc tác động đến nền kinh tế Việt Nam như thế nào?

Trang 12

- Những thách thức và các cơ hội nào đã, đang và sẽ được đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc ?

- Những gợi ý nào đối với Việt Nam ?

5 Những đóng góp mới của luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng, biểu đồ; Luận văn bao gồm 4 chương như sau:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: CÁC GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM NHẰM VƯỢT QUA THÁCH THỨC VÀ KHAI THÁC CƠ HỘI TỪ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ

CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và tác động với Việt Nam

Cục diện thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn lao chưa từng có trong nhiều năm qua; Trung Quốc đang tiến vào thời đại mới, có những thay đổi mạnh mẽ; sự phát triển của khoa học công nghệ đang làm thay đổi phương thức sản xuất và sinh hoạt của toàn nhân loại; đại dịch Covid-19 đã nhanh chóng thúc đẩy những thay đổi trong quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài Thời đại đã thay đổi, chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc cũng đã thay đổi

Các nghiên cứu về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và tác động với Việt Nam đã được đề cập trong các bài nghiên cứu tạp chí và một số nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế cũng như Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Anh Thu và TS Vũ Thanh Hương – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội với nghiên cứu “Chiến tranh Thương mại

Mỹ - Trung và một số tác động dự đoán” Bài viết năm 2018 với một loạt các động thái áp thuế của Mỹ lên hàng hoá nhập khẩu từ trung quốc, khiến chiến tranh thương mại giữa hai quốc gia này ngày càng trở nên căng thẳng, tác động của cuộc chiến tranh thương mại này không chỉ trực tiếp tới Mỹ và Trung Quốc mà với tầm ảnh hưởng của hai quốc gia này còn có tác động mạnh mẽ tới các quốc gia khác và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ

ThS Hoàng Thị Thúy - Trường Đại học Thương mại với bài viết

“Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và vấn đề đặt ra đối với kinh tế Việt

Trang 14

Nam” - Bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính Kỳ 1 - Tháng 10/2019 Bài viết nêu lên thực trạng Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn diễn

ra gay gắt và chưa có dấu hiệu dừng lại Điều này đã, đang tác động không nhỏ tới nền kinh tế của cả hai nước, cũng như các nền kinh tế mở khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Nhận định chung của các chuyên gia kinh tế, luật sư, Hiệp hội doanh nghiệp trong Hội thảo “Cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung: Cơ hội hay thách thức với doanh nghiệp”, diễn ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 25/6/2019 được đăng trên Tạp chí Công Thương ngày 26/6/2019 với tiêu đề “Xung đột thương mại Mỹ - Trung: Thách thức đan xen cơ hội cho doanh nghiệp Việt” Phương Anh (2018), Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung: Việt Nam cần

có những đối sách kịp thời và phù hợp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo nhận định: Tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung của Việt Nam bị ảnh hưởng, mức ảnh hưởng tăng dần và đạt cao nhất vào năm 2020 và 2021

S Rossman, “What is a Trade War? And Why is Trump Targeting China?” (Chiến tranh thương mại là gì? Vì sao Trump nhắm vào Trung Quốc?) USA Today, 6/4/2018 Bài viết của tác giả S.Rossman được đăng trên tạp chí USA Today ngày 6/4/2018, tác giả đưa ra nhận định, nguyên nhân dẫn tới chiến tranh Thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc và tại sao Tổng thống Trump lại nhắm vào Trung Quốc

Felix K.Chang, “The New Long March: Trade War between China and the United States” Asia Program, june 7, 2019 (Chiến tranh thương mại giữa trung Quốc và Hoa Kỳ) được đăng trên trang điện tử FPRI.ORG ngày 07/06/2019 Bài viết của tác giả Felix K.Chang, tác giả đưa ra diễn biến và nhận định về chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, tác giả lập luận trên quan điểm nhìn nhận cuộc chiến Thương mại từ phía Trung Quốc và Mỹ

Trang 15

Nathan Bomey, “How a trade war will whach U.S.car, aircraft exports

to China” USA Today, 04/04/2018 Bài viết của tác giả Nathan Bomey được đăng trên tạp chí USA Today ngày 04/04/2018, tác giả đưa ra những thông tin cho thấy Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã giáng một đòn mạnh vào xuất khẩu oto và máy bay của Mỹ như thế nào

Như vậy, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế cũng như của các học giả đã phần nào nêu rõ những ảnh hưởng cũng như tác động của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đến nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt nam nói riêng Tuy nhiên, tác giả muốn nghiên cứu để bao quát diễn biến chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và cho thấy những tác động đối với Việt Nam

1.1.2 Đánh giá rút ra từ tổng quan và xác định vấn đề nghiên cứu tiếp theo

Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn lại có những đặc thù riêng Hiện tại, khi hai nước đã đạt được thỏa thuận thương mại bảo đảm khả năng tiếp cận thị trường Trung Quốc cho các công ty Mỹ, tuy nhiên Mỹ vẫn đang tìm cách tăng cường kiểm soát mối quan hệ kinh tế - tài chính giữa hai quốc gia

Sau khi tổng quan các công trình nghiên cứu trước, người viết nhận thấy các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến thực trạng chiến tranh thương mại

Mỹ - Trung với nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên người viết muốn nghiên cứu để đưa ra bức tranh tổng quan hơn về Chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung, các nhân tố tác động, những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam

từ đó rút ra một số kiến nghị nhằm tận dụng những cơ hội phát triển và hạn chế những tác động tiêu cực từ cuộc chiến tranh thương mại giữa hai quốc gia nói trên đến nền kinh tế nước ta

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chiến tranh thương mại

1.2.1 Khái niệm, nguyên nhân, cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại

 Khái niệm

Trang 16

Chiến tranh thương mại là tình huống trong đó các nước tham gia vào thương mại quốc tế tìm cách giảm bớt các mặt hàng nhập khẩu cạnh tranh thông qua thuế quan, hạn ngạch hoặc những hạn chế khác đối với hàng nhập khẩu và mở rộng xuất khẩu của mình thông qua các biện pháp thúc đẩy xuất

khẩu (Tài liệu tham khảo: Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân)

Phân loại

1 Hạn ngạch nhập khẩu (giới hạn số lượng hoặc giá trị hàng hóa được hưởng mức thuế quan bình thường, ngoài giới hạn bị đánh thuế cao hơn nhiều lần)

2 Giấy phép nhập khẩu (chỉ những thương nhân đáp ứng được những điều kiện nhất định mới được nhập khẩu)

3 Giám sát nhập khẩu (theo dõi quy trình sản xuất xem có vi phạm quy định do chính mình đặt ra hay không, như sản xuất từ gỗ rừng bất hợp pháp, đánh cá bất hợp pháp…)

4 Quy định tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

5 Quy định an toàn vệ sinh thực phẩm

6 Quy định trách nhiệm xã hội với doanh nghiệp (không sử dụng lao động trẻ em, làm quá giờ quy định…)

7 Yêu cầu báo cáo dữ liệu, lưu hồ sơ với mặt hàng nhập khẩu

8 Yêu cầu đóng tiền ký quỹ với mặt hàng nhập khẩu

9 Yêu cầu chứng minh sản phẩm nhập khẩu không được nhà nước bảo hộ

10 Lệnh cấm vận (thường là tạm thời, hoặc cho đến khi nước xuất khẩu đáp ứng được yêu cầu)

11 Các biện pháp hạn chế thương mại…

Nguyên nhân dẫn tới chiến tranh thương mại

Trang 17

Chiến tranh thương mại giữa các quốc gia bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân cụ thể Nhiều khi chúng ta đặt ra câu hỏi về việc ai hoặc điều gì phải chịu trách nhiệm cho sự xấu đi nghiêm trọng của mối quan hệ giữa các nền kinh tế này ? Để lý giải cho câu hỏi này, chúng ta cùng phân tích nguồn gốc dẫn đến hai cuộc chiến tranh thương mại: Chiến tranh lạnh Mỹ - Liên Xô trước đây và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung hiện tại

Nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung bắt nguồn từ cả nguyên nhân sâu

xa và nguyên nhân cụ thể

=> Nguyên nhân sâu xa

Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung là mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa hai cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới Dự báo, đến năm 2030, GDP danh nghĩa của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ Song, nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP của Trung Quốc hiện nay đã vượt Mỹ Mỹ và Trung Quốc cũng là hai cường quốc thương mại: Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất và xuất khẩu thứ nhì thế giới; Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu thứ nhì thế giới Những năm gần đây, sự cạnh tranh giữa hai siêu cường quốc gia này ngày càng trở nên gay gắt trong bối cảnh sức mạnh của Mỹ có dấu hiệu suy giảm trong khi Trung Quốc đang bộc lộ tham vọng thay thế Mỹ

ở vị trí thống lĩnh bàn cờ địa chính trị thế giới [24]

=> Nguyên nhân cụ thể

Các vấn đề sau được xem là những nguyên nhân cụ thể gây ra căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, đặc biệt từ sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001, dẫn đến chiến tranh thương mại hiện nay [24]

Thứ nhất, chính sách bảo hộ của chính quyền Tổng thống Trump

Trang 18

Thứ hai, thâm hụt thương mại lớn của Mỹ với Trung Quốc

Thứ ba, tham vọng của Trung Quốc trở thành quốc gia công nghệ hàng

đầu thế giới

Thứ tư, tình trạng vi phạm bản quyền nghiêm trọng ở Trung Quốc Thứ năm, các biện pháp hạn chế đầu tư của Trung Quốc

Chiến tranh Lạnh Mỹ - Liên Xô

Trong giai đoạn 1945 - 1947, mối quan hệ Mỹ - Xô chuyển từ đối tác thời chiến căng thẳng, sau là đối đầu sâu sắc về ý thức hệ và địa chính trị, kéo dài hàng thập kỷ sau đó Trên thế giới từng có 4 trường phái riêng rẽ nhằm lý giải nguồn gốc lịch sử của Chiến tranh Lạnh

Cách hiểu thứ nhất, xuất hiện vào cuối những năm 1940 - 1950 quy

trách nhiệm cho Liên Xô

Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối những năm 1950, với ảnh hưởng ngày càng tăng của hiện tượng "vỡ mộng quốc gia" vì chiến tranh Việt Nam, các học giả thuộc chủ nghĩa xét lại đã đảo ngược cách hiểu nói trên Họ quả quyết chính Washington là "tội đồ", chứ không phải Moscow

Cách hiểu thứ hai, Những người theo chủ nghĩa xét lại cho rằng, Mỹ từ

lâu đã là một cường quốc bành trướng, tìm mọi cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng kinh tế, thúc đẩy hệ thống chủ nghĩa tư bản thị trường và truyền bá các giá trị của mình ra khắp thế giới Do đó, nhà lãnh đạo Joseph Stalin có mối quan tâm chính đáng ở Đông Âu và các chính sách của Washington đã buộc Moscow phải lựa chọn giữa bất an và đối đầu Và gần như không có gì đáng ngạc nhiên khi Điện Kremlin chọn đối đầu

Cách hiểu thứ ba kết hợp các thành tố của 2 cách hiểu đầu tiên Các

nhà sử học hậu xét lại thừa nhận Mỹ đã phạm sai lầm Song, họ coi Chiến tranh Lạnh là điều không thể tránh khỏi Sau Thế chiến hai, Mỹ và Liên Xô tự thấy họ là hai quốc gia hùng mạnh nhất thế giới với khoảng trống quyền lực

Trang 19

giữa họ rất lớn Chỉ riêng tình huống này đã dẫn đến sự cạnh tranh Các hệ thống chính trị khác biệt, trải nghiệm lịch sử và các quan niệm khác nhau về cách tốt nhất để tạo ra an ninh đã dẫn đến Chiến tranh Lạnh

Việc hé mở các tài liệu lưu trữ của Liên Xô sau Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến sự xuất hiện của cách hiểu thứ tư

Cách hiểu thứ tư, Các nhà sử học nổi tiếng như John Lewis Gaddis đã

sửa đổi những lý giải trước đó của họ và đổ lỗi nhiều hơn cho Liên Xô nói chung cũng như ông Stalin nói riêng Cách hiểu này được coi là trường phái

"bình mới, rượu cũ" vì nó dẫn tới một kết luận đã có trước đây, rằng Mỹ đã đúng khi chọn đối đầu [26]

1.2.2 Lợi ích trong buôn bán giao thương giữa các quốc gia trên thế giới

Buôn bán giao thương giữa các quốc gia trên thế giới nói chung là hoạt động kinh tế trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã có từ lâu và sự phát triển của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội Con người đã sớm tìm thấy lợi ích của thương mại quốc tế Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa Thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình phát triển Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước: Vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động ngoại thương - Tổ chức quá

trình lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài

1.2.3 Lợi ích các nước khi đánh thuế quan

1.2.3.1 Khái quát về thuế quan

Thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa khi di chuyển qua cửa khẩu của một quốc gia

1.2.3.2 Phân loại thuế quan:

Trang 20

Thuế quan bao gồm: thuế quan xuất khẩu, thuế quan nhập khẩu và thuế quan quá cảnh

Theo phương pháp tính thuế, thuế quan bao gồm: thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tính theo số lượng, thuế quan kết hợp

Theo mức thuế, có thuế quan tối đa, thuế quan tối thiểu, thuế quan ưu đãi Theo mục đích, có thuế quan tài chính, thuế quan bảo hộ

1.2.3.3 Mục đích của việc đánh thuế quan:

- Điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu hoặc bảo hộ sản xuất trong nước

Thuế quan là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu Giá cả hàng hóa thấp hoặc cao có ảnh hưởng đến sức mua của thị trường và đến khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Để khuyến khích (tăng qui mô) xuất, nhập khẩu, Nhà nước áp dụng mức thuế quan thấp; ngược lại, để hạn chế (giảm qui mô) xuất, nhập khẩu Nhà nước áp dụng mức thuế quan cao

- Là một nguồn thu quan trọng trong ngân sách nhà nước

- Là công cụ để phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực với bạn hàng trong quá trình đàm phán [27]

Từ khi WTO ra đời (ngày 01/01/1995), theo nguyên tắc quan hệ đã được xác định giữa các thành viên, những rào cản thuế quan và những rào cản phi thuế quan phải hoàn toàn xóa bỏ Tuy nhiên quá trình hội nhập càng sâu vào nền kinh tế thế giới càng tạo ra sức ép cạnh tranh lớn đối với các quốc gia cũng như các doanh nghiệp, hầu hết các quốc gia đều áp dụng biện pháp bảo

vệ doanh nghiệp trước sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ mạnh hơn Để vừa có thể giảm sức ép cạnh tranh lại vừa đáp ứng được những qui định trong WTO, các nước có xu hướng thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan, có thể hiểu đây chính là biện pháp bảo hộ mới trong điều kiện hội nhập quốc tế

Trang 21

Việt Nam đang tích cực đàm phán để gia nhập WTO, trong khi đó khả năng cạnh tranh của hầu hết các doanh nghiệp còn rất thấp, cần phải tận dụng điều kiện cho phép (đối với thành viên mới có nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp), nghiên cứu áp dụng các biện pháp bảo hộ mới trong khuôn khổ cho phép của WTO, đó là thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan, trong

đó có thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ được các quốc gia sử dụng phổ biến thời gian gần đây

Thuế chống bán phá giá

Theo lập luận, hàng hoá của một nước nào đó được bán phá giá vào thị

trường một nước khác sẽ “bóp méo” cạnh tranh và làm cho hoạt động thương mại không công bằng, vì vậy cho phép các bạn hàng khác thực hiện các biện pháp trừng phạt đối thủ như: cấm, hạn ngạch, thuế quan; trong đó biện pháp thường được các nước sử dụng là tăng thuế quan nhập khẩu đối với những hàng hoá đã xác định là bán phá giá Mức thuế quan được xác định dựa trên kết quả xác định mức phá giá, gọi là thuế chống bán phá giá

Thuế chống bán phá giá là biện pháp hiệu quả nhằm triệt tiêu những tác động bất lợi với ngành sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu đem lại Thông thường, hàng hoá nào bị xác định là bán phá giá, sẽ bị đánh thuế nhập khẩu sao cho không còn khả năng cạnh tranh trên thị trường

 Để có thể áp dụng thuế chống bán phá giá cần nắm vững các vấn đề cơ bản theo qui định của WTO như sau:

Chính phủ các nước chỉ được tiến hành điều tra bán phá giá khi có đơn kiện của một ngành trong nước hoặc đại diện cho ngành gửi tới Bộ thương mại nước đó và Uỷ ban thương mại quốc tế về một hàng hoá đang được bán phá giá Sau khi chứng minh hàng hoá đó bán thấp hơn “giá trị hợp lý” và phải tính được “lề phá giá”, đồng thời phải xác định được lượng hàng nhập khẩu phá giá có sự gia tăng đáng kể gây “thiệt hại” hoặc “đe dọa gây thiệt

Trang 22

hại” cho các nhà sản xuất trong nước, thì Chính phủ mới được phép đánh thuế

tại nước xuất khẩu (thuế GTGT, thuế TTĐB…)

Trong trường hợp xác nhận có hiện tượng bán phá giá sẽ được áp dụng

các biện pháp tạm thời: thuế phá giá tạm thời; yêu cầu người nhập khẩu phải đặt cọc một khoản tiền; đình chỉ việc định giá hải quan tạm thời đình chỉ việc bán hàng hoá nhập khẩu đó trên thị trường Mức thuế áp dụng tạm thời hoặc khoản tiền đặt cọc không được phép vượt quá mức bán phá giá và không được

áp dụng sớm hơn 60 ngày kể từ ngày bắt đầu điều tra Biện pháp tạm thời chỉ

được thực hiện trong một thời gian nhất định tối đa không vượt quá 4 tháng Thuế chống phá giá phải được thu trên cơ sở không phân biệt đối xử

với hàng nhập khẩu từ các nguồn bị coi là bán phá giá; phải có những qui định hoàn thuế nhanh chóng với những khoản nộp quá mức bán phá giá Thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng trong 5 năm, trừ trường hợp trước khi hết hạn nước chủ nhà xem xét lại và nhận thấy cần phải duy trì tiếp tục để tránh

thiệt hại cho sản xuất trong nước

Về thuế chống trợ cấp

Theo lập luận, hàng hoá của một nước nếu được Chính phủ thực hiện các biện pháp trợ cấp trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi nhập khẩu vào thị trường nước khác đã tạo ra một sự không công bằng trong cạnh tranh với hàng hoá cùng loại được bán trên cùng một thị trường Vì vậy, WTO cho phép các nước được thực hiện các biện pháp trừng phạt khi hàng nhập khẩu

Trang 23

do có trợ cấp đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với sản xuất của nước nhập khẩu Các biện pháp áp dụng chống trợ cấp tương tự chống bán phá giá, nước nhập khẩu cũng thường sử dụng biện pháp đánh thuế chống trợ cấp, còn gọi là

“thuế đối kháng” Nếu nước nhập khẩu chứng minh là lượng hàng hoá vào thị trường của họ tăng nhanh do được trợ cấp từ nước xuất khẩu, thì họ sẽ áp đặt một mức thuế đủ để làm mất sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu, giúp loại bỏ

đối thủ cạnh tranh quá mạnh đối với các nhà sản xuất kinh doanh trong nước

Thuế chống trợ cấp được áp dụng sau quá trình điều tra làm rõ cá nhân

tố trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, để chứng minh hàng nhập khẩu đã được hưởng trợ cấp từ chính phủ nước xuất khẩu không hề đơn giản, nhất là hiện nay trợ cấp được thực hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, có hình thức trợ cấp được gọi là trợ cấp gián tiếp (trợ cấp “đèn xanh”) không bị áp dụng thuế đối kháng; chỉ được áp dụng thuế đối kháng với hình thức trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn đỏ”) hoặc biến tướng của trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn vàng”) Việc tìm ra bằng chứng trợ cấp rất phức tạp, vì vậy muốn thực hiện biện pháp đánh thuế chống trợ cấp để bảo vệ thị trường nội địa, cần ban hành Luật chống trợ cấp, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu có kiến thức kinh tế

vững vàng và có khả năng nắm bắt thông tin đầy đủ từ phía các đối tác

Thuế chống trợ cấp có ảnh hưởng mạnh hơn thuế chống bán phá giá, vì

nó không chỉ tác động vào doanh nghiệp như thuế chống bán phá giá, mà còn tác động trực tiếp đến chính phủ nước thực hiện trợ cấp, nếu không có đủ trình độ minh chứng đối phương đã thực hiện biện pháp trợ cấp trái với qui định trong WTO, thì sẽ gặp phải phản ứng mạnh và có thể gây nên những thiệt hại lớn hơn trong quan hệ thương mại Ngược lại, một nước bị phía đối phương tìm ra bằng chứng là đã thực hiện những biện pháp trợ cấp không cho phép đối với mặt hàng nào đó, sẽ có nguy cơ không có chỗ đứng trên thị

Trang 24

trường thế giới, vì sẽ bị tất cả các đối tác khác đồng loạt áp dụng thuế chống

trợ cấp

+ Về thuế tự vệ thương mại

Trong quan hệ thương mại, WTO chấp nhận các nước được áp dụng biện pháp bảo vệ cho một ngành hàng nào đó khi hàng nhập khẩu gia tăng nhanh chóng vào thị trường đã gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể dẫn tới nguy cơ phá sản cho lĩnh vực sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh (ngành non trẻ hoặc ngành quá già cỗi cần có thời gian đầu tư nâng cấp) Biện pháp này được coi là dễ áp dụng nhất, vì chỉ cần hai yếu tố cơ bản là “tăng nhanh nhập khẩu” và “thiệt hại đối với sản xuất trong nước” Hai yếu tố này lại có thể minh chứng ngay tại nước nhập khẩu nên số liệu dễ tìm Tuy nhiên, biện pháp tự vệ không cho phép kéo dài, mà chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định đủ để ngành đó có thêm thời gian nâng cao sức

cạnh tranh

Như vậy, Biện pháp tự vệ thường được các nước phát triển áp dụng trong quan hệ thương mại với những nước tương đương về tiềm lực Ví dụ, năm 2003 với lý do cần bảo vệ ngành thép đang bị già cỗi, Hoa Kỳ tăng thuế nhập khẩu thép từ Nga và EU Gần đây nhất, (tháng 4/2005) với lý do bảo vệ cho ngành dệt may, EU tuyên bố áp dụng biện pháp tự vệ với hàng dệt may

Trung Quốc vào EU trong thời gian 150 ngày

Biện pháp tự vệ có thể áp dụng dưới nhiều hình thức, như: hạn ngạch, thuế nhập khẩu phụ thu… nhưng biện pháp thường dùng vẫn là thuế nhập khẩu Mức độ áp dụng tự vệ tương đối tự do, nên tác động hạn chế nhập khẩu thường cao hơn thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, khi

áp dụng biện pháp tự vệ sẽ tác động đến lợi ích nước xuất khẩu không phải vì

lý do cạnh tranh không công bằng như hai biện pháp trên mà là do năng lực cạnh tranh quá yếu của nước sở tại, nên thường vấp phải những phản ứng từ

Trang 25

phía nước xuất khẩu Vì vậy, các nước tiến hành biện pháp tự vệ thường phải

có cách đền bù cho các nước bị ảnh hưởng bằng cách đưa ra nhượng bộ

thương mại ở lĩnh vực khác và phải cân nhắc kỹ trước khi áp dụng

Qua các biện pháp đã phân tích ở trên, cho thấy khi hàng nhập khẩu

tăng nhanh vào một thị trường trong thời gian ngắn, thì nước chủ nhà sẽ tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp kìm hãm, do đó khôn ngoan nhất là không nên tăng quá nhanh một mặt hàng nào đó vào một thị trường bằng biện pháp giá rẻ; ngược lại, nếu một hàng nhập khẩu nào đó tăng nhanh vào thị trường nội địa của mình cũng nên tìm ra nguyên nhân để giải quyết, nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong nước ngay chính thị trường của mình

 Ngoài những biện pháp bảo vệ nêu trên, cần có biện pháp tổng hoà từ cả

ba phía:

Về phía Chính phủ: Có thể trợ giúp bằng nhiều cách, như: Cải cách

mạnh mẽ cơ chế quản lý, cơ chế pháp lý (ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước; hệ thống văn bản pháp lý phải đồng bộ, có tính khả thi

và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế); hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân

lực, tạo cơ hội tiếp cận các nguồn vốn…

Về phía các cơ quan tham mưu: Trực tiếp giúp Chính phủ quản lý nhà

nước về ngành, lĩnh vực được giao (đặc biệt là các cơ quan như Tài chính, Thuế, Hải quan…): Một mặt, phải tích cực thực hiện hiện đại hoá và cải cách hành chính, xoá bỏ tiêu cực, áp dụng các biện pháp quản lý có hiệu quả; mặt khác hỗ trợ các doanh nghiệp những thông tin có tính cảnh báo, như: tập quán thị trường, giá cả, dung lượng thị trường, các loại rào cản ở từng thị trường và

những nguy cơ tiềm ẩn

Trang 26

Về phía doanh nghiệp: Ngoài việc phải tự nâng cao năng lực cạnh

tranh, cần chủ động tìm hiểu luật pháp và tập quán thương mại của thị trường nhập khẩu, hết sức tránh vấp phải những biện pháp tự vệ của đối phương Trong trường hợp gặp những đối kháng từ phía đối phương hoặc bị đối phương cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường nội địa, cần kết hợp chặt chẽ với Hiệp hội ngành nghề và Chính phủ để tìm biện pháp giải quyết có

hiệu quả nhất, không để xảy ra những tổn thất đáng tiếc

Hội nhập quốc tế sẽ mang lại lợi ích to lớn với những quốc gia biết vượt qua thách thức để tận dụng tối đa cơ hội; nhưng cũng có thể sẽ mang lại những tổn thất cho những quốc gia không tìm ra được biện pháp phù hợp cho mình

1.2.3.4 Nhìn trên tổng thể thuế quan có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực

cho từng nhóm lợi ích

Thuế quan có thể bảo vệ các nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh

tranh từ nước ngoài bằng cách làm tăng giá bán của hàng nhập khẩu

Mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhà nước, chính phủ

Thuế quan cũng đồng thời làm tăng giá của các mặt hàng nhập khẩu trong nước Điều này ảnh hưởng đến khả năng mua sắm hàng nhập khẩu của người dân tại Quốc gia đó Giá xe ô tô nhập khẩu quá đắt như tại Việt nam

hiện nay chính là một biểu hiện rõ nhất

Việc áp dụng thuế quan cũng làm giảm hiệu quả tổng thể của toàn bộ nền kinh tế bởi vì khoản thuế này sẽ khuyến khích các công ty nội địa sản xuất những sản phẩm mà theo lý thuyết có thể được sản xuất một cách hiệu quả hơn ở nước ngoài

1.2.3.5 Phí tổn thuế quan

Phí tổn thuế quan là tổn thất các nước phải chịu khi đánh thuế quan Phí tổn thuế quan tác động đến cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, gây tổn thất xã

Trang 27

hội, giảm, triệt tiêu lợi ích từ thương mại, giảm quy mô buôn bán đẫn đến phúc lợi xã hội giảm

Phí tổn thuế quan gây tổn thất cho người tiêu dùng, thặng dư của người tiêu dùng bị thiệt hại nhiều hơn so với thặng dư của nhà sản xuất được hưởng Chính phủ được lợi là thu thêm được một khoản thu từ thuế

1.2.4 Lợi ích khi các nước lớn đánh thuế trả đũa lẫn nhau

Bảo hộ thương mại là thuật ngữ kinh tế học, theo đó quốc gia áp đặt thuế nhập khẩu cao hoặc áp dụng các hàng rào kỹ thuật (yêu cầu cao về chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ ) đối với một hoặc một số mặt hàng (hay dịch vụ) mà mình có lợi thế để hạn chế nhập khẩu, bảo

vệ ngành sản xuất hàng hóa (hay dịch vụ) của mình

Tại châu Âu, xu hướng bảo hộ thương mại thể hiện rõ nét nhất khi nước Anh tổ chức trưng cầu dân ý (Brexit) vào năm 2016, và hiện đang đàm phán các thủ tục để rời EU, tạo ra các điều kiện, cơ hội để nước Anh đàm phán thương mại song phương với các đối tác mới trên phạm vi toàn thế giới

Tại Mỹ, ngay từ khi tranh cử Tổng thống năm 2016, Ông Donald Trump luôn nêu ra khẩu hiệu “Nước Mỹ trước hết” Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Donald Trump thực hiện chủ trương, bất chấp những phản đối từ ngay trong nội bộ chính giới nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ Ngày 23/1/2017, Tổng thống Donald Trump đã ký sắc lệnh rút Mỹ khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ và 11 nước trong khu vực đã

ký Tiếp đó, ngày 17/5/2017, Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức gửi thông báo tới Quốc hội nước này về kế hoạch đàm phán lại Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ký kết với Canada và Mexico Đồng thời, Tổng thống Mỹ Donald Trump chủ trương đàm phán và thúc đẩy các hiệp định thương mại song phương thay vì đa phương nhằm phát huy lợi thế của Mỹ và gia tăng lợi ích của Mỹ trong thương mại quốc tế; thúc

Trang 28

đẩy xu hướng gia tăng bảo hộ và sẵn sàng tăng thuế nhập khẩu đối với mặt hàng mà Mỹ có lợi thế để bảo vệ sản xuất trong nước [28]

Trong năm 2017, Mỹ đã khởi xướng 02 vụ việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ (với pin năng lượng mặt trời và máy giặt) Ngày 8/3/2017 (ngày 9/3 theo giờ Việt Nam), Tổng thống Mỹ đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép và nhôm theo Mục 232 Đạo luật Thương mại

mở rộng năm 1962 (Trade Expansion Act) dưới hình thức tăng thuế nhập khẩu Cụ thể, một số sản phẩm thép và nhôm nhập khẩu vào Mỹ sẽ phải chịu mức thuế 25% với thép và 10% với nhôm Quyết định này của Mỹ sẽ có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành Lý do áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu thép và nhôm bằng chính sách tăng thuế nhập khẩu được chính quyền Tổng thống Trump đưa ra là vì “an ninh quốc gia” [28]

Bảo hộ thương mại đã lên đến đỉnh điểm tính đến thời điểm hiện nay là xung đột thương mại Mỹ - Trung Quốc chính thức nổ ra khi Quyết định của Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump áp thuế đối với các mặt hàng nhập khẩu trị giá 34 tỷ USD từ Trung Quốc, chủ yếu là máy móc, thiết bị điện

tử và công nghệ cao đã chính thức có hiệu lực từ ngày 6/7/2018 và Trung Quốc áp dụng các biện pháp đáp trả Hiện không ai có thể đoán chắc cuộc xung đột thương mại này sẽ kéo dài bao lâu, cũng như mức độ tác động của

nó [28]

Trung Quốc vốn được đánh giá là hưởng lợi từ thương mại tự do, cũng đang theo đuổi chính sách giảm nhập khẩu từ các nước bằng các biện pháp bảo hộ những mặt hàng, sản phẩm sản xuất ở trong nước Đồng thời, Trung Quốc cũng rất chú trọng đến việc nâng cao chất lượng các mặt hàng xuất khẩu, đảm bảo tính cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu nước này ra thị trường thế giới [28]

1.2.4.1 Đánh thuế Trung Quốc, Mỹ lợi hàng tỉ USD

Trang 29

Tổng thống Mỹ Donald Trump khẳng định việc áp thuế nhập khẩu với hàng hóa Trung Quốc đang mang lại hiệu quả tích cực và giúp Mỹ thu về hàng tỉ USD khi nhiều nhà sản xuất rời Trung Quốc để đến các nước khác, gồm Mỹ

"Rất nhiều công ty đang rời Trung Quốc để sang các nước khác, trong đó có

Mỹ, nhằm tránh phải chi trả mức thuế mới Không có dấu hiệu cho thấy giá cả

và lạm phát tăng, trong khi Mỹ đang thu về hàng tỉ USD"

Mỹ rất quan ngại việc các công ty của phương Tây, của Mỹ cũng như nhiều nước khác hoạt động tại thị trường Trung Quốc đang không được đối

xử như cách mà các công ty Trung Quốc được đối xử khi vào các thị trường phương Tây

Các tuyên bố của chính quyền Trump đưa ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 10-5 ra lệnh áp mức thuế bổ sung, tăng từ 10% lên 25% đối với 200 tỉ USD hàng hóa Trung Quốc, đúng thời điểm hai bên đang tiến hành đàm phán [29]

Ông Trump thậm chí còn đe dọa áp thuế 25% đối với toàn bộ hàng hóa còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc có giá trị khoảng 325 tỉ USD [29]

Đáp lại, Trung Quốc đã tăng thuế đối với 60 tỉ USD hàng hóa nhập khẩu của

Mỹ từ ngày 1/6/2020 [29]

1.2.4.2 Trung Quốc trả đũa Mỹ

Ngày 13/5/2019, Chính quyền Trung Quốc loan báo tăng thuế hải quan

từ ngày 1/6/2019 đối với 60 tỉ đô la hàng Mỹ, thấp hơn nhiều so với số 200 tỉ

đô la hàng Trung Quốc bị Hoa Kỳ áp thuế

Từ tháng 7/2018, Trung Quốc đã áp đặt nhiều mức thuế quan, có thể lên đến 25% trên 110 tỉ đô la hàng Mỹ nhập khẩu Theo số liệu từ Census Bureau của Hoa Kỳ, Bắc Kinh chỉ có thể đánh thuế thêm khoảng 12 tỉ đô la hàng Mỹ nữa như dầu lửa và máy bay - nếu phải trả đũa đợt áp thuế mới của

Trang 30

Washington Ngược lại, tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa áp thêm thuế lên 300 tỉ đô la hàng hóa Trung Quốc

Thời gian qua, Trung Quốc đã ban hành hàng loạt biện pháp như nới lỏng chính sách tiền tệ và cắt giảm thuế để nâng đỡ nền kinh tế Chính quyền Bắc kinh đang dùng các biện pháp kích thích tài chính và nới lỏng các biện pháp siết chặt quản lý thị trường bất động sản

Các nhà phân tích kinh tế nhận định vòng áp thuế mới của Mỹ có thể khiến kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc giảm 2,7% và GDP của nước này thiệt hại khoảng 1%

Tuy nhiên nhiều nhà phân tích nhận định Bắc Kinh sẽ sử dụng chiến lược kiên nhẫn chờ đợi các khó khăn qua đi hơn là đầu hàng trước các yêu cầu của Mỹ Các chuyên gia dự báo Bắc Kinh có thể đưa ra các chính sách tài chính khuyến khích đầu tư hạ tầng và nâng sức mua ở khu vực nông thôn để

hỗ trợ tăng trưởng

Kết luận chương 1

Nghiên cứu chiến tranh thương mại Mỹ - trung có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn Mỹ và Trung Quốc đều là những cường quốc trên thế giới, Việt Nam có quan hệ thương mại với cả hai quốc gia nói trên Chiến tranh thương mại giữa hai quốc gia này có tác động không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ

Trang 31

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Khung phân tích và nguồn số liệu

2.1.1 Khung phân tích

Vấn đề đầu tiên được đưa ra phân tích là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung; cần phải làm rõ, nắm bắt và phân tích được các yếu tố cũng như hoàn cảnh đẩy tới cuộc chiến tranh thương mại giữa hai cường quốc trên thế giới này Mối quan hệ thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc trước, trong và sau này khi diễn ra chiến tranh thương mại; mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc - Việt Nam, Hoa kỳ - Việt Nam Từ đó đưa ra nhận định những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung

Trang 32

Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế các tác động tiêu cực, cũng như tận dụng các cơ hội có được từ Chiến tranh TM Mỹ - Trung để phát triển nền kinh tế Việt Nam

Xác định những tác động đối với Việt Nam từ cuộc chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung

Nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến cuộc chiến tranh thương

mại Mỹ - Trung

Mối quan hệ TM

giữa Việt Nam - Mỹ

đưa ra nhận định về thách thức cũng như cơ hội phát triển đối với nền kinh tế Việt Nam từ cuộc chiến tranh TM này

Kết luận

Mối quan hệ TM giữa Mỹ - Trung thời gian trước, trong và sau khi chiến tranh TM diễn ra

Mối quan hệ TM giữa Việt Nam - Trung Quốc

Trang 33

2.1.2 Nguồn số liệu

 Nguồn số liệu thứ cấp

Luận văn tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu có sẵn về vấn đề “Chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung Quốc” Số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu thứ cấp, lấy từ nguồn:

- Các báo cáo, nghiên cứu về Chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung Quốc

- Các báo cáo, nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Mỹ- Việt Nam

- Các báo cáo, nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Trung Quốc – Việt Nam

- Các số liệu được thống kê, khái quát thành bảng biểu và sơ đồ để tiến hành phân tích, đánh giá

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1 Phương pháp thống kê

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê các số liệu sau khi thu thập số liệu điển hình thông qua các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp về “ Chiến tranh Thương mại Mỹ- Trung Quốc và những tác động đối với Việt Nam”, sau đó tiến hành phân tích, đánh giá, so sánh dựa trên kết quả thống kê được

Kết luận chương 2

Trang 34

Trong chương này đã nêu ra quy trình nghiên cứu của tác giả đối với vấn đề nghiên cứu gồm 04 bước

Nội dung tiếp theo của chương đề cập tới 2 nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp mà tác giả sử dụng Trong đó dữ liệu thứ cấp gồm có: sách, tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học và các tài liệu tổng hợp khách từ nguồn Internet liên quan tới cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc

Từ những số liệu thu thập được, sử dụng các phương pháp phân tích,

xử lý thông tin các số liệu đó

Toàn bộ chương này đã đề cập đến các phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập số liệu, từ đó có những hoạch địch ban đầu để làm căn cứ cho chương tiếp theo

Trang 35

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUỐC

VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM

3.1 Khái quát về chiến tranh thương mại nói chung và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc nói riêng

3.1.1 Khái quát về chiến tranh thương mại

Chiến tranh thương mại là hiện tượng trong đó hai hay nhiều nước tăng hoặc tạo ra thuế hoặc các loại rào cản thương mại (gồm: giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, viện trợ đối với các ngành sản xuất trong nước/nội địa, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, yêu cầu khắt khe đối với hàng hóa nhập vào nội địa, lệnh cấm vận, hạn chế thương mại, và sự làm mất giá tiền tệ) với nhau nhằm đáp trả những rào cản thương mại của nước đối lập Chế độ bảo hộ tăng cường làm cho sự sản xuất hàng hóa của cả hai nước tiến dần đến mức tự cung tự cấp (để đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng không được thỏa mãn bởi nhập khẩu hạn chế)

Nhiều nhà kinh tế học cho rằng những sự bảo hộ đối với một số ngành nhất định hao tốn tiền của hơn những sự bảo hộ đối với các ngành khác, bởi

nó có thể gây ra chiến tranh thương mại Nếu một quốc gia tăng thuế nhập khẩu, quốc gia đối lập có thể trả đũa bằng biện pháp tương tự Nhưng sự tăng trợ cấp rất khó để trả đũa Những nước nghèo dễ tổn thương hơn những nước giàu trong chiến tranh thương mại; khi tăng sự bảo hộ chống lại sự bán phá giá của những sản phẩm giá rẻ, chính phủ nước đó có nguy cơ làm cho sản phẩm quá đắt đối với người tiêu dùng nội địa

3.1.2 Khái quát về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc

Chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ (còn được gọi tắt

là Cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ) khởi đầu vào ngày 22/3/2018 khi

Trang 36

Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đánh thuế 50 tỷ USD đối với hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ, để ngăn chặn những gì họ cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ

Trong vài tháng kể từ khi cuộc chiến tranh thương mại diễn ra, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có nhiều động thái trả đũa lẫn nhau, đánh thuế đối với nhiều mặt hàng, như nông sản, ô tô, hóa chất, máy móc, kim loại và thiết bị y tế Tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ có tác động đối với các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam Bởi vì, Hoa Kỳ và Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam và hàng hóa của Việt Nam nằm trong chuỗi giá trị của Trung Quốc, cuộc chiến thương mại này sẽ

có tác động trực tiếp và gián tiếp đến chúng ta

3.2 Phân tích thực trạng Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc đang diễn ra hiện nay

3.2.1 Diễn biến của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung

Ngày 28/4/2017, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) được

ủy quyền điều tra việc áp thuế nhập khẩu nhôm/thép từ các nước trên thế giới,

họ coi đây là mối nguy hại cho an ninh quốc gia Tiếp đó, ngày 22/5/2017, Mỹ và Trung Quốc đạt được một thỏa thuận thương mại; theo đó, Trung Quốc mở rộng tiếp cận thị trường nông nghiệp, năng lượng và tài chính cho doanh nghiệp Mỹ; đổi lại, Trung Quốc được phép xuất khẩu gia cầm nấu chín tới Mỹ Ngày 18/8/2017, USTR khởi xướng điều tra các chính sách, điều luật và biện pháp của chính phủ Trung Quốc liên quan tới chuyển đổi công nghệ, sở hữu trí tuệ và sáng chế

Sau khi thông báo sẽ đánh thuế tất cả các mặt hàng nhập khẩu từ thép

và nhôm, bao gồm cả hàng hóa Trung Quốc (ngày 01/3/2018), ngày 22/3/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký biên bản ghi nhớ theo Mục

301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, chỉ đạo Đại diện Thương mại Mỹ

Trang 37

(USTR) áp dụng đánh thuế 50 tỷ USD cho hàng hóa Trung Quốc Đáp trả hành động của Mỹ, ngày 02/4/2018, Bộ Thương mại Trung Quốc đã áp đặt thuế đối với 128 sản phẩm của Mỹ, bao gồm: phế liệu nhôm, máy bay, ô tô, sản phẩm thịt lợn và đậu nành (có thuế suất 25%), cũng như trái cây, hạt và ống thép (15%)

Ngày 02/4/2018, Trung Quốc áp thuế nhập khẩu (15-25%) lên 128 hàng hóa (trị giá 3 tỷ USD) từ Mỹ, bao gồm: hoa quả, rượu, ống thép, lợn và nhôm tái chế

Tiếp đó, ngày 3/4/2018, USTR công bố danh sách ban đầu gồm 1,334 mặt hàng từ Trung Quốc (trị giá 50 tỷ USD) sẽ bị áp thuế nhập khẩu 25% (danh sách có sửa đổi vào ngày 15/6/2018), chủ yếu là các mặt hàng công nghệ cao,

để bù đắp lại những thiệt hại mà Mỹ cáo buộc là do Trung Quốc vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ gây ra

Xung đột thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra ngày càng căng

thẳng hơn, khi Trung Quốc hủy đơn hàng mua đậu tương của Mỹ Ngày 20/5/2018, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết: Chúng tôi đang đưa cuộc chiến thương mại vào tình trạng trì trệ Nhà Trắng đã công bố vào ngày 29/5/2018 sẽ áp đặt mức thuế 25% đối với trên 50 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc, với công nghệ quan trọng trong công nghiệp, danh sách đầy đủ các sản phẩm bị ảnh hưởng sẽ được công bố trước ngày 15/6/2018 và mức thuế sẽ được thực hiện ngay sau đó

Chính phủ Mỹ cũng cho biết, sẽ công bố và áp đặt các hạn chế đầu

tư và tăng cường kiểm soát xuất khẩu cho các cá nhân và tổ chức Trung Quốc, để ngăn chặn họ mua lại công nghệ của Mỹ Ngày 3/6/2018, Trung Quốc đã cảnh báo rằng, tất cả các cuộc đàm phán thương mại giữa Bắc Kinh và Washington sẽ bị vô hiệu, nếu Mỹ thiết lập các biện pháp trừng phạt thương mại

Trang 38

Thực hiện công bố trên, ngày 15/6/2018, Tổng thống Donald Trump tuyên bố: Mỹ sẽ áp đặt mức thuế 25% trên 50 tỷ USD xuất khẩu của Trung Quốc Trong đó, 34 tỷ USD sẽ bắt đầu vào ngày 6/7/2018, 16 tỷ USD còn lại

sẽ tính từ ngày sau đó Với hành động đó, Bộ Thương mại Trung Quốc cáo buộc, Mỹ đã châm ngòi cho một cuộc chiến thương mại và Trung Quốc sẽ đáp trả với mức thuế tương tự đối với hàng nhập khẩu của Mỹ, bắt đầu từ ngày 6/7/2018, ba ngày sau, ngày 9/7/2018, Nhà Trắng tuyên bố, Mỹ sẽ áp đặt thêm 10% thuế quan đối với hàng nhập khẩu trị giá 200 tỷ USD nếu Trung Quốc trả đũa các mức thuế của Mỹ

Bộ Thương mại Trung Quốc trả lời nhanh chóng rằng Trung Quốc sẽ đáp trả Mỹ Theo đó, Trung Quốc đã kích hoạt mức thuế trả đũa cho cùng một

số tiền Thuế suất chiếm 0,1% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu… Tình hình hiện nay cho thấy, căng thẳng thương mại vẫn còn tiếp diễn, ngày càng gay gắt và chưa có dấu hiệu sẽ dừng lại Ngày 5/9/2019, Mỹ và Trung Quốc đồng thuận tiến hành vòng đàm phán thương mại thứ 13 vào đầu tháng 10/2019 tại Washington

+ Dịch Virus corona và chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung ngày càng nóng

Chiến tranh Thương mại Mỹ - Trung không có dấu hiệu hạ nhiệt khi

mà dịch Covid-19 đang làm suy yếu thêm thỏa thuận ngừng chiến song phương trên mặt trận mậu dịch ký kết ngày 15/01/2020 Cả Washignton lẫn Bắc Kinh cùng lớn tiếng đe dọa đối phương chấm dứt đối thoại

Về mặt chính thức, cho đến ngày 08/05/2020 đôi bên cùng tuyên bố tạo “điều kiện thuận lợi thực thi thỏa thuận sơ bộ nhằm đạt được những kết quả tích cực về kinh tế và thương mại”, chấm dứt cuộc đọ sức kéo dài từ tháng 3/2018 Chỉ một tuần sau đó, tại Mỹ, dịch Covid-19 đẩy thêm vài triệu

Trang 39

người lao động vào cảnh thất nghiệp, những khó khăn kinh tế chồng chất đe dọa thêm khả năng tái đắc cử của tổng thống Mỹ Donald Trump

Năm 2020, Dịch Covid-19 đã tạo ra cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất trong một thế kỷ, khiến hơn 4,5 triệu người nhiễm và hơn 300.000 người chết và con số này vẫn còn tiếp tục gia tăng, đồng thời đẩy nền kinh tế toàn cầu chìm sâu trong suy thoái Đại dịch cũng làm tất cả kịch bản tồi tệ nhất của mối quan hệ Mỹ - Trung, đẩy hai nước tiến sát tới bờ vực đối đầu kể từ khi thiết lập quan hệ cách đây 4 thập kỷ

Ngày 14/5/2020, Tổng thống Trump nói rằng ông thất vọng với cách Trung Quốc xử lý Covid-19 và có thể trả đũa bằng cách cắt hoàn toàn quan

hệ với nước này “Tôi có mối quan hệ rất tốt đẹp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, nhưng ngay bây giờ tôi không muốn nói chuyện với ông ấy”, Tổng thống Mỹ nói trong cuộc phỏng vấn với Fox Business Network và khẳng định có thể “tiết kiệm được 500 tỷ USD” nếu cắt toàn bộ quan hệ với Trung Quốc

Căng thẳng này có thể sẽ ngày càng leo thang trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11/2020 Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày càng ra sức đổ lỗi cho Trung Quốc muốn lợi dụng dịch bệnh Covid-19 để làm ông thất cử Trong khi đó, Trung Quốc cũng đang huy động mọi nguồn lực tiến hành chiến lược nhằm bảo vệ hình ảnh, trong bối cảnh xuất khẩu giảm và thất nghiệp tăng, khiến quốc gia này rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất trong nhiều năm qua

Cuộc tấn công của dịch Covid-19 vào cả Mỹ và Trung Quốc dường như đã làm xấu thêm mối quan hệ song phương và đẩy nó đến bờ vực đổ vỡ

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1979, hai nước chưa từng rơi vào thế nguy hiểm và đối đầu như hiện nay

Ngày đăng: 24/06/2021, 18:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w