Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý của nhà nư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN HỮU DÀO
Hà Nội, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội , ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Thắm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Trần Hữu Dào
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 5
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân 5
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 9
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 21
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 26
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân của các nước trên thế giới và ở Việt Nam 26
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đặc điểm cơ bản của quận Cầu Giấy 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
Trang 52.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 45
3.1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân tại quận Cầu Giấy 45
3.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 47
3.2 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 54
3.2.1 Đánh giá của cán bộ quản lý 54
3.2.2 Đánh giá của các doanh nghiệp tư nhân 56
3.2.3 Đánh giá chung 57
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 62
3.3.1 Tiếp cận nguồn tín dụng thương mại 62
3.3.2 Cơ sở vật chất và đất đai 63
3.3.3 Hệ thống thuế hiện hành 64
3.4 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 65
3.4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển doanh nghiệp trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 65
3.4.2 Một số giải pháp công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 68
3.4.3 Một số kiến nghị 88
KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình biến động số lƣợng doanh nghiệp theo lĩnh vực kinh
doanh giai đoạn 2014 – 2016 45
Bảng 3.2 Thực trạng cơ cấu DN ngành nghề năm 2016 46
Bảng 3.3 Đóng góp của các DNTN vào phát triển kinh tế xã hội 47
Bảng 3.4 Kết quả hỗ trợ về đào tạo nhân lực 51
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Cầu Giấy 54 Bảng 3.6 Đánh giá của cán bộ quản lý 55
Bảng 3.7 Đánh giá của doanh nghiệp tƣ nhân 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân trên từng địa bàn tỉnh, thành, phố, vùng miền nói chung và trên từng địa phương nói riêng cần phải được quan tâm và thu được hiệu quả cao hơn nữa, nó không còn nằm trong khuôn khổ của những kế hoạch cứng nhắc mà chịu tác động chi phối bởi các quy luật kinh tế thị trường Trong quá trình quản lý kinh tế đó, không ít các địa phương đã thu được hiệu quả tích cực, cũng như tồn tại những địa phương chưa hoàn thành tốt công tác quản lý của mình Nhiều địa phương vẫn có không ít các doanh nghiệp tỏ ra lúng túng, làm ăn thua lỗ, thậm chí đi tới phá sản
Để các doanh nghiệp tư nhân có thể đứng vững trước qui luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải vận động, tìm tòi hướng đi cho phù hợp, song cũng cần sự giúp đỡ, hỗ trợ từ các
cơ quan quản lý kinh tế của nhà nước trên địa bàn tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp có được sự ủng hộ lớn nhất có thể duy trì, phát triển quy mô, tạo công ăn việc làm và đóng góp nộp ngân sách nhà nước
Quản lý kinh tế của nhà nước là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng trong mọi nền kinh tế Việc quản lý nền kinh tế là việc mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến vấn đề quản lý các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp có huy động được nguồn tài chính, giảm thiểu các thủ tục đăng ký kinh doanh, tạo điều kiện thông thoáng nhất có thể các doanh nghiệp có không gian phát triển, giúp nền kinh
tế địa phương phát triển ngày một bền vững hơn
Trang 9Do đó, việc nghiên cứu và xem xét về vấn đề quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân là một đòi hỏi tất yếu đối với sự phát triển kinh
tế từng địa phương trong giai đoạn hiện nay Việc đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý đối với các doanh nghiệp tư nhân của nhà nước đang là môt bài toán rất khó đòi hỏi cơ quan có liên quan cần phải quan tâm đến Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đến sự tồn tại và phát triển kinh tế trên từng địa bàn cũng như của doanh nghiệp, đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế của nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cần phải có độ nhạy bén, linh hoạt trong quá trình quản lý và hoạt động kinh doanh của mình
Hiệu quả kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn đạt được ngày càng cao sau mỗi kỳ hoạt động kinh doanh được coi là mục tiêu của các cơ quan quản lý nhà nước và của cả mỗi doanh nghiệp
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Quận Cầu Giấy đã đạt được một số kết quả tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó công tác này vẫn còn một số hạn chế nhất định cần phải có giải pháp thão gỡ
Xuất phát từ sự cấp thiết và cấp bách đó, tác giả đã chọn đề tài: “ Tăng
cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về doanh nghiệp tư nhân và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
Trang 10- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước và thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi về nội dung:
Tập trung đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
* Phạm vi về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên phạm
vi quận Cầu Giấy, Hà Nội
* Phạm vi về thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2014 đến năm 2016
- Thu thập số liệu sơ cấp từ 11/2017 đến 4/2018
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
- Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
- Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
5 Kết cấu của luận văn
Trang 11Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh[13]
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân[16]
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ
Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân Bởi vậy mà chủ DNTN có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trong trường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng
ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp),
có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân là khi có đủ các điều kiện sau: thứ nhất, được thành lập hợp pháp; thứ hai, có cơ cấu tổ chức rõ ràng; thứ ba, có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; thứ tư, nhân danh mình khi tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Trang 13Có thể thấy DNTN không thỏa mãn điều kiện thứ ba, tài sản của DNTN không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp Tiêu chuẩn đầu tiên để xét tính độc lập về tài sản của một doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp đó phải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này, vì thế nó không hội đủ điều kiện cơ bản để có được tư cách pháp nhân
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
Khác với các loại hình Công ty là sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu, Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp mà vốn đầu tư thuộc sở hữu duy nhất một người là chủ doanh nghiệp tư nhân Loại hình doanh nghiệp này rất phù hợp với ai muốn độc lập tự chủ trong kinh doanh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của bản thân và doanh nghiệp
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
- DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc công ty cổ phần
- Doanh nghiệp tư nhân ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó
1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân[16]
Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc thúc
đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch
vụ tổng hợp và các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Điều đó sẽ
Trang 14dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia Chính sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền
Thứ hai, DNTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng
lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động
Nhìn chung lợi thế nổi bật của DNTN là có thể thu hút một lực lượng lao động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng miền của đất nước, ở tất cả mọi tầng lớp dân cư… Như vậy, doanh nghiệp góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động Ngoài việc tạo công ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp tư nhân phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản lý có hiệu quả nhất, vì vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt Chính điều này đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công nghiệp Đồng thời thông qua quá trình này, doanh nghiệp cũng được xem là nơi đào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn
Thứ ba, DNTN góp phần quan trọng thu hút vốn và sử dụng tối ưu các
nguồn lực của địa phương
Việc thành lập các doanh nghiệp tư nhân không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với các doanh nghiệp quy mô nhỏ Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các
Trang 15loạihình doanh nghiệp tư nhân có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan
hệ họ hàng, bạn bè…Chính vì vậy, việc đẩy mạnh doanh nghiệp tư nhân được coi là phương tiện hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng Các doanh nghiệp tư nhân được phân tán ở hầu hết các địa phương nên chúng có khả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất các ngành nghề truyền thống của địa phương
Thứ tư, DNTN đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước
Thống kê cho thấy hiện nay đóng góp vào ngân sách nhà nước của doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng lên So với đóng góp vào ngân sách trung ương thì đóng góp của DNTN vào nguồn thu ngân sách địa phương còn lớn hơn nhiều Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các DNTN còn có
sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác
- Thứ năm, DNTN cũng góp một phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh
tế quốc tế
Việt Nam muốn phát triển nhanh cần phải hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thu hút vốn và công nghệ vào nền kinh tế của mình Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH đất nước Quá trình hội nhập có thể thực hiện bằng con đường liên kết thông qua doanh nghiệp tư nhân Cũng thông qua quá trình đó, doanh nghiệp tư nhân với những đặc tính của mình là chủ động đổi mới và lựa chọn công nghệ thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Từ đó, doanh nghiệp tư nhân góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và kinh nghiệm quản lý Đồng thời nó góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới
Trang 161.1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
1.1.2.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người Điểm khác nhau cơ bản giữa QLNN và các hình thức quản lý khác là tính quyền lực của nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần QLNN được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
Như vậy, Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Có thể hiểu, quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước vào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng bằng hệ thống luật pháp, chính sách tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp nói riêng và nên kinh tế nói chung
1.1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân[16]
Thứ nhất, các DNTN để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh
nhân phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó có những vấn đề mà từng doanh nhân riêng biệt không đủ khả năng giải quyết Nhà nước bằng hoạt động của mình, giúp các doanh nhân giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng
Trang 17Thứ hai, trong quá trình sản suất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ
giữa các DNTN với nhau Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và
họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích đó, đôi khi để đạt được mục đích của mình họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng: lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cản trở nhau, sự phân bổ không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh… Bởi vậy cần có Nhà nước đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau
Thứ ba, Nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường không
thể tách rời môi trường chính trị - xã hội Nếu môi trường chính trị không ổn định, thường xuyên có các xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, các quan hệ buôn bán trên thị trường không lành mạnh, mang tính chất lừa đảo thì cơ chế thị trường sẽ không phát huy tác dụng Từ đó dẫn đến các sai lệch và những khuyết tật của cơ chế thị trường khó có thể khắc phục được, làm cho xã hội chậm phát triển Bởi vậy, đòi hỏi phải có vai trò quản lý của Nhà nước, một tổ chức hay một doanh nghiệp dù có lớn đến đâu cũng không thể thay thế được vai trò quản lý của Nhà nước
Thứ tư, trong hoạt động thực tế của DNTN có nhiều vấn đề nảy sinh
như cơ sở hạ tầng, môi trường,…mà bản thân doanh nghiệp tư nhân cũng không thể giải quyết được mặt khác, các doanh nghiệp tư nhân luôn tối đa hóa lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên môi trường, do đó, cũng cần phải có sự quản lý của nhà nước
1.1.2.3 Công cụ Nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp tư nhân
Để tiến hành các quản lý các hoạt động kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý của mình với tư cách là môi trường, là vật truyền
Trang 18dẫn và khách thể quản lý tới các đối tượng quản lý Môi trường tốt không chỉ bao gồm môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, môi trường kinh tế nhiều tiềm năng phát triển, môi trường các nguồn lực dồi dào, phong phú như nguồn
nhân lực với giá rẻ
Môi trường hành chính thuận tiện, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, của quản lý kinh tế, quản lý sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm
cả khả năng giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích kinh tế thời kì các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường Nói cách khác, với hệ thống công cụ quản
lý vĩ mô , quản lý nhà nước về kinh tế có cơ hội tạo dựng, xác lập môi trường tốt giúp đỡ cho các doanh ngiệp ngày càng phát triển bền vững
Các công cụ quản lý kinh tê – xã hội chính là phương tiện mà nhà nước dùng để tác động, điều chỉnh hành vi của con người trong xã hôi nhẳm đạt được các ý đồ, mục tiêu mong muốn của mình Chính nhờ các công cụ quản
lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động mà nhà nước chuyển tải được các ý định và ý chí tác động của mình lên mỗi người trên toàn bộ các cùng của đất nước và các khu vực bên ngoài,
Các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm: Chính sách kinh tế -
xã hội, bộ máy nhà nước và công chức nhà nước, pháp luật, kế hoạch – chiến lược, các quyết định hành chính …
Chính sách kinh tế - xã hội: là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý (trong phạm vi quốc gia đó là Nhà nước ) sử dụng, nhằm tác động lên đối tượng và khách thể quản lý để đạt được các mục tiêu trong số các mục tiêu chiến lược chung của đất nước một cách tốt nhất sau một thời gian xác định
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước một mặt tạo ra sự thông thoáng cho các doanh nghiệp phát triển, mặt khác cần bảo vệ các doanh nghiệp trong
Trang 19nước phát triển, hướng các hoạt động hỗ trợ vào các ngành, các vùng, các lĩnh vực cần thiết của nền kinh tế quốc dân
Công sản: là các nguồn vốn và phương tiện vật chất của nhà nước có thể
sử dụng để điều hành xã hội như: Ngân sách, đất đai, kho bạc, kết cấu hạ tầng, các doanh nghiệp nhà nước và các tài sản tự nhiên khác mà nhà nước nắm giữ, đưa vào khai thác sử dụng Đối với các doanh nghiệp nhà nước cần phải tạo điều kiện về quỹ đất đai để các doanh nghiệp có thể xây dựng cơ sở hạ tầng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng vẫn cần theo những quy hoạch đã định và luôn luôn quan tâm theo dõi và bảo vệ nguồn tài sản này tránh để các doanh nghiệp vì lợi ích riêng làm tổn hại đến tài nguyên đất đai của đất nước Mặt khác, kết cấu hạ tầng đang là vật cản đối với hầu hết các doanh nghiệp mới thành lập trong giai đoạn hiện nay, do sự lạc hậu và thiếu đồng bộ gây ra, vì vậy nhà nước cần đặc biệt quan tâm để từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng
Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và các nguồn lực phải có
để thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ đặt ra
Các kế hoạch của nhà nước đối với công tác quản lý kinh tế phải tuân thủ các đòi hỏi của cac quy luật kinh tế, thị trường… do đó các kế hoạch này chỉ mang tính định hướng, gián tiếp dựa trên một quy hoạch tổng thể chung thông qua các đòn bẩy kinh tế và lợi ích kinh tế để cho các doanh nghiệp có không gian tự do phát triển trong một hành lang quy định chuẩn của Nhà nước
Các quyết định hành chính của Nhà nước: Là sản phẩm trí tuệ của các nhà lãnh đạo và các công chức nhà nước để điều hành quản lý xã hội, là sự thể hiện bằng ý chí của nhà nước bẵng các mệnh lệnh mang tính đơn phương của quyền hành pháp nhà nước, nhờ đó việc điều hành nhà nước được thuận lợi Các quyết định của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phải dựa trên sự hợp lý của việc kết hợp hài hoà lợi ích nền
Trang 20kinh tế và doanh nghiệp Các quyết định cần đảm bảo sự ổn định lâu dài cho các hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước cần:
- Xác định quan điểm, đường lối, chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội nói chung, các doanh nghiệp nói riêng
- Xây dựng và thực thi luật pháp (quản lý doanh nghiệp) nhằm tạo “luật chơi” cho doanh nghiệp; vấn đề quan trọng nhất là chính sách thuế và chính sách kiểm soát đối với doanh nghiệp, các quy chế quản lý doanh nghiệp
- Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng kết cấu hạ tầng; hướng dẫn kinh doanh; hỗ trợ vốn; hỗ trợ về công tác đào tạo, quảng bá sản phẩm; xử lý các mối quan hệ trong và ngoài nước có liên quan đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp (trốn lậu thuế, lừa đảo, đối ngoại.v.v…)
- Xây dựng bộ máy (các cơ quan) quản lý doanh nghiệp
1.1.2.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
Một là, phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
Quản lý nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để vận hành các quy luật khách quan của cơ chế thị trường đối với doanh nghiệp, như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế sử dụng biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Hai là, Nhà nước quản lý doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng
bằng pháp luật, chấm dứt quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính Pháp luật
về doanh nghiệp phải là công cụ để khuyến khích doanh nghiệp tự do phát triển, thể hiện nguyên tắc doanh nghiệp tự do kinh doanh tất cả các ngành, nghề pháp luật không cấm Công cụ chính sách hành chính của quản lý nhà nước cần được hạn chế trong phạm vi điều tiết vĩ mô, đảm bảo tiến bộ, công bằng trong phân bổ các nguồn lực và phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh
Trang 21Ba là, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với DNTN phải được phân
định rõ ràng gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước DNTN hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực, chuyên ngành chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đó Đối với DNTN hoạt động kinh doanh đa ngành, nghề, thuộc nhiều lĩnh vực chịu sự quản lý của nhiều cơ quan Nhà nước, thì khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực nào sẽ do cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành đó chịu trách nhiệm xử lý Chấm dứt tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đổi với doanh nghiệp của các cơ quan Nhà nước, đảm bảo khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì luôn có một
cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xử lý Mỗi sở, ban ngành thành phố có chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn DNTN thực hiện các quy định pháp luật trong các lĩnh vực đó; xây dựng quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước của mình để doanh nghiệp vừa thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội và không xâm phạm lợi ích của bên thứ ba; kỉểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực mình quản lý
Bốn là, quản lý nhà nước đối với DNTN không tách rời với các hoạt
động giám sát doanh nghiệp của các chủ thể khác, Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong xã hội, chủ sở hữu doanh nghiệp cùng tham gia quản lý, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước chỉ quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng quản lý hành chính nhà nước
1.1.2.5 Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
- Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
tư nhân là việc tác động trực tiếp của nhà nước thông qua các quyết định có tính bắt buộc lên các chủ thể kinh doanh này
Trang 22Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là tính bắt buộc, tính quyền lực Tính bắt buộc đòi hỏi các doanh nghiệp tư nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm
sẽ bị xử lý thích đáng
Phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý
Theo hướng tác động về mặt tổ chức, nhà nước xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp tư nhân yên tâm hoạt động trong an toàn và trật tự Những chủ trương chính sách có tầm vóc lớn và dài hạn của nhà nước đều phải được thể chế hóa bằng đạo luật do quốc hội thông qua nhằm bảo đảm được chấp hành nhất quán
Ban hành các văn bản quy định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ chức và xác định những mối quan hệ hoạt động nội bộ theo hướng tác động điều chỉnh hành động của đối tưọng quản lý, quy định những thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp đều phải tuân thủ Những công cụ này nhằm giúp nhà nước cụ thể hóa khung luật pháp và các kế hoạch hướng dẫn thị trường, tác động trực tiếp vào các chủ thể kinh doanh như thủ tục xét duyệt cấp giấy phép đầu tư thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa
- Phương pháp giáo dục, tuyên truyền
Đây là cách thức nhà nước tác động vào tư duy, suy nghĩ, nhận thức và tình cảm của các doanh nghiệp tư nhân với tư cách là các chủ thể tham gia thị trường, thực hiện các giao dịch thương mại và trao đổi mua bán hàng hóa, nhằm nâng cao sự hiểu biết, chuyển biến một cách tự giác, tích cực, chủ động
và nhiệt tình trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
Trang 23Mục tiêu của phương pháp giáo dục, tuyên truyền là để tạo ra sự giác ngộ về tư tưởng, nâng cao sự hiểu biết đúng sai, tốt xấu, lợi hại, thời cơ, thách thức,… đối với thương mại, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng và làm chuyển biến hoạt động của họ theo định hướng nhà nước đã vạch
ra, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, tôn trọng đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hóa thương mại và góp phần thúc đẩy nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế thương mại
Nhà nước thông qua bộ máy tổ chức quản lý, hệ thống truyền thông dưới các hình thức khác nhau và phối hợp với các lực lượng khác để giáo dục, động viên các chủ thể kinh doanh tích cực tham gia đầu tư, kinh doanh, phát triển kinh tế để làm giàu, tích cực góp phần xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống người lao động, bảo vệ môi trường,…trong khung khổ chính sách và luật pháp hiện hành về kinh tế, thương mại Nhà nước giáo dục người dân, người tiêu dùng có được những hiểu biết cần thiết và nâng cao nhận thức về thị trường, thương mại Đặc biệt là truyền thông để cho doanh nghiệp tư nhân, người dân và các đơn vị, tổ chức, cá nhân nắm vững những cam kết mở cửa thị trường về hàng hóa, dịch vụ khi đã là thành viên của WTO và những thay đổi
về quy định chính sách, luật pháp trong nước cũng như các nước đối tác thương mại của Việt Nam
- Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trên thị trường là cách thức tác động gián tiếp của nhà nước dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên đối tượng quản lý nhằm làm cho
họ quan tâm tới hiệu quả cuối cùng của sự hoạt động mà từ đó chủ động, hoàn thành tốt nhiệm vụ, không cần phải có sự tác động thường xuyên của nhà nước bằng phương pháp hành chính
Trang 24Mọi hoạt động của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường đều tuân theo yêu cầu của các quy luật khách quan Sự chi phối của các quy luật đối với các hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua lợi ích kinh tế Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là cách thức tác động của nhà nước lên các doanh nghiệp tư nhân dựa trên các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế-kỹ thuật
Mặt mạnh của phương pháp kinh tế chính là ở chỗ nó tác động vào lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh, xuất phát từ đó mà họ lựa chọn phương
án hoạt động vừa đảm bảo lợi ích riêng, vừa đảm bảo lợi ích chung
Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đặt ra, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để học tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý bằng phương pháp kinh tế theo những hướng sau:
+ Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của các đối tượng quản lý
+ Sử dụng các định mức kinh tế (mức thuế, mức lãi suất ngân hàng…) các biện pháp đòn bẩy kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển
+ Bằng chính sách ưu đãi kinh tế để điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, thu hút được tiềm năng của Việt kiều cũng như các tổ chức, cá nhân người nước ngoài
1.1.2.6 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
* Quản lý môi trường pháp lý
Pháp lý là công cụ quản lý chủ yếu khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân Cho đến nay, hệ thống pháp luật về tổ
Trang 25chức quản lý doanh nghiệp tư nhân đã tương đối đầy đủ và tạo lập được khung quản trị doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong
đó mọi loại hình doanh nghiệp được đảm bảo quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và bình đẳng trước pháp luật Nhà nước xây dựng hai loại văn bản pháp luật để điều chỉnh các doanh nghiệp tư nhân đó là:
Thứ nhất, đó là các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến
những nội dung quản lý nhà nước có sự phân biệt nhất định theo loại hình, nguồn vốn sở hữu hoặc lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm một số văn bản quan trọng như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tín dụng…
Thứ hai, đó là các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến
những nội dung quản lý nhà nước được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Đây là hệ thống văn bản pháp lý có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rất rộng, có tác dụng tạo ra một môi trường kinh doanh chung cho mọi hình thức doanh nghiệp, bao gồm:
- Các quy định về chế độ tài chính, kế toán đối với doanh nghiệp như: Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Kế toán và Thống kê
- Các quy định về phá sản, cạnh tranh, đấu thầu, bảo hộ nhãn hiệu, các thị trường đầu vào như: Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai…
- Các quy định về điều kiện kinh doanh (điều kiện có giấy phép hoặc không cần giấy phép): đây là hệ thống các quy định liên tục được ban hành mới, hoặc sửa đổi, bổ sung và nằm trong hầu hết các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh Đến nay, chỉ tính riêng hệ thống quy định về ngành, nghề kinh doanh phải có giấy phép bao gồm khoảng hơn 40 Luật, Pháp lệnh và khoảng nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành
Trang 26- Các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra
và các Nghị định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể
Luật Doanh nghiệp và các luật khác liên quan cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khung pháp lý mới trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp tư nhân Có thể thấy rằng, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn
từ năm 2006 đến nay Việc nhà nước có trách nhiệm không ngừng hoàn thiện các quy phạm pháp luật kinh doanh sao cho cởi mở, minh bạch và có thể dự báo sẽ vừa có tác dụng định hướng và quản lý thống nhất doanh nghiệp, vừa tạo lòng tin và thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Quản lý hỗ trợ, tạo môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp tư nhân
Để thực hiện nội dung quản lý này, Nhà nước phải tiến hành hàng loạt công vụ như:
- Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi cho các chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích
- Xây dựng và tiến hành bảo hiểm sản xuất kinh doanh cho những doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo định hướng của Nhà nước và thực hiện các quy định của bảo hiểm
- Thực hiện miễn giảm thuế cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo định hướng ưu tiên của Nhà nước
- Chuyển giao đến các nhà kinh doanh những thông tin chính trị, thời sự quan trọng có giá trị trong sản xuất kinh doanh để họ tham khảo
- Thực hiện chương trình bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh, giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá đội ngũ viên chức nghiệp vụ quản trị kinh doanh
Trang 27- Mở ra các trung tâm thông tin, các triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật
để tạo môi trường cho các doanh nghiệp giao tiếp và liên kết sản xuất kinh doanh với nhau
- Thực hiện các hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là hỗ trợ tư pháp quốc tế đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo điều kiện cho sự hình thành đồng bộ các loại thị trường Đồng thời quản lý các loại thị trường đó để các doanh nhân có được môi trường thuận lợi trong giao lưu kinh tế như: thị trường hoá thông thường, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường khoa học công nghệ, thị trường thông tin, thị trường chất xám, …Nhà nước bảo đảm một môi trường thị trường chân thực để giúp các doanh nhân không
bị lừa gạt trên thị trường đó
* Kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm
- Kiểm tra tính hợp pháp đối với sự tồn tại doanh nghiệp tư nhân
Mỗi doanh nghiệp ra đời đều phải có giấy phép Giấy phép chỉ cấp cho những doanh nhân với doanh nghiệp đủ điều kiện Việc kiểm tra này nhằm loại trừ các doanh nghiệp ra đời không đăng ký hoặc không đủ điều kiện mặc
- Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm đảm bảo nhắc nhở các doanh nghiệp thường xuyên chấp hành pháp luật
Trang 28Các đối tượng kiểm tra thường là về vấn đề an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, về chấp hành các quy định về an toàn vệ sinh môi trường, về kiểm toán nhằm bảo đảm chế độ ghi chép ban đầu đúng quy định của chế độ
kế toán Nhà nước, …
- Thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, như có hiện tượng trốn lậu thuế, xâm phạm tài sản quốc gia hoặc tài sản công dân, kinh doanh các mặt hàng quốc cấm, …
- Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư khiếu tố
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
1.1.3.1 Tiếp cận nguồn tín dụng thương mại
Các doanh nghiệp sau khi đã đăng kí kinh doanh vẫn phải tiếp tục đối mặt với trở ngại lớn khi tìm kiếm nguồn tài chính thương mại do nhiều yếu tố bao gồm các nguồn vay ưu đãi rất hạn hẹp của các doanh nghiệp thương mại không đủ các khả năng cung ứng các khoản thế chấp Khi đó sự giúp đỡ của nhà nước là rất cần thiết, Nhà nước cần để ra các biện pháp và chính sách để
hỗ trợ doanh nghiệp
Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm
đa số và chủ yếu trong nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Sự đóng góp của DNVVN đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu của Nhà nước vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác nên đã tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả, huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh thiếu vốn hiện nay
Từ thực trạng pháp luật hiện hành về hoạt động hỗ trợ nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế, rào cản, chưa tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động hiệu quả
Trang 29Pháp luật hiện hành còn tạo rào cản cho DNVVN tiếp cận vốn vay: Phần lớn các doanh nghiệp còn lại gặp các trở ngại như sau: 55% trở ngại do quy định về thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ); 50% trở ngại do quy định về yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); trở ngại do quy định hiện nay đến 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp; dẫn đến khó khăn nhất vẫn
là thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh Hiện nay, chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự
có hoặc vay từ nguồn khác (trong số này có nhiều doanh nghiệp vẫn phải chịu vay ở mức lãi suất cao 15 - 18%); quy định hiện nay chưa phù hợp với DNVVN, rất ít các doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện không được nợ thuế quá hạn, không nợ lãi suất quá hạn
Trường hợp chủ đầu tư đã ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ tái định
cư dự án xã hội hóa theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành) thì số kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã đầu tư đối với diện tích đất phục vụ hoạt động xã hội hóa sẽ được ngân sách nhà nước hoàn trả
Trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất nhưng cơ sở thực hiện xã hội hóa có nguyện vọng được thực hiện theo phương thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư (không thực hiện theo quy định miễn giảm tiền sử dụng đất) thì được thực hiện theo quy
Trang 30định hiện hành về thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho
cả thời gian thuê và được trừ chi phí bồi thường đất, hỗ trợ đất đã ứng trước (nếu có) vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp
Trong trường hợp này cơ sở thực hiện xã hội hóa được tính giá trị quyền
sử dụng đất vào giá trị tài sản của dự án đầu tư và có các quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai
Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng đăng ký lựa chọn một địa điểm để thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa thì thực hiện chọn nhà đầu tư theo phương thức đấu thầu để lựa chọn dự án đáp ứng cao nhất các tiêu chí về quy mô, chất lượng, hiệu quả
Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn cụ thể việc đấu thầu dự án thuộc trường hợp này
Cơ sở thực hiện xã hội hóa sử dụng đất hợp pháp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp, quyền sở hữu nhà và tài sản theo quy định của pháp luật Trình tự và thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai
1.1.3.3 Hệ thống thuế hiện hành
Mọi nguồn thu từ thuế và lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởi Tổng cục Thuế thông qua các cơ quan thu trực tiếp là các Cục thuế, Chi cục thuế, phòng thuế, đội thuế; bởi Tổng cục Hải quan thông qua các cơ quan trực tiếp là Cục hải quan, Chi cục hải quan, và các cán bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong cả nước Đối với các phí và
Trang 31lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu
Về danh nghĩa, mức thuế (thuế suất) do Quốc hội Việt Nam quy định Song trên thực tế, các mức thuế là do Chính phủ đề nghị với sự tư vấn của Bộ Tài chính mà cụ thể hơn nữa là Tổng cục Thuế Đối với một số sắc thuế, như thuế xuất nhập khẩu, Quốc hội cho phép Chính phủ tự điều chỉnh khi cần thiết Riêng các phí và lệ phí là nguồn thu của chính quyền địa phương, chính quyền địa phương có quyền quyết định mức
Hệ thống thuế ở Việt Nam không chia thành các sắc thuế quốc gia và các sắc thuế địa phương như ở nhiều nước Tuy nhiên, Luật Ngân sách Nhà nước
số 01/2002/QH11 có quy định một số sắc thuế là nguồn thu mà chính quyền trung ương được hưởng 100%, một số sắc thuế và lệ phí mà chính quyền địa phương được hưởng 100%, và một số sắc thuế mà chính quyền các cấp chia nhau tùy theo tình hình từng địa phương
Hệ thống thuế Việt Nam có một số đặc điểm sau:
+ Thuế nhập khẩu đóng góp tới 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, khoản thu này đang giảm đi do các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam đang tham gia
+ Thu từ thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong đóng góp ngân sách nhà nước.Các loại thuế gián thu ở Việt Nam bao gồm thuế xuất khẩu - nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường
Song trên thực tế, các quy định trong chính sách thuế đôi khi chưa minh bạch, rõ ràng dẫn đến không nhất quán trong khi thực hiện gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp Quy định chưa minh bạch chính là yếu tố tạo thêm chi phí cho doanh nghiệp, làm giảm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.4 Các rào cản thương mại quốc tế
Trang 32Các rào cản thương mại quốc tế được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia, được sử dụng không giống nhau
ở từng quốc gia và vùng lãnh thổ Các rào cản này đều giống nhau ở việc cản trở dòng chảy của hàng hóa xuất khẩu
Hiện nay, hầu hất các nước đang sử dụng rất nhiều công cụ làm rào cản hoạt động ngoại thương, nhưng tựu chung lại có hai nhóm công cụ chính là: Thuế quan và phi thuế quan
Hàng rào Thuế quan: Đây là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan
Hàng rào phi thuế quan: Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời Ngày nay, ngoại thương thế giới có những đặc điểm mới: tốc độ tăng trưởng của ngoại thương thế giới tăng nhanh so với tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân Tốc độ tăng trưởng của hàng hóa vô hình tăng nhanh
so với tốc độ tăng trưởng hàng hóa hữu hình Nhu cầu về đời sống vật chất giảm trong khi đó, nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng Tỷ trọng xuất khẩu hàng nguyên liệu thô giảm, trong khi đó dầu mỏ, khí đốt và các sản phẩm công nghệ chế biến tăng nhanh Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng: chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các
Trang 33dịch vụ sau bán hàng Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn lại, hàng hóa có hàm lượng khoa học và công nghệ tăng cao Quá trình thương mại quốc tế đòi hỏi, một mặt phải tự do hóa thương mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý Ngoại thương Việt Nam cũng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với các nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân của các nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
a Kinh nghiệm của Singapore
Singapore khuyến khích các doanh nghiệp tự động hóa để tăng năng suất
và Chính phủ sẽ hỗ trợ các dự án sử dụng máy móc tự động với một khoản trợ cấp tối đa là một triệu SGD Doanh nghiệp Quốc tế (IE) Singapore được tạo điều kiện mở rộng ra nước ngoài và Chính phủ sẽ giúp các doanh nghiệp này khai thác các thị trường nước ngoài Nhiều nguồn lực hơn sẽ đi theo hướng tự động hóa trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hơn 450 triệu SGD sẽ được giải chi cho Chương trình tự động hóa trong ba năm tới
Chính sách SME của Singapore nhằm thúc đẩy môi trường kinh doanh mới có sự thay đổi và thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp (Startup) với sự
hỗ trợ của chương trình SG-Innovate SG-Innovate cũng sẽ giúp các doanh nhân tài năng trong các lĩnh vực nghiên cứu và mở ra những cơ hội khởi nghiệp mới Bộ trưởng Heng Swee Keat giới thiệu chương trình TechSkills giúp phát triển kỹ năng và chuyên môn cho những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trang 34Theo kết quả gần đây của tổ chức SBF (Khảo sát doanh nghiệp quốc gia): Hơn một nửa trong số các công ty được hỏi trong cuộc khảo sát doanh nghiệp quốc gia SBF năm 2015-2016 cho biết phải đối mặt với các vấn đề tài chính Hơn nữa, doanh nghiệp quy mô nhỏ thường xuyên phải đối mặt với những trở ngại tín dụng từ các ngân hàng và tổ chức tài chính, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều mong muốn mở rộng và tái cơ cấu
Các chương trình vay vốn SME giảm bớt gánh nặng cho một số các doanh nghiệp nhỏ, cho phép họ giải quyết vấn đề tài chính trước mắt và tạo điều kiện tìm kiếm cơ hội phát triển
Các chương trình vay vốn SME được giới thiệu để tăng cường hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và nâng cao tính tín dụng trong tình hình kinh tế hiện nay Mục tiêu là giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp tục phát triển, vì vậy nhu cầu đáp ứng lưu lượng tiền mặt trong cuộc hành trình nâng cấp của doanh nghiệp là cần thiết
Bên cạnh đó, các bước thực hiện để cải thiện môi trường kinh tế, ngân sách cũng đề cập đến mối quan tâm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các thông tin phản hồi Chính phủ nhận được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ là cần sự giúp đỡ của Chính phủ và mong muốn một sự cải tiến trong môi trường kinh doanh tổng thể cho doanh nghiệp nhỏ trong nước
Ý kiến phản hồi về ngân sách rất nghiêm túc và Chính phủ Singapore đã đặc biệt xem xét ưu đãi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chính phủ Singapore là "nhà ủng hộ" cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vì vậy, Chính phủ luôn ban hành các chính sách đa dạng nhằm khuyến khích, động viên cho các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập
Để đáp ứng đủ điều kiện cho chính sách ưu đãi này, công ty phải thỏa mãn những yêu cầu sau: Số cổ đông phải ít hơn 20; Ít nhất có một cổ đông là
cá nhân nắm giữ 10% trên tổng số cổ phần của công ty; Phải thành lập tại Singapore; và Phải là công dân chịu thuế tại Singapore
Trang 35Thí dụ cụ thể đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng, Chính phủ Singapore đã cam kết và triển khai các chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công nghệ số trong việc quản lý doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh
Bắt đầu từ năm 2017, theo thông tin của Bộ Tài chính nước này, Chính phủ Singapore dự kiến chi khoảng 80 triệu SGD cho chương trình này, một phần lớn kinh phí sẽ được dành để nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến để bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin Chính phủ Singapore mà đại diện là Cơ quan an ninh các hệ thống thông tin cử các chuyên gia về an ninh mạng trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp cùng phân tích đánh giá, nhận dạng những nguy cơ tấn công mạng có thể xảy ra đối với từng doanh nghiệp
Cơ quan an ninh Chính phủ thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo về
an ninh mạng để cho các doanh nghiệp cập nhật thông tin Các lớp đào tạo về
an ninh mạng cũng triển khai, từ đó doanh nghiệp có thể tự quản lý và vận hành các hệ thống thông tin và hệ thống an ninh mạng
Đối với các doanh nghiệp chuyên về bảo đảm an ninh mạng, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển giải pháp mới cho an toàn thông tin và an ninh mạng Cơ quan công nghệ của Chính phủ - mà đại diện là Trung tâm Khoa học, công nghệ và nghiên cứu sẽ cung cấp các công cụ, cơ sở
hạ tầng để các doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, kiểm thử trước khi áp dụng vào thực tế Chính phủ cũng chia sẻ 50% chi phí cho các rủi
ro có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu và phát triển giải pháp mới - thí dụ
dự án không hoàn thành đúng tiến độ, kết quả của dự án không đạt như mong đợi hay xấu nhất là phá sản dự án
b Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Hàn Quốc là một trong những hệ thống doanh nghiệp đóng vai trò chiến lược đối với sự phát triển toàn diện của
Trang 36nền kinh tế Số lượng DNNVV chiếm khoảng 99,9% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 102,9 triệu đô la Mỹ từ việc xuất khẩu và giải quyết được việc làm cho hơn 87,7% trên tổng dân số đang ở độ tuổi lao động Các chính sách phát triển của Hàn Quốc được xây dựng từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước khi đối mặt với việc ngưng viện trợ từ nước ngoài, cũng như khắc phục những hạn chế của các DNNVV Vào những năm đầu của thập niên 80, Hàn Quốc ban hành Luật Hỗ trợ thành lập DNNVV (1986) cùng với Đạo luật
cơ bản về DNNVV trước đó (năm 1966) đã mở ra cơ hội cho các DNNVV trong nước được phát huy tiềm lực của mình, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia Sau những biến động của kinh tế thế giới (khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và 2010), các chính sách hỗ trợ của Chính phủ cũng đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thế giới cũng như với từng doanh nghiệp Dựa vào từng mục tiêu mà các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đặt ra, Chính phủ Hàn Quốc ban hành các luật và văn bản dưới luật với mục đích hỗ trợ và phát triển cho các DNNVV Tuy được quy định độc lập ở từng văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng giữa chúng có một mối liên hệ chặt chẽ, bổ trợ nhau và không thể tách rời Hơn nữa, các chính sách hỗ trợ DNNVV được quy định nhất quán, thống nhất và phù hợp với các quy định hiện hành tại các đạo luật cơ bản như Luật Doanh nghiệp, Đạo luật Thuế Cùng với những văn bản pháp luật có mục tiêu rất cụ thể và chi tiết, việc phân loại các DNNVV dựa trên quy mô và ngành nghề kinh doanh cũng rất cụ thể, chi tiết như trên
đã giúp các doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng một cách hiệu quả các quy định của pháp luật và chính sách hỗ trợ, giúp Hàn Quốc mau chóng đạt được mục tiêu đề ra
Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế không ngừng, phát triển
hệ thống DNNVV là mục tiêu trọng tâm của Hàn Quốc Theo đó, các chính sách hỗ trợ do Chính phủ ban hành đã và đang được triển khai thực hiện thông qua việc tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp về hành lang pháp
Trang 37lý, trợ giúp doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn lực trọng yếu như nhân lực, thị trường, công nghệ và tài chính Tùy vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế trong nước và những biến chuyển của kinh tế thế giới, Nhà nước Hàn Quốc đã xây dựng hợp lý từng lộ trình phát triển và hỗ trợ một cách linh hoạt giúp các DNNVV áp dụng một cách linh hoạt, chủ động và đạt hiệu quả cao Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại, và là quốc gia duy nhất vươn lên thành công, từ quốc gia chủ yếu nhận viện trợ nước ngoài sang một trong những quốc gia giàu nhất khu vực chỉ trong vài chục năm
Hiện nay, Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới Việc hỗ trợ các chính sách phát triển cho các DNNVV, tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp vươn lên tầm cao mới, sánh ngang với các tập đoàn lớn trong nước và trên thế giới đã đóng góp to lớn vào tốc độ tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế Hàn Quốc Tốc độ tăng trưởng GDP đều đặn bình quân là 5% mỗi năm là một yếu tố quan trọng giúp Hàn Quốc luôn nằm trong danh sách những quốc gia giàu mạnh trên thế giới
1.2.1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
a Kinh nghiệm của Quận Thanh Xuân, Hà Nội
Quận Thanh Xuân là một trong những quận phát triển của thành phố
Hà Nội, khu Trung Hòa Nhân Chính thuộc quận còn đang phát triển mạnh như một trung tâm mới của thành phố, bởi vậy số lượng doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Thanh Xuân ngày càng tăng nhanh Những cố gắng của chính quyền quận trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp đã giúp các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân đang ngày càng lớn mạnh, và có những đóng góp giúp quận Thanh Xuân ngày càng phát triển
Cụ thể, với những chính sách hỗ trợ, chương trình tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ;…đã giúp các doanh nghiệp có khả năng
Trang 38tiếp cận nguồn vốn và phương thức sản xuất mới Đặc biệt, quận rất chú trọng đến năng lực của những cán bộ công chức, quận thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, gần đây nhất 1/6/2016 quận đã tổ chức Hội nghị Tập huấn phổ biến những quy định mới trong Luật doanh nghiệp 2014 cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về doanh nghiệp[17]
b Kinh nghiệm của Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập tại quận Gò Vấp tăng lên liên tục, chỉ trong năm 2014, trên địa bàn tỉnh đã có trên 3000 doanh nghiệp tư nhân được thành lập, trong đó gần 1700 đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng thêm năng lực sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm thu hút nhiều lao động địa phương
Có được kết quả trên là do các cấp, các ngành tích cực triển khai, giải quyết công việc liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, cơ chế một cửa liên thông kịp thời, đạt hiệu quả đã tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm ở một số cơ quan đơn vị nhằm tạo ra một bước đột phá về cải cách thủ tục hành chính – thu hút đầu tư
Ngoài ra, quận còn thường xuyên tổ chức các các chương trình hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp như “ Đồng hành cũng doanh nghiệp”, Hội nghị đối thoại doanh nghiệp, Họp mặt doanh nghiệp, tuyên dương các doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế,…[17]
1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Cầu Giấy
Từ bài học kinh nghiệm của một số địa phương, ta nhận thấy rằng có những điểm tương đồng với tình hình tại quận Cầu Giấy, Hà Nội Hầu hết ở những nơi đó đều có điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể phát triển, tuy nhiên mỗi địa phương đều có những biện pháp riêng của mình để phát triển doanh nghiệp Nhưng nhìn chung có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước đối với DNTN tại quận Cầu Giấy như sau:
Trang 39Thứ nhất, quận cần rà soát để bãi bỏ những thủ tục hành chính
không cần thiết, đơn giản hóa việc thực hiện thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh
Thứ hai, quận cần tạo môi trường thuận lợi khuyến khích người dân và
các thành phần kinh tế tham gia giám sát hoạt động của DNTN cũng như việc thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Thứ ba, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về lý luận, thực tiễn cho
những cán bộ phụ trách quản lý nhà nước đối với DNTN
Quận Cầu Giấy có được những lợi thế, nhưng để đạt được hiệu quả cao hơn nữa trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân thì quận cần có chính kiến riêng cuả mình, dựa vào thực lực tiềm năng về diện tích đất đai, cơ chế quản lý cũng như nguồn nhân lực… để từ đó có những biện pháp riêng mang tính đột phá riêng của quận Cầu Giấy Bên cạnh đó cũng luôn quan tâm đến công tác khuyến khích, hỗ trợ cho doanh nghiệp, có như thế, thì công tác quản lý nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để nâng cap hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan
- Vũ Mạnh Anh, 2008, Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng kí kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu này tuy chỉ ra được thực trạng và các giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhưng mới chỉ đề cập đến việc quản
lý các doanh nghiệp sau khi thành lập Trong khi đó việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp từ khâu đăng ký thành lập lại chưa được đề cập
- Lê Văn Hưng, 2003, Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh), luận án tiến sỹ luật học
- Phạm Thị Ngọc Ánh, 2011, Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đề tài đã có những đánh giá khái
Trang 40quát về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân dưới góc độ kinh tế học về ba nội dung: hoạch định chiến lược và môi trường pháp lý; chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp và công tác thanh tra, kiểm tra, hậu
kiểm của thành phố Đà Nẵng
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá nội dung, thực trạng của việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Nhà nước Trên thực tế hiện nay Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 đã hết hiệu lực Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (tức là đến 01/7/2010), các công ty Nhà nước thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Do đó trên thực tế hiện nay gần như không tồn tại mô hình doanh nghiệp Nhà nước Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá để có cách nhìn toàn diện và hệ thống trong việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết được đặt ra