1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn

104 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN VĨNH BẢO TĂNG CƯỜNG MỐI LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÔNG TY TNHH MTV LÂM NGHIỆP ĐÔNG BẮC VỚI CÁC HỘ DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

Trang 1

NGUYỄN VĨNH BẢO

TĂNG CƯỜNG MỐI LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÔNG TY TNHH MTV LÂM NGHIỆP ĐÔNG BẮC VỚI CÁC HỘ DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8310110

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BÙI THỊ MINH NGUYỆT

Hà Nội – 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Người cam đoan

Nguyễn Vĩnh Bảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Đề tài này, ngoài nỗ lực của chính bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Bùi Thị Minh Nguyệt - Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường Đại học Lâm nghiệp; sự quan tâm và tạo điều kiện đặc biệt của Phòng Đào tạo Sau đại học; cán bộ, giáo viên, Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc và các bạn bè đồng nghiệp

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo hướng dẫn TS Bùi Thị Minh Nguyệt, Ban giám hiệu nhà trường, cán bộ Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo là giảng viên trực tiếp truyền thụ kiến thức trong hai năm học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp, CBCNV Công

ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc và các đồng nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… …vi

DANH MỤC CÁC BẢNG……… ………vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ……… vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ 4

TRONG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP 4

1.1.Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của sản xuất lâm nghiệp 7

1.1.3 Vai trò liên kết kinh tế trong phát triển sản xuất kinh doanh 10

1.1.4 Nội dung liên kết kinh tế trong sản xuất 14

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới mối liên kết giữa công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới 19

1.2.2 Ở Việt Nam 23

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Hữu Lũng 29

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 33

2.2 Đặc điểm cơ bản của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc 37

2.2.1 Giới thiệu chung về Công ty 37

Trang 5

2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 37

2.2.3 Chức năng nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh chính của Công ty 39

2.2.4 Đặc điểm lao động và bộ máy quản lý của Công ty 39

2.3 Phương pháp nghiên cứu 42

2.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu 42

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 42

2.3.3 Phương pháp phân tích 43

2.3.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 43

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Thực trạng liên kết kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp giữa Công ty với hộ dân trên địa bàn 44

3.1.1 Tình hình sử dụng nguồn lực của Công ty 44

3.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp của Công ty 48

3.2.Thực trạng liên kết giữa Công ty và hộ dân trong hoạt động trồng rừng tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đông Bắc 53

3.2.1 Cơ sở thực hiện mối liên kết giữa công ty Đông Bắc và hộ dân 53

3.2.2.Đặc điểm kinh tế - xã hội hộ dân tham gia liên kết 54

3.2.3 Các mô hình liên kết giữa Công ty và các hộ dân 56

3.2.4.Hiệu quả mối liên kết kinh tế 59

3.2.5.Tình hình tranh chấp đất đai và sử dụng đất đai trước và sau tranh chấp62 3.3.Đánh giá kết quả liên kết tại công ty 64

3.3.1 Đánh giá sự phù hợp của hình thức liên kết 64

3.3.2 Một số khó khăn, tồn tại trong thực hiện liên kết tại Công ty 65

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết kinh tế giữa Công ty và hộ dân 66

3.4.1 Cơ sở hạ tầng 66

3.4.2 Trình độ nhân lực của vùng 68

3.4.3 Nhận thức của người dân về liên kết kinh tế 68

Trang 6

3.4.4 Thị trường 69

3.5 Một số giải pháp tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty với người dân70

3.5.1.Định hướng phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 70 3.5.2 Một số giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa công ty với hộ dân tại Công ty THHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc 71

KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 7

TNHHMTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình lao động của Công ty 41

Bảng 3.1 Diện tích đất được giao quản lý sử dụng tại Công ty 44

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của Công ty 45

(Thời điểm 31/12/2018) 45

Bảng 3.3 Kết quả sản xuất lâm nghiệp của Công ty 49

Bảng 3.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 50

Bảng 3.5 Diện tích trồng rừng hàng năm của Công ty 56

Bảng 3.6 Kết quả mô hình liên kết với hộ dân tại Công ty 60

Bảng 3.7 Các hình thức giao khoán Công ty đang áp dụng 61

Bảng 3.8 Tình hình sử dụng đất trước khi lấn chiếm 63

Bảng 3.10 Đặc điểm đối tượng nhận khoán tại các xã khảo sát 64

Bảng 3.9 Tình hình tranh chấp đất đai tại Công ty 63

Bảng 3.11 Nhu cầu của người dân về công tác giao khoán 69

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 4

0

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, bao gồm các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và quốc phòng an ninh Liên kết giữa doanh nghiệp và người dân là thật sự cần thiết trong quá trình giúp đỡ người dân tiêu thụ sản phẩm đồng thời giúp doanh nghiệp có được các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất

Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc đang từng bước thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm hiện thực hoá Chiến lược phát triển rừng trồng có hiệu quả nâng cao năng suất chất lượng gỗ trừng trồng, thế mạnh đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn để phát triển kinh tế từ nghề rừng, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh đối với các

hộ dân liên kết với công ty từ đó lan tỏa trên địa bàn toàn huyện, từ đó phát triển được nghề chế biến gỗ của địa phương và các ngành địch vụ kèm theo v.v Đồng thời hình thành các trung tâm kinh tế phát triển hướng ra các huyện khác trong tỉnh Trong đó phát triển trồng rừng theo hướng bền vững của công ty và các hộ dan trên địa bàn

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất lâm nghiệp vẫn còn không ít những bất cập và phải đối mặt với hàng loạt thách thức như: Công tác quy hoạch chưa không theo kịp với tốc độ phát triển; đầu tư còn dàn trải; cơ sở hạ tầng còn yếu kém; hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp; nguồn lợi từ rừng đang có

xu hướng giảm; sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không theo kịp quy hoạch dẫn đến môi trường một số nơi có dấu hiệu suy thoái, dịch bệnh phát sinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu Đặc biệt là hoạt động liên kết của công ty với hộ dân và liên kết chuỗi còn rất hạn chế Để khắc phục những tồn tại nêu trên, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập kinh tế toàn

Trang 10

cầu, sự suy thoái môi trường, sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng sản phẩm từ rừng trồng, thích ứng với biến đổi khí hậu cũng như theo kịp sự tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại thì rất cần một chiến lược phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp một cách bền vững, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đáp ứng thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu

Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Tăng cường mối liên kết giữa công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn”

làm đề tài luận văn của mình nhằm xác định những nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, làm tiền đề tạo bước chuyển rõ nét trong phát triển của công ty và người dân Cụ thể hóa các bước đi, lộ trình thực hiện để đạt được các mục tiêu chiến lược đã đề ra của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – của công ty và người đân trên địa bàn huyện Hữu Lũng nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Trên cơ sở nghiên cứu mối liên kết kinh tế giữa Công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp làm cơ sở đề xuất giải pháp tăng cường mối liên kết kinh tế giữa Công ty và người dân trên địa bàn huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối liên kết giữa công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Nghiên cứu tình hình liên kết kinh tế công ty với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng Lạng Sơn từ năm 2015 đến năm 2020

- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Hữu Lũng

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng mối liên kết kinh

tế trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp của công ty với người dân và các giải pháp tăng cường mối liên kết kinh tế trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp

- Thực trạng hoạt động liên kết kinh tế giữa Công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng

- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết kinh tế giữa Công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng

- Một số giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết giữa công ty và người

dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hữu Lũng

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ

TRONG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP

1.1.Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Lâm nghiệp

Ở Việt Nam, lâm nghiệp là một ngành kinh tế, kỹ thuật đặc thù nên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nông nghiệp và nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng Vì vậy, khái niệm về lâm nghiệp đã từng bước được điều chỉnh, bổ sung nhằm xác định rõ phạm vi, chức năng của ngành lâm nghiệp Một số khái niệm về lâm nghiệp tiêu biểu như:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng Với quan điểm này, lâm nghiệp chỉ bao gồm các hoạt động về trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ nhằm cung cấp lâm đặc sản, phòng hộ và bảo vệ môi trường sống cho xã hội Sản phẩm cuối cùng của hoạt động lâm nghiệp là tạo ra rừng thành thục công nghệ; đó chỉ là những sản phẩm tiềm năng, chưa thành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường

Như vậy, với quan điểm này đã bộc lộ một số vấn đề tồn tại như: Khi

đã khẳng định lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất nhưng sản phẩm cuối cùng lại chưa được lưu thông, trao đổi, mua bán trên thị trường để thu hồi vốn tái sản xuất cho chù kỳ tiếp theo; Sản phẩm được khai thác từ rừng lại được thống kê, hạch toán vào tổng sản phẩm công nghiệp; Về phương diện kỹ thuật lâm sinh thì khai thác và tái sinh có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khai thác được xem là một trong những giải pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng

Trang 13

trong tái sản xuất tài nguyên rừng; Về phương diện kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng của xây dựng rừng là để sử dụng (khai thác) và chỉ có khai thác mới thu hồi được vốn để tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng; Về phương diện quản lý, hiện nay ngành lâm nghiệp đang quản lý các hoạt động không chỉ thuộc lĩnh vực lâm sinh mà còn cả lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản

- Quan điểm thứ hai cho rằng: Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn

có chức năng khai thác sử dụng rừng Như vậy, với quan điểm này khái niệm

về lâm nghiệp đã được mở rộng Sản phẩm cuối cùng của lâm nghiệp đã là sản phẩm hàng hoá được mua bán, trao đổi trên thị trường

Quan điểm này đã đề cao vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và đã coi hoạt động xây dựng và sử dụng rừng là hai giai đoạn của quá trình tái sản xuất tài nguyên rừng Từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi để lâm nghiệp phát triển toàn diện Tuy nhiên, quan điểm này đã lồng ghép hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau vào một ngành sản xuất cũng có những vấn đề khó khăn về công tác tổ chức, quản lý và hạch toán kinh tế Mặt khác, khi nhấn mạnh quan điểm này, có thể người ta chỉ tập trung vào khai thác bóc lột tài nguyên rừng và ít quan tâm đến phát triển lâm nghiệp bền vững Vì vậy, tài nguyên rừng nhanh chóng bị cạn kiệt

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực

từ 01/01/2019): “Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý,

bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản” [7]

Trong đó: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong

đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau

có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên

Trang 14

Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến

Như vậy, ngành lâm nghiệp được xác định là toàn bộ những hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến nguyên liệu lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng

1.1.1.2 Liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế không phải là một khái niệm mới Lịch sử kinh tế cho thấy liên kết kinh tế hình thành và phát triển dựa vào các tiền đề kinh tế nhất định và gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội

Ở Việt Nam, liên kết kinh tế cũng được hình thành từ lâu Tục ngữ Việt Nam có câu Buôn có bạn, bán có phường chỉ sự liên kết của những người kinh doanh từng ngành nghề Việc tổ chức buôn bán theo phường tạo ra được liên kết giữa người bán, họ có điều kiện giúp đỡ nhau trong việc định giá, giữ giá, vay mượn hàng, giới thiệu khách hàng, bảo vệ lẫn nhau Liên kết giữa những nhà sản xuất để đáp ứng thị hiếu khách hàng và học hỏi kinh nghiệm Các liên kết khác như liên kết người bán và người sản xuất, liên kết giữa người sản xuất và cung cấp nguyên liệu cũng được hình thành Các liên kết trên góp phần tạo nên sự khác biệt của từng phường ngành nghề

Liên kết kinh tế là một phạm trù mang tính lịch sử, bản chất và nội dung của nó có thể thay đổi tùy thuộc vào từng thời kỳ nhất định nên các khái niệm về liên kết kinh tế cũng mang tính tương đối

Thuật ngữ liên kết kinh tế và những từ ngữ có liên quan đang được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm ngày một nhiều Nghiên cứu của Maskell (2005) cho thấy rằng các khái niệm liên quan đến liên kết kinh tế xuất hiện với tần suất ngày càng tăng trong các công trình nghiên cứu kinh tế được xuất bản

Trang 15

Liên kết kinh tế đề cập đến sự hợp tác giữa các đơn vị với nhau để cùng thực hiện một hay nhiều công việc đạt mục tiêu chung Liên kết kinh tế có thể thực hiện theo phạm vi địa lý như khu vực (ASEAN, AFTA), phạm vi quốc gia, phạm vi tỉnh, thành phố…., cũng có thể thực hiện giữa các chủ thể với nhau (doanh nghiệp với doanh nghiệp, cá nhân với doanh nghiệp…)

Theo từ điển thuật ngữ kinh tế (Khuê, 2001), liên kết kinh tế được định nghĩa như sau :”Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp do các đơn

vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất, trong khuôn khổ pháp luật nhà nước Mục tiêu là tạo

ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế họat động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vi tham gia liên kết hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, bảo vệ lợi ích cho nhau.”[4]

Như vậy về mặt hình thức, liên kết kinh tế phải là sự hợp tác và phối hợp giữa các đơn vị kinh tế

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của sản xuất lâm nghiệp

1.1.2.1 Đặc điểm sản xuất lâm nghiệp

Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân, cũng như các ngành kinh tế khác, để hình thành và khẳng định tính tất yếu khách quan tồn tại và phát triển, mỗi ngành đều có những đặc điểm phản ánh tính đặc thù của mình Những đặc thù này có tính quyết định đến việc tổ chức sản xuất, quản lý sử dụng các nguồn lực của ngành Cụ thể:

- Chu kỳ sản xuất dài: Đây là đặc điểm quan trọng mang tính đặc thù

của ngành Chu kỳ sản xuất được tính là khoảng thời gian kể từ khi chuẩn bị đưa các yếu tố vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng tiêu thụ Chu kỳ sản xuất là tiêu thức phản ánh đặc điểm sản xuất của các ngành sản xuất và chủ yếu là do đối tượng sản xuất quyết định Đối với lâm nghiệp, đối tượng sản xuất là rừng Khác với đối tượng sản xuất của các ngành khác, rừng là cơ

Trang 16

thể sống, trong đó quần xã cây rừng đóng vai trò chủ đạo và chúng khác biệt với các loài thực vật khác là chu kỳ sinh trưởng kéo dài và phát triển chậm Nếu tính chu kỳ thành thục tự nhiên phải hàng trăm năm, còn chu kỳ thành thục công nghệ cũng phải hàng chục năm, trong khi đó chu kỳ sản xuất của một số sản phẩm thuộc ngành công nghiệp chu kỳ chỉ tính bằng giờ và ngày ngành nông nghiệp, chu kỳ sản xuất cũng chỉ tính bằng ngày, bằng tháng (trừ một số loại cây ăn quả và cây công nghiệp) [4]

Do đặc điểm sản xuất dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tổ chức sản xuất, tình hình quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong lâm nghiệp Trước hết là vốn đầu tư lớn, vốn bị ứ đọng ở sản phẩm dở dang nằm tại rừng, dưới dạng cây non, rừng chưa thành thục công nghệ, do đó tốc độ chu chuyển chậm, thời hạn thu hồi lâu và thường hiệu quả đầu tư thấp [4]

Mặt khác sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên lại diễn ra trong thời gian dài, chắc chắn sẽ có nhiều rủi ro, khó bảo vệ thành quả lao động Đây cũng là điểm kém hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh rừng Đặc biệt là sản xuất lâm nghiệp diễn ra trong cơ chế thị trường, giá cả luôn bị tác động bởi yếu tố thời gian, chi phí cơ hội lớn, người đầu tư khó có thể dự đoán được kết quả đầu ra [4]

- Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kẽ với quá trình tái sản xuất kinh tế, trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên đóng vai trò quan trọng và quyết định:

Tái sản xuất tự nhiên là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu từ quá trình gieo hạt tự nhiên, cây rừng nẩy mầm, lớn lên, ra hoa kết quả rồi lại tiếp tục lặp đi lặp lại quá trình đó và tuân thủ theo quy luật sinh học Như vậy quá trình tái sản xuất tự nhiên là quá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiên tự nhiên và tuân theo quy luật sinh học mà không cần sự can thiệp của con người Tái sản xuất kinh tế là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển của cây rừng dưới sự tác động của con người như bón phân, làm cỏ … nhằm thỏa mãn mục đích nào đó của con người Do cây rừng luôn chịu ảnh

Trang 17

hưởng sâu sắc vào điều kiện tự nhiên nên quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn giữ vai trò quan trọng và quyết định [4]

- Tái sinh và khai thác rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:

Tái sinh là quá trình xây dựng rừng (có 2 hình thức là tái sinh tự nhiên

và tái sinh nhân tạo) Xét về hình thức thì đây là hai mặt đối lập nhau, song lại thống nhất và liên quan chặt chẽ với nhau Mục đích xây dựng là để lợi dụng

và có lợi dụng, khai thác mới thu hồi được vốn để tái sản xuất cho các chu kỳ tiếp theo Nếu đứng trên góc độ kỹ thuật thì khai thác rừng được coi là một trong những giải pháp kỹ thuật quan trọng của tái sinh rừng [4]

- Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ:

Trong sản xuất lâm nghiệp, tính thời vụ là đặc trưng của ngành sản xuất sinh học, do đặc tính sinh lý, sinh thái của cây rừng, do đòi hỏi của công nghệ khai thác mà tình hình sản xuất diễn ra tập trung vào một số tháng trong năm [4]

- Hoạt động sản xuất lâm nghiệp vừa mang mục tiêu kinh tế vừa mang mục tiêu xã hội:

Xuất phát từ đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là rừng, mà sản phẩm của rừng có tác dụng nhiều mặt Đối với mục tiêu kinh tế, sản xuất lâm nghiệp nhằm cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, cung cấp lâm sản, đặc sản… phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội Về mục tiêu xã hội, trong sản xuất lâm nghiệp còn nhằm mục tiêu phòng hộ, bảo

vệ môi trường sống, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hóa và các danh lam thắng cảnh [4]

1.1.2.2 Vai trò của sản xuất lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp có vai trò hết sức quan trọng:

Thứ nhất, sản xuất lâm nghiệp có vai trò cung cấp lâm sản, đặc sản

phục vụ các nhu cầu của xã hội Rừng cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ Gỗ là sản phẩm chính của rừng, luôn được dùng làm đồ gia dụng trong gia đình như tủ,

Trang 18

giường, bàn ghế, sập,… Trong sản xuất, gỗ còn được dùng làm nguyên liệu giấy, diêm, chế tạo công cụ sản xuất, xây dựng nhà xưởng Rừng cũng cung cấp động vật, thực vật phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, cung cấp nguyên liệu để chế biến thực phẩm Ngoài ra rừng cũng cung cấp dược liệu quý phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người [4]

Thứ hai, sản xuất lâm nghiệp có vai trò làm chức năng phòng hộ, bảo

vệ môi trường sống, cảnh quan văn hóa xã hội Với chức năng phòng hộ của rừng như: phòng hộ đầu nguồn (giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi, thoái hóa đất, giảm thiểu lũ lụt, hạn hán, giữ nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện), phòng hộ ven biển như chắn sóng, chắn gió, cát bay…, phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, điều hòa khí hâu Rừng cũng giảm thiểu tiếng ồn, tạo môi trường sinh thái tốt cho con người Bên cạnh đó, rừng cũng có ý nghĩa trong việc bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và khu du lịch [4]

Thứ ba, sản xuất lâm nghiệp có vai trò tạo nguồn thu nhập và giải quyết

công ăn việc làm cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào vùng trung du miền núi Việt Nam ước tính có khoảng 25 triệu người đang sống ở vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, cuộc sống còn nhiều khó khăn Tài nguyên rừng là nguồn thu nhập chính họ Vì vậy, ngành lâm nghiệp có vai trò quan trọng góp phần cải thiện đời sống và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng miền núi [4]

Ngoài ra, lâm nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước

1.1.3 Vai trò liên kết kinh tế trong phát triển sản xuất kinh doanh

- Góp phần đảm bảo các bên cùng có lợi trong sản xuất lâm sản

Thực tế cho thấy, nếu không có sự thống nhất về lợi ích thì không có sự thống nhất về mục đích cũng như hành động Đối với liên kết kinh tế nói chung và liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản nói riêng,

Trang 19

đảm bảo các bên cùng có lợi cũng được xem là nguyên tắc cơ bản nhất và là điều kiện tiền đề cho mối quan hệ liên kết

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh Nông dân cá thể không thể làm được điều này

Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa… Hàng hóa nông sản cần được xác định rõ về

số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm lâm sản trong sản xuất Yêu cầu chất lượng của thị trường phải làm căn cứ cơ bản để xây dựng quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết

Đối với người sản xuất lâm sản, liên kết với chế biến và tiêu thụ để nhận được các hỗ trợ về vốn, về khoa học và công nghệ; đặc biệt là để có thị trường tiêu thụ ổn định Không chỉ vậy, nông dân cũng được nâng cao trình

độ sản xuất thông qua các buổi tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất… Từ

đó gắn kết giữa nông dân và nông dân ngày càng bền chặt

Liên kết giữa nông dân với nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn Chỉ như vậy, nông dân mới có thể cung cấp sản phẩm đủ lớn về số lượng, đồng đều về chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng

Đối với người chế biến và tiêu thụ, liên kết với người sản xuất lâm sản

để có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định, chất lượng tốt… tạo điều kiện nâng cao tỷ suất sử dụng máy móc, chất lượng sản phẩm chế biến, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả các hoạt động chế biến và tiêu thụ Thực hiện liên

Trang 20

kết sẽ góp phần chấm dứt tình trạng doanh nghiệp sản xuất lâm sản mà không

có vùng cung cấp nguyên liệu ổn định, nguyên liệu không có chất lượng và không có thiết bị chế biến hiện đại Vùng quy hoạch nguyên liệu cũng là vùng thành lập hợp tác xã, tập đoàn, trang trại sản xuất tập trung một loại nguyên liệu, theo quy trình đạt chất lượng

Điểm cơ bản và cốt lõi của các mô hình sản xuất hiệu quả trong nông nghiệp chính là xây dựng các mối liên kết ngang (nông dân với nông dân) để thực hiện hành động tập thể và liên kết dọc (nông dân với doanh nghiệp) để xây dựng kênh phân phối mới của các tác nhân trong chuỗi giá trị, đáp ứng yêu cầu thị trường hiệu quả nhất dựa trên nguyên tắc các bên tham gia bình đẳng, cùng có lợi

- Tăng tính tự nguyện và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia liên kết

Sự tự nguyện được hiểu là các bên tham gia chủ động, tự giác trong mối quan hệ hợp tác nhằm phát huy hết thế mạnh, đồng thời bù đắp những hạn chế của mình, không phân biệt thành phần kinh tế, quy mô lớn nhỏ, trong nước hay ngoài nước… Đây là điều kiện cần cho sự liên kết

Bên cạnh sự tự nguyện thì sự tự chịu trách nhiệm cũng là một trong các vấn đề mang tính nguyên tắc Bởi vì, sự tự chịu trách nhiệm được coi là điều kiện đủ của quá trình liên kết nói chung, liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nói riêng Tự nguyện sẽ quy định trách nhiệm của các bên tham gia trong việc thực hiện liên kết kinh tế, cùng hưởng lợi đồng thời cũng chia sẻ những rủi ro nếu có trong quá trình liên kết kinh tế Từ đó các hoạt động liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia được thực hiện một cách thuận lợi và đem lại hiệu quả cao

Đối với liên kết giữa sản xuất và chế biến và tiêu thụ lâm sản, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm cũng là một trong các nguyên tắc quan trọng Điều này cũng xuất phát từ vai trò của các chủ thể tham gia liên kết trong chuỗi giá trị lâm sản, từ sự gắn kết lợi ích của từng thành viên trong chuỗi giá

Trang 21

trị đó Vì vậy, trong phạm vi liên kết mỗi chủ thể phải thực hiện tốt và đảm bảo tính trung thực trong dây chuyền sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản Không phải ngẫu nhiên, yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm trong liên kết được coi như là khâu kiểm định trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân trong ngành hàng lâm sản

- Góp phần làm tăng hiệu quả trong sản xuất lâm nghiệp

Thực hiện liên kết để sản xuất theo chuỗi giá trị là một trong những đột phá quan trọng hàng đầu trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp bởi ba lý do:

+ Cho phép tập trung các nguồn tài nguyên, nguồn vốn vào các mặt hàng mà nước ta có lợi thế;

+ Sản xuất theo chuỗi sẽ sắp xếp tổ chức lại sản xuất theo hướng chia

sẻ đều quyền lợi cũng như rủi ro cho các tác nhân tham gia chuỗi liên kết, từ

đó tạo động lực cho sản xuất, các tác nhân phát huy được hết khả năng của mình;

+ Sản xuất theo chuỗi cho phép kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn và các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa từ đó duy trì được thương hiệu, tăng khả năng cạnh tranh, đưa hàng hóa vào thị trường Đây là khâu chúng ta đang rất yếu

Do đó, liên kết để sản xuất theo chuỗi giá trị là xương sống trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, qua chuỗi liên kết sẽ phân công công việc phù hợp với từng đối tượng sản xuất, từ đó góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững

- Góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là tổng thể các can thiệp của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua pháp luật và các chính sách, kế hoạch để tạo môi trường pháp lý và kinh tế thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những quan hệ kinh tế của đơn vị trong sản xuất, lưu

Trang 22

thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn

bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hoá mọi quan hệ kinh tế và xã hội Việc xử lý các quan hệ đó thông qua các công cụ quản lý, trong đó có các công cụ về cơ chế, chính sách, về quy hoạch Đây là sự can thiệp đặc trưng của các hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế Tuy nhiên, nông nghiệp, nông thôn là hệ thống ngành và lĩnh vực có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp can thiệp khác với các ngành, lĩnh vực khác Với các nội dung này, nhiều người nhấn mạnh vai trò tạo lập môi trường kinh tế, môi trường pháp lý của Nhà nước đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể (hộ, trang trại, doanh nghiệp…) nói chung, trong liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản nói riêng Tuy nhiên, với vai trò điều tiết lợi ích, giám sát điều chỉnh các quan hệ kinh tế, Nhà nước đã tham gia vào liên kết kinh tế như là một đối tác thông qua các công cụ và đòn bẩy kinh tế Trên thực tế, Việt Nam đã nhận thức được vấn đề này nên đã coi Nhà nước là một trong các chủ thể tham gia liên kết kinh tế, trong “liên kết bốn nhà”

1.1.4 Nội dung liên kết kinh tế trong sản xuất

Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế kí kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước nhằm tạo ra mối quan hệ kinh tế

ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau

Trang 23

1.1.4.1 Chủ thể của liên kết

Tùy theo mức độ của tổ chức sản xuất với các hình thức cụ thể của từng nhóm chủ thể, tính đặc thù của các chủ thể liên kết biểu hiện ở tính đan xen của chủ thể trong các khâu Đặc biệt ở sự chênh lệch về trình độ của các chủ thể liên kết

Khi xem xét sự liên kết giữa sản xuất lâm nghiệp, người ta thường coi

sự liên kết theo từng khâu của quá trình sản xuất là đặc trưng của sự liên kết Các chủ thể trong liên kết giữa sản xuất có sự chênh lệch nhất định giữa các nhóm và vai trò của từng nhóm trong quá trình liên kết Khâu sản xuất là xuất phát điểm, là mắt xích đầu tiên của quá trình liên kết nên có vai trò hết sức quan trọng, tuy trình độ tổ chức liên kết có nhiều hạn chế Chế biến và tiêu thụ là các quá trình kế tiếp tạo nên các giá trị gia tăng của hàng, đôi khi tạo mức chênh lệch nhiều lần so với giá trị ban đầu

Liên kết kinh tế trong sản xuất là quá trình mang tính tất yếu khách quan, nhưng rất khó xảy ra Bởi vì trong quá trình, nông dân là chủ thể của quá trình sản xuất lâm sản, doanh nghiệp là chủ thể của chế biến và tiêu thụ lâm sản Trình độ tổ chức sản xuất, những mối quan hệ với thị trường có sự chênh lệch lớn nhất là sản xuất ở vùng miền núi Vì vậy, trong chuỗi giá trị lâm sản, những người sản xuất thường là những người chịu thiệt thòi, những người chế biến và tiêu thụ nông sản thường là những người nắm vai trò chủ động và có lợi trong chuỗi Với đặc điểm trên, vấn đề đặt ra là người cần liên kết lại không có trình độ tổ chức các hoạt động liên kết, người có lợi trong chuỗi, có khả năng tổ chức các hoạt động liên kết lại không muốn liên kết Vì vậy, vai trò của Nhà nước trong tổ chức và duy trì các hoạt động liên kết giữ vai trò hết sức quan trọng

1.1.4.2 Các hình thức liên kết

Tính đa dạng của các hình thức liên kết kinh tế bắt nguồn từ chính chủ thể của quá trình đó Rõ ràng với sự đa dạng của các chủ thể liên kết, nhất là

Trang 24

về trình độ của các chủ thể liên kết và tính đa dạng, biệt lập trong các hoạt động của các nhóm chủ thể liên kết đã buộc họ phải lựa chọn các hình thức liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản Thông thường, liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản được thực hiện ở 2 cấp

vĩ mô và vi mô với nhiều hình thức khác nhau Ở cấp vĩ mô, liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản thông qua các hoạt động quản lý nhà nước và biểu hiện ở các định hướng liên kết thông qua các quy hoạch, chính sách, hỗ trợ tổ chức ngành hàng… Trên phương diện này, liên kết kinh tế được thể hiện ở việc tạo lập các môi trường liên kết của các hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế Ở cấp vi mô, liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản thông qua các hình thức liên kết nội bộ khi chuyển các mối quan

hệ bên ngoài thành các mối quan hệ bên trong, thông qua việc lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất; tổ chức cung ứng cho nhau các điều kiện sản xuất

về vốn, kỹ thuật và các yếu tố đầu vào, đặc biệt là sự chuyển hóa dòng sản phẩm từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ Sự đa dạng hóa các hình thức liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản là đặc điểm khá khác biệt trong liên kết của ngành hàng lâm sản, với sự đa dạng của các chủ thể tham gia liên kết của chuỗi, khi giữa chúng có mức độ và trình độ thực thi liên kết khác nhau Đây là vấn đề cần được xem xét để có sự lựa chọn cho phù hợp

LKKT có diễn ra dưới nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu, ”

Theo Frank Pyke, 2000 có thể chia thành liên kết theo chiều dọc và liên kết theo chiều ngang:

Trang 25

+ Liên kết theo chiều dọc: Là mối liên kết giữa người mua hàng, nhà phân phối, các tập đòan, các doanh nghiệp địa phương đến các doanh nhiệp vừa và nhỏ hình thành chuỗi giá trị sản phẩm Nhìn chung liên kết theo chiều dọc không giới hạn về mặt địa lý, và quy mô doanh nghiệp Thông thường các doanh nghiệp lớn tại các nước phát triển có thể gia công hàng hóa ở các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh của cá nước này như chi phí lao động thấp, nguồn tài nguyên dồi dào… Liên kết này hình thành các đơn hàng giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện được một hay nhiều khâu trong chuỗi giá trị Loại hình liên kết này thường thấy ở các sản phẩm như may mặc, giày dép, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất

+ Liên kết theo chiều ngang: Là mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành với các doanh nghiệp của các ngành khác có liên quan (cung cấp nguyên vật liệu, các sản phẩm, dịch vụ bổ trợ phát triển kinh doanh…) Liên kết này thường giới hạn ở phạm vi địa địa lý cụ thể hay thông qua các hiệp hội ngành nghề Trong liên kết theo chiều ngang, các doanh nghiệp cùng ngành có thể phối hợp với nhau để cung cấp hàng hóa cho đơn hàng lớn, các doanh nghiệp đầu vào và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bổ trợ cũng đóng vai trò quan trọng

1.1.4.3 Tính chất của sự liên kết

Mọi người đều có chung nhận thức về sự cần thiết của liên kết không chỉ giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ mà còn của các hoạt động giữa các khâu của ngành hàng công nghiệp và các ngành hàng khác Tuy nhiên, giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản tính cấp thiết của sự liên kết còn mạnh mẽ hơn Điều đó trở thành đặc điểm phản ánh về tính chất của các hoạt động liên kết của các ngành hàng lâm sản Đối tượng của sản xuất lâm nghiệp

có đặc thù là những cơ thể sống Vì thế, các quy luật sinh học không chỉ diễn

ra trong quá trình sản xuất mà còn tiếp diễn sau khi quá trình sản xuất lâm nghiệp kết thúc, thậm chí cả trong quá trình tiêu thụ sản phẩm

Trang 26

Không gian của sự liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản không chỉ ở không gian hẹp mà quan trọng hơn đó là mối quan hệ liên kết rộng, không chỉ liên kết bó hẹp trong phạm vi một địa phương, một vùng, một quốc gia mà còn mở rộng theo phạm vi quốc tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của các quốc gia vào nền kinh tế quốc tế Đặc điểm này không chỉ phản ánh tính chất chặt chẽ của liên kết mà còn phản ánh tính mở rộng của

sự liên kết Đặc điểm này cũng đặt ra các vấn đề quan trọng của việc tổ chức các hoạt động liên kết, trong đó vai trò của sự kết nối các chủ thể trong liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ lâm sản là rất quan trọng

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới mối liên kết giữa công ty và người dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp

1.1.5.2.Trình độ nhân lực của vùng

Theo Ngân hàng thế giới (WB), ngành Chế biến gỗ là ngành có tiềm năng phát triển, có năng lực cạnh tranh trên quốc tế, thị trường rộng lớn Với quy mô khoảng hơn 420.000 lao động thường xuyên tại các nhà máy và hàng triệu lao động gián tiếp có liên quan Tuy nhiên, số lượng kỹ sư ngành Chế biến lâm sản, Thiết kế nội thất chỉ chiếm 1-2%, 20-30% trong tổng số lao động được đào tạo bài bản, còn lại là lao đông phổ thông (70-80%) chưa qua đào tạo Điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất lao động của

Trang 27

ngành chế biến gỗ Việt Nam thấp, chỉ bằng 50% năng suất lao động so với Philippines, 40% của Trung Quốc và 20% của Liên minh châu Âu Hiện nay, các doanh nghiệp phải tự đào tạo nguồn lao động phổ thông Kỹ sư chế biến lâm sản từ các trường đại học ra cung không đủ cầu, các trường đào tạo nghề không thu hút được học viên ngành chế biến gỗ, các doanh nghiệp thiếu nguồn nhân công lành nghề có khả năng sử dụng những thiết bị tự động, điều khiển số

Trình độ của nhân lực vùng ảnh hưởng đến sự liên kết kinh tế giữa

người dân và công ty lâm nghiệp

1.1.5.3.Nhận thức của người dân về liên kết kinh tế

Việc người dân nhận thức về liên kết kinh tế giúp cho quá trình gia tăng liên kết giữa người dân và công ty lâm nghiệp được vững chắc hơn, giúp cho công ty an tâm trong công tác trồng rừng và chăm sóc rừng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới

1.2.1.1.Thái Lan (liên kết tiêu thụ mía đường)

Mía đường là loại cây công nghiệp dài ngày, một trong những cây trồng chủ yếu của Thái Lan, góp phần đưa nước này đứng thứ 5 trên thế giới

Trang 28

về sản xuất mía đường, sau Brazil, Ấn Độ, Mexico và Trung Quốc Ở Thái Lan, sản xuất mía đường chủ yếu theo hợp đồng, bởi hầu hết các nhà máy chế biến đường không tự trồng mía mà ký kết hợp đồng với nông dân trồng mía Cũng giống như nhiều quốc gia trên thế giới, mối quan hệ giữa các nhà máy chế biến đường và người trồng mía không phải lúc nào cũng suôn sẻ mà thường xuyên có sự bất đồng liên quan đến giá mía

Để tăng quyền lực trong thương thảo với nông hộ, 47 nhà máy đường ở Thái Lan đã tổ chức thành 3 hiệp hội các nhà máy chế biến đường, phục vụ cho lợi ích của 3 nhóm chế biến đường lớn Ba hiệp hội này hợp tác về các vấn đề lợi ích kinh tế sau: Làm cho giá mía thấp hơn, giá đường trong nước cao hơn và thuế thấp hơn Nhằm tăng cường sức mạnh thương lượng với các nhà máy chế biến đường, năm 1964, Hiệp hội những người trồng mía ở Thái Lan vùng 7 đã được thành lập ở Amphoe Thamaka, Kachanaburi Đây là tổ chức đầu tiên của nông dân trồng mía và số nông dân trồng mía trải dài 4 tỉnh Kachanaburi, Ratchanaburi, Nakhon Pathon và Suphanburi Năm 1971, tổ chức này đã đăng ký thành Hiệp hội chính thức Thành công của Hiệp hội trên

đã thổi luồng gió mới vào những nông dân trồng mía, đến năm 1969, vùng phía Đông cũng đã hình thành Hiệp hội nông dân Chonburi Giai đoạn năm

1971 - 1972, 2 hiệp hội này liên kết với nhau để thương lượng giá với các nhà máy chế biến đường

Đến nay, ở Thái Lan có tất cả 26 hội hỗ trợ nông dân trồng mía và 1 hợp tác xã của người trồng mía, với nhiệm vụ đại diện cho nông dân kiểm tra, giám sát giá cả, chất lượng, trọng lượng mía cây Các hiệp hội đã trở thành nhân tố quan trọng giúp tạo nên một cơ chế liên kết khá bền vững trong ngành Mía đường của Thái Lan và bảo vệ quyền lợi của nông dân trồng mía [8]

1.2.1.2.Hoa Kỳ (liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản)

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp (DN) và nông hộ đã phát triển khá mạnh ở nhiều vùng sản xuất nông nghiệp ở

Trang 29

Hoa Kỳ, với những mặt hàng ban đầu là lúa mỳ và bắp Năm 1969, liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ được thực hiện theo hình thức hợp đồng, chiếm được 11% tổng giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp Hoa Kỳ (Bảo Trung, 2009) Mặc dù, Chính phủ Hoa Kỳ không có chính sách hỗ trợ thúc đẩy liên kết người mua và người bán, tuy nhiên, dưới các động lực của cơ chế thị trường, liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ tại Hoa Kỳ ngày càng được phát triển theo chiều sâu Năm 1991, liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ theo hình thức hợp đồng đã tăng lên mức 28%, đến năm 2001 là 36% và năm 2003 là 39%, tăng gần 4 lần so với năm 1969

Hình thức liên kết kinh tế phổ biến giữa DN và nông hộ tại Hoa Kỳ là hình thức trực tiếp giữa trang trại và nhà chế biến, đặc biệt là giữa các trang trại lớn và các hợp tác xã chế biến trực tiếp Đối với trang trại lớn sản xuất hàng hóa, tỷ trọng trang trại ký hợp đồng trên tổng số trang trại năm 2001 chiếm 41,7% và năm 2003 chiếm 46,7% Đối với những trang trại có quy mô doanh số hơn 1 triệu USD, năm 2013, tỷ trọng trang trại ký hợp đồng là 64,2%

Liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ tại Hoa Kỳ cũng có sự khác biệt giữa các loại sản phẩm Chẳng hạn như: Năm 2012, liên kết kinh tế theo hình thức hợp đồng ở ngành Chăn nuôi gia cầm chiếm 88% tổng giá trị sản xuất của Ngành; chỉ số này đối với một số cây dài ngày như cây mía là 96% và cây

ăn quả là 60% (Business Innovation, 2012) Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống hạ tầng giao thông, sự hình thành và phát triển của các tập đoàn bán lẻ,

mở rộng quy mô các trang trại và nhà máy chế biến vẫn tiếp tục tạo ra động lực thúc đẩy liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ, đặc biệt là liên kết theo hình thức hợp đồng [8]

1.2.1.3.Trung Quốc (liên kết theo hình thức hợp đồng)

Liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ ở Trung Quốc được tái lập lại từ khi nước này thực hiện đổi mới vào năm 1978 Nhận thức được vai trò của

Trang 30

liên kết kinh tế, trong chương trình hiện đại hóa nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển liên kết, đặc biệt là liên kết theo hợp đồng nhằm giúp cho ngành sản xuất nông nghiệp thu được nhiều lợi nhuận và có sức cạnh tranh

Từ năm 1990, để thúc đẩy liên kết kinh tế, đặc biệt là liên kết theo hình thức hợp đồng, Trung Quốc đã lựa chọn và chỉ định các DN có tiềm lực kinh

tế, quy mô lớn, có kỹ thuật và công nghệ ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân ở những ngành hàng có đủ điều kiện thực hiện liên kết Ủy ban Phối hợp phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp quốc gia đưa ra tiêu chuẩn và giám sát việc thực hiện của các DN này Chính quyền địa phương thực hiện nhiều chính sách khuyến khích như hỗ trợ tín dụng, giảm thuế nếu thực hiện liên kết sản xuất theo hợp đồng Bên cạnh đó, nhận thức được tầm quan trọng của liên kết sản xuất theo hợp đồng, nên ngày càng có nhiều DN và nông dân tham gia sản xuất theo hình thức liên kết Từ năm 1996 đến 2002, số lượng các công ty kinh doanh nông sản tham gia hợp đồng bao tiêu nông sản đã tăng 5 lần, từ 8.377 đến 46.060 công ty Số lượng những hộ nông dân đã ký hợp đồng với

DN tăng lên gần 72.650.000 vào năm 2002 Từ giữa năm 1996 đến năm 2002,

tỷ lệ các hộ nông dân tham gia vào hợp đồng bao tiêu nông sản tăng lên từ 10% đến 30%

Có thể nói, Trung Quốc thành công với phát triển liên kết kinh tế theo hình thức hợp đồng bao tiêu nông sản, trong khi thiếu vắng các cơ chế pháp luật thực thi hợp đồng hiệu quả Ở Trung Quốc, liên kết kinh tế phổ biến được thực hiện theo các hình thức sau: Hợp đồng trực tiếp giữa nông dân và DN đầu rồng; hợp đồng giữa nông dân và người mua gom; hợp đồng giữa nông dân và chính quyền địa phương; hợp đồng giữa nông dân và hợp tác xã và một số hình thức khác Giá cả thỏa thuận trong các liên kết kinh tế ở Trung Quốc được triển khai theo 3 hình thức sau: giá cố định, giá sàn và giá theo thị trường

Trang 31

Tuy nhiên, ở Trung Quốc, cơ chế pháp lý ít được coi trọng trong việc cải thiện thực thi liên kết kinh tế theo hình thức hợp đồng Các công ty được khảo sát cho biết, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thường gặp khó khăn, khoảng 53% công ty không có cách nào để giải quyết xung đột (Hồ Quế Hậu, 2013) Nguyên nhân khiến nhiều hợp đồng thất bại là do nông dân cung ứng với chất lượng thấp và bán sản phẩm cho các công ty khác với một mức giá cao hơn Trong khi đó, các cơ chế thực thi hợp đồng tư nhân đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ để hoàn thành hoặc vi phạm hợp đồng Các thỏa thuận hợp đồng chẳng hạn như giá sàn, hoặc các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt tạo thuận lợi cho việc tự thực thi và cải thiện đáng

kể tỷ lệ hoàn thành hợp đồng của các nông hộ.[8]

1.2.2 Ở Việt Nam

Giống như Thái Lan, Hoa Kỳ và Trung Quốc, liên kết giữa DN và nông

hộ cũng xuất hiện trong ngành Nông nghiệp tại Việt Nam Cụ thể, ở Việt Nam liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ xuất hiện ở nhiều đối tượng sản xuất nông nghiệp như: Nuôi heo, trồng lúa, ngô, thuốc lá, mía, chè, bông vải, cà phê, hồ tiêu…

Tuy nhiên, mức độ phổ biến liên kết ở các đối tượng sản xuất nông nghiệp có sự khác nhau Liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ ở Việt Nam thường phổ biến ở cây bông vải, chè, lúa giống, thuốc lá, cà phê Hình thức liên kết kinh tế khá đa dạng, có thể được thực hiện trực tiếp giữa DN và nông

hộ, hoặc thực hiện thông qua một tác nhân trung gian với 5 mô hình liên kết là: Trang trại hạt nhân; Trung gian; Tập trung; Đa chủ thể và Phi chính thức Nhận thức được vai trò của hoạt động liên kết, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm định hướng, hỗ trợ và thúc đẩy như: Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về

Trang 32

chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp…

Được sự hỗ trợ của Nhà nước, nhiều mô hình liên kết đã được hình thành hoặc củng cố phát triển, tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy hoạt động liên kết giữa DN và nông hộ Tuy nhiên, do nguồn ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, một số nội dung của chính sách khó áp dụng vào điều kiện thực tế cho nên hoạt động này vẫn chưa thật sự phổ biến và mang lại hiệu quả cao

Trên cơ sở kinh nghiệm về liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp ở một số nước trên thế giới, để thúc đẩy liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, thời gian tới, cần lưu ý một số giải pháp sau:

Một là, thành lập các hiệp hội nông dân để giúp tăng cường vị thế và

khả năng thương lượng của nông dân trong quá trình liên kết Đồng thời, đây cũng là nhân tố quan trọng bảo đảm lợi ích của nông dân trong quá trình thực hiện liên kết kinh tế với DN

Hai là, cần đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, hình thành và

phát triển của các tập đoàn bán lẻ, mở rộng quy mô các trang trại và nhà máy chế biến để tạo động lực thúc đẩy liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ, đặc biệt là liên kết theo hình thức hợp đồng Bên cạnh đó, cần lưu ý liên kết kinh

tế giữa DN và nông hộ có sự khác biệt giữa các đối tượng sản xuất nông nghiệp Cùng một điều kiện như nhau, nhưng kết quả liên kết kinh tế sẽ không giống nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi Do đó, việc liên kết kinh tế giữa

DN và nông hộ, đặc biệt là liên kết theo chiều sâu sẽ không thành công ở tất

cả các loại sản phẩm nông sản

Trang 33

Ba là, để thúc đẩy liên kết kinh tế, Chính phủ thành lập các DN nhà

nước để liên kết với nông hộ là hoạt động không cần thiết, vì nếu DN nhà nước hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả liên kết và hiệu quả sản xuất của nông hộ

Bốn là, chú trọng đến lợi ích của nông dân và DN nhận được trong quá

trình liên kết Vì đây là động lực quan trọng giúp duy trì, mở rộng và tạo tính bền vững trong liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ

Năm là, một địa phương vẫn có thể thành công với phát triển liên kết

kinh tế giữa DN và nông hộ dù thiếu vắng các cơ chế pháp luật hỗ trợ thực thi liên kết hiệu quả Tuy nhiên, sự định hướng, hỗ trợ đúng đắn của chính phủ sẽ tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển liên kết kinh tế giữa DN và nông hộ

Một số mô hình liên kết:

* Liên kết giữa NAFOCO và các hộ trồng rừng tại Yên Bái

Tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Gỗ Nam Định (NAFOCO) là một trong những nhà cung cấp sản phẩm gỗ lớn nhất cho Tập đoàn IKEA Hiện NAFOCO có 4 nhà máy sản xuất tại Nam Định, với khoảng 3.200 lao động Khoảng 90% các sản phẩm của NAFOCO được xuất khẩu cho Tập đoàn IKEA Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ của NAFOCO đạt khoảng 36 triệu USD

Nhằm phát triển nguồn nguyên liệu rừng trồng FSC, NAFOCO tiến hành làm việc với chính quyền tỉnh Yên Bái và có được sự hậu thuẫn của tỉnh

Cụ thể, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN & PTNT) ra quyết định cho phép việc thực hiện chứng chỉ rừng FSC theo hình thức nhóm hộ trong địa bàn tỉnh Sở cũng lựa chọn địa bàn huyện Yên Bình làm nơi thực hiện thí điểm mô hình chứng chỉ nhóm hộ, bắt đầu từ tháng 4 năm 2016, với quy mô thí điểm khoảng 1.000 – 3.000 ha Hội Nông dân huyện Yên Bình được tỉnh giao làm đầu mối phối hợp với Uỷ ban Nhân dân (UBND) các xã tổ chức các

hộ gia đình có sẵn các diện tích rừng trồng có nguyện vọng tham gia mô hình

Trang 34

rừng có chứng chỉ FSC thành các nhóm hộ Các nhóm hộ có tên gọi Hội các nhóm hộ có chứng chỉ rừng Yên Bình, do Chủ tịch Hội Nông dân huyện làm Trưởng đại diện

Trong số các hộ tham gia các nhóm trồng rừng FSC này có khoảng 60

hộ với diện tích khoảng 200 ha là diện tích các hộ nhận khoán trồng rừng với

2 Công ty là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp (TNHH MTV LN) Yên Bình và Công ty TNHH MTV LN Thác Bà (phần lớn

là các hộ cán bộ công nhân viên của 2 Công ty)

Xưởng xẻ Trường Thành—là xưởng xẻ CoC đóng trên địa bàn huyện Yên Bình có hợp tác và được NAFOCO cung cấp máy móc và hỗ trợ kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu của FSC—thay mặt NAFOCO đứng ra mua gỗ của hộ dân Gỗ đã mua được vận chuyển về Xưởng để sơ chế trước khi chuyển về NAFOCO

Đến nay, mô hình liên kết này có tổng cộng 494 hộ tại 53 thôn thuộc

5 xã của huyện Yên Bình tham gia Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC là 1.737 ha,7 toàn bộ là rừng trồng là rừng sản xuất, trong đó chủ yếu là Keo Tai tượng (1.637 ha, chiếm 94,3% tổng diện tích được cấp chứng chỉ); còn lại là Bồ đề và Bạch đàn.8 Chi phí hỗ trợ các hộ nhằm tuân thủ với các yêu cầu của FSC được hỗ trợ một phần bởi Chương trình Rừng và Trang trại (Farm and Forest Facility) của FAO, thông qua Hội Nông dân Sau khi đã đáp ứng các tiêu chí, Hội nông dân đã mời Công ty

tư vấn GFA thực hiện đánh giá Toàn bộ chi phí đánh giá ban đầu ($8.000 US) được NAFOCO chi trả Diện tích rừng nêu trên đã được FSC cấp chứng chỉ từ ngày 04/11/2016 với thời hạn 5 năm Bên cạnh việc hỗ trợ chi phí đánh giá, NAFOCO còn hỗ trợ một phần kinh phí trang thiết bị văn phòng cho Ban đại diện nhóm (khoảng 120 triệu đồng), cam kết hỗ trợ vốn hoặc tạm ứng cho các hộ trồng Keo chứng chỉ từ năm thứ 6 trở đi nhằm tạo nguồn nguyên liệu gỗ lớn Công ty cũng cam kết sẽ mua gỗ

Trang 35

nguyên liệu có chứng chỉ FSC cao hơn ít nhất 10% so với giá bán trung bình cùng loại trên thị trường vào thời điểm giao dịch Tháng 12/2016, tức ngay sau khi được cấp chứng chỉ, một hộ gia đình tham gia Hội các nhóm hộ có chứng chỉ rừng Yên Bình đã khai thác 1,5 ha rừng Keo 9 tuổi bán cho Công ty NAFOCO Giữ đúng cam kết, NAFOCO mua mỗi m3 gỗ

có đường kính đầu nhỏ từ 14 cm trở lên cao hơn 150.000 đồng Ngoài ra NAFOCO còn hỗ trợ thêm 100.000 đồng tiền vận chuyển cho mỗi m3 gỗ Công ty thu mua, từ rừng đến Xưởng xẻ CoC (đóng trên địa bàn) So sánh với giá bán gỗ không có chứng chỉ tại thời điểm giao dịch với gỗ cùng kích thước là 1,4 triệu đồng / m3, NAFOCO đã trả cao hơn 10,7% (chưa tính tiền hỗ trợ vận chuyển), hay 17,9% (nếu tính cả tiền hỗ trợ vận chuyển)

Hiện NAFOCO đang tích cực hợp tác với các hộ tại các địa bàn như Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh nhằm mở rộng diện tích rừng trồng có chứng chỉ, tạo nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào của quá trình sản xuất NAFOCO đã tự bỏ kinh phí tương đương gần 1 triệu USD để đầu tư cho các hộ trồng rừng tại Hòa Bình, nhằm giúp các hộ đáp ứng với các yêu cầu mà FSC đòi hỏi

* Liên kết giữa công ty Woodsland và các hộ trồng rừng tại Tuyên Quang

Công ty Woodsland cũng đang hợp tác với nhiều hộ trồng rừng, bao gồm nhiều hộ tại Tuyên Quang, nhằm phát triển nguồn gỗ nguyên liệu có chứng chỉ FSC Woodsland bắt đầu trở thành nhà cung cấp chính của IKEA tại Việt Nam từ tháng 4 năm 2014 Hiện Công ty có 4 nhà máy sản xuất chính với 1.300 công nhân Bình quân mỗi tháng Woodsland xuất khẩu khoảng 50 container sản phẩm gỗ cho IKEA

Bên cạnh việc hợp tác với các hộ trồng rừng, Woodsland cũng hợp tác với 5 Công ty Lâm nghiệp Nhà nước (CTLN) tại tỉnh Tuyên Quang

Trang 36

nhằm phát triển nguồn gỗ rừng trồng có chứng chỉ Hiện tổng cộng diện tích rừng có chứng chỉ của 5 Công ty này đạt 11.462 ha (CTLN Chiêm Hóa (huyện Chiêm Hóa) 5.514 ha; CTLN Sơn Dương (huyện Sơn Dương) 2.480 ha, CTLN Yên Sơn 1.722 ha, CTLN Tuyên Bình 1.419 ha, và CTLN Nguyễn Văn Trỗi 326 ha (huyện Yên Sơn)

Tổng diện tích được cấp chứng chỉ FSC đến 2016 là 1.722,40 ha

* Liên kết giữa Công ty Scansia Pacific và các hộ trồng rừng tại Quảng Trị

Tại Quảng Trị, với sự hỗ trợ của Tổ chức SDC và Tập đoàn IKEA, thông qua tổ chức WWF, 564 hộ trồng rừng tại 7 huyện, thị xã và thành phố13 đã nhận được sự hỗ trợ để thực hiện việc trồng rừng có chứng chỉ Mô hình nhóm hộ trồng rừng có chứng chỉ tại đây vẫn đang tiếp tục được mở rộng Từ năm 2016, công ty Scansia Pacific đã ký thỏa thuận bao tiêu nguồn

gỗ nguyên liệu với các nhóm hộ trồng rừng Công ty đã tài trợ cho các nhóm

hộ ở đây một phần chi phí đánh giá cấp chứng chỉ FSC cho 1.392 ha rừng trồng (100% Keo) Công ty cũng cam kết cho các hộ dân trồng Keo có chứng chỉ FSC có tuổi cây Keo từ năm thứ 6 trở đi, vay tối đa 4 triệu đồng / ha / năm, với lãi suất thấp hơn 0,2%/năm so với mức lãi suất trung bình năm của các ngân hàng thương mại trong nước tại thời điểm vay Mục đích của việc cho các hộ vay là nhằm giúp các hộ này có nguồn lực tài chính để kéo dài chu

kỳ trồng cây, tạo nguồn gỗ lớn Các hộ vay vốn phải hoàn trả số tiền vay và lãi vay một lần khi khai thác và bán gỗ Công ty cam kết mua gỗ Keo có chứng chỉ FSC cao hơn tối thiểu từ 15-18% so với giá thị trường của gỗ không có chứng chỉ tại thời điểm giao dịch

Trang 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨUVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Hữu Lũng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ

độ địa lý từ 21023’ đến 21045’ vĩ độ Bắc, từ 106010’ đến 106032’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2

Ranh giới của huyện:

- Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn

- Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Bắc Giang

- Phía Đông giáp huyện Chi Lăng và huyện Lục Ngạn, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

Huyện Hữu Lũng có 26 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn Hữu Lũng và

25 xã (Đồng Tân, Cai Kinh, Hòa Lạc, Yên Vượng, Yên Thịnh, Yên Sơn, Hữu Liên, Sơn Hà, Hồ Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn, Minh Hòa, Hòa Thắng, Minh Sơn, Nhật Tiến, Minh Tiến, Đô Lương, Vân Nham, Thanh Sơn, Đồng Tiến, Tân Lập, Thiện Kỵ, Yên Bình, Hòa Bình, Quyết Thắng) Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Hữu Lũng, cách thành phố Lạng Sơn 70 km về phía Nam

2.1.1.2 Địa hình

Huyện Hữu Lũng thuộc vùng núi thấp của tỉnh Lạng Sơn, địa hình được phân chia rõ giữa vùng núi đá vôi ở phía Tây Bắc và vùng núi đất ở phía Đông Nam Phần lớn diện tích ở vùng núi đá vôi có độ cao 450 - 500m và ở vùng núi đất có độ cao trên dưới 100 m so với mặt nước biển Nhìn chung, địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và các dãy núi đất

Trang 38

Địa hình núi đá chiếm trên 25% tổng diện tích tự nhiên Xen kẽ giữa vùng núi đá là những thung lũng nhỏ địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng đất sản xuất nông nghiệp của cư dân Xen kẽ các vùng núi đất là các dải đất ruộng bậc thang phân bố theo các triền núi, triền sông, khe suối trong vùng, là vùng đất sản xuất nông nghiệp được tạo lập từ nhiều đời nay cung cấp lương thực cho cư dân sinh sống trong vùng

2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Hữu Lũng chịu sự ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía Bắc, khô lạnh

và ít mưa về mùa Đông, nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 22,70C Tháng 7 có nhiệt độ không khí trung bình cao nhất là 28,50C Tháng 01 có nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất là 2,50 C

Lượng mưa trung bình năm là 1.488,2mm với 135 ngày mưa trong năm

và phân bố từ 13 - 17 ngày/tháng, tăng dần từ tháng 5 đến tháng 8 Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và chiếm trên 9% lượng mưa cả năm

2.1.1.4 Thổ nhưỡng

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 80.674,64 ha chiếm 9,7% diện tích toàn tỉnh, trong đó diện tích núi đá có 33.056 ha chiếm 40,97% tổng diện tích của huyện; diện tích đồi núi đất có 45.223 ha chiếm 56,1% Đa số diện tích đồi núi của Hữu Lũng thuộc loại địa hình dốc

Đất đai gồm 9 loại đất, trong đó tập trung chủ yếu vào 4 loại đất chính

đó là: Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs) có khoảng 18.691 ha; đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) có khoảng 9.021 ha; đất vàng đỏ trên đá mácma axít (Fa) có khoảng 7.080 ha và đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv) có khoảng 4.350 ha

Về tình hình sử dụng đất, theo điều tra năm 2010 đất nông nghiệp của huyện là 56.316,67 ha chiếm 69,81% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 25,57%; đất lâm nghiệp chiếm 43,78% tổng diện tích

tự nhiên

Trang 39

Diện tích đất phi nông nghiệp 6.263,25 ha chiếm 7,76% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó đất chuyên dùng hiện nay là 58%, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 23% tổng diện tích đất phi nông nghiệp

Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều, khoảng 22,43% tổng diện tích tự nhiên của huyện trong đó đất bằng chưa sử dụng là 320,81 ha; đất đồi núi chưa sử dụng là 140,33 ha, phân bố ở các xã vùng gò đồi và vùng núi; núi đá không có rừng cây là 17.633,68 ha chiếm 97,4% tổng diện tích đất chưa sử dụng Diện tích đất chưa sử dụng của huyện chủ yếu là núi đá không có rừng cây và đất bằng chưa sử dụng

2.1.1.5 Tài nguyên nước

Hệ thống sông, suối, kênh, mương của huyện Hữu Lũng có khoảng 1.427,96 ha gồm có 2 con sông lớn chảy qua là sông Thương và sông Trung

Sông Thương dài 157 km bắt nguồn từ dãy núi Nà Pá Phước cao 600m gần ga Bản Thí của huyện Chi Lăng chảy qua huyện theo hướng Đông Bắc-Tây Nam xuôi về tỉnh Bắc Giang Sông Thương gặp sông Trung chảy từ Thái Nguyên về ở Na Hoa xã Hồ Sơn Trong địa bàn của huyện, thung lũng Sông Thương được mở rộng trên 30 km Sông Thương có độ rộng bình quân chỉ 6

m, độ cao trung bình 176 m, độ dốc lưu vực 12,5%, lưu vực dòng chảy trung bình năm là 6,46 m3/s, lưu lượng vào mùa lũ chiếm khoảng 67,6 - 74,9%, còn mùa cạn là 25,1 - 32,4% Sông Thương là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân các dân tộc trong huyện

Sông Trung bắt nguồn từ vùng núi Thái Nguyên chảy qua huyện theo hướng Tây Bắc-Đông Nam đổ vào sông Thương ở phía bờ phải tại thôn Nhị

Hà, xã Sơn Hà Sông Trung chảy trong vùng đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc trung bình lưu vực sông là 12,8%

Ngoài ra, huyện còn có khoảng 216,69 ha các ao, hồ như hồ Cai Hiển;

hồ Chiến Thắng; hồ Tổng Đoàn … và ở khắp các xã trong huyện đều có các

Trang 40

con suối lớn, nhỏ chảy quanh các triền khe, chân đồi ven theo các làng, bản, chân ruộng

Hệ thống sông, suối, kênh mương cùng các ao hồ của huyện đảm bảo nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn Hệ thống sông, suối với địa hình dốc có thể phát triển thuỷ điện nhỏ

Nguồn nước ngầm của huyện cũng khá dồi dào với chất lượng tốt

2.1.1.7 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của Hữu Lũng chủ yếu có: Đá vôi với hàm lượng Cao khoảng 55% là nguyên liệu để sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng tập trung ở Đồng Tân, Cai Kinh; Yên Vượng, Yên Thịnh, Yên Sơn, Minh Tiến, Đồng Tiến với diện tích khai thác khoảng 544,05 ha; Ngoài ra, Hữu Lũng còn có một số khoáng sản khác như mỏ sắt ở Đồng Tiến, diêm tiêu

ở Tân Lập, Thiện Kỵ, phốt phát Vĩnh Thịnh, mỏ bạc Nhật Tiến và các loại cát, cuội, sỏi cung cấp cho nhu cầu xây dựng của huyện và tỉnh

2.1.1.8 Tài nguyên văn hóa - du lịch

Hữu Lũng là huyện miền núi thấp có khí hậu ôn hòa đặc sắc của vùng núi, lại rất thuận lợi về giao thông, có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, văn hóa đa dạng phong phú, lại cách Hà Nội không xa, khoảng 80 km là tiềm năng, điều kiện tự nhiên quý giá để huyện phát triển mạnh lĩnh vực dịch vụ và

du lịch:

Ngày đăng: 24/06/2021, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2017
2. Đỗ Đức Chi (1995), Những vấn đề kinh tế chủ yếu nhằm phát triển lâm nghiệp xã hội Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế chủ yếu nhằm phát triển lâm nghiệp xã hội Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Chi
Năm: 1995
3. Cục thống kê Hòa Bình (2016. 2017, 2018), Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình 4. Nguyễn Nghĩa Biên (2010), Giáo trình kinh tế lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình " 4. Nguyễn Nghĩa Biên (2010), "Giáo trình kinh tế lâm nghiệp
Tác giả: Cục thống kê Hòa Bình (2016. 2017, 2018), Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình 4. Nguyễn Nghĩa Biên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 2010
5. Trần Văn Mão (2008), Bảo vệ môi trường và phát triển lâm nghiệp bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển lâm nghiệp bền vững
Tác giả: Trần Văn Mão
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
6. Lưu Văn Nghiêm (2008), “Biến đổi khí hậu toàn cầu và những giải pháp thích ứng với kinh tế nông lâm nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biến đổi khí hậu toàn cầu và những giải pháp thích ứng với kinh tế nông lâm nghiệp Việt Nam”
Tác giả: Lưu Văn Nghiêm
Năm: 2008
8. Nguyễn Thanh Phương (2020), Kinh nghiệm quốc tế về liên kết giữa DN và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp, Tạp chí Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về liên kết giữa DN và nông hộ trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Phương
Năm: 2020
9. Nguyễn Ngọc Thanh (2007), Thực trạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp Việt Nam hiện nay, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh
Năm: 2007
10. Trần Phúc Thịnh (1995), Nghiên cứu lựa chọn mô hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp hợp lý ở tỉnh Vĩnh Phú, Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lựa chọn mô hình doanh nghiệp nông lâm nghiệp hợp lý ở tỉnh Vĩnh Phú
Tác giả: Trần Phúc Thịnh
Năm: 1995
11. Đinh Đức Thuận (2002), Kinh nghiệm phát triển lâm nghiệp xã hội ở một số nước châu á và vận dụng vào điều kiện Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển lâm nghiệp xã hội ở một số nước châu á và vận dụng vào điều kiện Việt Nam
Tác giả: Đinh Đức Thuận
Năm: 2002
12. Hà Công Tuấn (2011), Lâm nghiệp Việt Nam trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp Việt Nam trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Tác giả: Hà Công Tuấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
14. Ủy ban quốc tế về Môi trường và phát triển (1987), Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED, dưới tiêu đề “Tương lai chung của chúng ta - Our Common Futur” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED, dưới tiêu đề “Tương lai chung của chúng ta - Our Common Futur
Tác giả: Ủy ban quốc tế về Môi trường và phát triển
Năm: 1987
15. Phạm Văn Vang (2007), Lâm Nghiệp Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường, Tạp chí kinh tế Châu Á - Thái bình dương, 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Nghiệp Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường
Tác giả: Phạm Văn Vang
Năm: 2007
13. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2010), Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 – 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình lao động của Công ty - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 2.1. Tình hình lao động của Công ty (Trang 49)
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất lâm nghiệp của Công ty - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất lâm nghiệp của Công ty (Trang 57)
Bảng 3.6. Kết quả mô hình liênkết với hộ dân tại Công ty - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.6. Kết quả mô hình liênkết với hộ dân tại Công ty (Trang 68)
Bảng 3.7 Các hình thức giao khoán Công ty đang áp dụng - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.7 Các hình thức giao khoán Công ty đang áp dụng (Trang 69)
Bảng 3.8. Tình hình sử dụng đất trước khi lấn chiếm  Xã    Tự tổ  chức SX Giao khoán Theo NĐ  01/CP Theo NĐ  135/2005/NĐ-CP  Thực  hiện dự án 327  QLBV  - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.8. Tình hình sử dụng đất trước khi lấn chiếm Xã Tự tổ chức SX Giao khoán Theo NĐ 01/CP Theo NĐ 135/2005/NĐ-CP Thực hiện dự án 327 QLBV (Trang 71)
Bảng 3.9. Tình hình tranh chấp đất đai tại Công ty - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.9. Tình hình tranh chấp đất đai tại Công ty (Trang 71)
3.3.1. Đánh giá sự phù hợp của hình thức liênkết - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
3.3.1. Đánh giá sự phù hợp của hình thức liênkết (Trang 72)
Bảng 3.11. Nhu cầu của người dân về công tác giao khoán - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
Bảng 3.11. Nhu cầu của người dân về công tác giao khoán (Trang 77)
+ Phát triển mô hình trồng rừng tập trung, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo nguyên liệu gỗ tập trung cho ngành chế biến gỗ, góp phần thúc đẩy  kinh  tế  lâm  nghiệp  địa  phương  phát  triển - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
h át triển mô hình trồng rừng tập trung, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo nguyên liệu gỗ tập trung cho ngành chế biến gỗ, góp phần thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp địa phương phát triển (Trang 84)
4. Hình thức đầu tư nào hộ cho rằng phù hợp với điều kiện của hộ □Công ty đầu tư 100%  - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
4. Hình thức đầu tư nào hộ cho rằng phù hợp với điều kiện của hộ □Công ty đầu tư 100% (Trang 89)
2.2. Giá trị đầu tư và hình thức đầu tư theo hợp đồng: - Tăng cường mối liên kết kinh tế giữa công ty TNHH MTV lâm nghiệp đông bắc với các hộ dân trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn
2.2. Giá trị đầu tư và hình thức đầu tư theo hợp đồng: (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w