cao, chuyên môn sâu thực hiện nhiệm vụ BVMT, đặc biệt trong các lĩnh vực đánh giá tác động môi trường, kinh tế môi trường…đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; Quy trình xử lý chất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Nghĩa Biên
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 41.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về môi trường 5
1.1.1 Các khái niệm có liên quan 5
1.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường 7
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường 8
1.1.4 Trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường 9
1.1.5 Công cụ quản lý nhà nước về môi trường 11
1.1.6 Các yếu tố ảnh hường đến công tác quản lý nhà nước về môi
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về môi trường 13
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý nhà nước về môi
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Cẩm Phả 23
1.2.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 24 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 29
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
Trang 52.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 31
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.1.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường trên
địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 40 3.1.2 Ban hành các văn bản quản lý nhà nước về môi trường 43
3.1.3 Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho quản lý môi
3.1.4 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức
về môi trường cho các tầng lớp nhân dân 45 3.1.5 Công tác quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm 49
3.1.6 Công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải
quyết khiếu nại tố cáo về môi trường 51
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về môi trường trên
3.2.1 Hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường 54
3.2.2 Vai trò của Nhà nước đối với công tác quản lý môi trường 54
3.2.3 Năng lực, chất lượng của cán bộ làm công tác quản lý môi trường 55
3.2.4 Nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân và 56
Trang 63.4.1 Định hướng quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành
phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 63 3.4.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành
phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 67 3.4.3 Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về môi trường
trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 69
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
48
Bảng 3.3
Đánh giá của doanh nghiệp về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường
49
Bảng 3.4 Khối lượng hoàn thành công tác vệ sinh môi trường
Công ty cổ phần môi trường đô thị 50 Bảng 3.5 Thu phí VSMT tại thành phố Cẩm Phả 52 Bảng 3.6 Tình hình vi phạm pháp luật MT năm 2017 52
Bảng 3.7 Đánh giá về công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra, xử
lý vi phạm và giải quyết khiếu nại tố cáo 54
Bảng 3.8 Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý nhà nước về
Bảng 3.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về ý thức của người dân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Công tác bảo vệ môi trường (BVMT), bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (TNTN), không khí, nguồn nước đang là một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của các quốc gia và cộng đồng quốc tế, vì nó liên quan trực tiếp đến
sự sống còn của nhân loại, của cả trái đất Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
sự nóng lên của trái đất, thủng tầng ôzôn, sa mạc hóa, ô nhiễm nguồn nước sạch, nhiều giống, loài động thực vật đang bên bờ vực thẳm của sự tuyệt chủng đặt ra cho chúng ta những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Ở Việt Nam, môi trường đang xuống cấp từng ngày, có nơi, có lúc đang bị huỷ hoại nghiêm trọng; TNTN đang dần cạn kiệt; nguồn nước, không khí đang dần bị ô nhiễm Do đó Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác BVMT và đã có nhiều chính sách nhằm để quản lý nhà nước (QLNN) về MT hiệu quả
Trong những năm qua thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), thành phố Cẩm Phả đã được tỉnh Quảng Ninh quan tâm đầu tư, phát triển trên nhiều lĩnh vực, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng về KT-XH, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên, văn hoá giáo dục phát triển, Quốc phòng - An ninh được giữ vững Tuy nhiên, cùng với sự phát triển KT-XH thì công tác QLNN về MT của thành phố vẫn còn một số hạn chế như: Chưa có những văn bản pháp luật đặc thù, chuyên biệt cho vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn; Nguồn nhân lực làm công tác QLNN về môi trường hiện nay của thành phố còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt
ra Trên địa bàn thành phố còn thiếu đội ngũ công chức, viên chức có trình độ
Trang 10cao, chuyên môn sâu thực hiện nhiệm vụ BVMT, đặc biệt trong các lĩnh vực đánh giá tác động môi trường, kinh tế môi trường…đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; Quy trình xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Cẩm Phả hiện nay còn nhiều bất cập, cụ thể: chưa có hệ thống phân loại rác, chưa
có nhà máy phân huỷ rác; Môi trường không khí ở phần lớn các khu vực nội thị của thành phố đang bị ô nhiễm bụi, tiếng ồn, khí thải độc hại từ các cơ sở sản xuất thủ công, các phương tiện giao thông, cơ sở hạ tầng kém chất lượng; Một số đơn vị sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp, xí nghiệp…còn chưa ý thức trong việc chủ động ký cam kết BVMT trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, Thành phố Cẩm Phả phấn đấu mục tiêu trở thành đô thị phát triển công nghiệp- dịch vụ văn minh và hiện đại, gắn liền với bảo vệ môi trường bền vững
Chính vì vậy, đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước về môi trường trên
địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” đưa ra một cái nhìn tổng quát
về thực trạng QLNN về MT ở thành phố Cẩm Phả, từ đó phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác QLNN về MT và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác QLNN về MT
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng môi trường và QLNN về MT tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN về MT trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2020 – 2025
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về MT
Trang 11- Đánh giá thực trạng QLNN về MT trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đưa ra các giải pháp tăng cường QLNN về MT trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác QLNN về MT ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi về nội dung: Tác giả tập trung vào 6 nội dung quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn cấp huyện, thành phố: Công tác tổ chức bộ máy quản lý; Ban hành các văn bản quản lý; Đào tạo phát triển nguồn nhân lực; Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục; Công tác quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm; Công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
* Phạm vi về không gian: thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi về thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2015 đến năm 2017
- Thu thập số liệu sơ cấp năm 2018
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về môi trường
- Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 125 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đưa vào sử dụng trong quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ quản lý môi trường, các học viên cao học, nghiên cứu sinh và những người quan tâm nghiên cứu chủ đề này
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN về môi trường
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
MÔI TRƯỜNG 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về môi trường
1.1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [14]
Môi trường được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
Trang 14cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Hiểu theo nghĩa rộng môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Theo nghĩa hẹp môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển
1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do Nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lực của Nhà nước, ý chí Nhà nước, thông qua bộ máy Nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, theo thời gian nhất định với hiệu quả cao [11]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường
QLNN về MT là nhiệm vụ của mỗi quốc gia và toàn nhân loại, là chức năng của các cơ quan nhà nước, các cơ quan sự nghiệp liên quan, là trách nhiệm của các tổ chức KT-XH cũng như mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về QLNN về MT Có thể tham khảo một
số khái niệm sau:
Quản lý nhà nước về môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý
xã hội có tác dụng điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận
có hệ thống các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có
Trang 15liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên [11]
Quản lý nhà nước về môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý nhà nước về môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành [18]
Từ hai khái niệm nêu trên có thể khái quát: Quản lý nhà nước về môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh
tế - xã hội Quốc gia
1.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước về môi trường
Mục tiêu chung của QLNN về MT là phát triển bền vững, giữ cho được
sự cân bằng giữa phát triển KT - XH và BVMT, khi đó: Phát triển KT-XH tạo
ra tiềm lực về vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ phục vụ cho công tác BVMT; Ngược lại, BVMT chính là duy trì, sử dụng hợp lý và bảo vệ các tiềm năng tự nhiên, xã hội nhằm đáp ứng, thỏa mãn những yêu cầu, đòi hỏi của quá trình phát triển KT-XH
Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự
cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học;
Thứ hai, Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường;
Trang 16Thứ ba, Xây dựng nước ta trở thành một nước có chất lượng môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội
và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với môi trường
Từ mục tiêu chung trên, có thể thấy các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn hiện nay là: Phòng chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm MT; Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về BVMT; Tăng cường công tác QLNN về môi trường
từ Trung ương đến địa phương; Xây dựng các công cụ QLNN về MT và Phát triển KT-XH theo các nguyên tắc phát triển bền vững [11]
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường
Nội dung quản lý nhà nước về môi trường bao gồm [14]:
- Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
- Xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường; tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Đào tạo nhân lực khoa học và quản lý môi trường;
- Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường;
Trang 17- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện ngân sách nhà nước cho các hoạt động bảo vệ môi trường;
1.1.4 Trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường
Nhà nước quản lý MT bằng việc phân công, phân quyền gắn trách nhiệm
cụ thể đối với các cơ quan chuyên trách từ Trung ương đến địa phương trên cơ
sở tuân thủ các quy định của pháp luật
Trách nhiệm QLNN về MT các cấp được quy định cụ thể tại Chương XIV - Luật Bảo vệ Môi trường (2014) Trong đó có quy định: Trách nhiệm QLNN về BVMT của Ủy ban nhân dân các cấp như sau:
- UBND cấp tỉnh có trách nhiệm sau:
Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường;
Tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường;
Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương phù hợp với quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia;
Tổ chức đánh giá và lập báo cáo môi trường Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường;
Tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền;
Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường theo thẩm quyền;
Trang 18Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; phối hợp với UBND cấp tỉnh liên quan giải quyết các vấn đề môi trườngliên tỉnh;
Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
- UBND cấp huyện có trách nhiệm sau:
Ban hành theo thẩm quyền quy định, chương trình, kế hoạch về bảo vệ môi trường;
Tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường;
Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường;
Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; Phối hợp với UBND cấp huyện có liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên huyện;
Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã;
Chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
- UBND cấp xã có trách nhiệm sau:
Xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hương ước; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường vào đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư và gia đình văn hóa;
Trang 19Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theo ủy quyền; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ gia đình,
cá nhân;
Phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp;
Hòa giải tranh chấp về môi trường phát sinh trên địa bàn theo quy định của pháp luật về hòa giải;
Quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố
và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trên địa bàn;
Hằng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường; Chủ trì, phối hợp với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tổ chức công khai thông tin về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với cộng đồng dân cư;
Chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn
1.1.5 Công cụ quản lý nhà nước về môi trường
Công cụ quản lý nhà nước về môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác QLNN về MT của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau
Công cụ QLNN về MT có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ
mô là luật pháp và chính sách Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động KT-XH, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v.v và công cụ kinh tế Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các
Trang 20tổ chức môi trường trong công tác BVMT Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá MT, kiểm toán MT, quan trắc MT Công
cụ quản lý MT có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
- Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách MT quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương;
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường;
- Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần MT, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong MT Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá MT, Quan trắc MT, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào [17]
1.1.6 Các yếu tố ảnh hường đến công tác quản lý nhà nước về môi trường
Bao gồm các yếu tố cơ bản sau [15]:
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương (địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên ) có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác QLNN về
Trang 21- Năng lực, chất lượng của công tác QLNN về MT: biểu hiện ở sự kết hợp hài hòa các yếu tố thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức
- Hệ thống chính sách KT-XH
- Vai trò của Nhà nước đối với công tác QLNN về MT
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về môi trường
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý nhà nước về môi trường
a Kinh nghiệm của Tỉnh Bình Dương
Xác định công tác bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền lợi và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và của mọi người dân, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ; chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm theo từng lĩnh vực; kiên quyết xử lý các cơ sở vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; tiếp tục thực hiện chương trình quan trắc tự động nước thải công nghiệp,… với mục tiêu tiến tới phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, góp phần vào sự phát triển bền vững, ổn định của tỉnh Bình Dương [16]
- Lồng ghép bảo vệ môi trường vào chiến lược phát triển
Theo Sở TN&MT Bình Dương, với quan điểm bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, đòi hỏi phải có sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong cả hệ thống chính trị, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Bình Dương thời gian qua đã tập trung chỉ đạo việc triển khai thi hành và tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hơn nữa, việc lồng ghép bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển của tỉnh cũng được đặc biệt quan tâm thực hiện
Bên cạnh đó, công tác hoàn thiện thể chế pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua luôn được quan tâm và chú trọng thực hiện nhằm hoàn
Trang 22thiện, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý môi trường Việc ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm cụ thể hóa một số quy định vủa Trung ương và địa phương đã thực sự phát huy được tính hiệu quả, góp phần quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương
UBND tỉnh Bình Dương còn ban hành Chỉ thị số 15/CT-UBND về việc tiếp tục thực hiện Chương trình bảo vệ môi trường của Tỉnh ủy và triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó ưu tiên tập trung giải quyết các vấn
đề cấp bách về môi trường như: quản lý khu - cụm công nghiệp, công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoạt động khai thác khoáng sản,
Tỉnh Bình Dương cũng đã chủ động xác lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để tập trung xử lý nhằm khắc phục và cải thiện chất lượng môi trường của tỉnh, đến nay đã có 266/269 cơ sở nằm trong danh sách cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã hoàn thành khắc phục ô nhiễm, đạt tỷ lệ 98,9% Ngoài ra, đã ban hành danh sách các cơ sở sản suất gây ô nhiễm môi trường phải di dời ra khỏi các khu dân cư, đô thị, đến nay đã di dời hoặc buộc chấm dứt hoạt động sản xuất, xử lý dứt điểm, đạt tỷ lệ 91%
- Tập trung xử lý các điểm gây ô nhiễm bức xúc ở địa phương
Qua đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2014,
2015 của địa phương cùng với việc nghiên cứu các chỉ đạo của Trung ương và tình hình thực tế của tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường và các Sở, ban, ngành liên quan đã phối hợp triển khai thực hiện theo Kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2016 của UBND tỉnh Tổng dự toán chi sự nghiệp môi trường năm 2016 của tỉnh Bình Dương trên 481 tỷ đồng
Trong đó, tập trung xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường bức xúc ở địa phương Cụ thể, xử lý dứt điểm các khu vực bức xúc về vấn đề môi trường
Trang 23trên địa bàn tỉnh Bình Dương như: Kênh Ba Bò, Suối Bưng Cù, Suối Siệp; tham mưu UBND tỉnh Ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016-2020 nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án, dự án về thoát nước, xử lý nước thải đô thị Nam Bình Dương; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh và giải quyết dứt điểm việc di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, đô thị
Đối với công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo
vệ môi trường, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức
về bảo vệ môi trường; tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ quản lý môi trường cho doanh nghiệp và các hội đoàn thể; tăng cường công tác hỗ trợ các đoàn thể trong công tác bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công tác xã hội hóa về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; triển khai nhân rộng mô hình tự quản môi trường tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh; vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa thân thiện với môi trường, tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
b Kinh nghiệm của tỉnh Phú Thọ
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Phú Thọ khá nhanh đạt bình quân 10%/năm với cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 27,6% - Công nghiệp 38,1% - Dịch vụ 34,36% đã góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh, nhưng cũng đã có những tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái của tỉnh, đặc biệt là chất thải do sản xuất công nghiệp, chất thải
đô thị Là tỉnh có nền công nghiệp phát triển khá sớm, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ thế kỷ trước đã hình thành ba khu công nghiệp chính là: Việt Trì; Bãi Bằng - Lâm Thao; Thanh Ba - Hạ Hoà Phần lớn các cơ sở công nghiệp của tỉnh đều sử dụng hệ thống công nghệ cũ từ những thập niên 60 của thế kỷ trước, qua thời gian sử dụng thiết bị máy móc cũ rão, sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng, nhiên liệu thải ra nhiều chất thải như nước thải, khí thải, chất
Trang 24thải rắn với sự thiếu đồng bộ hoặc không có công nghệ xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào môi trường đã gây tác hại xấu đến chất lượng môi trường khu vực xung quanh Ngoài ra còn có các cơ sở tiểu thủ công nghiệp phát triển theo nhu cầu thị trường bám theo các khu công nghiệp, đô thị, nằm xen kẽ trong các khu dân cư Chất thải trong quá trình sản xuất của các cơ
sở này khó kiểm soát và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống khu vực xung quanh Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá tương đối nhanh, dân số tăng đã có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái; Nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc; Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hại ngày càng tăng; ngoài ra đô thị hoá làm tăng dòng người dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường cùng với sự bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn cần được quan tâm lưu ý ngăn ngừa, cụ thể [16]:
- Về nước thải:
+ Nước thải công nghiệp: Nhiều cơ sở công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải sản xuất, song chưa đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường nước khu vực xung quanh
+ Nước thải đô thị: Tất cả các đô thị trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung
- Về môi trường không khí:
Môi trường không khí ở Phú Thọ bị ô nhiễm chủ yếu ở 3 khu công nghiệp chính: Việt Trì, Bãi Bằng - Lâm Thao và Thanh Ba Các chỉ tiêu ô nhiễm chủ yếu là bụi, các hơi khí độc phát sinh do đốt nhiên liệu và từ các ngành sản xuất như: Clo, H2S, CO, SO2, NOx Nhiều nhà máy xí nghiệp mới chỉ xử lý bụi, chưa có hệ thống xử lý khí thải hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn cho
Trang 25phép dẫn đến môi trường không khí xung quanh các khu cụm công nghiệp bị ô nhiễm như khu vực Bãi Bằng, Lâm Thao, Thanh Ba, Nam Việt Trì
- Về chất thải rắn:
Tổng lượng chất thải rắn đô thị: 232.773,13 tấn/năm
Tổng lượng chất thải rắn nông thôn: 3.559 tấn/năm
Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp: 130.304 tấn/năm
Tổng lượng chất thải rắn nguy hại: 48.000 tấn/năm (trong đó có cả rác thải Y tế nguy hại)
+ Chất thải rắn công nghiệp: Chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được thu gom, xử lý triệt để đặc biệt là chất thải nguy hại chưa có phương án xử lý thích hợp, vì vậy trong thời gian tới nếu công nghiệp phát triển mạnh hơn, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường nếu không
có giải pháp kịp thời
+ Chất thải rắn sinh hoạt: Trên địa bàn tỉnh mới chỉ có thành phố Việt Trì và thành phố Phú Thọ là có Công ty Môi trường đô thị thu gom xử lý tập trung; Đối với các huyện, do tổ Hợp tác thu gom đưa vào một chỗ tập trung, nhưng còn có nơi chất thải rắn sinh hoạt của dân cư chưa được tổ chức thu gom
xử lý tập trung
+ Chất thải y tế: Hầu hết các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn cho phép
Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường và công tác quản lý BVMT:
- Công tác giáo dục tuyên truyền phổ biến và cụ thể hoá pháp luật về Bảo vệ môi trường:
Tổ chức giáo dục phổ biến nâng cao nhận thức pháp luật về BVMT Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý với các cơ quan thông tin đại chúng và các tổ chức đoàn thể để thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức
Trang 26phù hợp đến đông đảo nhân dân Đã tổ chức tập huấn phổ biến hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của Nhà nước về BVMT
Cấp uỷ, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, đã ban hành các Chỉ thị , Chương trình, các văn bản pháp quy cụ thể hoá việc thực hiện pháp luật và chính sách của nhà nước ở địa phương như: “Quy định một số điểm cụ thể về kiểm soát ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và khu sản xuất kinh doanh dịch vụ tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, “Quy định bảo vệ môi trường trong xây dựng trên địa bàn tỉnh” v.v
- Triển khai thực hiện những nhiệm vụ trọng điểm và các biện pháp quản
lý phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường:
+ Nghiên cứu cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hoạt động xã hội để triển khai thực hiện Rà soát, bổ sung nội dung về bảo vệ môi trường vào các văn bản do UBND tỉnh ban hành trên các lĩnh vực có liên quan nhằm tạo sự phù hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế như: Tham mưu, thực hiện xây dựng trình Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh ban hành Chiến lược Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 32-CT/TU ngày 25/5/2005 của Tỉnh uỷ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW; Chương trình hành động số 1751/CTr-UBND, ngày 14/9/2006 của UBND tỉnh Phú Thọ về Bảo vệ môi trường giai đoạn 2006-2010; Quyết định số 3485/2007/QĐ- UBND, ngày 25/12/2007 về Quy định một số điểm cụ thể về bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung đồng thời tham gia đóng góp nhiều các văn bản pháp quy về lĩnh vực bảo vệ môi trường của các Bộ ngành, Trung ương
+ Sở Tài nguyên và Môi trường đã triển khai hướng dẫn và yêu cầu các chủ dự án thực hiện lập báo cáo ĐTM để trình thẩm định theo quy định, tính
Trang 27đến tháng 8 năm 2009 đã thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt được
163 Báo cáo ĐTM của các cơ sở, dự án đầu tư Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã hoạt động mà chưa có báo cáo ĐTM được yêu cầu phải lập Đề án bảo vệ môi trường để kiểm tra xác nhận, phê duyệt theo quy định làm cơ sở bổ sung các giải pháp khắc phục và bảo vệ môi trường, đồng thời làm căn cứ cho cơ quan quản lý kiểm soát
+ Xem xét hồ sơ và cấp giấy xác nhận đủ điều kiện sử dụng, nhập khẩu phế liệu phục vụ sản xuất chặt chẽ, đúng quy định
+ Hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị kê khai, lập hồ sơ đăng ký để cấp phép quản lý, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại theo quy định của Bộ Tài nguyên
& Môi trường
+ Đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khai thác, chế biến khoáng sản, bắt buộc các cơ sở khai thác khoáng sản phải thực hiện việc hoàn nguyên môi trường sau khi kết thúc quá trình khai thác: Đã yêu cầu 59 đơn vị, doanh nghiệp hoạt động khoáng sản phải lập phương án ký, nộp quỹ phục hồi môi trường sau khi kết thúc quá trình khai thác với tổng số tiền ký quỹ phục hồi môi trường trên 4,5 tỷ đồng Tuy vậy, tại một số khu vực vẫn xảy
ra tình trạng xô lũ ảnh hưởng đến ruộng đất canh tác của dân, làm xuống cấp đường giao thông, gây bụi bẩn mà chưa có giải pháp đầu tư khắc phục thoả đáng
+ Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ, tính đến hết tháng 7 năm 2009 tổng số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp thu được 4.567 triệu đồng Hiện nay đang tổ chức triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và chất thải nguy hại
+ Chỉ đạo, đôn đốc 07 đơn vị, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nằm trong danh sách Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày
Trang 2822/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ Các đơn vị này đã đầu tư hơn 100 tỷ đồng
để đổi mới công nghệ, xây dựng cải tạo hệ thống xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn Tuy nhiên so với yêu cầu phải hoàn thành vào cuối năm 2007 thì tiến
độ của một số đơn vị này còn chậm Tiếp tục kiểm tra và đưa vào danh sách để bắt buộc xử lý triệt để ô nhiễm đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là với các cơ sở nằm xen kẽ trong khu đông dân cư: Bãi rác thị trấn Đoan Hùng, Bãi rác thị trấn Sông Thao, Bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng, Bệnh viện Lao và bệnh viện phổi, Bệnh viện Phụ sản Phú Thọ, Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ, Bệnh viện y học cổ truyền Phú Thọ, Công ty TNHH Toàn Năng Phú Thọ
+ Vận động khuyến khích xã hội hoá về bảo vệ môi trường; tổ chức phát động phong trào toàn dân tham gia hưởng ứng các Ngày Môi trường thế giới 5/6; Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường 29/4 - 6/5 hàng năm
- Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường:
+ Củng cố tăng cường hệ thống bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở Năm 2009, cấp tỉnh đã thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở nâng cấp phòng Quản lý Môi trường, tăng số biên chế cán bộ chuyên môn từ 6 người lên 15 người; từng bước bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ được giao
+ Tăng cường kiểm tra giám sát việc đầu tư lắp đặt các thiết bị xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm theo báo cáo ĐTM được phê duyệt Tổ chức nhiều đoàn, nhiều đợt (cả thường xuyên và đột xuất) với các lực lượng quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và lực lượng Cảnh sát Môi trường tại 338 đơn vị doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, đã phát hiện những vi phạm về quản lý và bảo vệ môi trường, tiến hành xử phạt với tổng số tiền: 529,75 triệu đồng, yêu cầu các đơn vị tăng
Trang 29cường đổi mới thiết bị, đầu tư hệ thống xử lý khói, bụi, nước thải, quản lý và
xử lý rác thải trong đó đình chỉ 02 đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, buộc phải khắc phục (Công ty TNHH MiWon Việt Nam, công ty TNHH chế biến khoáng sản Khải Hoàn sản xuất thép xốp tại khu vực xã An Đạo); kiểm tra yêu cầu khắc phục đối với 35 cơ sở gây ô nhiễm môi trường theo kiến nghị của cử tri và đơn thư phản ánh của nhân dân
- Triển khai thực hiện các dự án cải thiện môi trường:
Đã triển khai thực hiện các dự án về môi trường: Dự án Chiến lược bảo
vệ môi trường tỉnh Phú Thọ; Dự án Điều tra đánh giá tình hình ô nhiễm tại các vùng nhạy cảm về môi trường trên địa bàn tỉnh; Dự án Xác định hệ thống mạng lưới quan trắc và thực hiện quan trắc, lấy mẫu phân tắch cảnh báo ô nhiễm môi trường hàng năm trên địa bàn tỉnh
c Kinh nghiệm của tỉnh Tuyên Quang
Trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2017, thực hiện triển khai Luật bảo vệ môi trường; Chương trình Nghị sự số 21 về định hướng phát triển bền vững của Việt Nam, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chắnh trị và Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/5/2005 của Thủ tướng Chắnh phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chắnh phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chắnh trị; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 23/01/2014 của Chắnh phủ Ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khắ hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ,
Sở Tài nguyên và Môi trường với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã trực tiếp tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, văn bản quy phạm pháp
Trang 30luật, từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền của tỉnh
Về triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Sở TN&MT đã tham mưu UBND tỉnh Tuyên Quang xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 26/12/2012; Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường, tỉnh uỷ Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch số 87-KH/TU ngày 09/9/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV); Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 21/5/2014 của UBND tỉnh
Triển khai thực hiện Chỉ thị số 17/2008/CT-TTg ngày 5/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có văn bản số 1796/UBND-TNMT chỉ đạo các Sở, ban, ngành đôn đốc, kiểm tra các đơn vị gây ô nhiễm môi trường thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường, hoàn thành đúng yêu cầu tiến độ đề
ra Trong đó tỉnh Tuyên Quang có 07 cơ sở gồm: Kho thuốc trừ sâu nông truờng chè Tân Trào, nước thải và rác thải y tế bệnh viện Lao và phổi; Bệnh viện đa khoa Tuyên Quang, Bãi rác thành phố Tuyên Quang, ô nhiễm tại bãi thải xí nghiệp thiếc Sơn Dương, ô nhiễm tại bãi thải mỏ Antimon Đầm Hồng, huyện Chiêm Hoá, nước thải và chất thải y tế bệnh viện y dược cổ truyền Tuyên Quang Đến nay 7/7 cơ sở hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;
Trang 31Thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng chính phủ về xử lý thuốc BVTV tồn lưu đặc biệt nghiêm trọng Năm
2013 tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành xử lý xong 02 điểm tồn lưu thuốc bảo
vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường gồm: Kho thuốc BVTV của Chi cục Bảo
vệ thực vật, Kho Ghềnh Giềng thuộc xã An Tường, Thành phố Tuyên Quang Quá trình xử lý đã ngăn chặn được nguồn gây ô nhiễm đem lại niềm tin cho nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường
Xây dựng lộ trình di chuyển các nhà máy xí nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ra khỏi địa bàn thành phố đến các khu, cụm, điểm công nghiệp tập trung như: Nhà máy đường Tuyên Quang, Nhà máy giấy Nông tiến, Bệnh viện lao và phổi Tuyên Quang, nhà máy sản xuất bột kẽm Tràng Đà, Cơ
sở chế biến lâm sản phường Minh Xuân, Nhà máy chế biến thức ăn gia súc Đến nay đã thực hiện di chuyển (Nhà máy đường Tuyên Quang, Bệnh việnh lao và phổi Tuyên Quang)
Triển khai các hoạt động thu gom, xử lý rác thải trong môi trường nông thôn mới (xây dựng bãi chôn lấp rác và lò đốt rác thải sinh hoạt), đặc biệt là rác thải nguy hại từ vỏ bao bì, chai lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật đồng thời thực hiện theo lộ trình, đảm bảo đến năm 2020 xóa bỏ hoàn toàn các lò đốt gạch thủ công, dùng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường
Đối với các dự án mới trên địa bàn tỉnh, trước khi thực hiện đầu tư đã được thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật và thực hiện nghiêm các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Từ năm 2004 đến nay tỉnh đã thẩm định và phê duyệt 150 báo cáo ĐTM, PACTPHMT; Thẩm định, xác nhận trên 700 đề án bảo vệ môi trường đơn giản, kế hoạch bảo vệ môi trường ) Thường xuyên thực hiện quan trắc, giám sát các thành phần môi trường(đất, nước, không
Trang 32khí ) theo mạng lưới quan trắc môi trường nền của tỉnh để xây dựng hệ thống số liệu, dữ liệu cơ bản về môi trường có tính hệ thống và liên tục Kiểm soát chặt chẽ công tác giám sát ô nhiễm môi trường của các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Cẩm Phả
Qua nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về môi trường ở một số địa phương, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho thành phố Cẩm Phả về quản lý nhà nước về môi trường như sau:
- Thứ nhất, cụ thể hoá các nội dung nhiệm vụ về quản lý, bảo vệ môi
trường: Thể chế hoá yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự
án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn gắn với yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển bền vững; đồng thời tăng cường vai trò hiệu lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, tổ chức có hiệu quả các nội dung biện pháp bảo vệ môi trường Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ môi trường, công nghệ xử lý, tái chế chất thải phục vụ phát triển kinh tế xã hội thực hiện phát triển bền vững
- Thứ hai, tăng cường công tác thanh kiểm tra việc thực hiện các quy
định về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức cá nhân, kiên quyết xử lý những đối tượng gây ô nhiễm môi trường và buộc phải đầu tư khắc phục ô nhiễm
- Thứ ba, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường của các cơ quan chuyên môn và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể về quản lý và bảo vệ môi trường
- Thứ tư, tăng cường công tác xã hội hoá các hoạt động bảo vệ môi
trường, xây dựng các điển hình tiên tiến và nhân rộng thành phong trào toàn dân bảo vệ môi trường
Trang 331.2.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về môi trường, tác giả tập hợp thành 2 nhóm công trình nghiên cứu như sau:
- Nhóm các công trình nghiên cứu về quản lý môi trường nói chung + Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng của tác giả Nguyễn
Lệ Quyên (2012) “Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng” Tác giả đánh giá thực trạng công tác QLNN về MT của thành phố Đà Nẵng, từ việc thực hiện chức năng chuyên môn QLNN về MT của UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường Các Sở, Ban, Ngành theo chức năng nhiệm vụ chuyên môn có trách nhiệm thực hiện công tác BVMT Đà Nẵng đã tiến hành phân cấp trong QLNN về MT cho các Phòng Tài nguyên và Môi trường ở các quận, huyện Ở cấp phường, xã đã bố trí cho cán bộ địa chính hoặc cán bộ xây dựng - thủy lợi làm kiêm nhiệm công tác môi trường Công tác QLNN về MT
ở thành phố đã kết hợp được với các tổ chức, đoàn thể và các ngành chức năng trong công tác BVMT Chương trình BVMT được lồng ghép vào các hoạt động chuyên môn
Công tác QLNN về MT của Đà Nẵng được thực hiện chặt chẽ từ cấp thành phố đến phường xã, có sự tham gia đồng thời của nhiều ban ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý MT được sâu sát với từng ngành, từng địa phương
Công tác hoạch định chính sách; Công tác triển khai, thực hiện việc QLNN về MT như: Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến và thực thi các văn bản pháp luật về MT; Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực BVMT; Xây dựng, quản lý và tiến tới xã hội hóa các công trình BVMT, các công trình
có liên quan đến BVMT; Công tác thu gom rác thải, Thu phí BVMT; Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động MT của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh;
Trang 34Tác giả đánh giá về thành tựu trong công tác quản lý MT trên địa bàn Đà Nẵng như: Lồng ghép chương trình BVMT vào kế hoạch phát triển KT-XH của thành phố; Chất lượng môi trường được cải thiện đáng kể hơn trước Nhiều ñiểm nóng môi trường đã được giải quyết triệt để; Công tác thu gom rác thải, thu phí BVMT đạt hiệu quả cao; Công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về BVMT đã được triển khai sâu rộng, đa dạng các hình thức tuyên truyền
và phối hợp nhiều cơ quan tổ chức thực hiện
Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra được những hạn chế như: Tình hình quản lý MT chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của thành phố; Các chính sách, thể chế của thành phố về BVMT triển khai còn chậm; Năng lực cán bộ quản lý
MT còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn, kinh nghiệm Tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến QLNN về MT như: Nhận thức của cán bộ quản lý và người dân về MT; Công tác tổ chức Nhà nước về QLMT
Trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện công tác QLNN về MT tại thành phố đà nẵng như: Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT; Đẩy mạnh triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT; Đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác MT; Tăng cường hợp tác quốc tế trong các dự án và trong việc quản lý MT; Đẩy mạnh công tác quản lý thực hiện BVMT; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá về: Hoàn thiện hệ thống Quan trắc chất lượng MT; Phát triển hệ thống quản lý MT; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
+ Đề tài nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Khương - Đại học Sư phạm (Năm 2012): “Quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đề tài nghiên cứu và làm rõ quan điểm mác xít về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc trong thời kỳ
Trang 35đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và BVMT tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra
từ thực trạng này Từ đó tác giả đã đề xuất những phương hướng và giải pháp
cơ bản nhằm kết hợp đúng đắn giữa việc phát triển kinh tế với việc BVMT tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc nước ta
- Nhóm các công trình nghiên cứu về quản lý môi trường tại các địa phương, khu vực
+ Thạc sỹ Bùi Thanh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh “Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường để phát triển bền vững” (Tạp chí cộng sản, ngày 09/7/2013) Bài viết nhấn mạnh vai trò của công tác BVMT trong giai đoạn hiện nay Đánh giá kết quả đạt được về hệ thống chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy QLNN về BVMT; Về nguồn lực tài chính; nguồn vốn viện trợ; việc xã hội hoá hoạt động BVMT Bên cạnh
đó, bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém về nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về BVMT; Ý thức về BVMT của nhân dân; Chỉ ra những bất cập của hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách BVMT; Các loại thuế, phí về MT chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô; Bộ máy QLNN về MT chưa đồng bộ và thống nhất từ Trung ương đến địa phương; Việc phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về BVMT còn phân tán, chồng chéo và chưa hợp lý; Đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN
về MT thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa theo kịp các yêu cầu mới đặt ra; Những hạn chế của đầu tư, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, huy động các nguồn lực trong xã hội Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường QLNN về BVMT như: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức tự giác BVMT trong nhân dân; Đổi mới, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về BVMT và tăng cường thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện; Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, xây dựng và phát triển
Trang 36nguồn nhân lực chuyên trách về BVMT; Tăng cường huy động nguồn lực tài chính cho công tác BVMT
+ Trần Minh Tơn - Trưởng ban, Viện Chiến lược và Khoa học Công an,
Bộ Công an “Bảo đảm an ninh môi trường, phục vụ nhiệm vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới” (Tạp chí cộng sản, ngày 22/12/2014)
Bài viết đề cập đến vấn đề suy thoái MT là một trong những nguy cơ lớn
đe dọa an ninh quốc gia và sự sống còn của cả xã hội loài người
Từ nhận định đánh giá của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về suy thoái
và ô nhiễm MT và những hiểm họa MT, vấn đề bảo đảm an ninh MT ở nước ta,
từ đó nhận định về An ninh MT ở nước ta về: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng
là một thách thức lớn, đe dọa nghiêm trọng mục tiêu phát triển bền vững và sinh kế của người dân; về tranh chấp tài nguyên nước trong khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột; về “Xâm lược sinh thái” đe dọa mất cân bằng sinh thái
và nguy cơ biến nước ta thành bãi rác công nghiệp ngày càng trở thành hiện thực; về Tự hủy diệt” luôn là nhân tố nội tại trực tiếp đe dọa an ninh môi trường quốc gia
Tác giả đưa ra giải pháp bảo đảm an ninh MT quốc gia về: Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức của xã hội; tiếp tục nghiên cứu, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT và xây dựng pháp luật về an ninh MT; tăng cường năng lực của cơ quan chuyên trách BVMT, thành lập cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh MT quốc gia; tập trung đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo, khắc phục hậu quả thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về BVMT; tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh MT, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế về bảo vệ an ninh MT
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là một khu công nghiệp khai thác than lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc nước ta Thành phố Cẩm Phả có 16 đơn vị hành chính xã, phường (13 phường, 3 xã) và vùng biển đảo (Vịnh Bái Tử Long), có tổng diện tích tự nhiên: 34.322,71 ha Địa hình phân bố dân cư của thành phố bám dọc theo Quốc lộ 18A và dọc theo bờ biển (với chiều dài bờ biển là 35,4 Km)
Thành phố Cẩm Phả có địa giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, huyện Tiên Yên; Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ; Phía Đông giáp huyện Vân Đồn; Phía Tây giáp thành phố Hạ Long, huyện Hoành Bồ
- Địa hình: Cẩm Phả là một thành phố vùng đồi núi, biển đảo có địa hình phức tạp Địa hình nghiêng dần từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam Toàn thành phố có 12 phường (P Quang Hanh, P Cẩm Thạch, P Cẩm Thuỷ, P Cẩm Trung, P Cẩm Thành, P Cẩm Bình, P Cẩm Đông, P Cẩm Sơn, P Cẩm Phú, P Cẩm Thịnh, P Cửa Ông, P Mông Dương) có địa giới hành chính giáp biển và
04 xã, phường ( P Cẩm Tây, X Cộng Hoà, xã Cẩm Hải, xã Dương Huy) không có địa giới hành chính giáp biển Thành phố Cẩm Phả có 5 xã phường (phường Quang Hanh, phường Mông Dương, xã Cộng Hoà, xã Cẩm Hải, xã Dương Huy) có địa hình đồi núi phức tạp nên có mật độ dân cư thưa thớt, mười một phường còn lại có địa hình tương đối bằng phẳng và là nơi giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội của thành phố
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
- Khí hậu
Trang 38Thành phố Cẩm Phả là vùng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hanh rét kéo dài vào các tháng 11, 12, 1, 2
Nhiệt độ trung bình trong năm là 230C Nhiệt độ chênh lệch tháng nóng nhất (tháng 7 là 390C) và tháng lạnh nhất (tháng 2 là 80C) là 310C Biên độ ngày đêm từ 60
C đến 80C Lượng mưa trung bình trong năm là 2.307 mm Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 là 629,2 mm và thấp nhất vào tháng 1
là 0,83mm Tổng số giờ nắm trong năm trung bình từ 1700 - 1800 giờ/năm
Độ ẩm trung bình là 84,6% Lượng nước bốc hơi trung bình là 97mm Cẩm Phả do gần biển nên biên độ nhiệt độ ngày đêm giao động thấp (từ 60C đến 80C) Có gió biển thổi nên không khí mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông và có độ ẩm cao, thuận lợi cho du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển ngành nông lâm nghiệp
- Thuỷ văn
Do địa hình dốc nghiêng theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, địa hình nội thành phố dốc theo thướng Bắc Nam (hướng nước chẩy ra biển), lượng mưa hàng năm lớn đã hình thành lên một hệ thống kênh, suối dầy, lòng suối hẹp và có độ dốc lớn Nguồn nước chính phục vụ sản suất và sinh hoạt là nguồn nước của đập Cao Vân, nhà máy nước Diễn Vọng và nguồn nước ngầm
2.1.2.3 Tài nguyên
- Tài nguyên than đá
Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá Tổng tiềm năng ước tính trên
3 tỷ tấn, trữ lượng có thể khai thác 2,5 tỷ tấn (trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh) Ở đây, mật độ chứa than trong khối kiến trúc mỏ có hệ số cao nhất, nhiều vỉa dầy, chất lượng than tốt, tiện đường chuyên chở ra cảng
Trang 39nước sâu Ngoài than, antimon ở Khe Sim - Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng ở Quang Hanh đều là những tài nguyên quý
- Tài nguyên đất, nước
Cẩm Phả có ít đất nông nghiệp: 1.196ha, trong đó đất trồng rau mầu và cấy lúa 434 ha, đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản 315 ha Đất lâm nghiệp khá rộng, 13.504 ha, trong đó rừng tự nhiên 12.094 ha, rừng trồng có 1.410 ha Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 35 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt ven bờ, sản lượng thấp, đang đóng thêm tầu có công suất lớn để đánh cá tuyến khơi
- Tài nguyên Du lịch
Đền Cửa Ông mở hội vào tháng Giêng, hàng năm thu hút hàng vạn khách tham quan, chiêm bái Cẩm Phả còn có nhiều cảnh đẹp Động Hang Hanh có cửa vào từ vịnh đi thuyền suốt lòng núi chưa được khai thác Gần đây
ở khu đảo Vũng Đục phát hiện những hang động kỳ thú Ngoài Hòn Hai - Đảo Nêm trong vịnh Bái Tử Long đã hình thành một khu nghỉ ngơi của công nhân
mỏ Cẩm Phả còn có đảo Rều, một cơ sở nuôi thả hàng nghìn con khỉ vừa là nguồn nguyên liệu cho y dược vừa là một địa chỉ tham quan rất hấp dẫn
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Theo số liệu thống kê tính đến năm 2017 tổng dân số thành phố Cẩm Phả là 199.840 người, trong đó:
- Số dân nội thị là 180.872 người chiếm 90,51%
- Số dân ngoại thị là: 18.968 người, chiếm 9,49%
- Số người trong độ tuổi lao động là: 110.860 người, chiếm 55,47%
- Mật độ dân số là: 420 người/km2
- Mật độ dân số nội thị là: 1.464 người/km2
- Mật độ dân số ngoại thị là: 96 người/km2
Trang 40- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,09%
- Tỷ lệ tăng dân số cơ học là: 1,61%
Dân số thành phố Cẩm Phả từ năm 2015 đến năm 2017 tăng 5.978 người, trong đó: Dân số nội thị tăng 4.740 người, dân số ngoại thị tăng 1.238 người Mức độ dân số tăng nhanh phản ánh quá trình đô thị hoá tại thành phố Cẩm Phả diễn ra một cách nhanh chóng Dân số tăng nhanh làm cho nhu cầu về nhà
ở, việc làm, sinh hoạt là nguy cơ dẫn tới các vấn đề về môi trường đã và đang ngày càng gia tăng
2.1.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng
* Về giao thông
- Quốc lộ 18A chạy qua với tổng chiều dài 62 km và chạy trong nội thị
30 km Đường 326 (đường 18B cũ) từ xã Dương Huy đến phường Mông Dương chạy ở phía tây dài 25 km chủ yếu dùng cho lâm nghiệp và vận tải mỏ 100% các con đường trong khu dân cư nội thành phố được bê tông hoá hoặc rải nhựa
- Đường sắt dài 78 km chuyên dùng để vận chuyển than từ các mỏ về nhà máy Tuyển than Cửa Ông để sàng tuyển và xuất khẩu
- Đường thuỷ: Với chiều dài bờ biển 35,4 km nên giao thông đường thuỷ rất phát triển Trên địa bàn thành phố có 01 bến tầu chuyên phục vụ khách du lịch và vận chuyển khách chạy tuyến Móng Cái - Cẩm Phả - Hạ Long - Hải Phòng và các tuyến khác, có 9 cụm cảng biển có mực nước biển sâu dùng để vận chuyển than tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
* Về xây dựng cơ bản
- Cẩm Phả là một thành phố công nghiệp có tốc độ xây dựng phát triển nhanh nên có một hệ thống có sở hạ tầng khá hoàn thiện, Từ năm 2010 đến nay các công trình xây dựng cơ bản của thành phố Cẩm Phả: