Có thể coi làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất phù hợp với sự phát triển và chịu sự tác động mạnh của nô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGHÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ TÂN
Hà Nội, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2020
Người cam đoan
Phạm Thị Hồng Nhung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành bày
tỏ lòng biết ơn của mình tới TS Phạm Thị Tân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo khoa Kinh
tế và Quản trị kinh doanh và phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, giảng dạy trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, Phòng thống kê, Phòng kinh tế huyện Thanh Oai, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã cung cấp thông tin, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù luận văn đã hoàn thiện với tất cả sự cố gắng cũng như năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà tôi mong muốn nhất để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2020
Học viên
Phạm Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống 5
1.1.1 Làng nghề và làng nghề truyền thống 5
1.1.2 Phát triển và phát triển làng nghề truyền thống 17
1.1.3 Nội dung phát triển làng nghề truyền thống 27
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề truyền thống 30
1.1.5 Tiêu chí đánh giá sự phát triển làng nghề truyền thống 34
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam 36
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở một số địa phương 36
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống cho huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội 41
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thanh Oai, Hà Nội 45
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 45
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 48
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu đối với phát triển làng nghề truyền thống 52
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 52
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 53
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 53
2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin 55
2.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 55
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài nghiên cứu 56
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
3.1 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai 59
3.1.1 Số lượng và cơ cấu làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai 59
3.1.2 Các hình thức tổ chức sản xuất của làng nghề truyền thống huyện Thanh Oai 63
3.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện 64
3.2 Phát triển sản xuất kinh doanh sản phẩm nón lá, điêu khắc và lồng chim Canh Hoạch tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai 66 3.2.1 Giới thiệu chung về làng nghề truyền thống nón lá, điêu khắc, mây tre giang huyện Thanh Oai 66
3.2.2 Thực trạng phát triển về quy mô làng nghề truyền thống 68
3.2.3 Năng lực các cơ sở sản xuất kinh doanh của làng nghề 71
3.2.4 Tình hình sản phẩm và thị trường của làng nghề truyền thống 79
3.2.5 Hiệu quả hoạt động của làng nghề truyền thống 83
3.3 Đánh giá phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai 87
3.3.1 Kết quả đạt được 87
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 88
Trang 63.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống huyện Thanh Oai 90
3.4.1 Yếu tố chủ quan 90 3.4.2 Yếu tố khách quan 91
3.5 Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai 93
3.5.1 Quan điểm và phương hướng phát triển các làng nghề truyền thống
ở huyện Thanh Oai 93 3.5.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (Phân tích SWOT) 95 3.5.3 Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống huyện Thanh Oai 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107TÀI LIỆU THAM KHẢO 110PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
CNH Công nghiệp hóa DNTN Doanh nghiệp tư nhân
KH - CN Khoa học công nghệ
KT - XH Kinh tế - xã hội HĐH Hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số, lao động huyện Thanh Oai năm 2019 49
Bảng 2.2 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của huyện 51
Bảng 2.3 Đối tượng điều tra và mẫu điều tra 54
Bảng 3.1 Tổng hợp làng nghề truyền thống huyện Thanh Oai năm 2019 59
Bảng 3.2 Số lượng và cơ cấu nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai năm 2019 62
Bảng 3.3 Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề 63
Bảng 3.4 Hiện trạng nhóm hộ phát triển sản xuất các làng nghề truyền thống huyện Thanh Oai năm 2019 65
Bảng 3.5 Một số thông tin về các cơ sở điều tra 69
Bảng 3.6 Tình hình hoạt động các cơ sở tại Làng nghề Thanh Oai 70
Bảng 3.7 Tình hình sử dụng đất đai bình quân 1 cơ sở (hộ) điều tra ở các làng nghề truyền thống 72
Bảng 3.8 Tình hình sử dụng trang thiết bị máy móc bình quân một hộ sản xuất ở các làng nghề truyền thống 73
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng lao động bình quân 1 hộ ở các làng nghề 75
Bảng 3.10 Đặc điểm của lao động trong các cơ sở sản xuất ở các LNTT trên địa bàn huyện Thanh Oai (%) 76
Bảng 3.11 Tình hình sử dụng vốn của các cơ sở điều tra tính bình quân trên 1 CSSX (hộ) 79
Bảng 3.12 Chủng loại, khối lượng sản phẩm trung bình của 1 hộ 80
Bảng 3.13 Tình hình thu mua nguyên liệu của các cơ sở sản xuất tại các LNTT 81
Bảng 3.14 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề 82
Bảng 3.15 Chi phí sản xuất bình quân/cơ sở SX trong ở các làng nghề truyền thống 84
Trang 9Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế của LNTT và thu nhập bình quân đầu người năm
2019 85Bảng 3.17 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 95
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Cơ cấu đất đai năm 2019 huyện Thanh Oai 47Biểu đồ 3.1 Nhu cầu được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của các chủ cơ
sở sản xuất 77Biểu đồ 3.2 Khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm của các LN 83
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế làng nghề đang giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam Nó không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân mà còn tạo nên những dấu ấn, bản sắc văn hóa đặc trưng của mỗi vùng, miền của đất nước Kinh tế làng nghề là một mô hình đặc trưng của kinh tế nông thôn Việt Nam Kinh tế làng nghề đã hình thành và phát triển lâu đời, nó gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của các nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) Nghề gốm sứ đã có ở Việt Nam từ trên 10.000 năm, nghề dệt cũng đã có mặt từ đời Phùng Nguyên cách đây trên 4.000 năm Trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước và hội nhập kinh tế thế giới, thì phát triển làng nghề hiện nay góp phần giải quyết dư thừa lao động ở nông thôn, hạn chế sự chuyển dịch lao động ra Thành phố và giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước
Thanh Oai là một trong những huyện có nhiều làng nghề nổi tiếng của
Hà Nội hiện nay, toàn huyện có hơn 100 làng nghề thủ công, trong đó có 51 làng được công nhận làng nghề truyền thống theo tiêu chí thành phố với những nhóm nghề như: Điêu khắc, đúc tượng, Nón lá Nhiều sản phẩm đã xuất khẩu sang các nước châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… Nhờ công tác nhân cấy nghề, đến nay các làng trên địa bàn huyện đều đã có nghề, giải quyết trên 70% lao động nông thôn, tiêu biểu như: nghề Kim khí Thanh Thùy, Nón lá Làng Chuông thu hút 70% lao động nông thôn; làng nghề Điêu khắc Dư Dụ
xã Thanh Thùy thu hút 80% lao động, làng nghề Lồng chim Canh Hoạch, xã Dân Hòa thu hút trên 70% lao động
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển LNTT (làng nghề truyền thống) trên địa bàn huyện hiện nay đang còn bộc lộ nhiều bất cập như: Phát triển
Trang 11nghề vẫn mang tính tự phát, phân tán, quy mô sản xuất nhỏ chủ yếu là hộ gia đình, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh không cao, mẫu mã sản phẩm ít sáng tạo Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được bền vững, một
số sản phẩm không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc và các địa phương khác Bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, ô nhiễm khí thải từ các làng nghề, ô nhiễm nguồn nước… ngày càng nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống trong các làng nghề truyền thống nói riêng, địa phương nói chung Vì vậy, vấn đề về quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong các làng nghề truyền thống, đào tạo nguồn nhân lực và trong tương lai tiếp tục phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch, tiến hành xây dựng thương hiệu cần được định hướng như thế nào để có thể phát triển bền vững
Đó chính là lý do tôi nghiên cứu đề tài này, nhằm thực hiện các mục tiêu và giải quyết những bất cập nêu trên, tôi nghiên cứu đồng thời đưa ra các
giải pháp giải quyết những bất cập đó nên việc nghiên cứu đề tài: “Phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống
- Đánh giá thực trạng phát triển LNTT, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế làng nghề truyền thống tại huyện Thanh Oai, thành phố
Hà Nội
- Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thanh Oai những năm tới
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động SXKD, phát triển LNTT
và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển LNTT trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Đối tượng khảo sát tập trung vào chủ thể SXKD là
hộ gia đình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh LNTT trên địa bàn huyện Thanh Oai Qua việc phân tích thực trạng chỉ
ra các yếu tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp nhằm phát triển LNTT trên địa bàn huyện Thanh Oai
Trên địa bàn huyện Thanh Oai có 21 xã, thị trấn gồm 118 thôn (làng),
tổ dân phố trong đó có 51 làng nghề truyền thống được UBND Thành phố công nhận tập trung ở 14 xã, đề tài tập trung nghiên cứu về làng nghề nón lá Làng Chuông, làng nghề lồng chim Canh Hoạch và làng nghề điêu khắc trên địa bàn huyện, đây là làng nghề có lịch sử bề dày của huyện, thu hút nhiều lao động và tập trung nhiều ở các làng xã trong huyện
- Về không gian: Trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển LNTT trong giai
đoạn từ năm 2017 đến năm 2019 Đề xuất giải pháp phát triển LNTT trên địa bàn huyện đến năm 2025
4 Nội dung nghiên cứu
- Lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống
Trang 135 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống; Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14làng ở nông thôn có một hay một số nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số
hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
Trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường, ngày nay làng nghề không bị bó hẹp trong phạm vi một làng mà chúng lan tỏa ra thành nhiều làng,
xã, hình thành vùng sản xuất các ngành nghề thủ công giống nhau Mặt khác ngành nghề ở các làng nghề cũng được đa dạng hóa và phát triển cả về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống con người với các loại hình sản xuất kinh doanh (SXKD) chủ yếu có quy
mô vừa và nhỏ Các thành phần kinh tế không còn phổ biến là các hộ gia đình
mà đã đa dạng các thành phần, các tổ chức kinh tế như các tổ hợp, hợp tác xã, các loại hình doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Có nhiều ý kiến đưa ra về khái niệm làng nghề “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều
hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế xã hội và văn hóa” (Trần Minh Yến, 2004)
“Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật
Trang 15thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” (Lê Thị Minh Lý, 2003)
Có thể coi làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển
do sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất phù hợp với sự phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc
Mặt khác, làng nghề còn là những làng ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm
tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng Như ở Tỉnh Bắc Ninh quy định tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề là:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Tuy nhiên, những tiêu chí trên không phải là tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt định lượng Bởi vì ở mỗi làng nghề bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm và số người tham gia vào trong quá trình sản xuất Do vậy, sự phát triển của các làng nghề thường khác nhau và có những biến động khác nhau trong từng thời kỳ
Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở mức độ cao hơn thì khái niệm làng nghề cũng được
mở rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công Điều này có thể hiểu dưới hai góc độ: Thứ nhất là, công nghệ sản xuất không hoàn toàn là công nghệ thủ công như trước đây, mà ở nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, hiện đại như cơ khí và bán cơ khí Thứ hai là, trong các làng nghề khi sản xuất phát triển ở mức độ cao hơn thì sẽ làm
Trang 16nảy sinh sự phát triển của nhiều nghề khác nhằm phục vụ cho nó Tương ứng với điều đó sẽ xuất hiện những người chuyên cung cấp dịch vụ phục vụ cho sản xuất trong làng nghề như cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ và cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, từ đó hình thành và phát triển những làng nghề với mô hình kết hợp nhiều nghề hỗ trợ nhau cùng phát triển Chẳng hạn như ở Ninh Hiệp xuất hiện thêm nhiều nghề mới ngoài những nghề truyền thống và dần dần hình thành nên một mô hình kết hợp nông - công - thương - dịch vụ
Khái niệm làng nghề có thể được hiểu là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) thuộc các xã, phường, thị trấn, có hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ
sở trong làng đảm bảo đủ số nhân lực, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương để sản xuất và kinh doanh một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, được sản xuất từ hoạt động của ngành nghề đó và trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng (những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông)
Làng nghề mới được hình thành trên cơ sở phát triển lan tỏa của nghề truyền thống, việc truyền nghề, nhân cấy nghề mới sang các làng xã khác Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, phù hợp với yêu cầu chuyên môn hóa hiện đại hóa thì các làng nghề cũ cũng như mới hình thành
đã có những thay đổi tích cực so với trước đây như đa dạng hóa hình thức sản xuất kinh doanh, chú trọng vào chất lượng đầu vào và đầu ra của sản phẩm…
* Nghề truyền thống
Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử Truyền thống được biểu hiện ở hình
Trang 17thức như truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống
Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006)
Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: Phải có kỹ thuật
và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm làm ra phải có tính hàng hóa, đồng thời có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một dòng họ, một làng, một vùng Trong những làng nghề truyền thống, đa
số người dân đều hành nghề truyền thống đó Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác, những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghề truyền thống
Ngày nay, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới Do vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu và mở rộng hơn
Hiện nay, ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, việc phân loại các nhóm nghề tương đối khó khăn, nó chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì một số người có thể vừa thuộc nhóm này song cũng có thể vừa thuộc nhóm khác Mặt khác, một số nghề đối với địa phương được coi là nghề truyền thống, nhưng trên phạm vi vĩ mô có thể chưa được gọi là nghề truyền thống Có nhiều cách phân loại nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:
Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm khảm gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc…
Trang 18Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng, công cụ…
Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như: dệt vải, dệt chiếu, khâu nón…
Các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh, nấu rượu, nấu đường mật, chế biến thủy sản…
Để được công nhận là một nghề truyền thống thì theo Thông tư 116/2006/TT BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc;
- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006)
1.1.1.2 Làng nghề truyền thống
Khái niệm làng nghề truyền thống được hình thành dựa trên tổ hợp của
hai khái niệm “Làng nghề” và “Truyền thống” Truyền thống là thể hiện sự
lâu đời, sự truyền đời của các ngành nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác, thế
hệ sau tiếp bước thế hệ trước không để mai một nghề của gia tộc, sự phát triển của nghề đó được công nhận trong một thời gian dài từ thời điểm hình thành cho tới hiện tại và không bị biến đổi về bản chất
Vậy làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, sản phẩm mang tính truyền thống và được công nhận qua nhiều thế hệ sản xuất, có uy tín trên thị trường; là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề; là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa
họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng
tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã
Trang 19hội và gia tộc, không để nghề của mình bị thị trường hóa chạy theo xu thế mà biến chất
Các làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2018
Theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP thì một nghề được xếp vào nghề truyền thống cần hội đủ các yếu tố sau:
+ Là làng nghề đã hình thành và phát triển lâu đời;
+ Sản phẩm mang tính chất đặc trưng, riêng biệt, có giá trị kinh tế và văn hóa cao, biểu thị chiều dài lịch sử;
+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề;
+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định;
+ Sử dụng nguyên liệu trong nước;
+ Làng nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách của Nhà nước
Có thể phân chia các ngành nghề thủ công truyền thống thành các nhóm chính như:
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm
sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, khảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại ;
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ nông nghiệp như: làm cầy bừa, đóng thuyền ;
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, nong, nia, sọt, bồ bện thừng, chạo dệt vải;
- Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúc, đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng ;
Trang 20- Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát làm bún, bánh, đường mật, làm đậu tương, đậu phụ, miến, nấu rượu, chế biến hải sản các loại (Chính Phủ, 2018)
1.1.1.3 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
* Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm
Đặc điểm, đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết truyền nghề Công cụ sản xuất chủ yếu là thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra để phù hợp với yêu cầu làm ra của sản phẩm
Ngày nay với sự tiến bộ của KH - CN thì việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất không còn là mới Tuy nhiên, công nghệ hiện đại không thể hoàn toàn thay thế công nghệ truyền thống, mà chỉ có thể thay ở một số khâu và công đoạn nhất định Đây là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm (Dương Bá Phượng, 2011)
Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô sơ, lạc hậu Mặc dù hiện nay có một số nghề đã có thể áp dụng máy móc hiện đại
để sản xuất, nhưng đa số các LNTT vẫn sử dụng công cụ thô sơ để sản xuất sản phẩm
Thông qua sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, đã tạo ra sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất Làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
Sản phẩm lành nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ, nhân văn và xã hội Các sản phẩm của làng nghề truyền thống được tạo ra với bộ óc sáng tạo và thông bàn tay khéo léo và sự tinh tế tinh vi của người thợ hay có thể là các nghệ nhân
Sản phẩm LNTT rất đa dạng và phong phú, nó có thể được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giống
Trang 21nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa Bên cạnh đó, sản phẩm mang tính đơn chiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, bởi những nét hoa văn, những phần kết tinh của chúng luôn được cải biến thêm thắt nhằm nâng cao giá trị và thu hút sự thưởng thức của những chuyên gia Chất lượng sản phẩm thường không đồng đều do việc sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm giống nhau, chỉ là do các người thợ sản xuất và tạo nên từng sản phẩm đơn lẻ
Do đó, khó đáp ứng được các hợp đồng lớn (Dương Bá Phượng, 2011)
Sản phẩm của LNTT bao gồm nhiều chủng loại như sản phẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và các sản phẩm nghệ thuật Sản phẩm không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm trổ, thêu ren, dệt tơ tằm đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới và ngày càng được ưu chuộng
* Đặc điểm kinh tế - xã hội
Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp: Nghề thủ công truyền thống bắt đầu từ nông nghiệp và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung, tự cấp của người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ
yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn
Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, các gia đình tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn
Tổ chức sản xuất kinh doanh: Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh
trong các làng nghề hiện nay chủ yếu là hộ gia đình Do vậy, đây được xem
là mô hình sản xuất nhỏ, thường chỉ sử dụng lao động gia đình, do đó ai cũng có thể tham gia Chính mô hình nhỏ này là một bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản lý, năng lực tài chính, năng lực sản xuất còn kém vì vậy việc tiếp nhận các đơn đặt hàng lớn thường khó khăn Tuy nhiên,
Trang 22nó lại là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề truyền thống hiện nay do có nhiều ưu điểm như tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất thích ứng với cuộc sống lao động sản xuất ở vùng nông thôn
Bên cạnh các hộ sản xuất còn có các mô hình mới như Hợp tác xã, các doanh nghiệp, các công ty cổ phần… những mô hình này hoạt động theo Luật hợp tác xã và Luật doanh nghiệp Các mô hình sản xuất này khá phù hợp với
xu hướng thị trường hiện nay và ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề truyền thống
* Về hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề truyền thống
Trong lịch sử phát triển LNTT, hình thức tổ chức sản xuất phổ biến nhất là hộ cá thể
- Hộ cá thể thường tồn tại 2 loại hộ là hộ kiêm nghề và hộ chuyên nghề: + Hộ kiêm là những hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm ngành nghề; + Hộ chuyên là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn LĐ trong hộ cũng như thuê thêm LĐ ngoài tham gia làm nghề và đây cũng chính là nguồn thu chủ yếu của họ Các hộ chuyên có thể có đất nông nghiệp song sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu
Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế và công cuộc đổi mới của đất nước, đã xuất hiện nhiều hình thức tổ chức sản xuất mới:
- Xét theo hình thức sở hữu có các loại: Công ty TNHH, doanh nghiệp
tư nhân, hợp tác xã, hộ sản xuất ;
- Xét theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp (TTCN), các cơ sở vừa làm hàng TTCN vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, các cơ sở vừa sản xuất hàng TTCN vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp
* Về tính chất của lao động trong các làng nghề truyền thống
Trang 23- Đặc điểm nổi bật trong các LNTT là sử dụng LĐ thủ công là chính, được truyền nghề và dựa vào khả năng khéo léo của bản thân để làm ra sản phẩm
- LĐ trong LNTT có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau Trong đó nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo sản phẩm
- Việc dạy nghề theo phương thức truyền nghề từ đời này sang đời khác, các nghề được bảo tồn trong từng gia đình, ít được phổ biến ra ngoài, nhằm giữ những bí quyết kỹ thuật, bí quyết độc đáo riêng của từng nghề Tuy nhiên, việc đào tạo nghề hiện nay có sự kết hợp với phương thức mới, mở ra các trường, lớp đào tạo nghề nhưng đồng thời vừa học, vừa làm, có sự truyền nghề của các nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc Phương pháp truyền nghề mới làm cho bí quyết giữ nghề không những không mai một mà còn tạo nên nét độc đáo, tính đa dạng của các LN trong xu thế hội nhập (Dương Bá Phượng , 2011)
* Về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của LNTT được hình thành từ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm Nhu cầu tiêu dùng thường được phân chia thành các nhóm sau (Dương Bá Phượng , 2011):
- Sản phẩm tiêu dùng dân dụng: Được tiêu dùng khá phổ biến ở các tầng lớp dân cư Đối với loại sản phẩm này, tiền công LĐ thấp nên giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế, tâm lý và thói quen của đa số người tiêu dùng;
- Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp: Khi cuộc sống nâng cao nên tiêu dùng sản phẩm cao cấp nhiều hơn Vì vậy, nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng, không chỉ về số lượng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lượng sản phẩm;
- Sản phẩm xuất khẩu: Bao gồm cả sản phẩm dân dụng và sản phẩm thủ công mỹ nghệ Người nước ngoài rất ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt
Trang 24Nam và trầm trồ về những nét đẹp hài hòa, chứa đựng nhiều điển tích, hoa văn tinh tế và tính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay khéo léo của thợ thủ công
Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối lượng ngày càng lớn
ở Đài Loan, Úc, Nhật Bản Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộng khắp ở châu Âu Khách du lịch nước ngoài thường bỏ ra hàng giờ, nhiều lần để ngắm nhìn và lựa chọn những món quà đặc sắc được làm từ hòn đất, cành tre, khúc gỗ, xương thú, sừng, thổ cẩm, sợi đay, bẹ ngô, kim loại đơn sơ như cuộc sống đời thường của người Việt Nam nhưng rất
có hồn
* LNTT gắn liền với sản xuất nông nghiệp
Hầu hết các LNTT ở nước ta đều có lịch sử ra đời sớm Ngay từ thời Phùng Nguyên (khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN), người Việt cổ đã sáng chế
ra kỹ thuật chế tác đá, đồ gốm bước đầu đã hình thành các LN thủ công Đến thời Đông Sơn (từ 3000 năm đến 250 năm TCN) người Việt đã phát triển được 7 nhóm nghề như: luyện kim, gốm, thủy tinh, mộc và sơn, dệt vải, đan lát, chế tác đá Tiếp đến là thời kỳ Bắc thuộc, thời kì độc lập dân chủ, thời kì cận đại, thời Pháp thuộc Mặc dù lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm nhưng các LN không mất đi mà còn được ông cha giữ gìn, bảo tồn
và phát triển với nhiều nghề đa dạng, phong phú
Thực tế chứng minh rằng ở nước ta LN được hình thành và phát triển gắn liền với khu vực nông nghiệp, nông thôn, bởi lẽ:
Một là, do đặc điểm nông nghiệp là làm theo mùa vụ cho nên người nông dân chỉ dành thời gian cho hoạt động nông nghiệp khoảng 1/2 - 1/3 thời gian trong năm
Hai là, KH - CN phát triển đã đẩy nhanh quá trình cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp từ khâu gieo cấy, làm đất, thu hoạch thì thời gian nông nhàn lại càng lớn hơn
Trang 25Ba là, ngày nay do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, một bộ phận nông dân bị mất việc làm truyền thống
Chính vì những lý do nêu trên mà người nông dân có nhiều thời gian nông nhàn để làm thêm một hoặc một số nghề thủ công ngoài sản xuất nông nghiệp, điều này đã thúc đẩy các ngành nghề, LNTT ngày càng phát triển Có thể nói, quan hệ giữa các LNTT với nông nghiệp, nông thôn là quan hệ biện chứng chặt chẽ, tạo điều kiện cho nhau phát triển Các quan hệ đó thể hiện quan hệ trong trao đổi tư liệu sản xuất, quan hệ trao đổi tư liệu tiêu dùng và xây dựng kết cấu kinh tế đa dạng ở nông thôn
* LNTT thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc
Lịch sử phát triển của dân tộc ta luôn gắn liền với lịch sử phát triển của thôn, làng và các LN Với một nền kinh tế mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên sản phẩm của làng nghề không chỉ là sản phẩm kinh tế, văn hóa thuần túy trong sinh hoạt hằng ngày mà nó còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng cho nền văn hóa lâu đời của từng làng quê Hiện nay, những sản phẩm thủ công truyền thống của các LN đã thể hiện được sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật tinh xảo được lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo ra những sản phẩm có bản sắc riêng tiêu biểu, độc đáo không chỉ người tiêu dùng trong nước ưu chuộng mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và mang lại giá trị cao
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường thì sự độc đáo của các sản phẩm thủ công ở các LN đã tạo ra thế mạnh trong quá trình cạnh tranh với các sản phẩm khác Đồng thời, việc phát triển LNTT sẽ tận dụng và khai thác được tiềm năng, lợi thế của các địa phương như: vùng nguyên liệu phong phú, lực lượng lao động dồi dào, thị trường nông thôn rộng lớn, các chính sách ưu tiên của Nhà nước
Theo thống kê, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các bạn hàng lớn như:
Trang 26Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc Có thể nói, xuất khẩu hàng hóa thủ công mỹ nghệ mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế, chính trị, xã hội đó là gia tăng giá trị xuất khẩu, góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa về con người, đất nước Việt Nam với bạn bè thế giới, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu LĐ ở khu vực nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Ngoài ra, khi phát triển LNTT sẽ tạo điều kiện để phát triển các lĩnh vực thương mại - dịch vụ khác, từ đó đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.1.2 Phát triển và phát triển làng nghề truyền thống
1.1.2.1 Phát triển
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới, thay thế cái cũ
Phát triển bao gồm nhiều khía cạch khác nhau, đó là sư tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là một nội dung của sự phát triển Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân (Bùi Văn Vượng (2012)
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Về căn bản, khái niệm tăng trưởng dùng để chỉ quá trình biến đổi theo chiều hướng tăng lên đơn thuần về lượng của sự vật; nó không phản ánh quá trình biến đổi theo chiều hướng nâng cao về chất của sự vật Đây là điểm khác nhau căn bản giữa khái niệm phát triển và khái niệm tăng trưởng
Trang 27Mặc dù có sự khác nhau giữa tăng trưởng và phát triển nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ tất yếu với nhau: Tăng trưởng là điều kiện của phát triển và ngược lại, phát triển lại là điều kiện tạo ra những sự tăng trưởng mới, thường là với tốc độ và quy mô lớn hơn Đó là mối quan hệ có tính quy luật của sự phát triển
Phát triển kinh tế bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy
mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội Khái niệm phát triển kinh tế bao hàm các vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất là mức độ gia tăng mở rộng sản lượng quốc gia và sự tăng trưởng mức sản xuất, mức sống của quốc gia trong một thời gian nhất định
Thứ hai là mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia Trong đó, quan trọng nhất là tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản lượng quốc dân Mức độ
tỷ lệ ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân càng cao thể hiện mức phát triển càng cao
Thứ ba là sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống xã hội, mức độ gia tăng thu nhập thực tế của người dân, mức độ công bằng xã hội của quốc gia
* Phát triển bền vững: Theo quan điểm của Liên hợp Quốc thì một thế giới phát triển bền vững là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên
có thể tái tạo nhanh hơn khả năng tự tái tạo chúng, không sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thế chúng và không thải ra môi trường những chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và đồng hóa chúng Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại, vừa không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai Một vấn đề đặt ra là những người đang hưởng thụ những thành tựu của sự phát triển kinh tế ngày nay có thể sẽ làm cho các thế hệ tương lai phải chịu đựng tình cảnh tồi tệ do môi trường sinh thái bị suy thoái quá mức Các thế hệ tương lai không chỉ kế thừa tình trạng ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên của hiện tại, mà còn thừa hưởng các thành quả
Trang 28của lao động hiện tại dưới dạng chất lượng giáo dục, kỹ thuật và kiến thức cũng như vốn vật chất
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất đã kế thừa những phân tích ở trên và
đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững là: “Phát triển bền vững là phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”
1.1.2.2 Phát triển làng nghề truyền thống
Phát triển LNTT là vấn đề được Đảng, Nhà nước, cũng như các cấp chính quyền đang rất quan tâm Đây cũng là một trong những tiêu chí trong Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng, phát triển, phát triển làng nghề truyền thống là sự tăng lên về quy mô, số lượng và người tham gia vào sản xuất, chế biến các sản phẩm của làng nghề nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất, chế biến sản phẩm Ngoài ra, vấn đề môi trường cũng cần được quan tâm trong phát triển LNTT để đảm bảo sự phát triển bền vững, lâu dài
Sự tăng lên về số lượng, quy mô của người tham gia vào sản xuất, chế biến các sản phẩm làng nghề có nghĩa là số lượng làng nghề được tăng lên cả
về số lượng, quy mô sản xuất của họ Trong đó, những nghề cũ được củng cố, nghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng không ngừng tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của một nghề Sự phát triển của một nghề phải đảm
bảo hiệu quả cả về mặt kinh tế - xã hội - môi trường
1.1.2.3 Vai trò của phát triển làng nghề truyền thống
- Giải quyết việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn (Tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho hộ gia đình)
Các làng nghề nước ta với nhiều ngành nghề, không đòi hỏi nhiều vốn, yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu là tận dụng lao động và có khả năng làm việc phân tán trong từng hộ gia đình Hơn nữa, giá trị lao động sống trong giá
Trang 29thành sản phẩm chiếm tỉ lệ cao (thường chiếm khoảng 40 - 60%) Do vậy, các
LN ở nông thôn được phát triển mạnh mẽ sẽ thu hút được nhiều lao động nông thôn Bình quân mỗi cơ sở chuyên ngành nghề ở các LN tạo việc làm ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4 - 6 lao động Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các LN còn thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn (bình quân 2 - 5 người/hộ và 8 - 10 người/cơ sở) Nhiều LN đã thu hút trên 60% lao động vào các hoạt động ngành nghề
Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề ở các LN ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn Nhiều hộ ở các LN sẽ kết hợp giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với ngành nghề phi nông nghiệp, thậm chí một số hộ chuyển hẳn sang làm nghề phi nông nghiệp Những cơ sở, những hộ kiêm và hộ chuyên sẽ là những trung tâm thu hút lao động của địa phương và lao động những vùng xung quanh trong phát triển các ngành nghề Như thế, các LN được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn
Hiện nay ở nước ta, các vùng nông thôn với 76% dân số và 70% lao động của cả nước, đất đai canh tác lại bị hạn chế bởi giới hạn của tự nhiên - đây là một thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế ở nông thôn Vấn đề đặt ra là phải làm sao giải quyết được công ăn việc làm cho lực lượng lao động này, đồng thời tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn hết sức hạn chế Theo tính toán của các chuyên gia thì hiện nay thời gian lao động dư thừa trong nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng Nghĩa là có khoảng trên 10 triệu lao động dư thừa Do vậy, vấn
đề giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn trở nên hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ của các ngành nghề và các lĩnh vực Sự phát triển của các LN đã kéo theo sự phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều
Trang 30việc làm mới, thu hút nhiều lao động Nghề chế biến lương thực, thực phẩm không chỉ có tác dụng thúc đẩy nghề trồng các loại cây phục vụ cho chế biến phát triển, mà còn tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển Ngoài các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có một loại dịch vụ khác nữa, đó là dịch vụ tín dụng, ngân hàng Các loại dịch vụ này cũng được phát triển do yêu cầu sản xuất trong các LN ngày càng tăng
Vai trò tạo việc làm của các LN còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển KT - XH ở khu vực nông nghiệp và nông thôn
Vai trò của LN là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn
Ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì ở nơi đó có thu nhập cao và mức sống cao hơn với các vùng thuần nông Nếu so sánh với mức thu nhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp Có những LN thu nhập cao như làng gốm Bát Tràng: mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt 10 - 20 triệu đồng/ năm, của các hộ trung bình là 40 - 50 triệu đồng/năm, còn các hộ
có thu nhập cao đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm Thu nhập từ nghề sứ của Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã Vì vậy, thu nhập ở các
LN đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và của địa phương Trên cơ sở tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, các LN được coi là nhân tố động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo hướng tăng
hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người dân
- Các làng nghề đã bảo tồn và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống tạo điều kiện phát huy khả năng của đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi
Trang 31Các LNTT gắn liền với lịch sử phát triển của nền văn hóa Việt Nam Các sản phẩm LNTT chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam Nhiều sản phẩm LN truyền thống
có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành tựu, phát minh mà con người Việt Nam đạt được Cho đến nay, nhiều sản phẩm LNTT là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ cao
về mỹ thuật còn được lưu giữ, trưng bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài
Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh lao động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi LN Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau
Ngày nay, nền sản xuất công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ ở khắp nơi Tuy nhiên, các sản phẩm thủ công truyền thống với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn rất cần thiết và có ý nghĩa đối với nhu cầu đời sống của con người Những sản phẩm này là sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, là
sự bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Vì vậy, những công nghệ truyền thống quan trọng cần được bảo lưu và phát triển theo hướng hiện đại trong quá trình CNH, HĐH đất nước
- Các làng nghề có vai trò quan trọng tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 32Trong quá trình vận động và phát triển, các LN đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển các LN ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Sự tác động này đã tạo ra một nền kinh tế
đa dạng ở nông thôn, với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm LN không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Chẳng hạn khi ngành nghề chế biến phát triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Do vậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực nông nghiệp chuyên môn hóa, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản phẩm hàng hóa
Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất ở các LN cho thu thập và giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên Sự phát triển này
đã khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế ngoài nông nghiệp cho nhiều vùng thuần nông trước đây
LN phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các LN là một quá trình liên tục, đòi hỏi thường xuyên hoạt động dịch vụ trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó, dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động
Trang 33Để tồn tại và phát triển, các cơ sở, các hộ SXKD ở các LN đã đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để từng bước giảm bớt lao động ở những khâu công việc nặng nhọc hoặc lao động độc hại Từ đó, các công cụ sản xuất được tăng cường, đổi mới, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT - XH) ở các LN cũng được nâng cấp hoàn thiện… góp phần làm tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện sống của dân cư trong làng, trong vùng
Các ngành nghề phi nông nghiệp ở các LN, nhất là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã sử dụng các công nghệ truyền thống hoặc tiên tiến để chế biến nông sản phẩm, tận dụng các nguồn tài nguyên, các phế phẩm phụ, phế liệu để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Thông qua quá trình đó làm tăng giá trị hàng hóa, tăng giá trị hàng xuất khẩu Từ đó, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch từ nông nghiệp là chủ yếu sang
cơ cấu kinh tế mới có công nghiệp và dịch vụ cùng phát triển và chiếm tỉ trọng ngày càng cao ở các LN; tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm xuống, tăng tương ứng lao động làm ngành nghề phi nông nghiệp Mặt khác, cũng trên cơ sở giá trị sản lượng từ hoạt động phi nông nghiệp của các LN tăng lên, tạo điều kiện tăng tích luỹ và nguồn vốn đầu tư tại chỗ, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, cải thiện đời sống dân cư trong làng, trong vùng Do đó, các LN có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH, xây dựng nông thôn mới Trong tương lai, nhiều cơ sở sản xuất ở các LN còn là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, hiện đại trong và ngoài nước ở nông thôn Việt Nam
Các làng nghề góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động, tiền vốn, nguyên liệu… và gia tăng giá trị sản phẩm hàng hóa của nền kinh tế
Các LN thông thường không đòi hỏi một số vốn đầu tư quá lớn, bởi nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong các
LN có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được Mặt khác, sản xuất trong các LN là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động
Trang 34vốn và các nguồn lực vật chất khác của các hộ gia đình Cũng từ đặc điểm của
LN là các nguyên liệu sẵn có kể cả việc tận dụng các loại phế liệu, phế thải… nên chúng được sử dụng hiệu quả nhất Các LN nơi sản xuất cũng là nơi ở của
họ nên lực lượng lao động được tận dụng và thu hút tối đa nhiều loại lao động trong, trên, dưới độ tuổi lao động, tận dụng lao động thời vụ này nhàn, tranh thủ các thời gian nhàn rỗi Các yếu tố khác của quá trình sản xuất ở các LN cũng được huy động phục vụ hiệu quả nhất như việc tận dụng đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ xảo của người lao động
Ngày nay, sản xuất của LN phát triển theo chiều hướng chuyên môn hóa, đa dạng sản phẩm đã góp phần đáng kể vào thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở nông thôn Với quy mô không lớn nhưng được phân bổ rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các LN sản xuất ra một khối lượng hàng hóa khá lớn đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và từng địa phương nói riêng
- Làng nghề đã tạo ra đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và tạo cơ sở vệ tinh cho phát triển các doanh nghiệp hiện đại
LN phát triển sẽ thu hút lực lượng lao động lớn và đồng thời cũng sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Chính thông qua các lực lượng này để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Khi đó tác phong công nghiệp, tính tổ chức, tính kỷ luật… của đội ngũ lao động cũng được cải thiện thích ứng với điều kiện và kỹ thuật mới
Ngày nay với xu thế hội nhập, thị trường cạnh tranh, các hình thức liên kết liên doanh, hợp tác… trở lên hết sức cần thiết đối với các LN Sự liên kết này có tác dụng và hiệu quả rõ rệt nhất là các LN làm gia công, sản xuất phụ với tư cách là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn Các LN sản xuất các loại phụ
Trang 35tùng, chi tiết sản phẩm, chế biến nông sản thực phẩm ở giai đoạn thô… cung cấp cho các doanh nghiệp lớn lắp ráp, hoàn thiện, tinh chế các loại sản phẩm bán ra thị trường trong nước và nước ngoài Các LN sẽ được các doanh nghiệp lớn này đảm bảo về thị trường đầu ra, đầu vào, cung cấp thiết bị công nghệ, thậm chí cả vốn để tiến hành SXKD ổn định Mặt khác, bản thân các hộ gia đình, các tổ hợp, doanh nghiệp nhỏ ở các LN do nhu cầu của sản phẩm ngày một cao cả về số lượng, chất lượng và tính cạnh tranh, thị hiếu của sản phẩm nên cũng phải tự đổi mới công nghệ, quản lý, đầu tư trang thiết bị hiện đại, liên doanh, liên kết, chuyên môn hóa… để phát triển và sẽ hình thành các doanh nghiệp lớn hiện đại
- Làng nghề phát triển ở nông thôn đã và đang làm thay đổi diện mạo nông thôn mới theo hướng CNH - HĐH, phát triển làng nghề góp phần tích cực vào tiến trình xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của thành phố Hà Nội và Nghị quyết của Chính phủ Đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc
Làng nghề phát triển ở nông thôn đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân nông thôn, những vùng nông thôn nông nghiệp thuần túy, không có ngành nghề phát triển thu nhập bình quân đạt cao nhất cũng chỉ đạt
10 triệu đồng/người/năm Vậy nên phát triển làng nghề, người dân có nghề và làm nghề thì thu nhập bình quân của người dân nông thôn làng nghề lên tới ít nhất cao gấp 5 lần đối với vùng thuần nông không có nghề
Làng nghề phát triển đã và đang tác động góp phần mạnh mẽ vào giải quyết việc làm tại chỗ (giải quyết lao động dư thừa, lao động nông nhàn) khi dân số ngày càng tăng, diện tích đất đai canh tác ngày càng thu hẹp do phát triển công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng và đô thị… làng nghề phát triển kéo theo
hạ tầng kỹ thuật nông thôn phát triển, dịch vụ phát triển, sản xuất CN - TTCN cũng tác động mạnh mẽ đến văn minh văn hóa cho người lao động và cho làng nghề, sản xuất công nghiệp và dịch vụ đã và đang tăng thu nhập khá và
Trang 36ổn định cho người lao động, cho an sinh xã hội Đồng thời góp phần giữ vững
và ổn định chính trị xã hội
Làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình độ
kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ, nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cách sinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn người Việt
và được truyền từ đời này sang đời khác
1.1.3 Nội dung phát triển làng nghề truyền thống
Nội dung cơ bản của phát triển LNTT là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng LNTT, sự thay đổi về chất kéo theo sự thay đổi về lượng
1.1.3.1 Phát triển làng nghề truyền thống về quy mô
Lượng là số lượng LNTT được công nhận thêm, còn tồn tại và phát triển, số người tham gia vào sản xuất, chế biến sản phẩm của nghề truyền thống đảm bảo được hiệu quả sản xuất, chế biến
Sự tăng lên về số lượng LNTT không phải là sự công nhận LNTT tràn lan mà không quan tâm đến bản chất LNTT đó mà là sự duy trì và phát triển những LNTT vẫn đang tồn tại và sự bảo tồn phát triển những LNTT đang bị mai một suy yếu; số hộ tham gia vào sản xuất, chế biến các sản phẩm thuộc nghề truyền thống tăng lên, giá trị sản lượng sản phẩm làng nghề không ngừng được nâng lên, sự phát triển của một LNTT phải đảm bảo hiệu quả cả
về mặt kinh tế - xã hội - môi trường
Phát triển LNTT phải đảm bảo thỏa mãn yêu cầu: Sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, thị trường… phải đảm bảo hợp
lý và đạt hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo Trước hết nhằm khôi phục lại sản xuất những ngành nghề đã bị mai một, phát triển mạnh những ngành nghề đang còn tồn
Trang 37tại, duy trì và tăng số lượng các ngành nghề tăng số hộ, số lao động trên cơ sở
đó tăng sản lượng, sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, về mặt xã hội thì phát triển ngành nghề nhằm tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp trầm trọng ở nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ gia đình và người lao động tăng thu nhập ổn định và cải thiện đời sống…
Những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt trong những năm qua Phát triển các làng nghề, ngành nghề nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm tại các địa phương, đóng vai trò quyết định trong xóa đói giảm nghèo Nâng cao năng suất lao động và giải quyết vấn nạn việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn Như vậy, phát triển bền vững LNTT về kinh tế đó là đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của làng nghề, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương và biểu hiện như sau:
Yếu tố đầu tiên của phát triển bền vững LNTT là tăng năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào các nhân tố sau: Thứ nhất là việc đào tạo, dạy nghề, truyền nghề trong Làng nghề để các thế hệ lao động tiếp theo có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống của cha ông Thứ hai là khả năng áp dụng công nghệ mới vào quá trình sản xuất Nghiên cứu,
sử dụng công nghệ hiện đại thay thế công nghệ cũ để tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt sức lao động, giảm thiểu ô nhiễm Nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất Thứ ba là các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được trang bị các kiến thức về tiếp thị, maketing Biết tổ chức quản lý quá trình sản xuất
1.1.3.2 Phát triển làng nghề truyền thống về chất lượng
Phát triển LNTT phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm sản xuất
ra, sản phẩm mà thị trường trong nước và nước ngoài thích ứng về mẫu mã,
Trang 38quy cách, giá cả; đặc biệt là sản phẩm được kết hợp sản xuất công nghệ tiên tiến, kết hợp với công nghệ cổ truyền, kỹ năng kỹ sảo đặc trưng của sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong phát triển LNTT luôn luôn được gắn liền với nhau như một mắt xích hoàn hảo, sản xuất LNTT phát triển luôn gắn liền với dịch vụ phát triển như dịch vụ vật tư nguyên nhiên vật liệu, dịch vụ tiêu dùng dân sinh…
Đi liền phát triển LNTT về lượng và chất thì nội dung cơ bản của phát triển làng nghề gắn liền phát triển kinh tế với xã hội và môi trường sinh thái
+ Về xã hội: Tạo ra nhiều việc làm, hạn chế thất nghiệp, nâng cao mức sống dân chúng
+ Về môi trường: Đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn…
Hiện nay, trong cơ chế thị trường, trong nền kinh tế hội nhập thế giới, muốn khuyến khích các LNTT phát triển, Đảng và Nhà nước đã và đang ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển Song để LNTT phát triển mạnh cần tạo điều kiện các vấn đề: Quy hoạch phát triển (kể cả lượng sản phẩm, ngành nghề, mặt bằng cho cơ sở sản xuất của LNTT đầu tư phát triển)
có mặt bằng cho đầu tư phát triển thì các cơ sở sản xuất mới có điều kiện đầu
tư mở rộng sản xuất hiện đại kết hợp vốn, công nghệ cổ truyền Có mặt bằng sản xuất mới tránh được những sản phẩm bị ô nhiễm ra khỏi dân cư của làng nghề và xử lý môi trường tập trung mới đảm bảo, có mặt bằng cho LNTT đầu
tư phát triển thì quy mô sản xuất mới được mở rộng, chất lượng sản phẩm được nâng lên, giải quyết việc làm cho người lao động, đời sống của người dân ngày được nâng lên, an ninh chính trị được ổn định
Do vậy, phát triển LNTT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, thực hiện tiến trình đưa đất nước ta cơ bản là nước công nghiệp vào năm 2020 như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra
Trang 391.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề truyền thống
1.1.4.1 Nhân tố chủ quan
a Nguồn nhân lực
Cần phải khẳng định vị trí và tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển LNTT là rất lớn, họ không những là chủ thể làm ra sản phẩm mà còn là người cải tiến và phát triển sản phẩm một cách hoàn hảo hơn Ngày nay, để thích ứng với điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất, kinh doanh của LN hiện đang dịch chuyển từ quy mô nhỏ, lẻ sang sản xuất hàng hóa với số lượng lớn và chất lượng được tiêu chuẩn hóa Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng kỹ, mỹ thuật, độ tinh xảo của sản phẩm, các LNTT ngày càng có nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao Có thể nói, với kỹ thuật điêu luyện của mình, các nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm quí giá và độc đáo, những sản phẩm mang đậm tính văn hóa dân tộc Vì vậy, chính họ là những người giữ lửa cho sự tồn tại của LNTT, sự truyền nghề cũng hình thành từ tâm huyết và lòng yêu nghề của họ, từ đó đào tạo đội ngũ lao động kế cận, tiếp tục đóng vai trò là nghệ nhân của LNTT trong tương lai
Ngoài ra, để có sức cạnh tranh trên thị trường thì sản phẩm được làm ra phải có chất lượng cao, tinh xảo về mẫu mã, điều này chủ yếu phụ thuộc vào tài hoa, kinh nghiệm tay nghề của nghệ nhân, thợ cả Tuy nhiên, số lượng thợ
có tay nghề giỏi trong các LNTT đang có xu hướng ngày một ít đi vì còn liên quan đến yếu tố truyền nghề, điều này gây cản trở không nhỏ đến chất lượng
LĐ trong các LNTT và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Như vậy, có thể nói nguồn nhân lực là nhân tố quyết định trong việc tạo
ra những sản phẩm chất lượng cao, không những độc đáo về mẫu mã mà còn thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc cũng như tính hiện đại, phù hợp với yêu cầu của thị trường
b Nhân tố về vốn
Muốn có cơ sở hạ tầng LN phát triển, máy móc sản xuất hiện đại hay
Trang 40nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mạnh mẽ, tất cả đều phải cần đến vốn đầu tư Vốn đầu tư cung cấp cho các làng nghề về vật lực để có thể đầu tư và phát triển toàn diện quy mô của LNTT Ta thấy rõ vai trò của việc đầu tư vốn vào phát triển LNTT là rất lớn, cụ thể:
- Đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại các LN góp phần giải quyết các vấn đề xã hội và các quan hệ phức tạp khác như: xóa đói giảm nghèo, bài trừ các thủ tục lạc hậu Các chính sách đầu tư hợp lý sẽ góp phần thực hiện các chính sách xã hội một cách hiệu quả;
- Kinh tế làng nghề đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn Các làng nghề hiện nay hầu hết đều thiếu nguồn vốn để sản xuất, để mở rộng ngành nghề, để xây dựng cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng
Do vậy, chính sách vốn và các hoạt động đầu tư sẽ góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH tại LN, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế;
- Chính sách huy động và sử dụng vốn sẽ tạo môi trường thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận tất cả các nguồn vốn để phát triển LN
Qua đó, ta có thể thấy được vai trò rất quan trọng của vốn đầu tư không chỉ đối với quá trình tồn tại và phát triển LNTT mà còn cả việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn
1.1.4.2 Nhân tố khách quan
a Nhân tố khoa học công nghệ
Ngày nay, để LNTT có thể tồn tại và phát triển bền vững thì đổi mới phương thức sản xuất là yêu cầu bắt buộc Trong đó đổi mới, nâng cao trình
độ kỹ thuật và công nghệ sẽ góp phần nâng tầm quy mô của sản phẩm, tăng năng suất lao động cũng như giảm thiểu yếu tố ô nhiễm môi trường Thực tế cho thấy, sự kết hợp các yếu tố truyền thống với KH - CN hiện đại là một điều vô cùng cần thiết giúp tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, hấp dẫn
và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc