Cơ sở lý luận về đầu tư công và đánh giá tác động dự án đầu tư công
Khái niệm, đặc điểm của đầu tư công
- Khái niệm của đầu tư công
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tƣ
Đầu tư là việc hy sinh tiêu dùng nguồn lực hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm mang lại kết quả lớn hơn cho nhà đầu tư trong tương lai.
Theo quy định của luật đầu tư công, đầu tư công bao gồm các hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các công trình và dự án xây dựng hạ tầng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các hoạt động đầu tư phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Trong hoạt động đầu tư, các nguồn lực như tiền vốn, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tài nguyên và tài sản vô hình được sử dụng Giá trị của những nguồn lực này được gọi là vốn đầu tư.
Mục đích của đầu tư là đạt được kết quả lớn hơn trong tương lai, không chỉ giới hạn ở giá trị tài chính mà còn bao gồm sự gia tăng tài sản vật chất như nhà máy và đường sá, tài sản tài chính, tài sản trí tuệ như trình độ chuyên môn và khoa học kỹ thuật, cũng như cải thiện môi trường sinh thái.
Do liên quan đến những yếu tố trong tương lai, do vậy đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tƣ là sự không chắc chắn và rủi ro.
Đặc điểm dự án đầu tư công
Dự án đầu tư công là tổng thể các hoạt động dự kiến về nguồn lực và chi phí, được sắp xếp theo kế hoạch chặt chẽ với lịch trình và địa điểm cụ thể, nhằm tạo ra kết quả rõ ràng để đạt được các mục tiêu nhất định.
Dự án là một thực thể độc lập, hoạt động trong một môi trường xác định và có các giới hạn rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm.
Dự án có tính xác định rõ ràng về mục tiêu, thời gian bắt đầu và kết thúc, cùng với các nguồn lực cần thiết về số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời điểm giao nhận.
- Dự án có tính logic: Tính logic của dự án đƣợc thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án [15]
Một dự án thường gồm bốn bộ phận sau:
(1) Mục tiêu: một dự án thường có hai cấp mục tiêu:
Mục tiêu phát triển là những mục tiêu mà dự án hướng tới nhằm đóng góp vào kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia và khu vực.
+ Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt đƣợc trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thời gian nhất định
Kết quả là các đầu ra cụ thể được hình thành từ các hoạt động của dự án, đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.
Các hoạt động của dự án là những công việc được thực hiện nhằm chuyển hóa nguồn lực thành kết quả cụ thể Mỗi hoạt động đều tạo ra kết quả tương ứng, góp phần vào thành công chung của dự án.
Nguồn lực là các đầu vào vật chất, tài chính và sức lao động cần thiết cho việc thực hiện các hoạt động của dự án Chúng đóng vai trò quan trọng, là tiền đề cho sự phát triển và tiến hành các hoạt động trong dự án.
Phân loại dự án đầu tư công
Trong thực tế, dự án đầu tư rất đa dạng và được phân loại dựa trên các mục đích khác nhau Hiện nay, có một số phương pháp phân loại dự án đầu tư phổ biến.
1) Căn cứ vào nội dung dự án
- Dự án theo lãnh thổ: Là những dự án mà tất cả những nội dung của dự án đều đƣợc thực hiện trên một phạm vi lãnh thổ
- Dự án theo hạng mục: là những dự án chỉ giải quyết một hoặc một vài hạng mục nào đó trong một chương trình lớn
Dự án theo chức năng là những dự án được thiết kế để giải quyết các chức năng cụ thể như nghiên cứu, sản xuất, và tiếp thị.
2) Căn cứ vào người khởi xướng
- Dự án cá nhân: Là những dự án do các cá nhân làm nhà đầu tƣ
- Dự án tập thể: Là những dự án đƣợc đầu tƣ từ nguồn vốn của tổ chức, doanh nghiệp
- Dự án quốc gia: Là những dự án đầu tƣ ở tầm cỡ quốc gia
- Dự án quốc tế: Là những dự án đầu tƣ đƣợc thực hiện ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ
3) Căn cứ vào đối tượng đầu tư
Căn cứ vào đối tượng đầu tư, người ta phân chia dự án thành 3 nhóm:
- Dự án đầu tư cho các đối tượng vật chất: Nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng (đường xá, công viên, nhà ở )
- Dự án đầu tƣ tài chính: Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,
- Dự án đầu tƣ cho các đối tƣợng phi vật chất: Đầu tƣ cho tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực [15]
Trong 3 nhóm trên, đầu tƣ cho các đối tƣợng vật chất là đầu tƣ phát triển, đầu tư làm tăng trưởng nền kinh tế, đầu tư tài chính là điều kiện quan trọng để thu hút vốn từ mọi tầng lớp dân cƣ còn đầu tƣ cho đối tƣợng phi vật chất là đầu tƣ không mang lại hiệu quả trực tiếp cho xã hội (không tạo ra sản phẩm trực tiếp cho xã hội) song nó có vai trò rất quan trọng làm nhân tố tích cực, xúc tác cho việc đầu tƣ mang lại hiệu quả cao
Các dự án đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường năng lực sản xuất cho nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương và đất nước trong từng giai đoạn.
4) Căn cứ vào quy mô và cấp quản lý
Theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 15/05/2015, các hoạt động đầu tư được phân thành dự án trọng điểm quốc gia và ba nhóm A, B, C, tùy thuộc vào quy mô và tính chất của từng dự án.
Dự án trọng điểm quốc gia
1 Các dự án đầu tƣ công có tổng mức đầu tƣ trên 10.000 tỷ VNĐ
2 Các dự án ảnh hưởng đến môi tường như nhà máy điện hạt nhân, thu hồi đất vườn quốc gia, đất trồng lúa thì không phục thuộc vào hạn mức đầu tư
1 Các dự án đầu tƣ thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng có tính bảo mật quốc gia, có nghĩa chính trị – xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới thì không kể mức vốn
2 Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ không phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tƣ
3 Các dự án công nghiệp điện, khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, hoá chất, phân bón, luyện kim, chế tạo máy, khai thác, chế biến khoảng sản, các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ có tổng vốn đầu tƣ trên 2.300 tỷ đồng
4 Các dự án thuỷ lợi, cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, điện tử, tin học, hoá dƣợc, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường giao thông nội thị có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng
5 Các dự án: hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị mới, công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông lâm sản có tổng vốn đầu tƣ trên 1.000 tỷ đồng
6 Các dự án y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác có tổng vốn đầu tƣ trên 800 tỷ đồng
1 Dự án thuộc mục (3) có tổng mức vốn đầu tƣ từ 120–2.300 tỷ đồng
2 Dự án thuộc mục (4) có tổng mức vốn đầu tƣ từ 80- 1.500 tỷ đồng
3 Dự án thuộc mục (5) có tổng mức vốn đầu tƣ từ 60- 1.000 tỷ đồng
4 Dự án thuộc mục (6) có tổng mức vốn đầu tƣ từ 45- 800 tỷ đồng
1 Dự án thuộc mục (3) có tổng mức vốn đầu tƣ nhỏ hơn 120 tỷ đồng
2 Dự án thuộc mục (4) có tổng mức vốn đầu tƣ nhỏ hơn 80 tỷ đồng
3 Dự án thuộc mục (5) có tổng mức vốn đầu tƣ nhỏ hơn 60 tỷ đồng
4 Dự án thuộc mục (6) có tổng mức vốn đầu tƣ nhỏ hơn 45 tỷ đồng
5) Căn cứ vào trình tự lập dự án
1 Dự án tiền khả thi
6) Căn cứ vào nguồn vốn
1 Dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước
2 Dự án đầu tư từ vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh
3 Dự án đầu tư từ vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
4 Dự án đầu tƣ từ các nguồn vốn khác: vốn tự huy động, liên doanh, đầu tƣ trực tiếp của nước ngoài
7) Căn cứ vào mức độ tái sản xuất tài sản cố định
1 Dự án đầu tƣ xây dựng mới
2 Dự án đầu tƣ xây dựng mở rộng
3 Dự án đầu tƣ cho xây dựng để cải tạo, nâng cấp
4 Dự án đầu tƣ xây dựng lại (khi công trình hết niên hạn sử dụng) [13]
Vai trò của dự án đầu tư công
Dự án đầu tư bao gồm các hoạt động sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Những hoạt động này thường liên quan đến việc xây dựng các công trình công cộng như đường xã, trường học, trụ sở cơ quan nhà nước, cảng biển, bến tàu và phà.
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, dự án đầu tƣ công có vài trò:
Đầu tư công góp phần gia tăng tài sản vật chất cho xã hội thông qua việc phát triển các công trình phúc lợi và hạ tầng thiết yếu Những dự án này không chỉ phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mà còn của toàn quốc Chỉ khi có các hoạt động đầu tư, nền kinh tế mới có thể xây dựng được cơ sở vật chất cần thiết để phát triển bền vững.
Các dự án đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế, hình thành các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp Nhà nước Nhờ vào những dự án này, sản lượng được tăng cường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao thu nhập và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý.
Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp tạo ra sự cân đối giữa các ngành và vùng lãnh thổ Một cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phát huy nội lực của nền kinh tế và vùng, trong khi vẫn chú trọng đến yếu tố ngoại lực.
Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Có hai phương thức chính để tiếp cận công nghệ: một là tự nghiên cứu và phát minh, hai là nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài.
Để thực hiện bất kỳ phương án đổi mới công nghệ nào, việc có nguồn vốn đầu tư là điều thiết yếu Những kế hoạch không đi kèm với sự hỗ trợ tài chính sẽ không thể triển khai hiệu quả.
Đánh giá tác động kinh tế - xã hội dự án đầu tư
Nguồn lực của mỗi đơn vị, ngành, địa phương và quốc gia đều khan hiếm, do đó, việc sử dụng nguồn lực cho một dự án sẽ làm giảm nguồn lực cho dự án khác Mỗi dự án mới ra đời không chỉ giảm các đầu vào hiện có của nền kinh tế mà còn tăng các đầu ra, vì vậy cần xem xét liệu có đáng để mất các đầu vào đó để đạt được các đầu ra mong muốn hay không Việc lựa chọn dự án cần hướng tới hiệu quả kinh tế quốc dân cao nhất Nghiên cứu kinh tế dự án thực chất là đánh giá lợi ích và chi phí của dự án, từ đó quyết định chấp nhận hoặc loại bỏ dự án để đạt được các mục tiêu đề ra Lợi ích kinh tế xã hội được xác định qua việc so sánh giữa lợi ích mà dự án tạo ra và chi phí mà xã hội phải trả để sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất cho nền kinh tế quốc dân.
Lợi ích kinh tế xã hội được đánh giá trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân, mang tính chất vĩ mô, khác biệt với lợi ích tài chính chỉ tập trung vào từng doanh nghiệp ở tầm vi mô Đối với một dự án đầu tư, lợi ích kinh tế xã hội là hiệu số giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được và những đóng góp mà xã hội phải chi trả trong quá trình thực hiện dự án.
Lợi ích kinh tế mà xã hội thu được thường không thể định lượng chính xác, nhưng nó thể hiện sự phù hợp của dự án với các mục tiêu phát triển kinh tế và các lĩnh vực ưu tiên Hơn nữa, những lợi ích này còn tạo ra ảnh hưởng dây chuyền, thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế.
Sự gia tăng sản phẩm, thu nhập quốc dân, và sử dụng lao động sẽ mang lại lợi ích kinh tế xã hội, đồng thời làm tăng thu ngoại tệ và ngân sách cho Nhà nước Tuy nhiên, các lợi ích này cũng dựa trên các dự báo, do đó có tính biến động và rủi ro.
1.1.5.2 Các phương pháp đánh giá tác động kinh tế- xã hội của dự án Đánh giá tác động dự án là một quá trình phân tích và so sánh sự khác biệt về giá trị các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường ở các thời điểm khác nhau như trước và sau khi thực hiện dự án Đồng thời có thể so sánh giá trị các chỉ tiêu ấy ở vùng có dự án và không có dự án
Trong đánh giá tác động dự án thông thường có các phương pháp sau:
* Phương pháp đánh giá so sánh theo không gian
So sánh giữa khu vực có dự án và khu vực không có dự án cần phải đảm bảo tính tương đồng để đạt được kết quả chính xác Nếu không có sự tương đồng, kết quả có thể bị lệch lạc, dẫn đến việc đánh giá tác động thực tế của dự án không chính xác Việc duy trì sự tương đồng trong so sánh giúp chúng ta tiếp cận giá trị tác động thực sự của dự án một cách hiệu quả hơn.
Có 5 bước cơ bản để thực hiện so sánh theo không gian giữa các nhóm
Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu là thực hiện điều tra chọn mẫu cho hai nhóm: nhóm người tham gia và nhóm người không tham gia Cuộc điều tra cần đảm bảo tính tương đồng giữa các nhóm, bao gồm việc sử dụng cùng một phiếu điều tra, tiến hành vào cùng một thời điểm, thực hiện bởi cùng một người phỏng vấn và trong cùng một địa bàn.
Bước 2: Dựa trên dữ liệu từ cuộc điều tra, hãy xây dựng một mô hình logic với biến phụ thuộc là 0 cho những người không tham gia và 1 cho những người tham gia Các biến độc lập sẽ là những yếu tố có thể tác động đến khả năng tham gia dự án của cả hai nhóm.
Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình logic để tính toán giá trị dự đoán hoặc xác suất dự đoán cho từng cá thể trong hai nhóm, được gọi là propensity score, với giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Bước 4: Loại bỏ những cá thể có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với toàn bộ mẫu.
Bước 5: Đối với mỗi cá thể trong nhóm người tham gia, tìm kiếm một hoặc nhiều cá thể trong nhóm không tham gia có xác suất dự đoán tương đồng nhất để tiến hành so sánh Kết quả từ những so sánh này sẽ cho thấy tác động của dự án đối với từng cá thể tham gia, được gọi là “lợi ích cá nhân”.
Bước cuối cùng là tính toán giá trị trung bình của tất cả các "lợi ích cá nhân" để xác định tác động chung của dự án đối với những người tham gia.
* Phương pháp đánh giá so sánh theo thời gian:
Để đánh giá tác động của dự án, cần tổ chức khảo sát trước và sau khi tham gia cho những người liên quan Kết quả của hai đợt khảo sát này sẽ được so sánh nhằm xác định sự thay đổi do dự án mang lại Yêu cầu quan trọng là cả hai khảo sát phải được thực hiện đối với cùng một nhóm người tham gia để đảm bảo tính chính xác trong việc so sánh.
* Sử dụng các phương pháp định tính
Nghiên cứu tình huống là phương pháp thu thập thông tin mang tính mô tả và giải thích, giúp trả lời các câu hỏi về cách thức và lý do Phương pháp này tận dụng đa dạng bằng chứng từ tài liệu, phỏng vấn và quan sát, đồng thời nâng cao khả năng giải thích khi tập trung vào các thể chế, tiến trình và chương trình Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả, người nghiên cứu cần có chuyên môn và kỹ năng tốt.
Nhóm tập trung là một phương pháp thảo luận với các thành viên có kiến thức về mục tiêu và vấn đề liên quan, nhằm soạn thảo câu hỏi có cấu trúc Mục đích của phương pháp này là so sánh quan điểm của người thụ hưởng với các khái niệm trừu tượng trong mục tiêu đánh giá Phương pháp này linh hoạt và hữu ích cho việc tương tác với người tham gia dự án hoặc xác định các tác động theo thứ bậc, tuy nhiên, khả năng khái quát hóa của nó không cao.
Phỏng vấn có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm phỏng vấn chính thức hoặc không chính thức, trực tiếp hoặc qua đối thoại Các câu hỏi có thể là đóng hoặc mở, tùy thuộc vào mục đích của cuộc phỏng vấn Tuy nhiên, nếu không được thực hiện đúng cách, người phỏng vấn có thể ảnh hưởng đến câu trả lời của người được phỏng vấn.
Ý nghĩa và sự cần thiết phải đánh giá tác động dự án đầu tư công
Đánh giá dự án là một bước quan trọng trong chu trình quản lý dự án, giúp xem xét một cách toàn diện và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và tính bền vững của chương trình Quá trình này không chỉ nhằm xác định kết quả của dự án đã hoàn thành hoặc đang thực hiện dựa trên 5 tiêu chí đánh giá, mà còn đưa ra những khuyến nghị cho các dự án tương lai và rút ra bài học kinh nghiệm giá trị cho các chương trình khác.
Các tiêu chí đánh giá dự án bao gồm hiệu quả, hiệu suất, tác động, tính thích hợp và khả năng duy trì Những tiêu chí này giúp làm rõ thành công và thất bại của dự án, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm quý giá để quản lý các dự án tương lai hiệu quả hơn.
Cần phải tiến hành đánh giá dựa trên các nét cơ bản sau:
- Dự án có đạt đƣợc mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
- Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân hay không? Mức độ đóng góp là bao nhiêu?
- Hiệu quả của việc đạt đƣợc các mục tiêu đó ra sao?
- Những bài học cần rút ra?
Công tác đánh giá dự án được thực hiện theo từng lĩnh vực với quy định riêng, nhưng đều dựa trên các tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường Tất cả các tiêu chí này đều hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho cả dự án và đối tượng mà dự án phục vụ.
Nội dung đánh giá tác động dự án
Tác động của dự án đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội là một chỉ tiêu quan trọng, giúp đánh giá sự đóng góp của dự án vào mục tiêu phân phối và xác định ảnh hưởng của nó đến điều tiết thu nhập theo nhóm dân cư và vùng lãnh thổ Chỉ tiêu này xem xét cách phần giá trị gia tăng của dự án và các dự án liên quan được phân phối cho các nhóm đối tượng khác nhau, như người lao động, người hưởng lợi nhuận và nhà nước, cũng như giữa các vùng lãnh thổ Việc đánh giá chỉ tiêu này cần thực hiện theo quy trình cụ thể để đảm bảo đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn nhất định.
Bước 1: xác định nhóm dân cƣ hoặc vùng lãnh thổ (i) đƣợc phân phối giá trị tăng thêm (NNVA) của dự án
Bước 2: tiếp đến xác định phần giá trị tăng thêm do dự an tạo ra mà nhóm dân cƣ hoặc vùng lãnh thổ nhận đƣợc (NNVA i )
Bước 3: Tính toán tỷ lệ giá trị gia tăng của từng nhóm dân cư hoặc từng vùng lãnh thổ trong tổng giá trị gia tăng của dự án trong năm hoạt động bình thường.
NNVA là giá trị gia tăng mà cộng đồng dân cư hoặc vùng lãnh thổ I nhận được từ việc thực hiện dự án Đối với nhóm người làm công ăn lương, giá trị này thể hiện qua tiền lương và trợ cấp hàng năm Đối với những người hưởng lợi nhuận, nó được thể hiện qua cổ tức hoặc tiền lãi vay Đối với nhà nước, NNVA bao gồm tiền thuế phải nộp, cổ tức từ cổ phần của nhà nước và lãi vay trả cho các khoản vay của nhà nước.
NNVA đại diện cho tổng giá trị gia tăng sản phẩm quốc gia thuần túy từ dự án và các dự án liên quan (nếu có) Tỷ lệ phân phối thu nhập cho nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ i được ký hiệu là BD i.
Sau khi tính toán tỷ lệ bình đẳng (BD) cho các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ, việc so sánh tỷ lệ này giữa các nhóm sẽ giúp nhận diện tình hình phân phối giá trị gia tăng do dự án tạo ra Điều này phản ánh sự phân bổ giữa các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ trong nước, đồng thời việc đánh giá các chỉ tiêu này phụ thuộc vào chính sách kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
2 Tác động đến lao động và việc làm
Các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam, thường gặp khó khăn trong kỹ thuật sản xuất và công nghệ, trong khi lại có nguồn nhân công dồi dào Do đó, việc gia tăng cơ hội việc làm trở thành một tiêu chí quan trọng trong đánh giá các dự án đầu tư Để xác định tác động của dự án đối với lao động và việc làm, cần xem xét cả chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối, bao gồm số lao động có việc làm nhờ vào dự án và số lao động có việc làm trên mỗi đơn vị giá trị vốn đầu tư.
2.1 Số lao động có việc làm từ dự án
Bài viết đề cập đến tổng số lao động bao gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp cho dự án Lao động trực tiếp là những người làm việc trực tiếp cho dự án, trong khi lao động gián tiếp là những người được tuyển dụng cho các dự án liên đới, vốn là những dự án phát sinh do nhu cầu của dự án chính đang được xem xét.
Trình tự xác định số lao động (trực tiếp và gián tiếp) có việc làm do thực hiện dự án nhƣ sau:
Bước 1: xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạt động bình thường của đời dự án
Bước 2: Xác định số lượng lao động cần thiết cho việc mở rộng các dự án liên quan, bao gồm cả đầu vào và đầu ra Đây là số lao động có việc làm gián tiếp nhờ vào việc thực hiện dự án đang được xem xét.
Bước 3: tổng hợp số lao động trực tiếp và gián tiếp có việc làm trên đây chính là tổng lao động có việc làm nhờ thực hiện dự án
Dự án mới có thể tạo ra việc làm cho một số lao động, nhưng cũng có nguy cơ làm mất việc cho lao động tại các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ khác do sự cạnh tranh không nổi Số lao động được tạo ra từ dự án sẽ chỉ bao gồm lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho dự án, trừ đi số lao động mất việc tại các cơ sở liên quan và số lao động nước ngoài tham gia vào dự án.
2.2 Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư Để tính chỉ tiêu số lao động có việc làm trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tƣ, cũng tương tự như đối với lao động, ta phải tính số vốn đầu tư trực tiếp của dự án đang xem xét và vốn đầu tƣ của các dự án liên đới (vốn đầu tƣ đầy đủ) Tiếp đó tính các chỉ tiêu sau đây:
- Số lao động có việc làm trực tiếp tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tự trực tiếp (I d )
Ld – số lao động có việc làm trực tiếp của dự án
I vd – số vốn đầu tƣ trực tiếp của dự án
- Toàn bộ số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tƣ đầy đủ (IT)
LT – toàn bộ số lao động có việc làm trực tiếp và gián tiếp (LT=Ld + Lind)
IvT là số vố đầu tƣ đầy đủ của dự án đang xem xét và các dự án liên đới (IvT Ivd + Ivind)
Lind – là số lao động có việc làm gián tiếp
Ivind – là số vốn đầu tƣ gián tiếp
Tiêu chuẩn đánh giá dự án cho thấy rằng, khi các chỉ tiêu đạt giá trị cao, dự án sẽ có tác động lớn hơn đến nền kinh tế và xã hội.
2.3 Tác động đến môi trường sinh thái
Thực hiện dự án thưởng có thể ảnh hưởng đến môi trường sinh thái theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Những tác động tích cực bao gồm việc làm đẹp cảnh quan, cải thiện điều kiện sống và sinh hoạt cho cộng đồng địa phương.
Ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đai gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người và động vật trong khu vực.
Vì vậy, trong phân tích dự án các tác động về môi trường đặc biệt là tác động tiêu cực phải đƣợc quan tâm thỏa đáng
Có nhiều phương pháp để đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư, bao gồm phân tích lợi ích – chi phí, sơ đồ mạng lưới, ma trận và danh mục điều kiện môi trường Trong số đó, phương pháp phân tích dễ hiểu và tổng hợp cao nhất có thể được thể hiện qua công thức cụ thể.
Bt là yếu tố môi trường năm t
EB t là giá trị các ngoại ứng tích cực đến
Bt là lợi ích từ dự án mà chưa tính đến yếu tố môi trường lại năm t
Ct là chi phí của dự án mà chưa tính đến yếu tố môi trường năm t
ECt là giá trị các ngoại ứng tiêu cực đến môi trường năm t n là vòng đời sản xuất của dự án
N là vòng đời dài hạn của dự án với các tác động kéo dài tới môi trường, N đƣợc giả thiết là kéo dài tới vô cùng
Đánh giá ảnh hưởng môi trường của một dự án đầu tư thường gặp nhiều khó khăn, nhưng là điều cần thiết Việc đánh giá này nên được thực hiện một cách chính xác, có thể dựa trên giá trị hoặc định lượng phi tiền tệ Nếu không thể định lượng theo hai tiêu chuẩn này, có thể áp dụng phương pháp đánh giá định tính.