Nhưng đồng hành với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường trong ngành Nhiệt điện gồm nước thải, khí thải, chất thải rắn..., đang là một trong những vấn đề đang được thu hút sự quan tâm đặc biệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN MẬU TOẢN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN PHƯỜNG MÔNG DƯƠNG,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội , ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Mậu Toản
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Hợp
Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp chất đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Mậu Toản
Trang 4MỤC LỤC
1.1 Lý luận chung về tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân 4
1.1.1 Những khái niệm 4
1.1.2 Hoạt động của nhà máy Nhiệt điện 7
1.1.3 Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân địa phương 11
1.2 Cơ sở thực tiễn về tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân 15
1.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng Nhiệt điện 15
1.2.2 Tình hình hoạt động của các nhà máy Nhiệt điện ở Việt Nam 18
1.2.3 Tác động của một số nhà máy Nhiệt điện đến dân cư 22
1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 26
2.1 Đặc điểm cơ bản của phường Mông Dương 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 31
2.1.3 Những lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Mông Dương 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 37
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong luận văn 39
3.1 Đặc điểm cơ bản của các nhà máy Nhiệt điện ở phường Mông Dương 40
3.1.1 Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 40
3.1.2 Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 2 50
3.2 Thực trạng ảnh hưởng của nhà máy đến kinh tế, xã hội, môi trường khu vực phường Mông Dương 54
3.2.1 Thực trạng ảnh hưởng của nhà máy 54
Trang 53.2.2 Thực trạng tác động từ mẫu điều tra 64
3.3 Nhận xét chung về tác động của nhà máy Nhiệt điện Mông Dương đối với người dân 69
3.3.1 Những tác động tích cực 69 3.3.2 Những tác động tiêu cực 69
3.4 Giải pháp giảm thiểu tác động của nhà máy Nhiệt điện đối với người dân khu vực xung quanh nhà máy 70
3.4.1 Quan điểm, định hướng của chính quyền và nhà máy 70 3.4.2 Những giải pháp cụ thể 72
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số và lao động phường Mông Dương giai đoạn 2015 - 2017 31
Bảng 2.2 Số lượng mẫu khảo sát 37
Bảng 3.1 Quy mô lao động của công ty 48
Bảng 3.2 Số lượng lao động phân theo tính chất công việc 48
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động của công ty theo trình độ chuyên môn 49
Bảng 3.4: Thu nhập và cơ cấu thu nhập của người dân khu vực nhà máy 54
Bảng 3.5 Tình hình đời sống văn hóa giáo dục khu vực nhà máy 55
Bảng 3.6 Tình hình đời sống y tế khu vực nhà máy 55
Bảng 3.7 Những vấn đề về môi trường tiềm tàng của nhà máy 56
Bảng 3.8 Hiện trạng môi trường nước thải sau khi làm mát ở dây chuyền nhà máy 60
Bảng 3.9 Hàm lượng bụi và hơi khí khu vực xung quanh nhà máy 62
Bảng 3.10 Tình hình lao động của hộ (phân theo độ tuổi) 64
Bảng 3.11 Trình độ chuyên môn của hộ điều tra 65
Bảng 3.12 Ngành nghề của hộ điều tra 65
Bảng 3.13 Thu nhập của hộ sau khi có nhà máy 66
Bảng 3.14 Ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội 67
Bảng 3.15 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của môi trường 67
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của nhà máy đến môi trường 68
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình nhà máy Nhiệt điện 8
Sơ đồ 1.2 Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân địa phương 11
Sơ đồ 3 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty Nhiệt điện Mông Dương 41
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ nguyên lý công nghệ và vận hành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 2 52
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Nhu cầu lớn về năng lượng nói chung, điện năng nói riêng đặc biệt trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nuớc sẽ là động lực gia tăng mạnh số lượng các dự án sản xuất điện năng ở mọi quy mô Hoạt động sản xuất này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu rất bức bách về điện năng
ở nước ta song cũng là loại hình công nghiệp có nhiều tiềm năng gây ô nhiễm, suy thoái cho hầu hết các thành phần môi trường trên quy mô lớn
Theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016, nhu cầu tiêu thụ điện tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2030 bình quân khoảng 9 - 10%/năm, gấp khoảng 1,5 - 1,8 lần tăng trưởng GDP phụ thuộc vào cấu trúc nền kinh tế
Trong bối cảnh hiện nay, việc khai thác tiềm năng các loại năng lượng khác phục vụ sản xuất điện như: Thủy điện, điện khí… đã đạt tới hạn, trong khi việc phát triển điện hạt nhân tạm dừng, các loại năng lượng tái tạo khác (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối) chi phí đầu tư lớn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (số giờ vận hành thấp trung bình 1800 - 2000 giờ/năm), chiếm dụng diện tích lớn (trung bình 1MW điện mặt trời chiếm mất 1,2-1,5ha), chi phí cho hệ thống truyền tải tăng và trong hệ thống rất cần có nguồn chạy nền để đáp ứng được ổn định điện phụ tải
Việt Nam hiện có 21 công ty NĐT đang hoạt động, trong đó 7 công ty dùng công nghệ đốt lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) sử dụng than nội địa chất lượng thấp (cám 6), 14 công ty dùng công nghệ than phun (PC) sử dụng than nội địa chất lượng tốt hơn (cám 5), than nhập bitum và á bitum với tổng công suất lắp đặt khoảng 14.310MW Tất cả các công ty NĐT đã đi vào vận hành đều được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh
Trang 10giá tác động môi trường Tuy nhiên trong quá trình hoạt động các công ty Nhiệt điện không thể tránh khỏi làm ảnh hưởng đến đời sống, đặc biệt là môi trường sống của người dân xung quanh
Các Nhà máy Nhiệt điện khu vực Phường Mông Dương có tổng công suất 2280MW cung cấp điện cho hệ thống điện Quốc gia khoảng 14tỷ KWh/năm đảm bảo an ninh năng lượng góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng đồng hành với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường trong ngành Nhiệt điện gồm nước thải, khí thải, chất thải rắn , đang là một trong những vấn đề đang được thu hút sự quan tâm đặc biệt các cơ quan chức năng, bởi những tác động có hại của nó đến đời sống, sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái xung quanh nhà máy
Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của các nhà máy Nhiệt điện đối với người dân phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá tác động của các nhà máy Nhiệt điện đến người dân từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến đời sống của người dân chịu ảnh hưởng của các nhà máy Nhiệt điện trên địa bàn phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 113 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của nhà máy Nhiệt điện đế các vấn đề lao động, việc làm, thu nhập, môi trường, xã hội của các hộ gia đình trong phạm vi ảnh hưởng của các nhà máy Nhiệt điện
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi về không gian: Phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
* Phạm vi về thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2015 đến năm 2017
- Thu thập số liệu sơ cấp từ 11/2018 đến 4/2019
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các nhà máy Nhiệt điện đối với người dân
- Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các nhà máy Nhiệt điện đến người dân phường Mông Dương, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Giải pháp ổn định và nâng cao mức sống của người dân vùng chịu ảnh hưởng của các nhà máy Nhiệt điện
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các nhà máy Nhiệt điện đối với người dân
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY
NHIỆT ĐIỆN ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN
1.1 Lý luận chung về tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân 1.1.1 Những khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm, vai trò nhà máy Nhiệt điện
a Khái niệm
* Nhiệt điện
Hiện nay, nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là Thủy điện và Nhiệt điện Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: Nhiệt điện than, Nhiệt điện khí và Nhiệt điện dầu
Như vậy, Nhiệt điện là việc biến đổi nhiệt năng của nhiên liệu thành cơ năng rồi điện năng, quá trình biến đổi đó được thực hiện nhờ tiến hành một số
quá trình liên tục (một chu trình) trong một số thiết bị của nhà máy Nhiệt điện
* Nhà máy Nhiệt điện
Nhà máy Nhiệt điện là nhà máy chuyển hóa năng lượng có trong nhiên liệu thành nhiệt năng trong buồng đốt lò hơi trong đó có môi chất bằng hơi nước, hơi nước qua tua bin để chuyển nhiệt năng thành cơ năng quay máy phát điện để chuyển đổi cơ năng thành điện năng: Nước được đun nóng, chuyển thành hơi nước và quay một tua bin hơi nước, tua bin quay máy phát điện để phát điện lên luới Sau khi đi qua tuabin, hơi nước được ngưng tụ trong bình ngưng và tuần hoàn trở lại lò hơi, quá trình này được gọi là chu trình hơi nước (chu trình Rankine) hay sơ đồ nhiệt của nhà máy Nhiệt điện
Nhà máy Nhiệt điện được định nghĩa tại Khoản 40 Điều 3 Thông tư 25/2016/TT-BCT quy định hệ thống điện truyền tải như sau:
Nhà máy Nhiệt điện là nhà máy điện hoạt động theo nguyên lý biến đổi
Trang 13nhiệt năng thành điện năng, bao gồm cả các nhà máy điện sinh khối, khí sinh học và nhà máy điện sử dụng chất thải rắn[4]
b Vai trò
Nhiệt điện giữ một vai trò chủ đạo trong hệ thống điện quốc gia Từ cơ
sở ban đầu sau tiếp quản (1954) là 31,5MW, đến hết năm 2015, chỉ tính riêng nguồn Nhiệt điện, tổng công suất đã lên tới 15.539MW, gấp 500 lần Nhiệt điện chiếm trên 50% tổng công suất trong toàn bộ hệ thống nguồn của cả nước, luôn là nguồn điện năng chủ yếu, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong
hệ thống điện quốc gia Năm 1985, công suất lắp đặt của cả nước là 1.605,3MW thì Nhiệt điện, bao gồm Nhiệt điện than, dầu, tua bin khí chiếm tới 81,9% cơ cấu nguồn, với 70% sản lượng điện của cả nước Đến năm 1995, toàn bộ hệ thống có 4.549,7MW, Nhiệt điện chiếm 36,6% cơ cấu nguồn và 20% sản lượng của cả nước
Năm 2005, hệ thống có 8.871MW, Nhiệt điện chiếm 41% cơ cấu nguồn và 48% sản lượng điện cả nước Đặc biệt, tính đến hết năm 2015, tổng công suất của toàn hệ thống là 30.597MW thì Nhiệt điện chiếm 15.539MW, tương đương 50,79% và chiếm 53,64% sản lượng điện toàn hệ thống Những con số trên đã chứng minh cho vai trò đặc biệt quan trọng của Nhiệt điện đối với hệ thống điện quốc gia
Mặc dù nguồn thuỷ điện có ưu thế đặc biệt là chi phí sản xuất rẻ song nhược điểm là chi phí đầu tư ban đầu lớn, hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến tình hình khí tượng, thuỷ văn Do đó, trong quá trình phát triển hệ thống nguồn, đồng thời với việc tận dụng ưu thế nguồn năng lượng giá rẻ của Thuỷ điện, việc chú trọng phát triển các nguồn Nhiệt điện đảm bảo cung cấp
đủ điện cho nhu cầu phát triển phụ tải là rất quan trọng để có sự điều tiết hợp
lý giữa Thuỷ điện và Nhiệt điện[1]
Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, trong thời gian tới, nhiều trung
Trang 14tâm Nhiệt điện lớn sẽ được xây dựng và đưa vào vận hành như Duyên Hải, Long Phú, Sông Hậu, Vân Phong, Vĩnh Tân, Quảng Trị, Vũng Áng, Quảng Trạch, Nghi Sơn, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương làm tăng đáng kể công suất nguồn và sản lượng điện từ các nguồn Nhiệt điện Tổng công suất Nhiệt điện đốt than năm 2020 sẽ chiếm 42,7% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 46,8% sản lượng điện sản xuất Đến năm 2030, chiếm 51,6% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 56,4% lượng điện sản xuất; tổng công suất Nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên (gồm cả LNG) năm 2020 chiếm 16,5% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 24% sản lượng điện sản xuất, đến năm 2030 sẽ chiếm 11,8% công suất đặt và 14,8% lượng điện sản xuất
Như vậy, theo quy hoạch đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy Nhiệt điện (than, khí) đạt khoảng 64,5% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 70,8% sản lượng điện và đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy Nhiệt điện (than, khí) chiếm khoảng 63,4% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 71,2% sản lượng điện
Tuy nhiên, việc phát triển Nhiệt điện cũng đứng trước thách thức không nhỏ khi nguồn than và khí trong nước sẽ không đủ cung cấp cho các nhà máy điện, phải nhập khẩu nhiên liệu Do đó, việc đảm bảo ổn định, lâu dài nguồn nhiên liệu than, khí, trong đó có nguồn nhiên liệu nhập khẩu, cung cấp ổn định cho các nhà máy Nhiệt điện sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo đủ điện cho phát triển đất nước[1]
1.1.1.2 Khái niệm về người dân khu vực nhà máy Nhiệt điện
Người dân khu vực nhà máy Nhiệt điện là một bộ phận dân cư sinh sống gần khu vực nhà máy Nhiệt điện, chịu ảnh hưởng bởi những tác động trong quá trình hoạt động của nhà máy Những tác động này có thể tích cực hoặc tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống của bộ phận dân
cư này
Trang 151.1.1.3 Khái niệm tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân
Như đã phân tích ở trên, nhà máy Nhiệt điện là nhà máy chuyển hóa năng lượng có trong nhiên liệu thành nhiệt năng trong buồng đốt lò hơi trong đó có môi chất bằng hơi nước, hơi nước qua tua bin để chuyển nhiệt năng thành cơ năng quay máy phát điện để chuyển đổi cơ năng thành điện năng Trong quá trình hoạt động, các nhà máy Nhiệt điện có thể gây ra những tác động tới người dân khu vực xung quanh nhà máy Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân có thể được hiểu là những hiệu ứng tích cực hoặc tiêu cực do nhà máy gây ra cho bộ phận dân cư trong quá
trình hoạt động Những tác động này ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày
của bộ phận dân cư đó
1.1.2 Hoạt động của nhà máy Nhiệt điện
1.1.2.1 Quy trình hoạt động
Một nhà máy Nhiệt điện than gồm có hai cụm thiết bị chính là cụm lò hơi để sản xuất ra hơi nước và cụm tuốc bin-máy phát để biến đổi nhiệt năng của dòng hơi thành điện năng Ngoài ra còn có thêm lò hơi phụ trợ phục vụ cho khởi động nhà máy; hệ thống nước làm mát; hệ thống chuẩn bị nhiên liệu (Kho than, băng chuyền, máy nghiền than); hệ thống sản xuất khí nén; hệ thống thu hồi tro bay, gom xỉ đáy lò, lọc bụi và xử lí khói thải…
Trang 16Sơ đồ 1.1 Mô hình nhà máy Nhiệt điện
Lò hơi đốt than phun là công nghệ đã rất phát triển và đang là nguồn sản xuất điện năng chủ yếu trên thế giới Than cục đã qua nghiền thô từ phễu than được máy cấp đến máy nghiền than, ở đây than được sấy nóng và nghiền mịn thành bột có đường kính trung bình từ 40μm đến 90μm Bột than hỗn hợp với không khí nóng (gió cấp một) phun vào buồng lửa và bốc cháy trong môi trường nhiệt độ cao Không khí cấp vào lò ngoài gió cấp một còn có thêm gió cấp hai và có thể có thêm gió cấp ba Nhiệt của quá trình cháy bột than truyền cho các ống sinh hơi đặt xung quanh buồng đốt để hóa hơi dòng nước bên trong ống Hỗn hợp hơi và nước ra khỏi ống sinh hơi đi vào bao hơi, trong bao hơi có đặt các thiết bị phân ly hơi nhằm đảm bảo tách tối đa các hạt lỏng
bị dòng hơi cuốn theo Hơi bảo hòa tiếp tục đi qua bộ quá nhiệt để nâng nhiệt
độ đến giá trị mong muốn trước khi đi vào tuốc bin Hơi có áp suất và nhiệt
Trang 17độ cao theo ống dẫn hơi đi vào thân cao áp của tuốc bin, hơi ra khỏi thân cao
áp thường được đưa trở về lò hơi để tái sấy đến nhiệt độ hơi mới rồi đi vào thân trung áp, hơi ra khỏi thân trung áp có thể được đưa trở lại lò hơi để tái sấy thêm một lần nữa hoặc đi trực tiếp vào thân hạ áp Việc tái sấy hơi (hồi nhiệt trung gian) một lần hay hai lần nhằm mục đích nâng cao hiệu suất nhiệt cho tuốc bin[10]
Người ta gọi thông số hơi là cặp thông số trạng thái áp suất và nhiệt độ của hơi Ví dụ, ở Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng, thông số hơi mới là 175 át-mốt-phe và 541 o C (cặp thông số kết đôi) Hiệu suất điện của nhà máy tăng theo thông số hơi vào tuốc bin nhưng cũng chỉ mới đạt đến khoảng 46- 47% với công nghệ cực siêu tới hạn (áp suất hơi > 270 át-mốt-phe, nhiệt độ trên
600 o C) Hiệu suất dự kiến sẽ đạt từ 50% đến 53% vào năm 2020 và 55% vào năm 2050
Thiết bị tuốc bin có nhiệm vụ biến nhiệt năng của dòng hơi thành cơ năng trên trục rô-to để dẫn động máy phát điện Máy phát điện biến cơ năng thành điện năng và được hòa lên lưới điện quốc gia qua máy biến thế Hơi thoát
từ thân hạ áp của tuốc bin đi vào bình ngưng nhả nhiệt cho nước làm mát, ngưng tụ thành nước và được bơm trở lại lò hơi theo một chu trình khép kín Nước làm mát ở đây có thể là nước biển, nước sông, hay nước hồ Đối với nhà máy Nhiệt điện than để sản xuất ra 1 kWh điện năng cần 142 lít nước làm mát
Khói đi ra khỏi buồng đốt có nhiệt độ cao nên người ta thiết kế các bộ hâm nước, bộ sấy không khí trên đường khói để tận dụng nguồn nhiệt này nhằm nâng cao hiệu suất lò hơi Tro bay, bụi được tách ra khỏi dòng khói bằng bộ lọc bụi tĩnh điện trước khi thải ra ngoài môi trường
Xỉ đáy lò và tro bay từ bộ hâm nước, bộ sấy không khí, bộ lọc bụi… được đưa về hệ thống thu gom để tái sử dụng rất hiệu quả trong lĩnh vực xây dựng như sản xuất gạch không nung, làm chất phụ gia cho bê tông, san lấp v.v…
Trang 181.1.2.2 Nguồn nguyên liệu
a Nhiệt điện khí
Nhiệt điện khí có tỷ trọng đóng góp lớn nhất trong cơ cấu nguồn sản xuất Nhiệt điện với tỷ trọng hơn 48% tổng công suất của Nhiệt điện Nguồn nguyên liệu để sản xuất ra điện là khí tự nhiên được mua lại từ Tập đoàn dầu khí và nhập khẩu, giá bán khí sẽ biến động theo giá dầu Mặc dù nguồn khí tự nhiên nước ta khá dồi dào, tuy nhiên do giá thành sản xuất điện khí ở mức cao
do đó mặc dù công suất của các nhà máy điện khí rất lớn những tỷ lệ khai thác lại không cao
Các dự án Nhiệt điện khí chủ yếu được quy hoạch tập trung ở khu vực miền Nam, nơi có nguồn cung cấp khí dồi dào từ Tập đoàn dầu khí (tính đến thời điểm cuối năm 2015)[17]
b Nhiệt điện than
Đứng thứ 2 trong cơ cấu các nguồn Nhiệt điện nước ta, nguồn nguyên liệu hiện nay toàn bộ được mua từ nguồn than đá trong trong nước của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam với giá ưu đãi, trong tương lai cùng với sự phát triển của các dự án này thì nhiều khả năng nước ta sẽ phải nhập khẩu thêm nguồn than bên ngoài
Chi phí nhiên liệu để vận hành các nhà máy Nhiệt điện than thấp hơn nhiều so với Nhiệt điện khí khoảng 60% để đạt được cùng mức công suất và nhiệt lượng Do đó Nhiệt điện than là nguồn năng lượng được ưu tiên sử dụng thậm chí hơn cả Thủy điện do tính ổn định [17]
c Nhiệt điện dầu, khí
Các nhà máy Nhiệt điện dầu thường được xây dựng chung trong tổ hợp các khu Nhiệt điện khí, dầu như khu tổ hợp điện dầu khí Phú Mỹ, Nhiệt điện
Ô Môn 1,2,3,4, Nhiệt điện Bà Rịa do chi phí sản xuất điện cao nên Nhiệt điện dầu chỉ được khai thác nhằm bù đắp lượng điện thiếu tức thời, do đó đóng góp trong cơ cấu Nhiệt điện của nhóm này là thấp[17]
Trang 191.1.3 Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân địa phương
Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân địa phương được chia thành 2 nhóm chính: Tác động về kinh tế, xã hội và tác động về môi trường
Có thể mô hình hóa tác động trên như sau:
Sơ đồ 1.2 Tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân địa phương
1.1.3.1 Tác động về kinh tế, xã hội
a Tác động đến lao động, việc làm, thu nhập
Quá trình hình thành và sự hoạt động của một dự án công nghiệp như Nhà máy Nhiệt điện có một ý nghĩa kinh tế xã hội rất to lớn cho khu vực nói riêng và cho đất nước nói chung Trước tiên là việc góp phần tạo ra công ăn việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng Việc đưa Dự án vào hoạt động sẽ là nguồn thu hút lao động lớn và giải quyết việc làm không chỉ cho người dân địa phương, tạo nên cảnh quan mới với tiến trình đô thị hoá nhanh hơn Ðiều này cũng góp phần làm tăng dân trí và ý thức văn minh đô thị cho nhân dân trong khu vực
Tác động của NMNĐ đến người dân (cả tích cực và tiêu cực)
Tác động về kinh tế -
xã hội
Tác động về môi trường
Tác động đến môi trường không khí
Tác động đến môi trường nước
Tác động đến môi trường đất
Tác động đến vấn
đề tệ nạn
xã hội, an ninh, trật
tự
Trang 20Sự hình thành và hoạt động của Dự án sẽ góp phần cùng với các hoạt động khác trong khu vực làm cho tình trạng vệ sinh đường phố, bụi tăng lên
do các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu Mật độ giao thông trong khu vực tăng lên làm ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại của nhân dân Tuy vậy, chính
sự phát triển của dự án cũng sẽ góp phần cải thiện hệ thống đường cũng như thúc đẩy quá trình đô thị hoá trong khu vực
b Tác động đến sức khỏe con người
Ðối với Nhà máy Nhiệt điện, tất cả các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình hoạt động đều có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của con người trong vùng chịu ảnh hưởng của Dự án Tuỳ thuộc vào nồng độ
và thời gian tác dụng của các chất ô nhiễm mà mức độ tác hại của chúng đối với sức khoẻ cộng đồng sẽ khác nhau
c Tác động đến vấn đề tệ nạn xã hội, an ninh, trật tự
Quá trình hình thành và sự hoạt động của một dự án công nghiệp như Nhà máy Nhiệt điện sẽ kéo theo lượng lao động mới nó sẽ khiến cho mật độ dân cư khu vực quanh nhà máy tăng lên và có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, an ninh trật tư trong khu vực Tuy nhiên với đặc thù lượng lao động cho các nhà máy là lực lượng lao động được đào tạo bài bản tại các trường Đại học và ý thức kỷ luật và trình độ khoa học kỹ thuật cao nên mức
độ ảnh hưởng đến vấn đề tệ nạn xã hội, an ninh trật tự là không nhiều
1.1.3.2 Tác động về môi trường
- Các thành phần khí thải gây ô nhiễm của NMNĐ than
Theo Quy chuẩn QCVN 22: 2009/BTN-MT, các thành phần ô nhiễm trong khí thải các nhà máy Nhiệt điện than gồm: Bụi phát sinh từ tro trong than; NOx phát sinh từ Nitrogen trong không khí và trong nhiên liệu khi cháy
ở nhiệt độ cao; SO2 phát sinh từ hàm lượng lưu huỳnh trong than
Các thành phần ô nhiễm này đều ảnh hưởng đến sức khỏe con người và
Trang 21gây tổn hại đến môi trường sinh thái trong khu vực
Để bảo vệ môi trường sinh thái, hàm lượng các chất gây ô nhiễm này phải bảo đảm dưới mức quy định theo Quy chuẩn QCVN 22 Quy chuẩn này quy định giới hạn phát thải cho phép của các chất ô nhiễm nói trên đối với các nhà máy Nhiệt điện đốt than, đốt dầu và đốt khí Ngoài ra, khí thải các nhà máy Nhiệt điện còn phải tuân theo Quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT về bảo đảm chất lượng không khí xung quanh
Trong quá trình đốt than cũng tạo ra khí CO nên phải tuân thủ theo QCVN 19-2009/BTNMT và khí CO thoát ra ngoài không khí lại tạo CO2 Khí CO2 tuy không phải là thành phần ô nhiễm trực tiếp tác động lên sức khỏe con người và hệ sinh thái, nhưng gây hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt
độ toàn cầu, nên cần được kiểm soát theo các thỏa thuận quốc tế
- Trong quá trình khởi động, chạy thử nhà máy Nhiệt điện, vận hành lại (sau khi sửa chữa, bảo dưỡng) hoặc vận hành nhà máy với công suất nhỏ hơn 40% công suất thiết kế; nếu NMĐT sử dụng dầu FO, HFO để đốt nên không đưa được hệ thống lọc bụi tĩnh điện vào hoạt động trong thời gian này, đã gây ô nhiễm bụi và ảnh hưởng tới dân cư khu vực xung quanh
- Bụi phát sinh tại khu vực Silo tro bay có thể xảy ra khi hệ thống trộn
ẩm tro làm việc không hiệu quả (ví dụ: thời gian phun và khối lượng nước không thích hợp) có thể gây ô nhiễm bụi cục bộ tại khu vực Silo tro bay
- Nước thải từ NMNĐ than
Nước thải từ nhà máy Nhiệt điện than bao gồm: Nước mưa chảy tràn; Nước thải sinh hoạt; Nước thải sản xuất
Tất cả các loại nước thải thường được xử lý qua các trạm xử lý nước thải trước khi thải ra ngoài môi trường
Bên cạnh nước thải còn có nước làm mát Tác động của nồng độ Clo dư trong nước thải nước làm mát: Để ngăn ngừa việc đóng cặn thuỷ sinh, hà hến
và các loài sinh vật khác trong hệ thống nước làm mát, nhất là ở tại các ống
Trang 22của bình ngưng, giải pháp công nghệ được áp dụng là Clo hoá nước làm mát Theo phương pháp này, Clo được bơm vào nước làm mát với hàm lượng vừa
đủ để tiêu diệt các loại nhuyễn thể này Với việc áp dụng công nghệ này, trong nước làm mát thải ra Luồng Gạc và đổ ra biển sau khi làm mát có chứa một hàm lượng Clo nhất định Nếu nồng độ clo cao sẽ gây tác động xấu tới hệ sinh thái nước sông và nước biển khu vực Tuy nhiên, với việc tính toán chính xác hàm lượng Clo trong nước, kết hợp với việc trang bị các thiết bị kiểm soát hàm lượng Clo, thì nồng độ Clo dư trong nước thải nước làm mát của nhà máy luôn đảm bảo nhỏ hơn mức cho phép Với nồng độ này, nước thải làm mát sẽ không ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái nước khu vực
Thông thường, NMNĐ thường đặt ven biển và ven sông để bảo đảm đủ nguồn nước để làm mát Lượng nước làm mát của các NMNĐ là rất lớn, trung bình là 95,0 lít/kWh Đối với các nhà máy Nhiệt điện đốt than yêu cầu khoảng 142,0 lít/kWh
Hóa chất (ví dụ: ammonia hydroxide, hydrazine và sodium chloride, v.v ) cho nhiều mục đích khác nhau như ngăn sự phát triển của vi khuẩn, tảo, con hà bám vào đường ống bình ngưng hơi, trong hệ thống dẫn nước làm mát, khử trùng trong hệ thống xử lý nước và nước thải và dùng cho mục đích vệ sinh Các hóa chất này khi rò rỉ ra môi trường sẽ gây ảnh hưởng tới môi trường và cộng đồng xung quanh
hypo-Nước thải từ nước làm mát sau khi được xử lý có thể được xả ra môi trường (biển, sông) bằng kênh dẫn (hở) hoặc được dẫn đến tháp giải nhiệt cưỡng bức rồi sau đó tái sử dụng tối đa (hạn chế tối đa xả thải nước làm mát ra môi trường tự nhiên)
Lượng nước sau làm mát có nhiệt độ cao (mặc dù theo quy định của Việt nam nhỏ hơn 40oC) và còn chứa Clo dư nên có thể tác động nhất định tới môi trường như việc nước có nhiệt độ cao có thể có ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái, đặc biệt đối với những loài nhạy cảm[12]
Trang 23- Các chất thải rắn của NMNĐ than
Chất thải rắn của nhà máy Nhiệt điện than chủ yếu là tro bay, xỉ đáy lò, thạch cao Theo quy định, tro bay, xỉ than của các nhà máy Nhiệt điện than thông thường không xếp vào loại chất thải nguy hại trừ khi tro bay và bụi hơi
có dầu theo Quy định tại Thông tư 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên
và Môi trường
- Tác động gây ô nhiễm của chất thải rắn ở NMNĐ than lên môi trường
Mặc dù tro bay, xỉ than thông thường của nhà máy Nhiệt điện than không phải là chất thải nguy hại, nhưng vẫn có tác động gây ô nhiễm môi trường nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt
Các tác động ô nhiễm này là: Bụi tro có thể gây các chứng bệnh về hô hấp; Cặn tro xỉ tại các bãi thải xỉ thường kết tụ kim loại nặng có thể gây ô nhiễm nguồn nước; Nước mưa tràn từ bãi thải xỉ có thể mang tính acid hoặc kiềm gây hại cho sinh thái khu vực[12]
Đa phần các nhà máy Nhiệt điện đốt than đều sử dụng hệ thống thải xỉ kiểu ướt truyền thống (dùng nước mặn hoặc nước ngọt) Xỉ đáy lò sau khi qua
hệ thống máy nghiền được đưa vào bể chứa và được bơm qua hệ thống đường ống ra bãi thải xỉ Phương pháp thải xỉ ướt có các ưu điểm như: là công nghệ
đã được kiểm chứng, chi phí đầu tư thấp, hoạt động ổn định, tin cậy, ít phát tán bụi ra môi trường xung quanh Tuy nhiên, công nghệ này có đặc điểm cần diện tích lớn bãi thải xỉ để lưu giữ, tiêu tốn nhiều nước, khó khăn khi tái sử dụng nhất là đối với các nhà máy sử dụng nước mặn để thải xỉ, nguy có gây ô nhiễm môi trường cao
1.2 Cơ sở thực tiễn về tác động của nhà máy Nhiệt điện đến người dân 1.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng Nhiệt điện
Việt Nam là nước có tiềm năng về dầu mỏ lớn thứ 3 và có trữ lượng dầu thô đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á Trước đây, khi nhà máy Nhiệt điện dầu được xây dựng chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, tuy nhiên hầu hết
Trang 24dầu mỏ ở nước ta sẽ không sử dụng làm nhiên liệu chính để sản xuất điện trong tương lai
Và với tiềm năng và trữ lượng than lớn thứ 2 tại ASEAN, chỉ sau Indonesia, 90% sản lượng than khai thác ở Việt Nam tập trung ở bể than Đông Bắc, do đó đến nay hầu hết các nhà máy Nhiệt điện than đều tập trung ở miền Bắc, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Ninh Trong đó có các nhà máy lớn như Quảng Ninh 1 (600MW), Quảng Ninh 2 (600MW), Mông Dương 1 (1080MW), Mông Dương 2 (1200MW), Phả Lại 1+2 (1.040MW)…
Ngoài ra, nước ta cũng có trữ lượng khí đốt rất lớn, tỷ số thời gian đảm bảo khai thác lớn nhất Đông Nam Á, lên đến 63,3 năm Các nhà máy Nhiệt điện khí lại tập trung nhiều ở khu vực phía Nam, gần các bể khí do PVN đang khai thác Điểm nổi bật của các nhà máy Nhiệt điện khí này là thường là tập trung thành cụm nhằm khai thác tối đa hệ thống đường ống vận chuyển khí của PV GAS, do đó hình thành các Trung tâm điện lực (TTĐL) lớn như TTĐL Dầu khí Nhơn Trạch (1.215MW) và TTĐL Phú Mỹ (4.015MW) gần 2
bể khí Cửu Long và Nam Côn Sơn; TTĐL Ô Môn (2.800MW) và Nhiệt điện khí Cà Mau (1.500MW) gần khu vực bể khí Malay – Thổ Chu
Một quốc gia có thể có trữ lượng nguồn nhiên liệu cao là một lợi thế rất lớn, tuy nhiên không phải là tất cả để có thể phát triển các dự án Nhiệt điện Với 3.260 km đường bờ biển cùng hệ thống sông ngòi dày đặc, lưu lượng nước lớn, khả năng xây dựng các nhà máy Nhiệt điện của Việt Nam có thể được xem là vô tận Một nhà máy Nhiệt điện, dù là cổ điển hay hiện đại như điện hạt nhân, đều đòi hỏi rất nhiều nước để làm nguội bộ ngưng, làm mát máy khi cần thiết, cũng như cần đến một bến cảng nhằm thuận tiện cho vận chuyển máy móc, thiết bị, tiếp nhận nhiên liệu Do đó có thể thấy, một nhà máy Nhiệt điện phải xây dựng tại bờ biển hay bờ sông lớn Đa số người Việt Nam sống gần bờ biển, bờ sông, nhờ đó việc truyền tải điện từ các nhà máy
Trang 25Nhiệt điện đến nơi tiêu thụ cũng nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm được rất nhiều chi phí[15]
Chính đặc điểm trên cũng giải thích cho việc quy hoạch và phát triển nguồn điện của nước ta trong tương lai Nếu như trước đây, xu hướng xây dựng các nhà máy Nhiệt điện là gần khu vực các mỏ than và khí, nhằm tận dụng tối đa lợi thế về nguồn nhiên liệu Tuy nhiên sẽ đánh đổi lại việc không tối ưu được giữa vị trí nguồn điện với khu vực tiêu thụ
Trong tương lai, việc xây dựng các nhà máy Nhiệt điện sẽ không phải phụ thuộc vào vị trí các mỏ nhiên liệu như hiện tại do chuyển sang xu hướng nhập khẩu nhiên liệu cho sản xuất điện Các trung tâm điện lực lớn (chủ yếu
là Nhiệt điện than) sẽ được xây dựng dọc theo vùng duyên hải miền Trung và phía Nam nhiều hơn nhằm thuận lợi cho việc nhập khẩu nhiên liệu (than dự kiến nhập từ Australia và Indonesia) và gần các khu vực tiêu thụ điện lớn như miền Nam để giảm áp lực cung ứng cho đường dây 500kV cũng như Hệ thống điện Quốc gia
Theo đó, sau khi phân tích kinh tế kỹ thuật thì có 4 vị trí thuận tiện nhất cho xây dựng cảng trung chuyển để nhập khẩu than cho các trung tâm điện lực Đó là Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), Cái Mép (Vũng Tàu) và Soài Rạp (Tiền Giang)
Đến năm 2015, tổng công suất Nhiệt điện nước ta là 15.539MW Các nhà máy Nhiệt điện chạy dầu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (7%) và sẽ không được tiếp tục phát triển nguồn trong tương lai do nhược điểm về chi phí vận hành cao, hiệu quả hoạt động thấp, ô nhiễm môi trường Trong khi đó nhờ nhiều lợi thế trong vận hành và xây dựng, các nhà máy Nhiệt điện than sẽ được ưu tiên phát triển, vượt qua khí trở thành nguồn Nhiệt điện chủ lực trong cơ cấu điện quốc gia (chiếm đến 81% cơ cấu Nhiệt điện)
Theo báo cáo của Tổng cục năng lương, số lượng các dự án NMNĐ
Trang 26trên phạm vi toàn quốc cụ thể như sau:
- 26 dự án NMNĐ đang vận hành có tổng công suất 13.105MW;
- 16 dự án NMNĐ đã khởi công, đang triển khai xây dựng có tổng công suất 15.125MW;
- 12 dự án NMNĐ đã xác định chủ đầu tư, chưa khởi công đang triển khai các bước chuẩn bị và thực hiện đầu tư có tổng công suất là 16.660MW;
- 19 dự án NMNĐ nằm trong QHĐ VII chưa triển khai đầu tư có tổng công suất là 30.320MW Các dự án này chưa xác định chủ đầu tư, chưa quyđịnh hình thức đầu tư (trừ dự án Nam Định II 2x600MW có quy định hình thức đầu tư là BOT);
- 2 dự án NMNĐ được đề xuất bổ sung vào QHĐ VII có tổng công suất 2800MW, gồm Quảng Trị II 2x600MW chưa xác định chủ đầu tư và Long An
II 2x800MW do Tổ hợp nhà đầu tư Tổng công ty Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) & Công ty TNHH Vinakobalt đề xuất Ngoài 2 dự án này còn có
Dự án NMNĐ Dung Quất 2x600MW chủ đầu tư là Sembcorp Singapore, nhưng ngày 27/5/2015 Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu thay đổi công nghệ
từ sử dụng than sang sử dụng khí (năm 2020 khí của mỏ Cá Voi Xanh sẽ vào bờ) nên dự án này không còn là Dự án NMNĐ chạy than nữa
1.2.2 Tình hình hoạt động của các nhà máy Nhiệt điện ở Việt Nam
Từ năm 1956 đến 1960, thực hiện chủ trương của Đảng là phải khẩn trương phát triển các nguồn điện, nhằm cải tạo công thương nghiệp, làm cơ sở hậu phương vững chắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, ngành Điện đã lần lượt khởi công xây dựng một loạt các nhà máy Nhiệt điện: Lào Cai (8MW), Vinh (8MW), Hàm Rồng (6MW), Việt Trì (16MW), Thái Nguyên (24MW), Hà Bắc (12MW)
Năm 1961, Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí đợt 1 được xây dựng với công
Trang 27suất 48MW do Liên Xô giúp đỡ, cung cấp thiết bị và đào tạo cán bộ, công nhân Sau đó tiếp tục xây đợt 2: 50MW, đợt 3: 55MW Với tổng công suất 153MW, Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí lúc đó là một trong những nhà máy điện chủ lực của miền Bắc Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình công suất 100MW
do Trung Quốc giúp đỡ cũng được đưa vào vận hành từ năm 1974
Ở miền Nam, đến cuối năm 1974 có Nhà máy Nhiệt điện Chợ Quán 55MW (được xây dựng từ năm 1896), Nhiệt điện Thủ Đức (165MW), Trà Nóc (33MW) Ngoài ra còn có các cụm diesel đốt dầu FO (96MW), đốt dầu
DO (286MW), Tua bin khí sử dụng dầu DO (61,5MW) đặt ở Sài Gòn và các tỉnh miền Nam
Năm 1980, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 1 công suất 4x110MW đã được khởi công, công trình do Liên Xô giúp đỡ thiết kế và trang bị kỹ thuật, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Nhiệt điện Việt Nam Từ năm 1995 đến nay, nhiều nhà máy Nhiệt điện than lần lượt được xây dựng và đưa vào vận hành với công suất nhà máy, tổ máy ngày càng lớn như, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2 (2x300MW), Uông Bí mở rộng (300MW), Uông Bí mở rộng 2 (330MW), Hải Phòng (4x300MW), Quảng Ninh (4x300MW), Nghi Sơn 1 (2x300MW), Vĩnh Tân 2 (2x622MW), Vũng Áng 1 (2x600MW), Mông Dương 2 (2x600MW)[15]
Cùng với sự phát triển mạnh công suất nguồn Nhiệt điện, quy mô, công nghệ các nhà máy Nhiệt điện cũng ngày càng cao và hiện đại Bên cạnh các nhà máy Nhiệt điện lò hơi với công nghệ đốt than phun công suất lớn, kết hợp công nghệ xử lý môi trường hiện đại, đáp ứng các quy định theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam Năm 2015, EVN đã đưa vào vận hành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 (công suất 1.080MW) với công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn, Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 2 (công suất 1200MW)
Đối với các nhà máy Nhiệt điện tua bin khí, trong các năm 1992-1999,
Trang 28ngành Điện đã tiến hành lắp đặt và đưa vào vận hành các tổ máy tuabin khí chu trình đơn, công suất 37,5MW tại Bà Rịa, Thủ Đức và Cần Thơ Năm
1997, đã hoàn thành lắp đặt và đưa vào vận hành các tổ máy tuabin khí công suất 145MW tại Phú Mỹ 2.1 Từ năm 1999 đến nay đã lần lượt xây dựng và đưa vào vận hành các nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp công suất lớn, hiện đại, công nghệ tiên tiến, có hiệu suất và mức độ tự động hóa cao, sử dụng nhiên liệu chính là khí thiên nhiên từ các bể dầu khí Cửu Long, Nam Côn Sơn như: Nhà máy điện Bà Rịa (390MW), Trung tâm Điện lực Phú Mỹ với tổng công suất 4.000MW
Đối với nhà máy Nhiệt điện đốt dầu FO, ngoài các nhà máy điện đã vận hành từ trước ngày giải phóng miền Nam, năm 1998 có thêm nhà máy điện Hiệp Phước (375MW) của nhà đầu tư nước ngoài và năm 1999 nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I.1 (công suất 330MW) thuộc EVN đã được đưa vào vận hành
Tính đến hết năm 2013, hệ thống Nhiệt điện của nước ta có sự lớn mạnh vượt bậc cả về quy mô cũng như đa dạng về nguồn nhiên liệu sơ cấp (than, dầu, khí), công suất gấp gần 500 lần so với năm 1954, sản lượng chiếm trên 53% toàn hệ thống Ngoài ra, các nhà máy Nhiệt điện còn có bước phát triển vượt bậc
về công nghệ và thông số lò hơi, tua bin, các thiết bị đo lường, điều khiển và tự động hóa, thiết bị và công nghệ bảo vệ môi trường… đáp ứng được yêu cầu vừa sản xuất điện, vừa đảm bảo các tiêu chí về bảo vệ môi trường
Trong 60 năm qua, các nhà máy Nhiệt điện luôn giữ vai trò chủ đạo đối với hệ thống điện quốc gia Năm 1985, công suất đặt của cả nước 1.605,3MW, Nhiệt điện (bao gồm Nhiệt điện than, dầu, tua bin khí) chiếm 81,9% cơ cấu nguồn điện với 70% sản lượng điện của cả nước Đến năm
1995, toàn bộ hệ thống có 4.549,7MW, Nhiệt điện chiếm 36,6% cơ cấu nguồn
và 28% sản lượng của cả nước
Năm 2005, hệ thống có 8.871MW, Nhiệt điện chiếm 41% cơ cấu nguồn
Trang 29điện và 48% sản lượng điện của cả nước Đặc biệt, tính đến hết năm 2013, tổng công suất đặt hệ thống điện quốc gia là 30.597MW, trong đó, Nhiệt điện
là 15.539MW chiếm 50,79% và chiếm 53,64% sản lượng điện toàn hệ thống Những con số trên đã chứng minh cho vai trò đặc biệt quan trọng của Nhiệt điện đối với hệ thống điện quốc gia
Mặc dù nguồn Thủy điện có ưu thế đặc biệt là giá thành rẻ, song nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến tình hình khí tượng, thủy văn Do đó, trong quá trình phát triển hệ thống nguồn, đồng thời với việc tận dụng ưu thế nguồn năng lượng giá rẻ của Thủy điện, việc chú trọng phát triển các nguồn Nhiệt điện đảm bảo cung cấp đủ điện cho nhu cầu phát triển phụ tải là rất quan trọng để có sự điều tiết hoạt động hợp lý giữa Thủy điện và Nhiệt điện
Theo Quy hoạch điện VII, trong thời gian tới, nhiều trung tâm Nhiệt điện lớn sẽ được xây dựng và đưa vào vận hành như, Duyên Hải, Long Phú, Sông Hậu, Vân Phong, Vĩnh Tân, Quảng Trị, Vũng Áng, Quảng Trạch, Nghi Sơn, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương,… làm tăng đáng kể công suất nguồn
và sản lượng điện từ các nguồn Nhiệt điện Tổng công suất Nhiệt điện đốt than năm 2020 sẽ chiếm 48% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 46,8% sản lượng điện sản xuất, đến năm 2030 chiếm 51,6% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 56,4% lượng điện sản xuất; tổng công suất Nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên (gồm cả LNG) năm 2020 chiếm 16,5% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 24% lượng điện sản xuất, đến năm 2030 chiếm 11,8% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 14,8% lượng điện sản xuất
Như vậy, theo quy hoạch đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy Nhiệt điện (than, khí) đạt khoảng 64,5% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 70,8% sản lượng điện và đến năm 2030 tổng công suất các nhà máy Nhiệt điện (than, khí) chiếm 63,4% tổng công suất đặt, sản xuất khoảng 71,2% sản lượng điện
Trang 30Tuy nhiên, việc phát triển Nhiệt điện cũng đứng trước những thách thức không nhỏ, khi nguồn than và khí trong nước sẽ không đủ cung cấp cho các nhà máy điện, phải nhập khẩu nhiên liệu Do đó, việc đảm bảo ổn định, lâu dài nguồn nhiên liệu than, khí, trong đó có nguồn nhiên liệu nhập khẩu, cung cấp ổn định cho các nhà máy Nhiệt điện sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng, đảm bảo đủ điện cho phát triển đất nước
1.2.3 Tác động của một số nhà máy Nhiệt điện đến dân cư
a Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận
Hiệu quả không những đóng góp về kinh tế mà Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đi vào hoạt động có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội Từ khi đi vào vận hành, Nhà máy đã đã tạo ra nhiều việc làm cho người dân địa phương (hiện có 393 người chiếm 58,92% tổng số lao động của Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân), thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, thông tin tuyên truyền, đây
là một đơn vị tích cực và có trách nhiệm với địa phương; hàng năm đóng góp cho ngân sách của tỉnh Bình Thuận hơn 240 tỷ đồng và gần 600 triệu đồng tham gia các quý vì người nghèo, quỹ tình thương, xây dựng và mua sắm trang thiết bị trường học… Riêng 4 tháng đầu năm 2018, Công ty đã chi cho các hoạt động này là 230 triệu đồng
Giải quyết việc làm, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân là đơn vị nỗ lực thực hiện tốt công tác quản lý môi trường, các giải pháp tiêu thụ tro xỉ, hạn chế tác động ảnh hưởng ra môi trường xung quanh Công ty lắp đặt hệ thống quan trắc, giám sát khí thải, nước thải, camera bãi xỉ để theo dõi giám dát tại chỗ cũng như truyền dữ liệu liên tục về sở
Đặc biệt, nhằm tăng cường giám sát, công khai minh bạch công tác vận hành sản xuất điện và quản lý môi trường, Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân tiếp đón chính quyền, người dân cũng như các đơn vị, trường học tới tham quan, học tập Cũng trong quá trình hướng dẫn khách thăm quan, Công ty Nhiệt
Trang 31điện Vĩnh Tân đã giới thiệu đầy đủ, cặn kẽ về tính ưu việt của công nghệ cũng như quy trình vận hành nhà máy, bãi xỉ, công tác vận hành hệ thống tiếp nhận than, công tác kiểm soát và xử lý tro bay, khói thải, nước thải, hoạt động xử lý tại bãi xỉ thải của nhà máy để người dân, khách thăm quan hiểu đúng về Nhiệt điện than Hành động mở cửa cho người dân vào thăm quan nhà máy như một minh chứng, một cam kết chặt chẽ của Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân về trách nhiệm bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất
b Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Hải Dương
Là một trung tâm Nhiệt điện vận hành bằng công nghệ than phụ lớn nhất nước ta, Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại có 2 dây chuyền phát điện với tổng công suất 1.040MW Dây chuyền 1 do Liên Xô (cũ) thiết kế, lắp đặt, có công suất 440MW, được xây dựng từ năm 1980 và đi vào hoạt động từ năm
1983 Dây chuyền 1 gồm 4 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 110MW với 2 lò hơi, 1 tuabin và 1 máy phát Dây chuyền 2 mới được xây dựng với các thiết bị của các nước công nghiệp phát triển (G7) với 2 tổ máy có tổng công suất 600MW Mỗi tổ máy có 1 lò hơi, 1 tuabin và 1 máy phát
Ông Vũ Xuân Cường – Phó tổng Giám đốc Công ty cho biết: Quá trình vận hành các dây chuyền phát điện là yếu tố chủ đạo gây ra khói, bụi, nước thải… tác động tới môi trường trong khu vực Do vậy, Công ty đã chú trọng triển khai các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu tối đa khả năng tác động xấu tới môi trường của hai dây chuyền sản xuất Ðối với dây chuyền 1, do thiết bị thuộc thế hệ những năm 70 – 80, đã lạc hậu, nên tám lò hơi đã được lắp thiết bị lọc bụi tĩnh điện Khí thải sau khi qua lọc bụi tĩnh điện được tập trung lại và thải qua 1 ống khói cao 200 m với đường kính miệng thải 7,2 m Với dây chuyền 2, hai lò hơi cũng đã được lắp đặt thiết bị lọc bụi tĩnh điện và thiết bị khử SOx Khí thải mỗi lò sau khi qua thiết bị khử lưu huỳnh được tập trung và thải qua ống thải riêng biệt, đường kính miệng thải là 4,2 m, ống
Trang 32khói cao 200 m Mặt khác, Công ty còn thường xuyên quan tâm tới công tác đại tu, sửa chữa định kỳ và nâng cấp các thiết bị hệ thống xử lý phát thải, đặc biệt là hệ thống lọc bụi tĩnh điện, nhằm đảm bảo vận hành ổn định, hiệu quả
Cùng với việc xử lý khói, bụi, chất thải rắn của Công ty (bao gồm xỉ lò
và tro) được vận chuyển bằng hệ thống thủy lực về 2 trạm bơm thải xỉ (mỗi dây chuyền 1 trạm bơm riêng) Sau khi được pha loãng với nước (tỷ lệ 1/9) nhằm giảm bụi, hỗn hợp chất thải rắn được các máy bơm (công suất 1.250 m3/h) đẩy qua đường ống lên hồ xỉ Bình Giang Nước lắng trong hồ xỉ Bình Giang được thu hồi vào bể chứa và bơm ngược về Công ty để tái sử dụng Nước làm mát cho các bình ngưng được lấy từ hai trạm bơm tuần hoàn cạnh
bờ sông gần Công ty và được thải ra hai kênh hở chảy ra phía thượng và hạ lưu sông Thái Bình Khi Nhiệt điện Phả Lại đi vào hoạt động, 1 phần nước tuần hoàn của dây chuyền 1 được dùng để tưới tiêu cho các cánh đồng lúa phía nam của huyện Chí Linh thông qua kênh dẫn nước Phao Tân - An Bài Tháng 12/2007, Công ty đã đầu tư cải tạo, xây mới và đưa vào sử dụng hệ thống xử lý nước thải bề mặt, đảm bảo nước đủ tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường và tiêu thoát nhanh chóng Không chỉ có vậy, để giảm bớt các yếu
tố có hại trong sản xuất, tạo môi trường sản xuất trong lành, an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe cho người lao động, Công ty còn thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu như: Tăng cường công tác vệ sinh công nghiệp, môi trường trong khu vực nhà máy và tại các vị trí sản xuất; quản lý chặt chẽ các hóa phẩm, hóa chất độc hại, không để thất thoát, rò rỉ ra bên ngoài; trang bị quạt điện, cải tạo hệ thống thông gió; đảm bảo đủ ánh sáng cho các vị trí sản xuất, nâng cấp
và lắp mới các phòng, trạm trực cho công nhân; trồng thêm nhiều cây xanh để chắn bụi than và làm đẹp cảnh quan môi trường làm việc…
Ðược biết, hằng năm, Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại đều mời Trung
Trang 33tâm Phân tích và Môi trường (thuộc Hội KHKT Phân tích Hóa – Lý & Sinh học Việt Nam) phối hợp với Sở Tài Nguyên – Môi trường tỉnh Hải Dương tiến hành khảo sát và đo đạc môi trường tại Công ty (định kỳ 6 tháng/lần) Kết quả các đợt đo đạc hàng năm cho thấy, tất cả mọi thông số như: Tiếng ồn, độ rung, hàm lượng bụi, từ trường, ánh sáng, độ ẩm… đều nằm trong phạm vi cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam Theo đánh giá của PGS.TS Ngô Huy Du – Giám đốc Trung tâm Phân tích và Môi trường, qua đợt khảo sát, giám sát môi trường gần đây nhất (vào cuối năm 2008) tại Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại cho thấy: Công ty đã thể hiện trách nhiệm cao trong việc duy trì thường xuyên các biện pháp bảo vệ môi trường; có nhiều cố gắng đảm bảo đạt các tiêu chuẩn quốc gia về môi trường không khí, môi trường nước, giảm thiểu thấp nhất mức độ ô nhiễm đối với các nguồn nước, góp phần giữ gìn môi trường, cảnh quan xanh, sạch để tiếp tục phát triển bền vững
Tuy nhiên, để công tác bảo vệ môi trường ngày càng đi vào chiều sâu
và hiệu quả hơn, Trung tâm Phân tích và Môi trường cũng đã kiến nghị Công
ty Nhiệt điện Phả Lại thực hiện một số giải pháp sau: Về giảm thiểu ô nhiễm không khí do khí thải, Công ty cần tiến hành bảo dưỡng định kỳ các hệ thống lọc bụi tĩnh điện nhằm đạt hiệu suất lọc bụi cao nhất; tăng cường vệ sinh môi trường tại các khu vực đã giảm thiểu đáng kể hàm lượng khói bụi, tạo cho môi trường ngày một trong lành hơn Hiện nay, hoạt động của các tầu thuyền chở dầu, than tại khu vực cảng than và cảng dầu là nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước sông khu vực cảng cao hơn giới hạn quy định chất lượng nước mặt Vì vậy, thời gian tới, Công ty cần
có các biện pháp quản lý và giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn đối với các phương tiện tầu thuyền trong quá trình vận chuyển và neo đậu tại cảng, nhằm giảm thiểu tối đa sự phát thải dầu mỡ xuống dòng sông
Trang 341.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Tác giả Mikkal E Herberg trong nghiên cứu an ninh năng lượng và châu Á - Thái Bình Dương (Energy security and Asia-Pacific) The National bureau of Asian Reseach 2015 đã khẳng định sự phát triển năng động của khu vực kéo theo nhu cầu về năng lượng đã và đang đặt ra nhiều thách thức về an ninh năng lượng trong khu vực cũng như sự cần thiết phải có chính sách năng lượng kịp thời, hợp lý của các chính phủ để bảo đảm an ninh năng lượng, mỗi quốc gia cần phải có biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng nguồn năng lượng hiệu quả để bảo đảm duy trì động lực tăng trưởng và phát triển
Đề án: “Điều chỉnh quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020” có xét đến 2030 (QHĐ7ĐC) do Viện Năng lượng - Bộ Công Thương lập đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước đối với việc phát triển hệ thống điện quốc gia, huyết mạch của nền kinh tế và được nhấn mạnh thêm một số nhân tố thời đại Một trong những nội dung quan trọng mà đề án đã tập trung nghiên cứu là: Đa dạng hóa các nguồn năng lượng
sơ cấp để sản xuất điện, trong đó ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, ) góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường
Bài viết: “Quy hoạch hệ thống điện Việt Nam – nhìn từ phía an ninh năng lượng Quốc gia” của Ths.Nguyễn Anh Tuấn và KS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Năng lượng, 2015 đã tập trung vào một số vấn đề: Hiệu chỉnh lại dự báo nhu cầu điện đến năm 2030 với mục tiêu giảm dần cường độ tiêu thụ điện, tăng hiệu quả sử dụng điện và hiệu quả đầu tư các công trình điện; tăng cường tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch: điện từ năng lượng tái tạo, từ khí đốt và khí hoá lỏng để giảm thiểu tác động đến môi trường, phát triển bền vững; nghiên cứu đề xuất các giải pháp mới về quy hoạch lưới truyền tải: liên kết lưới truyền tải Bắc-Trung-Nam, truyền tải công suất lớn từ các cụm Nhiệt điện - điện hạt
Trang 35nhân từ duyên hải nam Trung bộ về Nam bộ, giảm dòng ngắn mạch
Đề tài Khoa học và công nghệ: “Xây dựng các biện pháp kiểm soát khí nhà kính trong lĩnh vực Nhiệt điện đốt than (NĐĐT) và đề xuất lộ trình áp dụng các biện pháp kiểm soát” của Ths.Nguyễn Thị Thu Huyền và tập thể tác giả Trung tâm Tư vấn Nhiệt điện - Điện hạt nhân Đề tài bao gồm những nội dung chính: Đánh giá tổng quan những vấn đề liên quan như Công nghệ và thiết bị các nhà máy Nhiệt điện than, Cơ chế quản lý, vận hành sản xuất và quản lý môi trường, đánh giá ảnh hưởng của BĐKH; Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức giảm phát thải khí nhà kính lĩnh vực Nhiệt điện đốt than; đề xuất lộ trình áp dụng biện pháp kiểm soát phát thải khí nhà kính lĩnh vực Nhiệt điện đốt than
Bài báo: “Phát triển Nhiệt điện trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam” của PGS.TS.Bùi Huy Phùng đã đưa ra những kiến nghị: Rà soát, đánh giá chính xác hơn tiềm năng, trữ lượng các dạng năng lượng, dự báo nhu cầu năng lượng, nhu cầu điện với độ tin cậy cao, tiến hành xây dựng cân bằng năng lượng sơ cấp (Quy hoạch năng lượng tổng thể quốc gia), theo đúng Luật Điện lực 2013, làm cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch phát triển các phân ngành điện, than, dầu-khí; từ đó sẽ xác định được cơ cấu tối ưu sử dụng các nguồn năng lượng, cũng như cơ cấu nguồn điện cho cả giai đoạn quy hoạch
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của phường Mông Dương
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý
Phường Mông Dương nằm phía Bắc thành phố Cẩm Phả, có vị trí địa lý như sau:
Phường Mông Dương nằm phía Bắc thành phố Cẩm Phả: Quy mô diện
tích là 11988,25ha Vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp xã Đồn Đạc, xã Nam Sơn huyện Ba Chẽ
- Phía Nam giáp phường Cửa Ông, phường Cẩm Phú, phường Cẩm Sơn, phường Cẩm Đông, phường Cẩm Tây
- Phía Đông giáp xã Đoàn Kết huyện Vân Đồn, xã Cộng Hòa, xã Cẩm Hải
- Phía Tây giáp xã Hòa Bình huyện Hoành Bồ, xã Dương Huy
b Địa hình
Phường Mông Dương thuộc địa hình đồi núi ven biển, gồm những vùng đất bằng chen lẫn trong địa hình đồi núi, cũng là nơi tập trung dân cư sinh sống, có hệ thống sông, kênh mương, rãnh, dày trong vùng dân cư Nhìn chung địa hình khá thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội
c Khí hậu
Phường Mông Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển có mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, có gió Đông Nam thổi mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, với tốc độ trung bình 20m/s Mông Dương có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22-24oC Lượng mưa: tổng hợp lượng mưa khá lớn, bình quân 1600-1800mm/năm và tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm 70-80% lượng mưa cả
Trang 37năm Mưa tập trung theo mùa và phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân
d Thủy văn
+ Chế độ thuỷ văn của các sông, ngòi ở Mông Dương phụ thuộc chủ yếu vào chế độ thủy văn của sông Mông Dương, sông Đồng Mỏ , các sông, suối thường ngắn và dốc
+ Sông Mông Dương và sông Đồng Mỏ bắt nguồn từ dãy Bằng Dải chảy theo hướng Nam và hướng Đông rồi đổ ra biển Hai con sông này có lưu lượng nước nhỏ
+ Nhìn chung, sông suối chảy trên địa phận phường Mông Dương có diện tích lưu vực nhỏ, độ dài sông ngắn, lưu lượng nước không nhiều và phân
bố không đều trong năm Các sông này về mùa mưa thường gây ngập úng cho các vùng thấp trũng, gây xói mòn, rửa trôi
* Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt chính của phường Mông Dương phụ thuộc chủ yếu vào chế độ thủy văn của sông Mông Dương, sông Đồng Mỏ
- Nước ngầm: Tài nguyên nước ngầm trên địa bàn phường có trữ lượng lớn, vùng đồi núi có chất lượng tốt, nhân dân sử dụng nước bằng cách đào và khoan giếng để lấy nước sinh hoạt
* Tài nguyên rừng
Theo kết quả kiểm kê và thống kê năm 2015 diện tích rừng sản xuất
Trang 38của phường là 8930,15 ha, chiếm 74,49% diện tích tự nhiên.Gồm:
- Đá vôi
Có trữ lượng lớn để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy xi măng và sản xuất vật liệu xây dựng, trữ lượng khai thác hàng năm đạt 270000m3
* Tài nguyên nhân văn
Hiện nay trên địa bàn phường có nhiều dân tộc anh em đang định cư và sinh sống chủ yếu có dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Sán Dìu,… Cộng đồng các dân tộc trong phường với những truyền thống, bản sắc riêng đã hình thành một nền văn hóa phong phú, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc Mông Dương là vùng đất có truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng Nhân dân trong địa bàn có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn gian khổ
để từng bước đi lên Đó là những yếu tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, tronng xu thế hội nhập cả nước, khu vực quốc tế, là thuận lợi để Đảng bộ và chính quyền các cấp lãnh đạo nhân dân vững bước tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng Phường Mông Dương giàu, đẹp, văn minh
Trang 392.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
a Tình hình dân số và lao động
* Dân số
Theo kết quả điều tra năm 2017 toàn phường có 15759 người Trong đó nam 9455 người, nữ: 6304 người Quy mô hộ khoảng 4 người/hộ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,21%
+ Tỷ lệ lao động trong ngành nông
+ Tỷ lệ lao động trong ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận
Trang 40Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 50,2%, như vậy số lao động chưa qua đào tạo chiếm một tỷ lệ dân lớn trong tổng số lao động trên địa bàn phường Mông Dương
Tỷ lệ lao động trong ngành thương mại dịch vụ chiếm 59,18% tổng số lao động toàn phường
Tỷ lệ lao nông - lâm nghiệp chiếm 3,82% tổng số lao động toàn phường Nhìn chung, lực lượng lao động trong phường dồi dào (tỷ lệ lao động tăng tự nhiên là 1,21%), tuy nhiên tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo của phường Mông Dương chiếm 49,8% ảnh hưởng tới quá trình ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Trong thời gian tới cần mở các lớp đào tạo nghề cho người lao động, phấn đấu tới năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn phường là trên 60%; phát triển các ngành phi nông nghiệp nhằm tạo việc làm cho người lao động đồng thời nâng cao tỷ trọng lao động trong ngành phi
nông nghiệp
b Hiện trạng về kinh tế - xã hội
Mông Dương là phường phát triển kinh tế thương mại dịch vụ là chính, tiểu thủ công nghiệp phát triển còn hạn chế Trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các mô hình lúa nước, ngô, mía, rừng Ngoài ra còn có một số hộ đầu
tư mô hình chăn nuôi có giá trị cao như nuôi gà, lợn, vịt
c Cơ sở hạ tầng phường Mông Dương
* Hệ thống Giao thông
+ Hiện trạng đường trục quốc lộ 18A: Phường có tuyến đường trục quốc lộ 18A từ Hà Nội đến Móng Cái- Quảng Ninh chạy qua địa bàn với chiều dài là 6,3km, bề rộng 12m
+ Hệ thống đường trục tỉnh lộ: Đường trục tỉnh lộ, liên tỉnh gồm 2 tuyến với tổng chiều dài 20,18 km, chiều rộng trung bình từ 8- 10m Hiện trạng các tuyến đường đã dải nhựa hoàn toàn
+ Hệ thống đường tập đoàn than Khoáng sản Việt Nam: Đường trục