Cơ sở lý luận về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện .... Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng sự hài lòng của ngườ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là các kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy PGS.TS Lê Đình Hải Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn được tôi trực tiếp đi khảo sát và thu thập nghiên cứu, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu của mình và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của hội đồng khoa học
Hà Nội , ngày 10 tháng 05 năm 2020
Người cam đoan
Vũ Hồng Thái
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học của bản Luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả luôn được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và chất lượng của Thầy PGS.TS Lê Đình Hải Tác giả xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp cùng toàn thể các thầy cô giáo của nhà trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
Tác giả xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy và UBND huyện Kim Bôi, UBND xã Nam Thượng, xã Đông Bắc, Thị trấn Bo huyện Kim Bôi, Bưu điện huyện Kim Bôi, Cơ quan BHXH huyện Kim Bôi đã tạo điều kiện và cung cấp các số liệu và giúp tác giả thực hiện việc khảo sát, đánh giá thực tế
để hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng cảm tạ chân thành đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân, đồng nghiệp, gia đình cùng bè bạn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và động viên khuyến khích tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Một lần nữa tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Vũ Hồng Thái
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN 5 1.1 Cơ sở lý luận về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Bản chất của của BHXH tự nguyện 8
1.1.3 Đặc điểm, vai trò của BHXH tự nguyện 10
1.1.4 Mối quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng dịch vụ 14
1.1.5 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện 15
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ bhxh tự nguyện 17
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới 17
1.2.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương của Việt Nam 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đặc điểm địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 26
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
Trang 52.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng
sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện
trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 36
2.2 Đặc điểm bhxh huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 38
2.2.1 Vị trí, chức năng của BHXH huyện Kim Bôi 38
2.2.2 Tổ chức hoạt động của BHXH huyện Kim Bôi 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu 47
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 47
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 47
2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu, thông tin 48
2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Thực trạng phát triển bhxh tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 50
3.1.1 Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người dân trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 50
3.1.2 Thực trạng phát triển BHXHTN trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 51
3.2 thực trạng về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN tại BHXH huyện Kim bBôi, tỉnh Hòa Bình 54
3.2.1 Đặc điểm của đối tượng khảo sát 55
3.2.2 Thực trạng về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN tại BHXH huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 57
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN tại BHXH huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 60
3.3.1 Yếu tố Kênh thông tin tuyên truyền và cách thức truyền thông về BHXH tự nguyện 61
3.3.2 Yếu tố thu nhập của người dân 63
3.3.3 Nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân 64
3.3.4 Ngành nghề lao động sản xuất 64
Trang 63.3.5.Trình độ học vấn của người dânvà họ có điều kiện tham gia
BHXHTN 65
3.3.6 Hiểu biết của người dân về chính sách BHXH tự nguyện 66
3.3.7 Mức đóng và mức thụ hưởng BHXH tự nguyện 68
3.3.8 Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH 68
3.4 các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ loại hình BHXHTN tại BHXH huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 69
3.4.1 Định hướng và căn cứ đề xuất giải pháp 69
3.4.2 Một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN tại BHXH huyện Kim Bôi, Hòa Bình 69
3.5 Kiến nghị để thực hiện giải pháp 78
3.5.1 Đối với Nhà nước 78
3.5.2 Đối với cơ quan BHXH 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT
BHXHBB
Bảo hiểm y tế Bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BNN
NLĐ
NSDLĐ
Bệnh nghề nghiệp Người lao động Người sử dụng lao động
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của cán bộ BHXH
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 42
Bảng 2.2 Số lượng Cán bộ, viên chức công tác tại BHXH huyện Kim Bôi từ 2017 – 2019 44
Bảng 2.3 Trình độ Cán bộ, viên chức của BHXH Kim Bôi từ năm 2017 – 2019 46
Bảng 3.1 Thực trạng tham gia BHXHTN các năm 2017-2019 50
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp đại lý BHXHTN (2017-2019) 51
Bảng 3.3 Tình hình tuyên truyền BHXHTN (2017-2019) 52
Bảng 3.4 Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH (2017-2019) 53
Bảng 3.5 Tỷ trọng người tham gia BHXH (2017 -2019) 53
Bảng 3.6 Mẫu khảo sát và kết quả xử lý số liệu mẫu 54
Bảng 3.7 Thực trạng về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN tại BHXH huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 59
Bảng 3.8 Kênh thông tin tuyên truy ền và cách thức truyền thông thuận tiện về BHXH tự nguyện 61
Bảng 3.9 Thu nhập phụ của người dân được khảo sát 63
Bảng 3.10 Nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân 64
Bảng 3.11 Hiểu biết của người dân về chính sách BHXHTN 67
Bảng 3.12 Đánh giá của người dân về mức đóng và mức thụ hưởng BHXH tự nguyện 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện ra đời năm 2008 là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện người lao động tự do có thu nhập thấp sẽ được hưởng lương hưu, góp phần bảo đảm cuộc sống khi về già Qua quá trình thực hiện, tính đến hết năm 2019, sau hơn 10 năm thực hiện chính sách BHXH, cả huyện Kim Bôi mới có 689 người tham gia BHXH tự nguyện, trong đó đối tượng tham gia chủ yếu là người buôn bán nhỏ, người lao động đã có thời gian tham gia BHXH bắt buộc ở các cơ quan đơn vị nay họ tham gia tiếp để
đủ điều kiện hưởng lương hưu (Theo số báo cáo tổng kết của BHXH huyện Kim Bôi, 2019)
Ngày 23/05/2018 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã thông qua và ban hành nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã
hội Trong đó mục tiêu và nội dung cải cách có nội dung ”Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách bảo hiểm xã hội cũng như tính linh hoạt của các chính sách nhằm đạt được mục tiêu mở rộng diện bao phủ” nhằm thực
thiện đồng bộ các nội dung cải cách để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân [xem /2/]
Kim Bôi là một trong những huyện có số dân trong độ tuổi lao động lớn,
đa số vẫn là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, nghề thủ công và các hoạt động dịch vụ buôn bán nhỏ Khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào huyện còn thấp dẫn đến số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa cao, đòi hỏi muốn nâng cao số lượng người tham gia BHXH thì phải tăng cường công tác phát triển BHXH tự nguyện
Qua trên 10 năm triển khai thực hiện BHXH tự nguyện trên địa bàn, BHXH huyện Kim Bôi đã tạo mọi điều kiện cho người lao động được thuận
Trang 10lợi khi tham gia BHXH; giúp người lao động có thể duy trì việc đóng BHXH ngay cả khi đối tượng ở các xã thuộc vùng sâu vùng xa
Mặc dù các cơ quan ban ngành thuộc địa phương đặc biệt là cơ quan BHXH huyện Kim Bôi đã đầu tư rất nhiều trí lực, vật lực vào công việc với mong muốn phát triển mạnh lượng người dân tham gia BHXHTN nhưng thực
tế số lượng người tuy có tăng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Trong khi đó cũng cơ chế chính sách này ở các địa phương khác như Hưng Yên, Thanh Hóa, Cà Mau lại rất thành công
Vấn đề đặt ra là trong quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển nhóm đối tượng BHXH này vấn đề gì còn gây cản trở làm ách tắc quá trình tham gia của người dân; Sự phục vụ của viên chức ngành BHXH, sự hỗ trợ của nhà nước như thế nào khi người dân tham gia BHXHTN; Phương thức truyền thông ra sao… có tìm ra được điểm nghẽn đó để sửa chữa thì mới mong phát triển mạnh đối tượng BHXH tự nguyện tại Kim Bôi Xuất phát từ những lý do
trên, học viên chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự hài lòng của người
dân đối với chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ đối với đối tượng BHXH tự nguyện trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
Trang 11vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình;
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện
trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về sự hài
lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình và giải pháp nâng cao sự hài lòng đó
- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện
Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian:
+ Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2017 đến năm 2019
+ Thu thập số liệu sơ cấp năm 2020
4 Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện;
- Thực trạng về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình;
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình;
Trang 12- Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn gồm:
Phần MỞ ĐẦU và ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của người dân đối với
chất lượng dịch vụ Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI
DÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN
1.1 Cơ sở lý luận về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi
ro, các biến cố Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của
xã hội được diễn ra bình thường
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra
Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,
Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
1.1.1.2 Khái niệm về BHXH
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
Trang 14động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động, gia đình họ và góp phần đảm bẩo an toàn xã hội
Theo quy định tại Điều 3 Luật BHXHN [xem /10/] thì BHXH gồm
có BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện Sau đây chỉ nêu ra khái niệm BHXH tự nguyện
1.1.1.3 BHXH tự nguyện
BHXH tự nguyện có thể được hiểu như sau:
BHXH tự nguyện là một hình thức BHXH do Nhà nước tổ chức và quản lý hoặc do cộng đồng người lao động tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các thành viên nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu người lao động và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Trong Luật BHXH 2014 thì BHXH tự nguyện được định nghĩa:
“BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất” [xem /10/]
Như vậy, có thể xác định được rõ ràng chủ thể tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện là Nhà nước thông qua cơ chế đại diện là các cơ quan BHXH ở các cấp Bên cạnh việc giữ nguyên quyền được chọn mức và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của người tham gia thì định nghĩa
về BHXH tự nguyện theo Luật mới còn đề cập đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm khuyến khích thêm nhiều các đối tượng khác trong xã hội tham gia BHXH tự nguyện, đồng thời thể hiện đây là một chính sách BHXH có ý nghĩa sâu sắc của Nhà nước nhằm tạo cơ hội cho người tham
Trang 15gia đều có thể được hưởng hai chế độ cốt lõi của BHXH tự nguyện
1.1.1.4 Quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội có nhiều loại quỹ khác nhau như quỹ tiền lương, quỹ dự phòng, quỹ tín dụng, quỹ dự trữ quốc gia… các quỹ này có một đặc điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho những mục đích đã được định trước, các quỹ này tuỳ theo khả năng và mục đích quỹ có thể lớn nhỏ khác nhau Mọi hoạt động thu chi của quỹ được thực hiện một cách liên tục và được kiểm tra, giám sát trong những thời gian nhất định
Do vậy có thể hiểu Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi
ro Quỹ BHXH được hình thành từ những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ đó là: Người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ từ Nhà nước và các tổ chức khác
1.1.1.5 Khái niệm về sự hài lòng
Sự hài lòng của người dân là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan Đó là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của người dân được thỏa mãn Sự hài lòng của người dân được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt được tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Sau khi mua và sử dụng sản phẩm người dân sẽ có sự
so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh giá được hài lòng hay không hài lòng
Như vậy, có thể hiểu được là cảm giác dễ chịu hoặc có thể thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm và những kỳ vọng của họ.Việc người dân hài lòng hay không sau khi mua hàng phụ thuộc vào việc họ so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm và
Trang 16những kỳ vọng của họ trước khi mua Khái niệm sản phẩm ở đây được hiểu không chỉ là một vật thể vật chất thông thường mà nó bao gồm cả dịch vụ Định nghĩa này đã chỉ rõ rằng, sự hài lòng là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì người dân sẽ thất vọng Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì người dân sẽ hài lòng Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của người dân thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi
1.1.1.6 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà người dân cảm nhận được Mỗi người dân có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau
Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc người dân Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có
sự giao thoa giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng
1.1.2 Bản chất của của BHXH tự nguyện
1.1.2.1 Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện
Bản chất kinh tế của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng thể hiện ở chỗ những người tham gia cũng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này sau khi đó chi tiêu cho các nhu cầu tối thiểu và các nhu cầu cần thiết và không ảnh hưởng lớn đến đời sống và SXKD của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Như vậy BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét
Trang 17trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang
là sự phân phối giữa chính bản thân người lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc và rủi ro xã hội
Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động
1.1.2.2 Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện
Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong mục tiêu của nó BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả lao động Do có
sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro Ở đây, Quỹ BHXH tự nguyện đó thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH tự nguyện được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất Trên góc độ vĩ mô, BHXH tự nguyện góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp phần xóa đói giảm nghèo
Trang 18Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia
1.1.3 Đặc điểm, vai trò của BHXH tự nguyện
1.1.3.1 Đặc điểm của BHXH tự nguyện
Dựa trên các quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014 về bảo hiểm xã hội
tự nguyện, ta có thể rút ra được một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất: việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện dựa vào ý chí của người tham gia
Do tính chất tự nguyện của loại bảo hiểm xã hội này nên Nhà nước không bắt buộc người lao động tham gia Đây cũng là một trong những tiêu chí phân biệt giữa bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc Khi không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tham gia hoặc không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thứ hai: Người tham gia tự chọn mức đóng và phương thức đóng
Người tham gia bảo hiểm xã hội một lần đóng 22% mức thu nhập tháng
do người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng
Mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 là 1.490.000 đồng, dó đó, mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tối đa là 29.800.000 đồng
Không những vậy, phương thức đóng cũng được người tham gia lựa chọn, có thể là đóng hàng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần,…theo quy định của pháp luật
Trang 19Thứ ba: Được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội
Để khuyến khích người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tại Điều 14 Nghị định 134/2015/NĐ-CP có quy định cụ thể về vấn đề này Cụ thể, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm
xã hội hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn như sau: – Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo bằng 30%;
– Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo bằng 25%;
– Đối với các đối tượng khác bằng 10%
Thứ tư: Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khi đủ 60 tuổi đối với nam;
55 tuổi đối với nữ và đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu
Đối với chế độ tử tuất của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì được cơ quan bảo hiểm xã hội tự nguyện giải quyết hưởng trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất theo quy định
1.1.3.2 Vai trò của BHXH tự nguyện
a Bảo đảm an sinh xã hội:
BHXH tự nguyện bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ hết tuổi lao động, không còn thu nhập sẽ được hưởng trợ cấp BHXH tự nguyện với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm được hưởng theo quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH
b BHXH tự nguyện thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH:
Trang 20Quỹ BHXH tự nguyện được hình thành trên cơ sở đóng góp của người tham gia BHXH tự nguyện Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ không còn thu nhập khi hết tuổi lao động Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp Theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc (giữa các thế hệ) và chiều ngang (giữa các đối tượng tham gia đóng và hưởng BHXH trong cùng thế hệ), tức là thực hiện phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc, v.v Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
c BHXH góp phần kích thích người nông dân hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội:
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất tạo thu nhập, khi về già được BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của người lao động và gia đình họ được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa Do đó, người nông dân luôn yên tâm, gắn bó với công việc, tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người nông dân nâng cao năng suất lao
động cá nhân và kết quả là làm tăng năng suất lao động xã hội
d BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của người lao động:
Người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Mục đích lớn nhất của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ Người lao động sẽ được thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc giảm thu nhập, điều này sẽ động viên người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng khi có rủi ro có thể xảy ra
Trang 21Đồng thời, BHXH tự nguyện góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước
e BHXH tự nguyện làm gắn bó lợi ích giữa người dân và Nhà nước:
Thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH tự nguyện nhằm đảm bảo cho mọi người lao động, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động sản xuất, kinh doanh bình đẳng, công bằng trong lao động sản xuất, góp phần cho nền kinh tế, chính trị
và xã hội phát triển
BHXH tự nguyện góp phần phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội
f BHXH tự nguyện có vai trò phân phối thu nhập trong xã hội:
Phân phối trong BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người
có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho người có thu nhập thấp, là sự chuyển dịch thu nhập của người khỏe mạnh, may mắn có việc làm
ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống
g BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước:
Để có nguồn lực vật chất đảm bảo hoặc thay thế thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi gặp rủi ro, các bên tham gia BHXH phải đóng góp tài chính vào một quỹ tiền tệ tập trung, đó là quỹ BHXH Quỹ được sử dụng
để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động và gia đình họ, một phần để chi quản lý sự nghiệp BHXH Việc sử dụng quỹ BHXH không thực hiện cùng một lúc mà dàn trải theo thời gian, vì vậy trong khoảng thời gian người lao động tham gia BHXH chưa đến độ tuổi nghỉ hưu, quỹ BHXH có một khoản
Trang 22tiền tương đối nhàn rỗi Quỹ BHXH sẽ tham gia vào thị trường tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn lớn, ổn định đem đầu tư trong các chương trình,
dự án lớn phát triển kinh tế - xã hội
1.1.4 Mối quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng dịch vụ
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân đóng vai trò là khách hàng là chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua Nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của người dân trong các ngành dịch vụ đã được thực hiện (xem /14/, /15/) trong đó một số cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân có sự trùng khớp, vì thế hai khái niệm này có thể sử dụng thay thế cho nhau Tuy nhiên,
ta thấy chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân là hai khái niệm phân biệt, có quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau
Hài lòng của người dân xem như kết quả, chất lượng dịch vụ xem như
là nguyên nhân, hài lòng có tính chất dự báo, mong đợi; chất lượng dịch vụ là một chuẩn lý tưởng Sự thỏa mãn người dân là một khái niệm tổng quát, thể hiện sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ.Trong khi đó chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ Tuy giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có mối liên hệ với nhau nhưng có ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định mức độ giải thích của các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng, đặc biệt đối với từng ngành dịch vụ cụ thể
Tóm lại, chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều đến sự hài lòng của người dân Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho người dân những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì nhà mạng đó đã bước đầu làm cho người dân hài lòng Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của người dân, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ
Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người dân có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái tạo ra trước, quyết định đến sự hài lòng của người dân Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu
tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của
Trang 23người dân Nếu chất lượng được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của người dân thì sẽ không bao giờ người dân thoả mãn với dịch vụ đó Do đó, khi sử dụng dịch vụ, nếu người dân cảm nhận được dịch vụ có chất lượng cao thì họ sẽ thoả mãn với dịch vụ đó Ngược lại nếu người dân cảm nhận dịch vụ
có chất lượng thấp thì việc không hài lòng sẽ xuất hiện
1.1.5 Nội dung và các chỉ tiêu đánh giá về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện
Để đánh giá sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXHTN chúng ta đánh giá mức độ hài lòng theo 4 cấp độ (1: rất không hài lòng; 2: không hài lòng; 3: hài lòng; 4: rất hài lòng) của người dân theo các khía cạnh hay nội dung chủ yếu sau:
- Sự hài lòng của người dân về thủ tục tham gia BHXH tự nguyện
- Sự hài lòng của người dân về phương thức đóng BHXH tự nguyện
- Sự hài lòng của người dân về mức đóng BHXH tự nguyện
- Sự hài lòng của người dân về mức hưởng BHXH tự nguyện
- Sự hài lòng của người dân về công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện
- Sự hài lòng của người dân về thái độ phục vụ của cán bộ BHXH
- Sự hài lòng của người dân về sự quan tâm của địa phương đối với đối tượng tham gia BHXHTN
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện
1.1.6.1 Nhận thức của người dân về BHXH tự nguyện
BHXH tự nguyện được định nghĩa: BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách
hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất (Luật BHXH) do đó người lao động muốn tham gia thì bản thân họ phải nhận
Trang 24thức được BHXH nó là cái gì nó vận hành ra sao và nó mang lại cho mình lợi ích gì? Có nhận thức đúng đủ thì người dân mới cảm nhận được sự việc và thấy hài lòng hay không
1.1.6.2 Trình độ học vấn của người dân ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH
tự nguyện
Khi tìm hiểu trước khi tham gia BHXHTN đòi hỏi người tham gia phải
có một kiến thức nhất định: vì BHXH nói chung và BHXHTN nói riêng có rất nhiều các qui định về thu nhập, mức đóng, mức hưởng, phí đóng đòi hỏi họ phải có một trình độ học vấn mới nhìn nhận được vấn đề và đánh giá vấn đề Bên cạnh đó do thời gian tham gia BHXHTN là rất dài có khi tới hàng chục năm, có nhận thức đúng về BHXHTN thì người tham gia mới không phá thỏa thuận tham gia mà họ đã lựa chọn (Thanh toán một lần)
1.1.6.3 Hiểu biết của người dân về chính sách BHXH tự nguyện
Hiểu biết về chính sách BHXHTN giúp ta nhận biết được nó, sự khác nhau giữa BHXHBB và BHXHTN ra sao, các mức đóng thế nào; đối với công việc mình đang có thì lựa chọn phương thức nào cho phù hợp Khi có phát sinh sự kiện bảo hiểm thì xử lý thế nao, quyền lợi bao nhiêu? Chính sách
đó có giúp họ hài lòng không
1.1.6.4 Thu nhập của người dân
Người dân cần phải đóng phí BHXHTN hàng kỳ do vậy hàng tháng phải có một nguồn thu nhập mới có thể tham gia BHXHTN được Số thu nhập thông thường sẽ liên quan đến mức tham gia của người dân Người dân sẽ rất hài lòng nếu lựa chọn được mức phí phù hợp, một phương thức đóng thuận lợi giúp cho họ có thể yên tâm tham gia trong một thời giân rất dài
1.1.6.5 Nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân
Sự hài lòng của người dân còn liên quan đến việc họ có nhu cầu tham gia BHXHTN để có lương hưu khi hết tuổi lao động không? Bởi vì có rất
Trang 25nhiều hình thức đầu tư cho tương lai như: Gửi tiền vào ngân hàng lấy lãi, mua kim loại quí, đầu tư chứng khoán vv…
1.1.6.6 Chính sách BHXH tự nguyện
Chính sách BHXHTN đóng vai trò rất quan trọng trong việc đạt được
sự hài lòng của người dân khi tham gia BHXHTN Việc chính sách BHXHTN
rõ ràng, chi tiết giúp cho người dân lựa chọn, giám sát đánh giá dễ dàng hơn chính xác hơn
1.1.6.7 Thông tin tuyên truyền về BHXH tự nguyện
Trong Việc triển khai BHXHTN thì việc thông tin tuyên truyền đóng vai trò rất quan trọng Nó giúp cho các thông tin về BHXHTN đến được mọi miền quê bản làng dưới các hình thức khác nhau như qua truyền thanh, truyền hình, hội thảo hội nghị, qua ấn chỉ tờ rơi vv…, Người tham gia BHXHTN biết được lợi ích khi tham gia và bên cạnh đó loại bỏ các thông tin không chính thống, lừa dối người dân
1.1.6.8 Hệ thống cung cấp các dịch vụ hỗ trợ BHXH tự nguyện
Hệ thống dịch vụ hỗ trợ có tốt người tham gia BHXHTN mới dễ dàng tiếp xúc với BHXHTN thông qua việc tham gia mua, lựa chọn mức tham gia, giải đáp các thắc mắc trước , trong và sau khi tham gia BHXHTN
1.1.6.9 Đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH
Đây là đối tượng thường xuyên tiếp xúc với người dân đòi hỏi họ phải
có sự hiểu biết về BHXH nói chung và BHXHTN nói riêng, phải có một kỹ năng giao tiếp và khả năng xử lý tình huống phong phú giúp cho người tham
gia thật sự hài lòng
1.2 Cơ sở thực tiễn về sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch
vụ BHXH tự nguyện
1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới
BHXH tự nguyện được triển khai khá rộng rãi ở các nước trên thế giới Đầu tiên là ở Anh và ở Đức sau này lan sang một số nước khác thuộc châu á
Trang 26dưới các cái tên khác nhau nhưng bản chất giống nhau và đã dành được sự hài lòng rất cao của những người lao động Dựa vào các tài liệu trên mạng xã hội
và các bài nghiên cứu trong TẠP CHÍ BẢO HIỂM (xem các tài liệu /16, 17/)
ta đưa ra một số nét về việc thực hiện BHXH và kinh nghiệm ở các nước Trung Quốc, Thái Lan và Philipine
1.2.1 1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Khác với Việt Nam ban hành chính sách về BHXHTN năm 2008 thì từ năm 2009, Trung Quốc đã thí điểm chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện nông thôn thay thế cho chương trình bảo hiểm hưu trí tự nguyện trước đó được thí điểm từ năm 1986 và áp dụng chính thức năm 1991 Chương trình Bảo hiểm hưu trí tự nguyện trước đây không thành công do phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của cá nhân mà không có các chính sách hỗ trợ Chương trình bảo hiểm mới bao gồm lương hưu cơ bản do chính phủ hỗ trợ và đóng góp hưu trí cá nhân, áp dụng cho tất cả cá nhân ở nông thôn trên 16 tuổi chưa tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí cơ bản đô thị Các cá nhân được lựa chọn đóng góp vào tài khoản cá nhân theo 5 mức từ 100 đến 500 NDT (hoặc hơn, nếu chính quyền địa phương thấy cần thiết) mỗi năm, trong đó chính phủ tài trợ 30 NDT Những người tàn tật hoặc các nhóm dễ tổn thương có thể tham gia bảo hiểm ở mức tối thiểu được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ từ ngân sách địa phương Với lương hưu tối thiểu, Chính phủ trung ương trợ cấp 100% cho những địa phương nghèo và các vùng miền Tây Qua khảo sát của nhà nước Trung quốc năm 2018 của 50,6 triệu người dân làm nông nghệp ở vùng nông thôn tỉnh Sơn Đông có 95% hài lòng với hình thức bảo hiểm hưu trí tự nguyện nông thôn bởi vì qua đó giúp họ đã có một nguồn trợ cấp (hưu trí) khi hết tuổi lao động Giúp họ cơ hội có thể đóng nối thời gian lao động
mà trước đó họ đã tham gia khi lao động ở các khu công nghiệp
Trang 271.2.1.2 Kinh nghiệm ở Thái Lan
Hệ thống an sinh xã hội Thái Lan được hình thành bởi 3 cơ quan: Văn phòng An sinh xã hội (SSO), Văn phòng An ninh Y tế quốc gia (NHSO) và Quỹ Hưu trí Chính phủ (GPF) Các cơ quan này mang lại lợi ích an sinh xã hội cho người dân, với những quyền lợi như chăm sóc sức khỏe, bệnh tật, thai sản, khuyết tật, tử vong, trẻ em, hưu trí và thất nghiệp
Nhiệm vụ chính của SSO là quản lý các hoạt động của Quỹ An sinh xã hội và Quỹ Đền bù cho người lao động Quỹ an sinh xã hội Thái Lan được xây dựng trên cơ sở Luật an sinh xã hội 1990 (sửa đổi vào các năm 1994, 1999) Nguồn thu của Quỹ được hình thành từ đóng góp của chủ sử dụng lao động, người lao động và Chính phủ Qua quá trình phát triển từ năm 1990 đến nay, Quỹ an sinh xã hội Thái Lan thực hiện chi trả 07 chế độ, bao gồm: Ốm đau, Thai sản, Trợ cấp trẻ em, Mất sức lao động, Hưu trí, Tử tuất, Thất nghiệp Chịu trách nhiệm quản lý Quỹ ASXH là Uỷ ban an sinh xã hội, Uỷ ban Y tế,
Uỷ ban Khiếu nại Đối tượng đóng Quỹ an sinh xã hội được chia thành 03
nhóm: nhóm bắt buộc, nhóm tự nguyện và nhóm lao động phi chính thức
Trong đó, nhóm bắt buộc là lao động trong các doanh nghiệp (có từ 01 lao
động trở lên); nhóm tự nguyện là lao động bị chấm dứt việc làm, không được
hưởng trợ cấp thất nghiệp; nhóm phi chính thức là lao động tự do từ 15 – 60 tuổi, tham gia trên cơ sở tự nguyện và được nhà nước hỗ trợ một phần đóng
SSO thực hiện các chế độ bồi thường cho người lao động, theo Luật đền bù cho người lao động (1994) Các chế độ bồi thường cho người lao động bao gồm: Các dịch vụ y tế; Bồi thường tiền mặt, mất sức lao động; Trợ cấp mai táng; Các dịch vụ phục hồi (bao gồm phục hồi sức khoẻ và đào tạo nghề nghiệp, chi phí hoạt động) Quỹ đền bù cho người lao động do Uỷ ban Bồi thường cho người lao động và Uỷ ban y tế chịu trách nhiệm quản lý; chủ sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng quỹ này theo tỷ lệ nhất định Theo đó,
Trang 28từ năm thứ 01 đến năm thứ 04, tỷ lệ đóng theo quy định là từ 0,2 – 01% bảng lương của năm; từ năm thứ 05 trở đi tỷ lệ đóng phụ thuộc vào mức độ chi trả bồi thường cho người lao động từ các năm trước
1.2.1.3 Kinh nghiệm ở Philippine
Hệ thống An sinh xã hội của Philippine (SSS) là một cơ quan Chính phủ, có hệ thống tổ chức độc lập tự quản thực hiện chính sách theo quy định của pháp luật Hội đồng quản lý là cơ quan hoạch định chính sách của hệ
thống An sinh xã hội và có các quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại Luật
An sinh xã hội SSS có nhiệm vụ đóng góp thực hiện công bằng xã hội và
cung cấp một sự bảo trợ có ý nghĩa cho các thành viên và gia đình của họ nhằm chống lại rủi ro về tàn tật, ốm đau, thai sản, tuổi già, tử vong hoặc các phát sinh khác Mục tiêu của SSS là triển khai chương trình bảo trợ bền vững, toàn dân và công bằng thông qua một hệ thống dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế
“Bền vững” ở đây có nghĩa là bảo trợ xã hội được đảm bảo qua nhiều thế hệ
“Toàn dân” có nghĩa là bảo trợ xã hội sẽ được cung cấp cho mọi người dân định cư tại Philippin, kể cả là công dân và không phải là công dân Philippin không tính đến tín ngưỡng, giới tính, tuổi tác, địa vị và tình trạng kinh tế, đặc biệt là những người bị yếu thế Như vậy không ai trở thành gánh nặng cho xã hội, vì được hệ thống SSS đảm bảo “ Bình đẳng” là cả trong việc tham gia và bình đẳng về trợ cấp cho mọi người Trợ cấp là một khoản có ý nghĩa và đủ đáp ứng được mức sống nhất định, về tiêu chuẩn dịch vụ quốc tế thì dịch vụ
An sinh xã hội phải chính xác đầy đủ, đúng hạn và đảm bảo sự hài lòng của
mọi thành viên
Đối tượng tham gia bắt buộc với các doanh nghiệp tư nhân, người lao động ở các doanh nghiệp này và lao động thời vụ trong các doanh nghiệp cho đến đối tượng lao động tự do với điều kiện họ không quá 60 tuổi và họ kiếm ít
Trang 29nhất 1.000 Php tháng SSS cũng cung cấp các dịch vụ cho các đối tượng tự
nguyện là những người lao động chuyển dịch, người nội trợ không đi làm,
người lao động Philippin ở nước ngoài Mức đóng hiện nay của SSS là 10,4% lương tháng của người lao động, mức đóng này đã được tăng từ 9,4% trước đây và có hiệu lực từ tháng 1 năm 2007 Chủ sử dụng lao động đóng 3,33%, người lao động đóng 7,07% Trong trường hợp người lao động rủi ro và ốm
đau, thai sản tham gia BHXH tự nguyện thì họ phải đóng toàn bộ mức trên,
mức đóng này được áp dụng căn cứ trên 29 tháng lương theo thu nhập mức sàn là 1.000 Php đến mức trần là 15.000 Php tức là khoảng 100 USD, đối với lao động Philippine tại nước ngoài thì mức tối thiểu là 5.000 Php Thành viên của SSS được hưởng trợ cấp khi đã có đủ thời gian đóng dưới hình thức trợ cấp tiền mặt và trợ cấp hàng tháng, tai nạn nghề nghiệp hoặc bị chết Các thành viên không đáp ứng đủ thời gian đóng sẽ được hưởng trợ cấp một lần tương đương với quỹ bảo hiểm mà họ đã đóng và sinh lãi, ngoài ra còn có các hình thức khác như hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu tài chính khác của
Philippin để thông qua sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quy định và quy chế hiện hành, thực hiện các quy chế và điều khoản của Luật An sinh xã hội Thành lập một quỹ phòng xa cho các thành viên Đây là quỹ tự nguyện của chủ sử dụng lao động và mọi người lao động, lao động tự do và các đối tượng tham gia tự
do khác nhằm chi trả trợ cấp cho các thành viên và gia đình của họ theo các quy định của Thủ tướng Philippin Duy trì một quỹ phòng xa cho cán bộ và nhân viên của hệ thống, quỹ này do cán bộ và nhân viên của hệ thống đóng dựa trên thu nhập để chi trả cho họ và người thừa kế của họ theo đúng các quy định của điều khoản Về trợ cấp số năm tham gia bảo hiểm làm cơ sở để tính trợ cấp về công tác thu ấn định từ mức lương tối thiểu và tối đa làm căn cứ
Trang 30đóng bảo hiểm và tỷ lệ đóng bảo hiểm tính ra được tỷ lệ hưởng trợ cấp trình Tổng thống Philippin thông qua Hội đồng quản lý có trách nhiệm nghiên cứu
để giảm mức đóng của người lao động tự do có mức thu nhập là dưới 20 USD một tháng trở xuống Hội đồng quản lý có chức năng gần như của Toà án là hoà giải các tranh chấp theo Luật An sinh xã hội liên quan đến các đối tượng tham gia bảo hiểm, liên quan đến các tranh chấp về hưởng trợ cấp, mức đóng, đưa ra các hình thức phạt và các vấn đề liên quan
1.2.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương của Việt Nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm ở BHXH Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai
Trong những năm qua qua việc đánh giá sự hài lòng của người dân khi tham gia BHXHTN tại BHXH thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai được thực hiện qua việc phát phiếu thăm dò tại các điểm bưu điện văn hóa phường nơi này là điểm thuộc Đại lý Bưu điện tỉnh Đồng Nai thông qua việc xử lý dữ liệu của kết quả điều tra BHXH thành phố Biên Hòa đã đánh giá được tỷ lệ hài lòng của nhóm đối tượng đang tham BHXHTN tại đây đó là:
- Sự hài lòng của người dân về chính sách BHXHTN
- Sự hài lòng của người dân về cách thức tuyên truyền về BHXHTN
- Sự hài lòng của người dân về thái độ phục vụ của viên chức BHXH Thông qua việc điều tra này để đề ra một số giải pháp nhằm hướng tới
sự hài lòng của người dân, BHXH TP Biên Hòa đã quan tâm đến công tác cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức, hiện đại hóa hành chính qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, tăng năng suất lao động…Lãnh đạo đơn vị và bộ phận tiếp công dân luôn túc trực tại đơn vị để nắm bắt và giải quyết nhanh các hồ
sơ vướng mắc, mở rộng mạng lưới Đại lý BHXH Cải tiến cách thức tuyên truyền về BHXHTN từ đài truyền thanh phường sang Truyền hình địa
Trang 31phương Tại địa phương các cuộc hội thảo hội nghị của các hội đoàn thể như Thanh Niên, Phụ nữ, Hội nông dân vv… được triển khai mang lại hiệu quả cao Đánh giá của người dân trong tháng 12/2019 có 96% người dân rất hài lòng và 4% hài lòng về dịch vụ BHXHTN tại BHXH thành phố Biên Hòa
1.2.2.2 Kinh nghiệm ở huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
Lương Sơn là một huyện thuộc vùng động lực trong phát triển kinh tế của tỉnh Hòa Bình Trong những năm qua song song với việc phát triển đối tượng tham gia BHXHTN tại Lương Sơn, BHXH huyện Lương Sơn đã tiến hành triển khai công tác đánh giá sự hài lòng của người dân khi tham gia BHXHTN Trong năm 2017 đơn vị đã thực hiện khảo sát chất lượng qua 31 phiếu khảo sát, năm 2018 thăm dò 51 phiếu và năm 2019 thăm dò qua 124 người tham gia BHXHTN Thông qua khảo sát BHXH Lương Sơn đã thấy được cái tồn tồn tại mà người dân khi tham gia BHXHTN còn chưa hài lòng
đó là:
-Việc chuyển đổi sổ BHXH từ loại hình bắt buộc sang loại hình BHXH
tự nguyện còn bất cập thậm chí có lúc còn trùng thời gian tham gia giữa hai loại gây khó khăn cho người tham gia BHXHTN Thống kê cho thấy có 16,13% không hài lòng (năm 2017)
-Việc cấp sổ BHXH có thời gian quá dài so với qui định có 41,93% ý kiến khảo sát không hài lòng (năm 2017)
-Việc hội thảo tuyên truyền mới chỉ triển khai tại các UBND xã thị trấn nhưng người dân đi làm tại các khu công nghiệp nên không có điều kiện nắm bắt thông tin vv…có 37,2% không hài lòng (năm 2018)
Việc xử lý thông tin qua các đợt khảo sát đã giúp cho BHXH huyện Lương Sơn sửa chữa những hạn chế mà đơn vị mình đã mắc phải như cập nhật lại các kỹ năng kiểm tra, rà soát kéo dữ liệu trên phần mềm của ngành
Trang 32như TST trước khi hướng dẫn cho người dân tham gia BHXHTN Thực hiện truy giảm tiền nộp trùng thời gian tham gia cho người dân Nghiêm túc trong việc cấp sổ BHXH trong thời hạn 4 ngày cho người tham gia Kết hợp với các đơn vị sử dụng lao động trong khu công nghiệp tổ chức tuyên truyền lồng ghép ở các cuộc họp của họ về chính sách BHXHTN cho người dân Kết quả năm 2019 qua khảo sát 214 đối tượng đã tham gia BHXHTN không có ý kiến nào là không hài lòng với sự phục vụ của BHXH huyện Lương Sơn Bên cạnh
đó số người tham gia cũng ngày một tăng cao năm 2017 là 142 người tham gia; năm 2018 có 180 người tham gia; năm 2019 có 429 người tham gia
1.2.2.3 Kinh nghiệm ở BHXH huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình
Huyện Yên Thủy là một vùng dân cư có địa hình vừa đồi núi vừa đồng bằng Tại đây việc điều tra khảo sát sự hài lòng của người dân khi tham gia BHXHTN cũng được lãnh đạo BHXH huyện quan tâm và triển khai nhằm xác định các mặt chưa làm được trong việc thực hiện chế độ BHXHTN tại huyện nhà Năm 2017 thông qua việc thu phí BHXH huyện Yên thủy đã tiến hành khảo sát 64 người; năm 2018 khảo sát lấy ý kiến 86 người; năm 2019 tiến hành khảo sát 167 người Kết quả:
+) 32,81%( năm 2017) ý kiến được hỏi không đồng ý với mạng lưới đại
Trang 33năng giao tiếp, cách sử dụng các ứng dụng của ngành BHXH trên INTENET
để rà soát cho đối tượng khi tham gia BHXHTN Năm 2019 qua khảo sát 100% (167/167) số người được lấy ý kiến đã hài lòng với sự phục vụ của hệ thống mạng lưới đại lý trải dài đến tất cả các xã, thị trấn Qua đó số người tham gia BHXHTN năm 2019 đã tăng 261% só với năm 2017
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện tại BHXH huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình
Song song với việc phát triển BHXHTN tại địa phương huyện Kim Bôi BHXH huyện phải định kỳ tổ chức điều tra dưới nhiều hình thức đối với các đối tượng tham gia BHXHTN về dịch vụ BHXHTN tại địa phương, qua đó nắm bắt được tâm tư nhận xét của người dân về chế độ BHXHTN, sự phục vụ của các viên chức, Đại lý BHXH, sự hỗ trợ của nhà nước khi tham gia BHXHTN, các cải cách hành chính trong lĩnh vực BHXHTN vv để từ đó đánh giá và có các giải pháp điều chỉnh kịp thời chi tiết đối với từng lĩnh vực nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân khi tham gia BHXHTN
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Kim Bôi nằm phía Đông tỉnh Hoà Bình (trung tâm huyện cách thành phố Hoà Bình khoảng 35km), có toạ độ địa lý vào khoảng 20.031’ đến 20.051’ vĩ độ Bắc và 105.022’ đến 105.044’ kinh độ Đông
Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương sau:
- Phía Đông giáp huyện Lương Sơn
- Phía Tây giáp huyện Cao Phong, huyện Tân Lạc, thành phố Hoà Bình
- Phía Nam giáp huyện Lạc Thuỷ
- Phía Bắc giáp huyện Lương Sơn và thành phố Hòa Bình
Với vị trí địa lý nằm tiếp giáp với thành phố Hòa Bình và nhiều huyện khác trong tỉnh, có đường Quốc lộ 12B chạy qua nên huyện có vai trò quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh và có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Địa hình
Kim Bôi là huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình, nằm ở độ cao khoảng 310m so với mặt nước biển Địa hình của huyện được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 500m Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn huyện, có thể chia địa hình huyện Kim Bôi thành hai vùng:
- Vùng Đông Bắc gồm 7 xã: Tú Sơn, Đú Sáng, Bắc Sơn, Hùng Tiến và Vĩnh Tiến Vùng này chủ yếu là địa hình đồi thấp, núi đá vôi xen kẽ với các
Trang 35vùng đất hẹp, khá bằng phẳng, chạy dọc theo các chân đồi núi là các mảnh ruộng bậc thang nhỏ đứt đoạn
- Vùng trung tâm gồm các xã: Vĩnh Đồng, Xuân Thuỷ, Kim Lập, Kim Bôi, Nam Thượng, thị trấn Bo Vùng này địa hình chủ yếu là những cánh đồng được bao bọc bởi những dãy núi, đồi thấp
2.1.1.3 Khí hậu
Kim Bôi nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, cũng tương tự như các huyện khác trong tỉnh, khí hậu của huyện mang tính chất của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9, bình quân có 122 ngày mưa/năm, cao nhất 146 ngày/năm, mưa thường có dông kéo dài và chịu ảnh hưởng nhiều của bão lốc và gió Tây Nam Mùa khô từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, có sương muối, sương mù và mưa phùn giá rét
Số liệu quan trắc của trạm khí tượng thuỷ văn Kim Bôi cho thấy:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân năm là: 22oC tháng nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ có thể lên tới 37 - 38oC, tháng lạnh nhất thường là tháng 1 nhiệt độ có thể xuống tới 3 - 4oC
- Lượng mưa cả năm là 2743mm, nhưng mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 Hàng năm vào mùa mưa hay xảy ra lũ quét ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của người dân
- Số giờ nắng trong ngày: Mùa hè 5 - 6 giờ, mùa đông 3 - 4 giờ
- Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm 85%, giữa các tháng trong năm biết thiên từ 78% - 88%
- Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 910,1mm, bằng khoảng 53% so với lượng mưa trung bình năm
- Chế độ gió: Chủ yếu có 3 loại gió chính
Trang 36+ Gió mùa Đông Bắc là hướng gió thịnh hành về mùa khô, xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường kéo theo không khí lạnh và khô hanh + Gió Đông Nam, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 gió mang theo độ
ẩm và hơi nước nhiều, cường độ gió mạnh khá mạnh
+ Gió Tây Nam (Gió Lào), thường xuất hiện trong tháng 4 - 5 Gió Tây Nam rất nóng, khô đó là nguyên nhân chính làm cho khí hậu Kim Bôi thay đổi thất thường giữa các tháng trong năm, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
- Sương muối, thường xuyên xuất hiện vào tháng 12 năm trước và tháng
1 năm sau, cùng với các yếu tố khí hậu khác trong thời kỳ này, ảnh hưởng xấu đến trồng trọt
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất:
* Diện tích: Theo số liệu kiểm kê năm 2019 huyện Kim Bôi có diện tích đất tự nhiên (DTTN) là 54.950,64 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 42.255,51 ha, chiếm 76,90% DTTN; đất phi nông nghiệp 5068,62 ha, chiếm 9,22% DTTN;
và đất chưa sử dụng 7626,51 ha, chiếm 13,88% DTTN
* Thổ nhưỡng: Do địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn nên đất đai của huyện không đồng nhất Đất được hình thành trên nền đất cổ phát triển trên các loại núi đá trầm tích biến chất như phiến thạch, sa thạch, đá vôi mắc ma trung tính Ngoài ra còn có đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất Feralit biến đổi
do trồng lúa nước và các loại đất phù sa sông suối
Đánh giá theo địa hình và mức độ thích nghi đối với loại cây trồng, vật nuôi, đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm chính:
- Đất núi (nằm ở độ cao trên 300m): Diện tích khoảng 17.085,44 ha, gồm: + Đất Feralit mùn vàng nhạt trên núi đá : diện tích 2800 ha, tập trung tại các xã: Tú Sơn, HợpTiến, Kim Bôi
Trang 37+ Đất đỏ nâu trên đá Macma trung tính và Bazic: diện tích 3.897 ha, tập trung tại các xã: Hợp Tiến, Kim lập, Tú Sơn…
+ Đất đỏ nâu trên đá vôi: diện tích 2650 ha, tập trung tại xã: Cuối Hạ,
+ Đất đỏ nâu trên đá vôi: diện tích 3.158,49 ha, tập trung tại các xã: Mỵ Hòa, Nam Thượng, Hợp Tiến
+ Đất vàng đỏ trên đá sét: diện tích 8.123,37 ha, tập trung tại các xã: Cuối Hạ, Sào Báy, Hùng Sơn, Đú Sáng, Tú Sơn, Bình Sơn, Mỵ Hòa
+ Đất vàng nhạt trên đá sa thạch: diện tích 6.116,98 ha, tập trung tại các xã: Xuân Thủy, Hùng Sơn, Đú Sáng, Kim lập…
+ Đất nâu vàng trên đá phù sa cổ: diện tích 2.076,98 ha, trập trung tại xã
Mỵ Hòa, Kim Lập, Vĩnh Đồng…
Nhìn chung đất đồi núi của huyện chịu ảnh hưởng của quá trình Feralitic nên đất thường chua, đất có độ dốc hay bị xói mòn, đất có khả năng lớn về sản xuất nông, lập nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc quyết định độ
ẩm của đất và chế độ nước của toàn vùng
- Đất ruộng (nằm dọc theo sông Bưởi và các suối lớn trong huyện), diện tích khoảng 7.587,90 ha, gồm:
Trang 38+ Đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước: diện tích 5.293,95 ha, tập trung tại các xã: Thị Trấn Bo, Vĩnh Tiến, Đông Bắc, Vĩnh Đồng, Sào Báy, Kim Bôi + Đất lúa nước trên sản phẩm dốc tụ: diện tích 595 ha, tập trung tại các
Ngoài 2 loại trên, Kim Bôi còn có hơn 5.102 ha núi đá và 1089 ha sông suối và mặt nước chuyên dùng
b Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước trong vùng chủ yếu từ 2 nguồn: Nước mặt, nước ngầm
Trang 39+ Trên địa bàn huyện có 7 suối lớn với tổng chiều dài khoảng 95km, bao gồm: suối Đúc dài 20km, suối Đầm Rừng dài 18km, suối Chiềng dài 16km, suối Cháo dài 14km, suối Kho dài 6km, suối Trò dài 7km và 14 suối nhỏ với tổng chiều dài khoảng 112km
+ Nhìn chung hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện Kim Bôi phân bố trên địa hình có độ dốc cao, nền địa chất có nhiều khe rạn nứt, thoát nước mạnh, nhiều nơi mặt nước thấp so với địa bàn canh tác do vậy điều kiện khai thác sử dụng vào sản xuất nông nghiệp bị hạn chế Mặt khác do thảm rừng che phủ thấp khiến trong mùa mưa lưu lượng dòng chảy của sông, suối tăng rất cao gây lũ, lụt, sạt lở, ngược lại vào mùa khô lưu lượng bị giảm thấp, 60%
hệ thống suối trên địa bàn hầu như bị cạn kiệt Các yếu tố này gây ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất, đời sống dân cư, đặc biệt đối với vùng cao
- Nước ngầm
Huyện Kim Bôi có nguồn nước khoáng nóng với trữ lượng khá lớn tại địa bàn 2 xã Vĩnh Đồng và Thị trấn Bo, hiện nay đang được khai thác vào mục đích thương mại và dịch vụ Đây cũng là nguồn tài nguyên có vai trò to lớn phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch của huyện
c Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản của huyện Kim Bôi rất phong phú Theo kết quả điều tra thăm do trên địa bàn huyện Kim Bôi có nhiều loại khoáng sản:
- Than đá, có các mỏ than ở xã Cuối Hạ, xã Đú Sáng
- Vàng sa khoáng nằm rải rác các xã trong toàn huyện: Hùng Sơn, Kim Lập, Nam Thượng, Sào Báy, Mỵ Hòa
- Quặng Pirit ở Cuối Hạ, Hợp Tiến (trữ lượng khoảng 30 triệu tấn)
- Đá Granit ở Kim Bôi, Vĩnh Đồng, Tú Sơn, trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi
- Núi đá vôi có hầu hết các xã trong huyện Toàn huyện có trên 5.000 ha
Trang 40núi đá, đây là nguồn nguyên liệu rất lớn cung cấp cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng
- Nguồn cát của huyện Kim Bôi có trữ lượng lớn: Bao gồm cát vàng từ suối Kim Bôi, cát đen từ sông Bôi và các suối nhỏ trong toàn huyện
d Tài nguyên nhân văn:
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người huyện Kim Bôi gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam Trên địa bàn huyện hiện có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống (gồm: dân tộc Mường chiếm 83,0%; dân tộc Kinh chiếm 14,0%; dân tộc Dao và các dân tộc khác chiếm 3,0%) với một đặc điểm chung đó là truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, có truyền thống thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau trong đời sống, sản xuất và chiến đấu
Cộng đồng các dân tộc huyện Kim Bôi với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo, giàu tính nhân văn sâu sắc Sự giàu có, đa dạng của kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian về cơ bản vẫn được bảo tồn và lưu truyền cho đến ngày nay, được thể hiện qua các truyện cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ, câu đối, hát ru, các làn điệu dân ca trữ tình Mỗi dân tộc có những nét văn hoá đặc trưng riêng gắn với nhiều nghề truyền thống mang tính nghệ thuật cao như: nghệ thuật tạo hình trên thổ cẩm của người Mường; nghệ thuật thêu, vẽ hoa văn của người Mông, Dao; nghệ thuật tranh trổ trên giấy, chạm khắc bạc, hàng mây, tre đan và đồ trang sức thể hiện sinh động đặc sắc của đời sống tinh thần của mỗi dân tộc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong huyện luôn kề vai sát cánh với quân dân cả nước chống giặc ngoại xâm, đồng thời năng động sáng tạo, có ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất