Chính vì vậy, nếu không có đội ngũ cán bộ tinh thông chuyên môn, nghiệp vụ, đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với tình hình nhiệm vụ mới sẽ không thể phát huy được những tiềm năng, thế mạ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
- -
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN TNCS
HỒ CHÍ MINH CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ ĐÌNH HẢI
Hà Nội, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Đình Hải Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trực tiếp đi khảo sát và thu thập được; công trình chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Người cam đoan
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, Tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị… Đặc biệt hơn nữa là sự hướng dẫn tận tình của các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Lâm Nghiệp và sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất cũng như sự ủng hộ về tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo – PGS.TS Lê Đình Hải - Người đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Tỉnh đoàn, Thành đoàn Bắc Ninh đã cung cấp các số liệu và giúp tôi thực hiện việc khảo sát, đánh giá thực tế để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Một lần nữa Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 5
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 5 1.1.1.Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 10
1.1.3 Các tiêu chí nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn 16
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 21
1.2 Cơ sở thực tiễn nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của một số địa phương 27
1.2.1 Kinh nghiệm tại một số địa phương trong nước 27
1.2.2 Bài học cho nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS tỉnh Bắc Ninh 31
1.2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.34 2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Bắc Ninh 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 38
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm tỉnh Bắc Ninh ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ Đoàn 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
Trang 52.3.Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 46
3.1.1 Số lượng cán bộ Đoàn TNSCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở 46
3.1.2 Cơ cấu đội ngũ cán bộ đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở tỉnh Bắc Ninh 49
3.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 54
3.2.1 Về thể lực 54
3.2.2 Về tâm lực 56
3.2.3 Về trí lực 61
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng dến chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 66
3.3.1 Công tác tuyển chọn cán bộ đoàn cơ sở 66
3.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 70
3.3.3 Công tác quy hoạch, luân chuyển, trưởng thành của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở 77
3.3.4 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ công đoàn 79
3.4 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 85 3.4.1 Thành công 85
3.4.2 Tồn tại 86
3.5 Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 94
3.5.1 Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 94 3.5.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Trang 6Đoàn cơ sở của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020-2025 97
3.6 Kiến nghị để thực hiện các giải pháp 106
3.6.1 Đối với cấp uỷ Đảng, chính quyền 106
3.6.2 Đối với Trung ương Đoàn và tỉnh, thành Đoàn 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW Ban chấp hành Trung ương
CBĐ Cán bộ đoàn
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐVTN Đoàn viên thanh niên
TWĐ Trung ương đoàn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kế hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh năm 2019 36
Bảng 2.2: Dân số của tỉnh Bắc Ninh năm 2019 38
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất của các ngành giai đoạn 2017 – 2019 39
Bảng 2.4: Dung lượng mẫu 44
Bảng 3.1: Số lượng cán bộ đoàn cơ sở cấp xã, phường, thị trấn 46
Bảng 3.2: Cơ cấu đội ngũ cán bộ đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở tỉnh 50
Bảng 3.3: Tình hình sức khỏe của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở 55
Bảng 3.4: Cán bộ đoàn là đảng viên tại tỉnh Bắc Ninh hết ngày 31/12/2019 58
Bảng 3.5: Đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ 59
Bảng 3.6: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ đoàn 59
Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở năm 2019 61
Bảng 3.8: Trình độ tin học và ngoại ngữ của cán bộ đoàn 63
Bảng 3.9: Kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ đoàn cơ sở 65
Bảng 3.10: Đánh giá của cán bộ với công tác tuyển dụng cán bộ đoàn 70
Bảng 3.11: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở 71
Bảng 3.12: Kết quả tập huấn cán bộ đoàn cơ sở 72
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 34
Biểu đồ 3.1: Số lượng cán bộ đoàn cấp cơ sở 47
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ cán bộ đoàn cơ sở theo giới tính năm 2019 50
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ cán bộ đoàn cơ sở theo độ tuổi năm 2019 51
Biểu đô 3.4: Trình độ lý luận chính trị của bí thư, phó bí thư cấp cơ sở 60
Biểu đô 3.5: Trình độ chuyên môn của bí thư, phó bí thư cấp cơ sở 62
Biểu đồ 3.6: Khả năng sử dụng máy tính và các phần mềm liên quan phục vụ công việc 63
Biểu đồ 3.7: Mức độ sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp, tra cứu tài liệu nước ngoài 64
Biểu đồ 3.8: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 74
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ cán bộ được đi đào tạo 75
Biểu đồ 3.10: Các hình thức đào tạo 75
Biểu đồ 3.11: Nguồn kinh phí cho các bộ đi đào tạo, bồi dưỡng 76
Biểu đồ 3.12: Mức lương trung bình hàng tháng của đội ngũ cán bộ 82
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Đoàn thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là một thành viên trong hệ thống chính trị, là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH), dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Những năm qua, Đoàn luôn phát huy được truyền thống yêu nước, xung kích, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đoàn luôn là đội hậu bị của Đảng, là chỗ dựa về tinh thần và là người bạn đồng hành của thanh niên Việt Nam Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được tổ chức một cách chặt chẽ và thống nhất theo 4 cấp từ trung ương đến cơ sở
Tổ chức Đoàn cơ sở là cấp thấp nhất nhưng lại đặc biệt quan trọng
Sở dĩ như thế là vì, tổ chức Đoàn cơ sở là nền tảng của tổ chức Đoàn, là cấp trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn; tổ chức, triển khai các hoạt động của Đoàn; đại diện cho lợi ích và quyền làm chủ của thanh niên; trực tiếp tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, giới thiệu các đoàn viên ưu tú cho Đảng Chính vì vậy, nếu không có đội ngũ cán bộ tinh thông chuyên môn, nghiệp vụ, đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với tình hình nhiệm vụ mới sẽ không thể phát huy được những tiềm năng, thế mạnh của đoàn viên, thanh thiếu niên (TTN), của tổ chức cơ sở Đoàn; đồng thời, cũng không thể hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi được những tiêu cực, yếu kém của mặt trái cơ chế thị trường tác động đến đoàn viên, thanhniên
Trong quá trình đổi mới mạnh mẽ thời gian qua, công tác Đoàn và phong trào TTN ở cơ sở cũng đang đứng trước những thách thức mới Đặc biệt, do thúc ép của đời sống nên trào lưu di cư tự phát của thanh niên nông thôn đến các thành phố, các trung tâm kinh tế, các khu chế xuất, khu công
Trang 11nghiệp mới một cách ồ ạt, không kiểm soát được dẫn đến tình trạng lộn xộn, nhiều rủi ro, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội; bản thân những đoàn viên còn lại
ở cơ sở còn tập trung học tập, hoặc do những hoàn cảnh gia đình và bản thân rất đặc biệt nên cũng ít có thời gian dành cho các hoạt động của Đoàn thanh niên Công tác Đoàn và phong trào TTN ở cơ sở vì thế thường rơi vào tình trạng bị động, không ổn định
Trong khi đó, thực trạng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở về số lượng và chất lượng vừa thiếu vừa yếu; phương pháp lề lối làm việc của đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới; phần lớn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ít được đào tạo cơ bản, chủ yếu làm việc dựa vào kinh nghiệm; một bộ phận cán bộ năng lực còn hạn chế, thiếu nhiệt tình say mê với công việc, thụ động, thiếu sáng tạo trong việc tiếp thu và cụ thể hóa các chủ trương công tác và triển khai các phong trào hành động cách mạng của Đoàn ở cơ sở, cá biệt có bộ phận không đáp ứng được yêu cầu công tác Nguồn tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng định kỳ cán bộ và công tác trưởng thành Đoàn, chế độ, chính sách về cán bộ đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế và bất cập Trong khi đó, thực tiễn hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức thiết đối với công tác Đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở; bên cạnh đó, cán
bộ đoàn cơ sở là nguồn cán bộ trẻ cung cấp cho Đảng và hệ thống chính trị ở
cơ sở Rõ ràng, thực tiễn bức thiết đó đang đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu sắc về thực trạng công tác Đoàn thanh niên và đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở để sớm có được một hệ thống giải pháp đồng bộ, thống nhất và khả thi nhằm kịp thời xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đáp
ứng những yêu cầu mới Đây chính là lý do để tác giả lựa chọn: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” trong đó đi sâu vào nghiên cứu đội ngũ cán bộ đoàn cấp phường
để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 134 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở
- Thực trạng về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
5 Kết cấu chi tiết các chương của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ Đoàn TNCS HCM cấp cơ sở
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN TNCS
HỒ CHÍ MINH CẤP CƠ SỞ 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Cán bộ
Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000, cán bộ là [14]: + Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước + Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém
Theo Quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức 2008
nêu rõ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh),
ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [13]
Như vậy theo quy định của Luật thì đối tượng được coi là “cán bộ” phải đảm bảo hai tiêu chí quan trọng:
- Được bầu cử, phê duyệt, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
Trang 15- Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo Điều 61, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định các chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã như sau [13]:
1 Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
2 Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
3 Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
4 Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5 Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
6 Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
7 Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
8 Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
1.1.1.2 Cán bộ Đoàn
Từ trước đến nay, chưa có văn bản nào định nghĩa khái niệm cán bộ đoàn Song, khái niệm Cán bộ đoàn đã trở thành phổ biến và được hiểu là những người giữ các chức danh trong tổ chức Đoàn và cán bộ đang công tác trong các cơ quan của Đoàn thanh niên các cấp Có nhiều khái niệm khác nhau về cán bộ đoàn, như:
- Cán bộ đoàn là cán bộ của Đảng làm công tác thanh niên
- Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhiệm vụ vận động giáo dục TTN
- Cán bộ đoàn là người được giao thực các nhiệm vụ công tác Đoàn, Hội, Đội theo đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều lệ Đoàn, Hội, Đội
Như vậy có thể đưa ra khái niệm chung về cán bộ đoàn như sau: Cán
bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên truyền giáo dục thanh, thiếu nhi theo đường lối, chính sách
Trang 16của Đảng, Nhà nước và Điều lệ Đoàn
Cán bộ đoàn bao gồm: cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách và kiêm nhiệm công tác Đoàn Cán bộ đoàn chuyên trách là người được hưởng lương
từ ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp, chi trả để thực hiện các nhiệm vụ công tác Đoàn, Hội, Đội Cán bộ đoàn không chuyên trách là người chỉ được hưởng phụ cấp hoặc được tính giá trị lao động trong chi phí trả lương để thực hiện các nhiệm vụ công tác Đoàn, Hội, Đội Cán bộ kiêm nhiệm công tác Đoàn là người không được hưởng lương, phụ cấp từ việc tham gia công tác Đoàn, Hội, Đội
Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động công tác chính trị - xã hội trong một đối tượng đặc thù của xã hội: thanh niên Cán bộ đoàn trước hết phải là cán
bộ chính trị Bản thân cán bộ đoàn phải tiên tiến về mặt chính trị, phải thực hiện nhiệm vụ định hướng chính trị và giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên, phải làm nhiệm vụ định hướng giá trị cho thanh niên theo phương hướng chính trị đã lựa chọn [9]
1.1.1.3 Đội ngũ cán bộ Đoàn và đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở
Đội ngũ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, đội ngũ cán bộ khoa học Khái niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh Như vậy, đội ngũ có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp
Quy chế “Cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” theo Quyết định 289-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Ban bí thư Trung ương Đoàn quy định: Cán bộ đoàn bao gồm: “Những người giữ chức danh bí thư chi đoàn, phó bí thư, bí thư đoàn cơ sở trở lên; những người làm việc trong cơ quan chuyên trách của Đoàn và trực tiếp làm công tác Đoàn, Hội, Đội, phong trào thanh thiếu nhi từ cấp huyện và tương đương trở lên; trợ lý thanh niên, cán bộ Ban Thanh niên trong Quân đội nhân dân; ủy viên Ban công tác thanh
Trang 17niên các cấp trong Công an nhân dân” [1]
Như vậy có thể thấy: “Đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở là những đảng viên, đoàn viên ưu tú được bầu cử hoặc chỉ định vào ban chấp hành đoàn cấp xã, phường, thị trấn giữ chức Bí thư Chi đoàn, Bí thư, Phó Bí thư Đoàn cấp xã, phường, thị trấn, là lực lượng quản lý, chỉ đạo xây dựng và tổ chức các hoạt động của Đoàn thanh niên cấp xã, phường, thị trấn; dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng ủy xã, phường, thị trấn và sự chỉ đạo của Ban chấp hành Đoàn cấp huyện
Từ khái niệm trên cho thấy Bí thư, Phó bí thư cấp xã, phường, thị trấn
và những Bí thư chi đoàn khu, thôn thuộc xã, phường, thị trấn hợp thành đội
ngũ cán bộ đoàn cấp xã, phường, thị trấn
1.1.1.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn
Chất lượng đội ngũ cán bộ là chất lượng của từng cán bộ và đội ngũ cán bộ có đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của tổ chức
Chất lượng của mỗi cán bộ (chất lượng của mỗi chức danh cán bộ), được đánh giá bằng tâm lực, thể lực và trí lực của mỗi cán bộ, được biểu hiện cụ thể bằng tư tưởng chính trị; đạo đức nghề nghiệp; trình độ chuyên môn; phương pháp, kỹ năng hoạt động công đoàn và sức khỏe để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, giáo dục, động viên thuyết phục công nhân, viên chức
và lao động, để đáp ứng yêu cầu hoạt động công đoàn
Chất lượng của mỗi cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ là hai vấn đề tương đối khác nhau nhưng gắn liền với nhau Có tất cả những cán bộ tốt chưa chắc đã có đội ngũ cán bộ tốt nếu cơ cấu của đội ngũ này không thích hợp với hoạt động, mục tiêu phát triển và sự vận động của tổ chức, với hệ thống tổng chức Vì vậy khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ phải đánh giá chất lượng của mỗi cán bộ và cơ cấu của đội ngũ cán bộ với yêu cầu chức năng, nhiệm vụ của từng cấp
Trang 181.1.1.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn về cơ bản được hiểu là tăng giá trị cho người cán bộ đoàn trên các mặt phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, trình độ, kỹ năng thông qua các chính sách phát triển nguồn cán bộ giúp
họ có những năng lực, phẩm chất mới, cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cũng có thể hiểu là quá trình tăng về số lượng và nâng cao về mặt chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn, nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu đội ngũ cán bộ ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển của tổ chức Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ luôn có mối quan hệ gắn bó và chịu ảnh hưởng tác động với nhau Nâng cao về số lượng đội ngũ cán bộ đoàn là tăng nguồn lao động; nâng cao về chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn là cải thiện sức khỏe, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cá nhân cán bộ đoàn
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn chính là nâng cao toàn diện
cả 3 yếu tố: tâm lực, thể lực, trí lực, đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy hiệu quả nhất nguồn lực con người thông qua hệ thống phân công lao động
Tầm vóc và thể lực là những đặc điểm sinh thể quan trọng, phản ánh một phần thực trạng của cơ thể con người, liên quan chặt chẽ đến khả năng lao động của con người
Nâng cao trí lực là nhiệm vụ cơ bản và xuyên suốt quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam Để nâng cao năng lực chuyên môn cần thông qua chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục và đào tạo
Tâm lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn không chỉ chú trọng đến thể lực và trí lực mà phải coi trọng cả tâm lực hay chính là phẩm chất đạo đức - tinh thần của con người Để có được những con người có phong cách sống
Trang 19và kỹ năng nghề nghiệp tốt, trước hết cần phát huy tốt những giá trị truyền thống, giá trị đạo đức của con người Việt Nam Những giá trị truyền thống cần kế thừa và phát huy là: tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, ý chí tự lực tự cường của con người Việt Nam, bản lĩnh chính trị…Tuy nhiên những giá trị này cần được phát triển, bổ sung cho phù hợp với nội dung của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh việc phát huy những giá trị truyền thống, cần phải khắc phục những tiêu cực đang tồn tại trong đội ngũ cán bộ công đoàn, bao gồm hạn chế do thói quen cũ để lại và những vấn đề mới nảy sinh; đồng thời, biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa
Các nội dụng được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ đoàn, bao gồm [12]:
- Nâng cao tính kỷ luật lao động
- Nâng cao phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị trong từng công việc,
vị trí được giao
- Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng của đội ngũ cán bộ nhằm khai thác tối đa năng lực, trình độ và tư duy của cán bộ
- Nâng cao sức khỏe trí lực, thâm niên công tác,…và các nội dung khác
1.1.2 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở
1.1.2.1 Vị trí, vai trò Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở
Suốt chặng đường 88 năm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ khi thành lập đến nay (26/3/1931 - 26/3/2019), đã trải qua nhiều lần đổi tên cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau Dưới
sự lãnh đạo, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã trưởng thành cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, đội quân xung kích cách mạng của tuổi trẻ trên mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ chức trong hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của Nước Cộng hoà
Trang 20XHCN Việt Nam Trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn là một thành viên bình đẳng với các thành viên khác, giữ vai trò nòng cốt trong Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam, phối hợp với các thành viên khác trong công tác thanh niên, phát huy hiệu quả chức năng của mình trong sự nghiệp cách mạng của Đảng [9]
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một liên minh chính trị rộng lớn, tập hợp phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đoàn phối hợp và thống nhất hành động với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn là đội dự bị tin cậy, người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng đi theo lý tưởng của Đảng, phấn đấ u vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Đối với Nhà nước, Đoàn là chỗ dựa vững chắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đoàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giáo dục, rèn luyện thanh niên trở thành những công dân tốt, gương mẫu, những công dân có ích cho xã hội
Đối với các tổ chức xã hội của thanh niên và phong trào TTN, Đoàn giữ vai trò nòng cốt, hạt nhân chính trị nhằm tạo môi trường tốt để giáo dục, rèn luyện đoàn viên, thanh niên Đoàn là người đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ
Đối với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn giữ vai trò là người phụ trách, dìu dắt giáo dục thiếu niên, nhi đồng Đoàn chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể chăm sóc, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng
Đối với các ban, ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội khác, Đoàn phối hợp, liên kết trên cơ sở chức năng của mình, dựa trên các quan điểm cơ
Trang 21bản của Đảng về công tác thanh niên nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đồng
bộ trong công tác Đoàn và phong trào TTN
1.1.2.2 Nhiệm vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở
Với vị trí quan trọng của mình, Đoàn cơ sở đảm nhận những nhiệm vụ sau [9]:
Thứ nhất, giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho đoàn viên, thanh niên, đoàn kết thanh niên xung quanh Đảng thực hiện mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, lôi cuốn tất cả đoàn viên, thanh niên vào các hoạt động, kích thích tính tích cực chính trị - xã hội trong mỗi đoàn viên Tạo cơ hội cho họ cùng nhau phát huy tiềm năng trí tuệ, sức lực để hoàn thành nhiệm vụ chính trị Nhiệm vụ này đã được khẳng định rõ trong Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh “tổ chức các hoạt động, tạo môi trường giáo dục đoàn viên, thanh thiếu nhi nhằm góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương, đơn vị”
Thứ hai, đại diện chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên Nhiệm vụ này thể hiện sự gắn bó giữa người đoàn viên, thanh niên với tổ chức Đoàn Đoàn cơ sở tạo mọi điều kiện tối thiểu, từng bước đáp ứng nhu cầu chính đáng cho đoàn viên, giúp đoàn viên thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ đoàn viên, đảm bảo sự bình đẳng, công bằng trong học tập, lao động, công tác trước pháp luật và công luận Đó là sự kết hợp hài hoà giữa các lợi ích trong hoạt động, việc làm và đời sống sinh hoạt hàng ngày của thanh niên Đoàn cơ sở có nhiệm vụ khuyến khích, bảo vệ những mặt tốt của đoàn viên, thanh niên, giúp họ nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt; đồng thời, đấu tranh phòng chống và loại trừ những mặt tiêu cực, các
tệ nạn xã hội góp phần bảo vệ nhân cách, sự phát triển về thể chất và tinh thần của đoàn viên, thanh niên, kiên quyết đấu tranh chống những hành vi vi phạm đến lợi ích chính đáng của đoàn viên, thanh niên, mở rộng dân chủ, tạo khối đoàn kết thống nhất, làm cho đoàn viên, thanh niên thực sự gắn bó
Trang 22với tổ chức Đoàn và có trách nhiệm xây dựng Đoàn cơ sở vững mạnh, làm nòng cốt tích cực trong công tác đoàn kết tập hợp thanh niên
Thứ ba, đoàn cơ sở có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội làm tốt công tác thanh niên, tích cực chăm
lo xây dựng Đoàn, xây dựng các Hội của thanh niên và phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền nhân dân
Công tác thanh niên không chỉ là nhiệm vụ của một tổ chức, một lực lượng xã hội, mà còn là sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội Trong thực tế không ít người quan niệm rằng: công tác thanh niên là của Đảng, của Đoàn thanh niên, do vậy những yếu kém, hạn chế của thanh niên là do lỗi của Đoàn thanh niên Suy nghĩa như thế là đơn giản, phiến diện một chiều, là thiếu trách nhiệm, tự tách mình ra khỏi sự nghiệp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Xuất phát từ đó các cấp bộ Đoàn nói chung, Đoàn cơ sở nói riêng có nhiệm vụ kết hợp với chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong công tác thanh niên Tranh thủ mọi nguồn lực, phát huy nội lực từ phía cán
bộ, đoàn viên, thanh niên nâng cao chất lượng Đoàn cơ sở và phát huy vai trò của các Hội thanh niên trong công tác đoàn kết tập hợp thanh niên, tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền Từ đó, Đoàn cơ sở sẽ tạo cơ hội và môi trường tốt cho đoàn viên, thanh niên nâng cao trình độ về mọi mặt
1.1.2.3 Công tác chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn cơ sở
Công tác chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn cơ sở được thể hiện ở chỗ, trên
cơ sở chủ trương, nghị quyết của quận, huyện, thị, thành Đoàn và nhiệm vụ chính trị của cấp uỷ, chính quyền địa phương, Đoàn cơ sở hướng dẫn các chi đoàn tổ chức thực hiện các nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào TTN phù hợp với thực tế của địa phương, phù hợp với đặc điểm các đối tượng TTN
Để công tác chỉ đạo của Đoàn cơ sở có hiệu quả cần xem xét các yếu
Trang 23tố ảnh hưởng, từ đó có biện pháp tác động cho phù hợp Có rất nhiều yếu tố, nhưng từ thực tiễn của công tác Đoàn cho thấy có 4 yếu tố cơ bản quyết định trực tiếp đến sự thành công trong công tác chỉ đạo Các yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, cần được và vận dụng một cách tổng hợp trong quá trình thực hiện nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn Các yếu tố ảnh hưởng cơ bản đó là [10]:
- Chủ trương, nghị quyết đề ra đúng đắn, đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự thành công của công tác chỉ đạo Vì vậy, việc làm đầu tiên và quan trọng nhất của Đoàn cơ sở là phải đề ra được những chủ trương, nghị quyết đúng đắn, phù hợp
- Cán bộ đoàn cơ sở là người trực tiếp triển khai chủ trương, đường lối, xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các chi đoàn tổ chức thực hiện sáng tạo,
có hiệu quả Đó là người phải có lòng nhiệt tình say mê với công việc, có phẩm chất tốt, có năng lực vững vàng, có nghiệp vụ, kỹ năng công tác thanh niên, có uy tín sâu rộng trong phong trào TTN; là người nắm vững và hiểu sâu sắc chủ trương nghị quyết và biết vận dụng năng động, sáng tạo, linh hoạt trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống sẽ dễ dàng được các chi đoàn chấp nhận và tổ chức thực hiện
- Ban Chấp hành chi đoàn là những người tiếp nhận các chủ trương, nghị quyết, được hướng dẫn, được quán triệt, để từ đó chủ động tổ chức thực hiện ở chi đoàn Họ là những người trực tiếp thực hiện có hiệu quả hay không những chủ trương, nghị quyết đã được ban hành Nếu đội ngũ Uỷ viên Ban Chấp hành chi đoàn kém nhiệt tình, thiếu chủ động, sáng tạo, chỉ trông chờ vào cấp trên thì chủ trương, nghị quyết khó có thể thực hiện được
- Cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí và sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền là điều kiện và môi trường quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác chỉ đạo Để triển khai và tổ chức thực hiện tốt chủ
Trang 24trương, nghị quyết đòi hỏi phải có cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí; đồng thời, sự lãnh đạo sâu sát của Đảng uỷ và tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ từ chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể sẽ là môi trường, điều kiện tốt nhất cho
Đoàn cơ sở thực hiện tốt chức năng của mình Yếu tố này vô cùng quan trọng vì phương thức hoạt động của Đoàn mang tính đặc thù Muốn tuyên truyền giáo dục thanh niên nhất thiết phải phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức hoạt động Thiếu cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí, công tác chỉ đạo trở nên mệnh lệnh, hành chính, quan liêu và kém thuyết phục
1.1.2.4 Công tác thực hiện của Đoàn cơ sở
Bên cạnh công tác chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn cơ sở, Đoàn cơ sở còn là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương nghị quyết của Đoàn cấp trên và của cấp mình, có thể tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây:[10]
- Công tác giáo dục của Đoàn bao gồm giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, nếp sống văn hoá; giáo dục lòng yêu nước, ý thức công dân, đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên, nhằm giáo dục họ trở thành những người có ích trong xã hội
- Các hoạt động của Đoàn bao gồm các phong trào hành động cách mạng, các chương trình, dự án; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh; các hoạt động sáng tạo khoa học
- kỹ thuật, công nghệ, hoạt động chuyên môn mà hiệu quả cần đạt được là hoàn thành nhiệm vụ chính trị và tạo môi trường giáo dục, rèn luyện để đoàn viên, thanh niên được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành
- Các hoạt động xây dựng tổ chức Đoàn để Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ngày càng vững mạnh, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, là tổ chức cộng sản của những người trẻ tuổi, đồng thời tổ chức cho đoàn viên tham gia xây dựng Đảng và bảo vệ chính quyền nhân dân
- Các hoạt động phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và
Trang 25bảo vệ, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng, nhằm giáo dục, bồi dưỡng lực lượng kế cận cho Đoàn Trong những hoàn cảnh cụ thể, trong từng thời điểm nhất định, có những vấn đề quan trọng nổi lên hàng đầu thì nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn cơ sở cần tập trung hướng vào những vấn
đề đó nhằm tháo gỡ những khó khăn, giải quyết những vấn đề cấp bách do thực tế công tác Đoàn và phong trào TTN ở cơ sở đặt ra
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở
1.1.3.1 Các chỉ tiêu về thể lực
Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm
vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy
có hiệu quả tiềm năng con người Thể lực là cơ sở nền tảng để phát tiển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào các hoạt động thực tiễn [12]
Các tiêu chí cụ thể của thể lực là: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới; luôn tỉnh táo và sảng khoái tinh thần [12]
Sức khoẻ là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng lao động Sức khỏe là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động, tất cả người lao động trong
tổ chức cho dù ở chức vụ nào, đảm nhận công việc gì đều phải cần có sức khỏe tốt Sức khỏe ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hoà nhiều yếu tố
Trang 26tạo nên Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và
ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt
Hiện nay, Bộ Y tế quy định ba trạng thái sức khoẻ của người lao động: loại A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại C là yếu Yêu cầu về sức khoẻ của người lao động không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời sự nghiệp của người lao động Người lao động phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể duy trì việc thực hiện công việc liên tục với áp lực cao Người lao động mà có thể lực, sức khỏe tốt thì sẽ đảm nhận công việc tốt, hoàn thành tốt mọi công việc, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực tốt
Tiêu chuẩn cán bộ đoàn được cụ thể hoá theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) là:
Có sức khoẻ tốt; ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận; tuổi cán
bộ đoàn được quy định theo cương vị được giao và có thể hơn từ 1 đến 2 tuổi
đê phù hợp với yêu cầu công tác cụ thể
1.1.3.2 Các chỉ tiêu về tâm lực
Tâm lực còn được gọi là phẩm chất tâm lý- xã hội, chính là tác phong, tinh thần và ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ, ) có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý [12]
* Về phẩm chất chính trị:
Điều 7, Quyết định 289/QĐ-TW về việc ban hành quy chế cán bộ
Trang 27Đoàn TNCS Hồ Chí Minh [1]:
+ Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trưởng thành từ phong trào đoàn, hội, đội hoặc tham gia hoạt động phong trào thanh thiếu nhi hoặc đã được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức công tác thanh vận
* Về phẩm chất đạo đức:
Phẩm chất đạo đức của cán bộ đoàn gồm có phẩm chất đạo đức cá nhân và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Những biểu hiện chính của phẩm chất đạo đức của con người trong công việc là [1]:
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức tập hợp, gắn bó mật thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và nhân dân
- Lao động chăm chỉ, nhiệt tình, cẩn trọng;
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung;
- Có trách nhiệm với bản thân, với công việc và với doanh nghiệp;
- Có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường
Các chỉ tiêu để đo lường chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn qua yếu tố phẩm chất đạo đức mang tính định tính, rất khó có thể đánh giá chính xác Tuy nhiên, có thể sử dụng phương pháp thống kê, điều tra và xác định các chỉ tiêu định hướng, các biểu hiện của người lao động, chẳng hạn như: vắng mặt không
lý do; đi muộn về sớm; tham ô; tiết lộ bí mật Công ty; uống bia rượu, hút thuốc
lá trong giờ làm việc; cãi nhau, gây gổ với khách hàng, đồng nghiệp;
Trang 28Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về đạo đức và tình cảm trong sáng Vì thế, để xây dựng và phát triển được các yếu tố trên, nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi trách nhiệm và sự tham gia của cả hệ thống chính trị, diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội; được bảo đảm thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó vai trò của ngành giáo dục và đào tạo là trọng tâm, hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm, cơ sở đào tạo là then chốt
1.1.3.3 Các chỉ tiêu về trí lực
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người Gồm trình độ tổng hợp từ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động Trí lực được thể hiện chủ yếu qua trí tuệ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trí tuệ là yếu tố thiết yếu, quan trọng nhất của con người, của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao như đội ngũ cán bộ công đoàn Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ yêu cầu người lao động có học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc chủ động, sử dụng được các công cụ hiện đại Năng lực trí tuệ biểu hiện
ở khả năng đáp ứng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được kỹ thuật công nghệ hiện đại Quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH càng đi vào chiều sâu thì càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa cao của nhân lực để đạt năng suất cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần [12]
Trang 29* Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn là sự hiểu biết của người lao động về các vấn đề của kinh tế, xã hội, là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng đội ngũ cán bộ và nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội, sự phát triển của tổ chức Một tổ chức có đội ngũ nhân lực có trình độ học vấn cao thì hoàn thành công việc đạt kết quả cao, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới nhanh chóng Trình độ học vấn nhân lực cao phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó cao Trình độ học vấn, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ
* Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng chứng chỉ mà mỗi cán bộ nhận được thông qua quá trình học tập.Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn có sự khác nhau với từng ngành, từng ngạch nhân viên khác nhau Một tổ chức có đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phù hợp với công việc thì phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó cao
Trước hết cán bộ phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực được giao nhiệm vụ, làm đúng việc phục vụ nhiệm vụ và lợi ích chung của tổ chức Phải là chuyên gia trong lĩnh vực mà mình đảm nhiệm
Phải có kiến thức kinh tế thị trường, luật pháp và thông lệ quốc tế, kiến thức về khoa học công nghệ, nắm vững bản chất và cơ chế vận động của quy luật thị trường
Theo điều 11, Quyết định 289/QĐ-TW về việc ban hành quy chế cán
bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về trình độ chuyên môn của cán bộ đoàn cơ sở (xã, phường, thị trấn) [1]:
- Trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trình độ lý 1uận chính trị
sơ cấp
Trang 30- Giữ chức vụ không quá 35 tuổi
Đối với vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách, trình độ văn hoá nói chung từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi dưỡng chương trình lý luận chính trị sơ cấp Giữ chức vụ không quá 37 tuổi
* Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, kiến thức ngoại ngữ và tin học đã trở thành những kiến thức cơ sở, là phương tiện và công cụ không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cán bộ Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, nhìn chung trình độ ngoại ngữ và tin học của các cán bộ còn hết sức hạn chế, chủ yếu mới dừng ở các kiến thức cơ bản, chưa tận dụng được nhiều lợi ích từ công nghệ thông tin qua các phương tiện, các phần mềm [12]
Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ sẽ ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp với các cán bộ nước ngoài của cán bộ cũng như việc đọc và tham khảo các tài liệu nước ngoài để tìm hiểu mô hình, tiến bộ của các nước trên thế giới Trình độ ngoại ngữ yếu kém chỉ dừng lại ở từ vựng, cấu trúc ngữ pháp kém mà hạn chế khả năng nghe nói cho thấy sự hạn chế về trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ
Để đánh giá trình độ của nguồn nhân lực ta thực hiện các phương pháp đo lường sau: Tham khảo tổng hợp tài liệu liên quan, phỏng vấn, kiểm tra, so sánh, tổng hợp, phân tích các chỉ tiêu phản ảnh trình độ của nguồn nhân lực
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở
1.1.4.1 Tuyển dụng
Việc tuyển dụng để làm việc tại cơ quan đoàn chuyên trách từ cấp huyện trở lên được thực hiện theo hình thức xét tuyển hoặc thi tuyển Thực hiện thi tuyển đối với các chức danh thuộc công chức nhà nước Thực hiện
Trang 31việc xét tuyển đối với các đối tượng thuộc vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo và đối tượng chính sách
Theo điều 15, Quyết định 289/QĐ-TW về việc ban hành quy chế cán
Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chỉ đạo việc tuyển dụng cán bộ đoàn tại cơ quan Trung ương Đoàn
1.1.4.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ đoàn tác động rất lớn đến đến chất lượng của đội ngũ cán bộ đoàn Bởi vì, năng lực tư duy, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp hoạt động của cán bộ về cơ bản được hình thành trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng Thông qua đào tạo, bồi dưỡng, cán
bộ công đoàn được trang bị một lượng kiến thức cần thiết, có tính hệ thống, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, đó là cơ sở quan trọng
để hình thành năng lực của cán bộ Để cán bộ có năng lực thực sự thì trước hết phải nhận thức đúng về công tác đào tạo, bồi dưỡng, từ đó cần có sự quan tâm, đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để họ được đào tạo cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ sâu, có bản lĩnh vững vàng
Việc công bố và thực hiện chính sách này là thể hiện rõ quyết tâm đào
Trang 32tạo và phát triển đội ngũ cán bộ đoàn trong tổ chức có trách nhiệm tự nâng cao, phát triển bản thân để phục vụ sự phát triển của tổ chức
Phải tổ chức hệ thống đào tạo đa dạng, khoa học với kinh phí hợp lý, đào tạo một cách liên tục về thời gian theo một cơ cấu kiến thức và cách thức thích hợp.v.v thì mới có được đội ngũ cán bộ theo ý muốn
Giải quyết vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ là giải quyết các khía cạnh sau:
- Tài chính đào tạo
- Nội dung và hình thức đào tạo từng loại cán bộ công chức
- Hình thành hệ thống tổ chức, cần có sự phân công tương đối đồng thời có sự cạnh tranh trong đào tạo
- Tuyển chọn học viên về trí thông minh và năng khiếu thực thi công vụ
- Tích cực hóa cách thức, phương pháp đào tạo theo hướng vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn từng đơn vị
Về chương trình đào tạo: Cần có các loại chương trình khác nhau: dài hạn chính quy (4 hoặc 5 năm), bằng thứ hai (2 năm); cao học (2 năm); chương trình ngắn hạn: chủ yếu để đào tạo quản lý cho cán bộ trực tuyến, trưởng các bộ phận nghiệp vụ
Đào tạo, bồi dưỡng quyết định trực tiếp tới chất lượng của đội ngũ cán
bộ Trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cán bộ càng trở nên cấp bách và phải được tiến hành một cách liên tục
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm trang bị kiến thức để người cán bộ có đủ năng lực, tự tin thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và đáp ứng được yêu cầu của công việc Không phải trong suốt thời gian công tác, người cán bộ chỉ học một lần mà ngược lại, cần được đào tạo, bồi dưỡng bổ sung và cập nhật kiến thức một cách liên tục trước yêu cầu nhiệm vụ mới
1.1.4.3 Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đoàn
Quy hoạch phát triển cán bộ trong tổ chức là một hoạt động đa chiều
Trang 33và hướng tới một thể thống nhất trong tương lai Quy hoạch cũng đề cập đến
sự lựa chọn một chương trình hành động với nhiều phương án đặt ra Nó cũng liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cơ bạn cho điểm đến để làm căn cứ cho các kế hoạch hành động hỗ trợ tiếp theo
Quy hoạch phát triển cán bộ cũng có thể coi là việc xây dựng trước một kế hoạch (hoặc một phương pháp) để đánh giá tình huống hiện tại, dự báo tình huống tương lai và lựa chọn một chương trình hành động phù hợp
để tạo được nhiều cơ hội sẵn có nhất cho sự phát triển
Công tác quy hoạch cán bộ giúp tổ chức định hướng được hoạt động sản xuất kinh doanh gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đây là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu cán bộ, đưa ra chính sách và thực hiện các chương trình hoạt động đảm bảo cho tổ chức có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc tốt, tạo năng suất, chất lượng và hiệu quả
Điều 17, Quyết định 289/QĐ-TW về việc ban hàng Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quy định [1]:
Công tác quy hoạch cán bộ đoàn gắn với công tác quy hoạch cán
bộ của cơ quan đơn vị địa phương, doanh nghiệp và do cấp uỷ đảng các cấp chủ trì Nội dung, quy trình thực hiện công tác quy hoạch cán bộ đoàn được tiến hành theo quy định chung của Đảng, hằng năm rà soát để điều chỉnh, bổ sung quy hoạch: Cấp uỷ đảng, ban thường vụ đoàn các cấp
có trách nhiệm xây dựng, quản lý quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cấp mình
Cấp uỷ đảng và ban thường vụ đoàn cấp huyện phối hợp với cấp
uỷ đảng cơ sở xây dựng quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cơ sở
Ban Bí thư Trung ương Đoàn xây dựng, quản lý quy hoạch các chức danh trong Ban Bí thư, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn
Cấp uỷ đảng và tập thể lãnh đạo chủ trì, phối hợp với ban thường
Trang 34vụ đoàn cấp trên xem xét, phê duyệt quy hoạch cán bộ đoàn cấp dưới Ban Bí thư Trung ương Đảng xem xét, phê duyệt quy hoạch cán bộ Ban
Bí thư Trung ương Đoàn
Điều 20, Quyết định 289/QĐ-TW về việc ban hàng Quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quy định [1]:
-Việc luân chuyển thực hiện đối với cán bộ đoàn chuyên trách, giữ chức vụ từ uỷ viên ban chấp hành đoàn cấp huyện trở lên trong quy hoạch nhằm đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ đoàn Khi có yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức đoàn cấp trên thực hiện việc tăng cường cán bộ xuống công tác ở tổ chức đoàn cấp dưới
- Luân chuyển, điều động phải gắn với quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ Thời gian luân chuyển mỗi lần từ 1 đến 3 năm, tuỳ đối tượng do Ban Bí thư Trung ương Đoàn quy định
- Ban thường vụ đoàn các cấp chủ động báo cáo, đề xuất với cấp uỷ đảng trong việc thực hiện luân chuyển, điều động cán bộ đoàn theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ
1.1.4.4 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ đoàn
Cơ chế, chính sách đãi ngộ, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ là nhân tố quan trọng, quyết định tới chất lượng đội ngũ cán bộ Nếu cơ chế, chính sách tuyển dụng,sử dụng, bổ nhiệm của tổ chức Công đoàn thực hiện tốt thì sẽ tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm được người có năng lực, phẩm chất, đáp ứng được yêu cầu đề ra Ngược lại, nếu cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và bổ nhiệm không tốt sẽ không lựa chọn được người cán bộ
đủ năng lực, phẩm chất phù hợp, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và vị trí công tác
Chế độ khuyến khích đội ngũ cán bộ đoàn bao gồm khuyến khích về vật chất và tinh thần Khuyến khích vật chất là hoạt động dùng lợi ích vật chất để kích thích người cán bộ thông qua tiền lương, tiền thưởng, các khoản
Trang 35phụ cấp, trợ cấp… Khuyến khích tinh thần là những hoạt động dùng lợi ích tinh thần để kích thích người cán bộ, như đánh giá và đối xử một cách công bằng đối với người cán bộ, tạo ra các cơ hội được đào tạo, thăng tiến, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, công bằng
Ngoài ra, chế độ chăm sóc sức khoẻ là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho cán bộ công đoàn, được thể hiện thông qua và là kết quả của các hoạt động y tế, dinh dưỡng, thể dục - thể thao, rèn luyện thân thể Chế độ chăm sóc sức khoẻ được thể hiện thông qua khả năng đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cả về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu bữa ăn; chất lượng dịch vụ y tế; tổ chức tập luyện thể dục, thể thao
1.1.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở
Để công tác Đoàn và phong trào thanh, thiếu nhi tại địa phương thật
sự vững mạnh, hiệu quả, tránh sa vào hình thức, khô khan, bên cạnh các phương pháp tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng thì công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ Đoàn ở cơ sở đóng vai trò rất quan trọng
Mặc dù các cấp bộ Ðoàn đã có những nỗ lực nhất định, nhưng thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, chất lượng hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở vẫn rất phức tạp Trong đó, một số vấn đề gây ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của đoàn cơ sở như: lực lượng đoàn viên, thanh niên mỏng, nội dung, hình thức sinh hoạt chi đoàn thiếu sáng tạo khiến các buổi sinh hoạt chi đoàn trở nên khô khan, khiến đoàn viên, thanh niên thờ ơ, bỏ sinh hoạt Bên cạnh đó, năng lực đội ngũ cán bộ đoàn còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, thanh niên quá cứng nhắc, rập khuôn; phương thức hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở còn hình thức, chiếu lệ, chưa phù hợp nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên thanh niên, công tác quản lý thiếu chặt chẽ, buông lỏng và dần bị "thả trôi"
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn, các cấp bộ Đoàn trong
Trang 36nên chú trọng việc xây dựng quy hoạch đội ngũ; chủ động tham mưu với cấp ủy đưa vào quy hoạch, tạo nguồn những cán bộ Đoàn có phẩm chất và năng lực tốt; quan tâm tạo môi trường để cán bộ Đoàn phát huy năng lực, sở trường thông qua việc luân chuyển về cơ sở nhằm rèn luyện kỹ năng, tích lũy kinh nghiệm
Bên cạnh đó, công tác đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giới thiệu cán
bộ ứng cử vào các chức danh lãnh đạo được các cấp bộ Đoàn cần được triển khai chặt chẽ, đúng quy trình, bảo đảm tiêu chuẩn, độ tuổi theo quy định của Đảng, Đoàn về công tác cán bộ Cụ thể, để chủ động xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ Đoàn, hằng năm, các cấp bộ Đoàn tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đối với các chức danh chủ chốt, trong đó đặc biệt chú trọng đến lực lượng cán bộ trẻ, có năng lực, đã qua thực tiễn công tác ở cơ sở; xem xét đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đủ điều kiện để điều động phân công nhiệm vụ khác Trên cơ sở đội ngũ cán bộ được quy hoạch,
tổ chức Đoàn các cấp đã xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Cấp
ủy, chính quyền ở nhiều địa phương đã quan tâm, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ Đoàn được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị
Cùng với xây dựng quy hoạch cán bộ thì cần tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ nhằm từng bước chuẩn hóa đội ngũ, nhất là chương trình tập huấn cho bí thư, phó bí thư Đoàn xã, phường, thị trấn
1.2 Cơ sở thực tiễn nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của một số địa phương
1.2.1 Kinh nghiệm tại một số địa phương trong nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Thành đoàn Hà Nội
Ngày 8/2/2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định 289-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế cán bộ Đoàn thanh niên Cộng
Trang 37sản Hồ Chí Minh Trong những năm qua, Thành đoàn Hà Nội đã cụ thể hóa Quy chế cán bộ Đoàn bằng việc tiếp tục triển khai Kế hoạch số 23-KH/TNHN ngày 7/2/2009 của Ban thường vụ Thành đoàn về việc thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW và Chương trình hành động số 01-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội; tổ chức quán triệt đến 100% các cơ sở Đoàn trực thuộc Thành đoàn Hà Nội cũng định kỳ làm việc với Ban chấp hành, Ban thường
vụ Đoàn cơ sở về chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, trong đó có công tác cán bộ đoàn; tham mưu với Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành các chỉ thị về lãnh đạo Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2017-2022 Các đoàn cơ sở trực thuộc và cán bộ Đoàn các cấp chủ động tham mưu với cấp ủy chỉ đạo, chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan
cụ thể hóa các nội dung của Quy chế cán bộ đoàn để thực hiện
Đội ngũ cán bộ đoàn từ Thành phố tới cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, đội ngũ cán bộ đoàn được trẻ hóa, được nâng cao về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, cơ bản đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ công tác Đoàn trong tình hình mới Việc thực hiện đổi mới phong cách và phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp, nhất là cấp cơ sở, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với phương châm “nói đi đôi với làm”
Công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ Đoàn ứng cử, bố trí sử dụng cán bộ Đoàn khi hết tuổi, chế độ, chính sách cho cán bộ Đoàn được cấp ủy Đảng quan tâm chỉ đạo và thực hiện tốt Trong công tác đào tạo cán bộ Đoàn, Thành Đoàn Hà Nội quan tâm, nuôi dưỡng nguồn từ cơ sở, rà soát thường xuyên để chuẩn hóa đội ngũ cán
bộ Đoàn Đặc biệt, Thành Đoàn Hà Nội đã sớm đi đầu trong việc nâng cao chất lượng đánh giá hiệu quả lao động của hệ thống cán bộ Đoàn Làm tốt công tác tham mưu với Thành ủy giao trường Lê Duẩn đào tạo cán bộ Đoàn
Trang 38Hiện nay, tổng số cán bộ Đoàn chuyên trách toàn thành phố là 1.076 cán bộ, trong đó, cấp thành phố có 51 cán bộ; cấp huyện và tương đương có 446 cán
bộ và cấp cơ sở có 579 cán bộ Bí thư Thành đoàn Hà Nội là Thành ủy viên; 17/30 Bí thư đoàn các quận, huyện, thị ủy tham gia ban chấp hành đảng bộ cùng cấp; 8/30 đồng chí là đại biểu HĐND cấp huyện Trong 10 năm qua, Thành đoàn đã tuyển dụng đặc cách công chức đối với 09 thủ khoa xuất sắc tốt nghiệp các trường đại học, học viện về công tác tại Thành đoàn Hà Nội
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn một số hạn chế: Việc thực hiện các tiêu chuẩn của cán bộ đoàn quy định theo Quy chế ở một vài nơi còn chưa đồng bộ; một số cán bộ đoàn chuyên trách chậm được bố trí công tác khác hoặc việc bố trí công tác khác gặp nhiều khó khăn Hiện nay, cấp huyện còn 8 đồng chí Bí thư, 8 đồng chí Phó Bí thư Đoàn quá tuổi; 130 đồng chí Bí thư, 14 đồng chí Phó Bí thư Đoàn cấp xã quá tuổi theo quy chế
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Tỉnh đoàn Phú Thọ
Nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực lãnh đạo, quản lý, đáp ứng vị trí công tác, đạt tiêu chuẩn chức danh ở các cấp, góp phần chuẩn bị nguồn cán bộ…
là một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16-12-2014 Để thực hiện tốt Đề án này, trong những năm qua, các cấp bộ Đoàn trong tỉnh Phú Thọ đã chú trọng việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ Đoàn; chủ động tham mưu với cấp ủy đưa vào quy hoạch, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo những cán bộ Đoàn có phẩm chất và năng lực tốt; quan tâm tạo môi trường để cán bộ phát huy năng lực, sở trường thông qua việc luân chuyển cán bộ về cơ sở để rèn luyện kỹ năng, tích lũy kinh nghiệm, giúp cán bộ trưởng thành, phát triển Bên cạnh đó, công tác đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vào các chức danh
Trang 39lãnh đạo được các cấp bộ Đoàn triển khai chặt chẽ, đúng quy trình, đảm bảo tiêu chuẩn, độ tuổi theo quy định của Đảng và của Đoàn về công tác cán bộ, các chức danh cán bộ Đoàn chủ chốt cấp cơ sở đảm bảo đúng tiêu chuẩn theo Quy chế cán bộ Đoàn Đoàn đã giới thiệu những cán bộ trưởng thành qua thực tiễn cơ sở để tạo nguồn cán bộ trẻ cho cấp ủy Đảng, chính quyền
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, có 2 đồng chí cán bộ Đoàn tham gia HĐND tỉnh, 12 đồng chí tham gia HĐND cấp huyện và 243 đồng chí tham gia HĐND cấp xã Cấp ủy, chính quyền ở nhiều địa phương đã quan tâm, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ Đoàn được học tập nâng cao trình
độ chuyên môn, lý luận chính trị Hiện tại, toàn tỉnh có 57 đồng chí cán bộ Đoàn chuyên trách cấp tỉnh, 73 đồng chí cán bộ Đoàn cấp huyện và tương đương; 338 cán bộ Đoàn cơ sở; 19 cán bộ Đoàn chủ chốt cấp huyện, 1 cán
bộ Đoàn chủ chốt cấp tỉnh tham gia cấp ủy cùng cấp; 551 đồng chí Bí thư, Phó Bí thư đoàn xã, phường, thị trấn, trong đó có trình độ cao đẳng trở lên
385 đồng chí, 395 đồng chí có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên
Cùng với xây dựng quy hoạch cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đã tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ nhằm từng bước chuẩn hóa đội ngũ, nhất là chương trình tập huấn cho Bí thư, Phó Bí thư đoàn xã, phường, thị trấn 100% cán bộ Đoàn các cấp đã được tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ Trong 5 năm, toàn tỉnh tổ chức được gần 700 lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho trên 21.500 lượt cán bộ Đoàn, Hội, Đội từ tỉnh đến cơ sở Tại các lớp tập huấn, học viên được hướng dẫn các kỹ năng, phương pháp công tác như kỹ năng nắm bắt, định hướng tư tưởng cho thanh niên; kỹ năng xử lý điểm nóng về an ninh chính trị, an ninh nông thôn; hướng dẫn công tác tổ chức đại hội Đoàn; cách thức thành lập và hoạt động các tổ tiết kiệm và vay vốn; các giải pháp nâng cao chất lượng đoàn viên… Đồng thời, các học viên cũng được trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm về công tác Đoàn và phong trào thanh, thiếu niên
Trang 40Mặc dù đã có những chuyển biến nhất định song công tác cán bộ Đoàn tỉnh Phú Thọ hiện nay vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu Nhiều cán bộ Đoàn chưa tự chủ động trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác và năng lực tổ chức Một số cán bộ đoàn chưa nhiệt tình, đi sâu sát vào đời sống ĐVTN nên hoạt động của nhiều cơ sở đoàn, đặc biệt là
ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn Việc bố trí luân chuyển cán bộ làm công tác đoàn còn gặp nhiều khó khăn, chưa đào tạo được nhiều cán bộ trẻ có trình độ, khả năng, năng khiếu ở
cơ sở nên chưa phát huy hiệu quả
1.2.2 Bài học cho nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS tỉnh Bắc Ninh
Một là: Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng tổ chức xứng đáng là người bạn đồng hành, là môi trường giáo dục tiên tiến của tuổi trẻ, là lực lượng dự bị tin cậy của Đảng vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố quan trọng hàng đầu để định hướng và tạo dựng phong trào TTN Phải xác định Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng công tác Đoàn và phong trào TTN
Hai là: Phải luôn luôn nắm vững những quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sảnViệt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; đảm bảo sự thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ của cấp uỷ Đảng
Công tác cán bộ đoàn là một bộ phận nằm trong tổng thể chiến lược công tác cán bộ của Đảng Việc nắm vững những quan điểm và nguyên tắc
cơ bản của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ là tiền đề cơ bản trong xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn Công tác cán bộ của Đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và Ban Thường vụ huyện Đoàn Phải xác định rõ mối quan
hệ giữa cấp uỷ và huyện Đoàn trong công tác cán bộ đoàn cơ sở, vừa đảm