Trong những năm qua, lãnh đạo huyện Yên Thủy đã có những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, song nhu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đòi hỏi ngày càn
Trang 1BÙI THỊ THÚY NGA
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN THỦY,
TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI THỊ MINH NGUYỆT
Hà Nội, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình” là kết quả của quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân tôi Luận văn này chưa từng được công bố trên bất kể phương tiện truyền thông nào Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài liệu đã được liệt kê ở phần sau Các giải pháp nêu trong luận văn được rút
ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2020
Người cam đoan
Bùi Thị Thúy Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành bày
tỏ lòng biết ơn của mình tới TS Bùi Thị Minh Nguyệt đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Kinh
tế và Quản trị kinh doanh và phòng Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, giảng dạy trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các phòng, ban chức năng của UBND huyện Yên Thủy, phòng Nội vụ huyện, đại diện lãnh đạo các xã điều tra đã cung cấp thông tin, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã hỗ trợ và chia sẻ trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù luận văn đã hoàn thiện với tất cả sự cố gắng cũng như năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà tôi mong muốn nhất để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thị Thúy Nga
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
3.2.1 Phạm vi nội dung 3
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.2.3 Thời gian nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 5
1.1 Những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 5
1.1.1 Cán bộ, công chức 5
1.1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 10
1.1.3 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 22
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC 26
1.2 cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 31
1.2.1 Kinh nghiệm các địa phương 31
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình 36
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU38 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38
2.1.1 Những đặc điểm tự nhiên của huyện 38
2.1.2 Những đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện 40
2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội đến công tác quản lý cán bộ, công chức của huyện Yên Thủy 46
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu 47
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 47
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 48
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài 48
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy, Hòa Bình 50
3.1.1 Thực trạng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy, Hòa Bình 50
3.1.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy 54
3.1.3 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên quan điểm của nhà quản lý và người dân 59
3.2 Thực trạng công tác nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở huyện Yên Thủy, Hòa Bình 67
3.2.1 Công tác quy hoạch cán bộ 67
3.2.2 Về công tác tuyển dụng, bố trí sử dụng 71
3.2.3 Về đào tạo và phát triển 78
3.2.4 Công tác đánh giá, quản lý cán bộ 82
3.2.5 Công tác đãi ngộ, phát triển 82
3.2.6 Cải tiến phương pháp làm việc, xây dựng kỹ năng làm việc 83
3.2.7 Tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ 85
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở huyện Yên Thủy, Hòa Bình 86
3.3.1 Các yếu tố khách quan 86
3.3.2 Các yếu tố chủ quan 90
3.4 Đánh giá công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ huyện Yên Thủy 94
3.4.1 Những thành công 94
Trang 63.4.2 Những hạn chế 95
3.5 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 97
3.5.1 Định hướng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của Huyện 97
3.5.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ở huyện Yên Thủy, Hòa Bình 99
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số huyện Yên Thủy năm 2019 40 Bảng 2.1 Giá trị các thành phần kinh tế của huyện Yên Thủy 45 Bảng 3.1 Tình hình cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy 51 Bảng 3.2 Tổng hợp cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy phân theo
độ tuổi và giới tính năm 2019 53 Bảng 3.3 Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy phân theo trình độ đào tạo 55 Bảng 3.4: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy giai đoạn 2017 – 2019 56 Bảng 3.5 Cơ cấu cán bộ công chức theo trình độ quản lý nhà nước, tin học và ngoại ngữ trên địa bàn huyện Yên Thủy 57 Bảng 3.6 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ trên địa bàn huyện Yên Thủy
từ quan điểm quản lý 60 Bảng 3.7 Đánh giá của người dân về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy 61 Bảng 3.8 Đánh giá của người dân về các kỹ năng của đội ngũ cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy 66 Bảng 3.9 Thống kê số lượng tuyển dụng cán bộ công chức huyện Yên Thủy trong giai đoạn 2017-2019 73 Bảng 3.10 Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy 80 Bảng 3.11 Đánh giá của đội ngũ CBCC về chế độ chính sách ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ 86 Bảng 3.12 Đánh giá của đội ngũ CBCC về khen thưởng và kỷ luật ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ 89
Trang 9Bảng 3.13 Kết quả khảo sát yếu tố quản lý về quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ có ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng cán bộ huyện Yên Thủy 91 Bảng 3.14 Kết quả khảo sát về chế độ đãi ngộ, phát triển và đánh giá cán bộ của huyện Yên Thủy 92 Bảng 3.15 Ý kiến đánh giá của đội ngũ cán bộ công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC 93
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hòa Bình 38
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hành chính Các nội dung cải cách hành chính được Nhà nước ta xác định bao gồm: cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của bộ máy nhà nước Tất cả những nội dung này hướng vào mục tiêu chung
đó là: xây dựng bộ máy hành chính ngày càng kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch Vững mạnh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở cửa, hội nhập quốc tế là cả một chặng đường phấn đấu lâu dài với những nhiệm vụ cao cả, vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi Nhà nước phải đẩy mạnh cải cách hành chính; đặc biệt là việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, công việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ Không có đội ngũ cán bộ tốt thì đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng cũng không trở thành hiện thực Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức luôn được Đảng ta quan tâm chú ý đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cụ thể trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì cách mạng Việt Nam
Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta có hiện tượng vừa thiếu lại vừa yếu Một số bộ phận không nhỏ suy thoái về đạo đức, chính trị, lối sống; cơ hội thực dụng, tham ô, tham nhũng, lãng phí đang làm suy giảm niềm tin với nhân dân và cản trở tiến trình đổi mới Do vậy vấn đề đặt ra
là cần phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ năng lực và phẩm chất, có đủ đức và tài để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Trang 11Trong những năm qua, lãnh đạo huyện Yên Thủy đã có những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, song nhu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đòi hỏi ngày càng cao; việc bố trí sắp xếp và
sử dụng đội ngũ tại một số phòng, ban chưa phát huy được năng lực sở trưởng công tác nên hiệu quả công việc chưa cao; một số ít cán bộ chậm đổi mới về phương pháp, phong cách làm việc Các khâu trong công tác cán bộ như: Đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí sử dụng chưa thực sự đồng bộ dẫn đến thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ Những hạn chế đó đã ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức huyện Yên Thủy đủ về số lượng, chất lượng và đảm bảo sự
ổn định cần được quan tâm hàng đầu
Xuất phát từ những yêu cầu, lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn
nghiên cứu và xây dựng đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu
Đây là đề tài mang tính khoa học và thực tiễn cao, đáp ứng nhu cầu của địa phương nghiên cứu Thông qua đề tài này, có thể nắm được những ưu điểm
và hạn chế của công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, những mặt tích cực và hạn chế được nêu lên cụ thể, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn huyện Yên Thủy, Hòa Bình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của Huyện trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC;
Trang 12- Đánh giá được thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC ở trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1 Phạm vi nội dung
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC huyện Yên Thuỷ;
- Đánh giá các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của Huyện
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC huyện YT
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
3.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Tài liệu được thu thập từ năm 2017 - 2019
- Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu năm 2020
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng CBCC
- Thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Trang 13- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC ;
Chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thường trước đây, cán bộ là những người tham gia cách mạng, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, công an và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ có hai nghĩa: thứ nhất, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nước; Thứ hai,
là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ
Tại điều 4, khoản 1 và khoản 3, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Khái niệm công chức
Trang 15Khái niệm công chức trên thế giới xuất hiện cùng với sự ra đời của chế
độ công chức ở các nước tư bản phương Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, đánh dấu bước phát triển quan trọng của lịch sử các tổ chức nhà nước Tuy vậy, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về công chức
Ở Cộng hoà Pháp: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý
Ở Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính, ví dụ như nội chính và ngoại giao
Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức Các nghị sĩ Quốc hội (thượng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những người làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức
Như vậy, không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhưng có điểm chung, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật
Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện lần đầu tiên khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức Điều 1 của Sắc lệnh này quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Công chức theo Quy chế này giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chỉ có trong các cơ quan của Chính phủ Tuy nhiên, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Quy chế
Trang 16này không được phổ biến, khái niệm công chức rất ít sử dụng mà thay vào đó
là thuật ngữ “cán bộ, công nhân, viên chức”, không có sự phân biệt cụ thể ai
là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức được định nghĩa tại Khoản 1, Khoản 2 Điều
4 Luật cán bộ, công chức 2008 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật công chức năm 2019 định nghĩa như sau:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật công chức năm 2019 thì Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế
độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.1.2 Yêu cầu của đội ngũ cán bộ công chức
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ công chức phải có năng lực cao, có trình độ chuyên môn giỏi mới có thể hoàn thành công việc được giao Trình độ của cán bộ được đánh giá là tốt khi đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ
đó Cụ thể trong thời kỳ hiện nay khi khoa học công nghệ phát triển, cán bộ phải có trình độ tiếp cận và sử dụng công nghệ hiện đại, làm chủ khoa học -công nghệ trong lĩnh vực chuyên môn của mình Qua đó có được kỹ năng tiếp cận và sử dụng những công nghệ mới phục vụ cho quá trình công tác
Trang 17Thứ hai, cán bộ công chức phải được trang bị văn hóa chính trị, văn hóa công sở cao, làm việc khoa học, hiệu quả, vì dân Người cán bộ, công chức phải có nhận thức: hành động của mình là phục vụ nhân dân Công cuộc cải cách hành chính đã được đẩy mạnh từ nhiều năm nay cũng là nhằm vào mục tiêu này Lối làm việc tùy tiện, nặng về hành chính, quan liêu, thói cửa quyền, hách dịch của một bộ phận cán bộ tồn tại khá lâu đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Chính quyền, làm giảm hiệu quả công việc trong các cơ quan nhà nước Chính vì vậy, xây dựng văn hóa làm việc chuyên nghiệp, có tính kế hoạch, kỷ luật cao, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm là cần thiết
Thứ ba, người cán bộ phải có bản lĩnh và bản lĩnh chính trị vững vàng Trong tình hình cách mạng phức tạp hiện nay, đây được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu Bản lĩnh mà trước hết là bản lĩnh chính trị của người cán bộ chính là yếu tố quan trọng, có bản lĩnh người cán bộ sẽ không bị tác động, ảnh hưởng của những yếu tố tiêu cực Đó là những cám dỗ từ mặt trái
cơ chế thị trường, từ chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch [3]
1.1.1.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ công chức các cấp
- Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Trên thực tế cho thấy, một quốc gia, đất nước có đội ngũ cán bộ công chức có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, có năng lực thực tiễn, lý luận tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến với tinh thần vì dân,
vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước là một đất nước mạnh Bởi vì, đội ngũ cán bộ công chức chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước
Ở cấp huyện cũng vậy, nếu huyện nào có đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức chính trị, năng lực quản lý điều hành tốt thì huyện đó phát triển nhanh, mạnh và bền vững
- Với vai trò hoạch định chiến lược chính sách phát triển
Cán bộ công chức là lực lượng nòng cốt trong toàn bộ hệ thống chính
Trang 18trị Đồng thời, chính họ là những người thực hiện và đưa đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống Chính họ là người giúp cho Đảng và Nhà nước xây dựng được những chủ trương, chính sách sát thực tiễn của cuộc sống, phù hợp với lòng dân thông qua hoạt động thực tế của đội ngũ cán bộ công chức để đúc rút kinh nghiệm thực tiễn
Về hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Cán bộ công chức là nguồn lực quan trọng trong quá trình bộ máy vận hành Họ đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy chính quyền Nếu họ yếu kém, trì trệ thì bộ máy cũng sẽ yếu kém trì trệ theo, nếu họ giỏi chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp thì bộ máy hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Chính họ là nguồn lực chính để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững theo con đường chủ nghĩa xã hội
Trong việc thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Đội ngũ cán bộ công chức trở nên quan trọng vì khi kinh tế - xã hội phát triển toàn diện khiến cạnh tranh trên thị trường thêm quyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phương án tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn Đội ngũ cán bộ công chức là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây dựng đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức QLNN và kiểm tra Điều này thể hiện rõ ở việc quản lý kinh tế vĩ mô Bởi vì, toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoạt động trong môi trường, thể chế, định hướng nào đều là do cán bộ công chức hoạch định và đội ngũ này là những người trực tiếp tạo môi trường, điều kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế
để tác động, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường
Trong vai trò cầu nối
Họ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nơi để nhân dân gửi gắm tâm tư, nguyện vọng đến Đảng và Nhà nước ta
Trang 19Đội ngũ cán bộ công chức nhà nước nói chung và công chức hành chính nhà nước cấp huyện nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là nguồn lực chính để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1.2.2.1 Khái niệm
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái bản chất của một con người, một sự vật, sự việc;
Thứ hai, những phẩm chất, những đặc tính, những giá trị đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một thời gian và không gian xác định Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan
Khi phân tích, đánh giá chất lượng của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá trình nào đang diễn ra trong tự nhiên, xã hội hay trong tư duy phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng và quá trình ấy trong thống nhất, biện chứng, trong sự ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa chúng; không được tuyệt đối hoá một yếu tố, bộ phận nào hoặc tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận Quá trình đó đòi hỏi phải có phương pháp xem xét, đánh giá cụ thể, không thể áp dụng phương pháp duy nhất, đặc biệt là đối với con người và hoạt động của con người trong xã hội
Vì thế, nói đến chất lượng của một con người là nói đến mức độ đạt được của một người ở một thời gian và không gian được xác định cụ thể, đó
là các mức độ tốt hay xấu, cao hay thấp, ngang tầm hay dưới tầm, vượt tầm, đạt hay không đạt yêu cầu đặt ra Tổng hợp những phẩm chất, những giá trị,
Trang 20những thuộc tính đặc trưng, bản chất của một con người và các mặt hoạt động của con người đó, chính là chất lượng con người đó
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ” (1)
Chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ cán bộ về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế
Theo đó, chất lượng đội ngũ cán bộ có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ; chịu
sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Trong thế giới, cái gì cũng biến hoá Tư tưởng con người cũng biến hoá Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hoá… Một người cán bộ khi trước sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau” (2)
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng thích ứng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao
Chất lượng là một khái niệm khá phức tạp, tùy theo đối tượng sử dụng, khái niệm “chất lượng” có nội dung khác nhau Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Hiện nay, có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra như sau: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu
Trang 21cầu„ theo Juran – một Giáo sư người Mỹ “Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định “theo Giáo sư Crosby Còn theo Từ điển tiếng Việt thì “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của 5một con người, một sự vận động, một sự việc” nó được coi là chất lượng
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: "Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật và phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Chất lượng của sự vật, hiện tượng biểu thị trình độ phát triển của nó, chất lượng càng cao thì mức độ phát triển của sự vật càng lớn"
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu về chất lượng CBCC càng cao hơn, đòi hỏi đội ngũ CBCC không những có trình độ, phẩm chất theo yêu cầu mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người CBCC
Chính vì vậy, khi nói đến chất lượng của đội ngũ CBCC là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực của người CBCC , những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ, mà cụ thể là thực hiện những nhiệm vụ mà họ được cấp có thẩm quyền phân công theo luật định Khi nghiên cứu về chất lượng của đội ngũ CBCC của UBND quận, có thể xét dưới hai đặc tính:
Phẩm chất, giá trị của đội ngũ CBCC của UBND quận bao gồm: kiến thức, năng lực, các kỹ năng, phẩm chất đạo đức, sức khỏe Đó là tổng hợp các yếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm để nâng cao khả năng làm việc
Khả năng hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Ở khía cạnh này, đó là sự đánh giá của cơ quan quản lý và đối tượng được phục vụ nơi CBCC của UBND quận công tác
Trang 22Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu chất lượng của đội ngũ CBCC của UBND quận là tổng hợp các tiêu chí về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong làm việc, lối sống, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, khả năng thích ứng công việc
1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ là tập hợp các dấu hiệu, điều kiện, đặc trưng, các chỉ số định tính, định lượng làm căn cứ để nhận biết, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ trên thực tế Căn cứ xác định tiêu chí đó là: Chức năng, nhiệm vụ của cán bộ; Các yếu tố cấu thành con người và các mặt hoặt động chủ yếu của cán bộ; Yêu cầu về chất lượng của cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về đánh giá cán bộ, căn cứ vào Quy chế đánh giá cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, Luật Cán bộ, công chức… và từ quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, có thể xác lập hệ tiêu chí có bản để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, bao gồm:
Hệ thống các yếu tố cần có của bản thân đội ngũ cán bộ để đảm nhận
và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đó là: Phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực; trình độ; phong cách làm việc; sức khoẻ và độ tuổi Đây là những dấu hiệu đầu tiên, trực tiếp, quan trọng hàng đầu cho biết đội ngũ cán
bộ có chất lượng hay không?
Tiêu chí hiểu theo nghĩa chung nhất là căn cứ để nhận biết, xếp loại, đánh giá một sự vật, hiện tượng, một khái niệm, một quá trình nào đó Xác định tiêu chí để đánh giá chất lượng CBCC trên địa bàn huyện trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng và xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ CBCC Xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng CBCC giúp chúng ta xác định được chất lượng CBCC , điểm mạnh và hạn chế của chất lượng CBCC trên địa bàn huyện trong sự đối
Trang 23chiếu, so sánh trên các tiêu chí xác định Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện bao gồm:
* Tiêu chí về phẩm chất chính trị và đạo đức công vụ
Phẩm chất chính trị là lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên CNXH Trong mọi giai đoạn cách mạng hiện nay, bản lĩnh chính trị của CBCC là một tiêu chí quan trọng, xác định lập trường tư tưởng và ý thức chính trị của đội ngũ CBCC
Phẩm chất đạo đức của CBCC gồm: đạo đức cá nhân và đạo đức công
vụ Đạo đức cá nhân của người CBCC thể hiện ở thể hiện ở ý thức tôn trọng pháp luật, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô, lãng phí, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội
Trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, đạo đức công vụ có thể bao gồm các nội dung sau:
Trung thực, công tâm, liêm khiết, làm việc đạt hiệu quả
Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách pháp luật, việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh
Thẳng thắn phê và tự phê, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước và trong xã hội
Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ là tổng hợp các đặc tính cá nhân cán bộ về mặt chính trị, bao gồm các yếu tố cơ bản: nhận thức chính trị, thái
độ chính trị và hành vi chính trị Cụ thể:
- Nhận thức chính trị của người cán bộ là sự hiểu biết về đường lối, quan điểm chính trị, về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, sự hiểu biết và tin tưởng vào mục đích, lý tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, hình thành tình cảm, ý chí cách mạng của người cán bộ
Trang 24- Thái độ chính trị của cán bộ là những biểu hiện, cử chỉ, lời nói, việc làm của người cán bộ xuất phát từ nhận thức, suy nghĩ, tình cảm trước những vấn đề chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng Thái độ chính trị phản ánh cách nhìn nhận, suy nghĩ và chi phối hành động của người cán bộ, bao gồm lòng trung thành, tính vững vàng, kiên định về lập trường, tư tưởng chính trị Cán bộ phải là người tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, trung thành với Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thái độ chính trị của cán bộ đúng hay không đúng; kiên quyết, dứt khoát hay nửa vời, chập chừng, do dự; nghiêm túc hay không nghiêm túc… có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của người cán bộ
- Hành vi chính trị của người cán bộ là hành động mang tính chính trị, như tiên phong, gương mẫu trong công tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị…
- Ý thức đạo đức của người cán bộ là quan niệm, sự hiểu biết về đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức mới (đạo đức cách mạng)
- Thái độ đạo đức của người cán bộ do ý thức đạo đức quy định, biểu hiện ra bên ngoài là sự yêu hay ghét, ủng hộ hay phê phán đối với cái: thiện,
ác, đẹp, xấu, tiến bộ, lạc hậu…; là đúng mực, nghiêm túc hay không nghiêm túc với công việc, nghề nghiệp, với đồng chí, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và quần chúng nhân dân…
- Hành vi đạo đức của người cán bộ là những hành động, lời nói, việc làm liên quan đến phạm trù đạo đức, có tính nêu gương, giáo dục đạo đức đối với bản thân, gia đình, đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân
Lối sống của người cán bộ là những hình thức, cung cách sinh hoạt, làm việc, những hoạt động, cách xử sự đã trở thành ổn định, thành đặc điểm
Trang 25riêng của cá nhân Lối sống do nhiều yếu tố quy định như giáo dục, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội, phẩm chất tâm lý-sinh
lý và sự rèn luyện của cá nhân… Lối sống gắn liền và là một biểu hiện đậm nét của đạo đức cá nhân, vì vậy, khi nhận diện và đánh giá phẩm chất đạo đức của cán bộ nhất thiết phải xem xét lối sống của họ
Phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị chi phối, quy định phẩm chất đạo đức; phẩm chất đạo đức tác động tới sự phát triển phẩm chất chính trị Người cán bộ có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ giúp họ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung, hiếu, dũng, liêm… sẽ giúp người cán bộ củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong gương mẫu của người cán bộ Quan hệ biện chứng giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức của người cán bộ tạo nên phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ thường được gọi là “phẩm chất” hay mặt “đức” mặt “hồng” của cán bộ Người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, tiêu biểu cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin cậy
* Tiêu chí về năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng
Trình độ văn hóa của CBCC thể hiện ở văn bằng chứng chỉ, ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào trong thực tế Người CBCC phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, hiểu biết những kiến thức liên quan đến lãnh đạo, quản lý, có khả năng nắm bắt và xử lý các thông tin, biết vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Trình độ chuyên môn được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao
Trang 26đẳng, đại học và sau đại học Trình độ chuyên môn giúp CBCC nắm bắt được công việc và giải quyết công việc hiệu quả Đối với CBCC , ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn đòi hỏi:
+ Kỹ năng lập và triển khai kế hoạch công tác;
+ Kỹ năng giao tiếp;
+ Kỹ năng soạn thảo văn bản;
+ Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin;
+ Kỹ năng quản lý thời gian;
+ Kỹ năng làm việc nhóm
Năng lực của cán bộ là tổng hợp những yếu tố tạo nên khả năng cá nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ người cán bộ Năng lực của người cán bộ bao gồm hai mặt chủ yếu: Năng lực trí tuệ và năng lực chuyên môn Năng lực trí tuệ là khả năng nhận thức, tiếp cận tri thức, khả năng nắm bắt, phân tích, đề xuất giải pháp trong hoạt động thực tiễn Năng lực chuyên môn là tri thức, kỹ năng để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của người cán bộ Năng lực của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ kiến thức, kỹ năng; kinh nghiệm thực tiễn; ý thức trách nhiệm đảng viên; hoàn cảnh, điều kiện… Trong đó, trình độ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn có vai trò quan trọng hơn cả Năng lực của người cán bộ chủ yếu được hình thành và phát triển
Trang 27qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn Mỗi thời kỳ cách mạng, khi nhiệm vụ chính trị của Đảng và nhiệm vụ cụ thể của người cán bộ có
sự thay đổi thì năng lực của người cán bộ cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
Trình độ của người cán bộ bao gồm 3 mặt chủ yếu: Trình độ học vấn; trình độ chính trị; trình độ chuyên môn Trình độ học vấn là mức độ kiến thức của người cán bộ, thường được xác định bằng các bậc học cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là nền tảng để rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn và cả phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ Trình độ chính trị là mức độ hiểu biết về chính trị của người cán bộ Trên thực tế, trình độ chính trị được đánh giá chủ yếu bằng mức độ hiểu biết về lý luận chính trị Hiện nay, trình độ chính trị của người cán bộ được đánh giá theo 3 mức độ: Sơ cấp, trung cấp, cao cấp Trình độ chính trị là
cơ sở để tạo nên phẩm chất chính trị của người cán bộ Không có trình độ chính trị nhất định thì người cán bộ không thể có giác ngộ lý tưởng cộng sản,
có bản lĩnh chính trị vững vàng Trình độ chuyên môn của người cán bộ là mức độ kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của chức danh công việc theo quy định Trình độ chuyên môn của người cán bộ không chỉ được đánh giá bởi bằng cấp chuyên môn được đào tạo mà chủ yếu là ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, ở uy tín trong công tác chuyên môn
Trình độ của người cán bộ là một yếu tố có vai trò đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng tới tất cả các yếu tố tạo nên chất lượng người cán bộ, là cơ sở để hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ; là yếu tố đặc biệt quan trọng tạo thành năng lực và là điều kiện để có năng lực Tuy nhiên, không phải người cán bộ cứ có kiến thức là có năng lực
Có kiến thức nhưng phải trải qua quá trình rèn luyện trong thực tiễn thì mới
có năng lực Trên thực tế đã có không ít người cán bộ có kiến thức song năng lực hạn chế Cũng có nhiều người tuy không có bằng cấp, chứng chỉ nhưng họ
Trang 28tự học tập, lăn lộn trong thực tiễn nên vẫn có năng lực tốt Trình độ và năng lực của người cán bộ quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên cái “tài” hay mặt
“chuyên” của người cán bộ
Về sức khoẻ, độ tuổi người cán bộ: Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người Sức khoẻ là nhu cầu trước hết của bản thân con người, là nhu cầu tồn tại Không có sức khoẻ thì không phát triển được trí tuệ, không thể lao động
có hiệu quả cho xã hội Có một cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng là điều kiện cần thiết cho một tinh thần sảng khoái, minh mẫn, là tiền đề và cơ sở chắc chắn, thường xuyên cho việc thực hiện có chất lượng nhiệm vụ được giao
Quy định tuổi người cán bộ là để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc tốt, bảo đảm sự kế thừa và đổi mới cán bộ Tuổi đời không phải
là một yếu tố quyết định phẩm chất, năng lực, trình độ, hiệu quả công việc Tuổi đời là một tiêu chí xã hội quan trọng, xác định vị trí, vai trò và uy tín xã hội của mỗi người cán bộ Người cán bộ cần có tuổi đời thích hợp với chức trách, vai trò, nhiệm vụ hiện tại đang đảm nhận, có độ “dư thừa” cần thiết để bảo đảm khả năng phát huy lâu dài, ít nhất là một nhiệm kỳ công tác
Phong cách làm việc của người cán bộ là cách thức làm việc ổn định, mang sắc thái của mỗi người Phong cách làm việc của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, khí chất cá nhân, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc, sinh hoạt, sự giáo dục, rèn luyện… của người cán bộ Phong cách làm việc của người cán bộ có ảnh hưởng lớn tới việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác Phong cách làm việc của người cán bộ gồm nhiều nội dung rất phong phú, có thể liệt kê những nội dung chủ yếu nhất: Tác phong dân chủ
- tập thể; tác phong khoa học; tác phong quần chúng
Mối quan hệ của đội ngũ cán bộ với môi trường làm việc: Mối quan hệ của đội ngũ cán bộ với môi trường, điều kiện công tác cụ thể (với đường lối, nhiệm vụ chính trị, tổ chức và cơ chế, chính sách) Đây là những dấu hiệu đặc
Trang 29biệt quan trọng để nhận biết chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay Con người luôn sống và hoạt động trong hàng loạt mối quan hệ; mỗi người vừa là nhân, vừa là quả, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động của các mối quan hệ với
tự nhiên, xã hội Do vậy, khi xem xét, đánh giá người cán bộ phải đặt người cán bộ trong các mối quan hệ chủ yếu, xác định như trên, nhất là mối quan hệ của người cán bộ với cấp ủy, tổ chức đảng, đồng nghiệp và nhân dân Có như vậy, mới đánh giá được thực chất người cán bộ
* Tiêu chí về kết quả hoàn thành công việc
Kết quả hoàn thành công việc là tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình thực thi hoạt động quản lý của CBCC , là tiêu chí cơ bản phản ánh năng lực thực thi hoạt động quản lý nhà nước Kết quả hoàn thành nhiệm vụ bao gồm kết quả thực hiện nhiệm vụ riêng của cá nhân, kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của đơn vị Kết quả thực hiện nhiệm vụ còn được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau, ví dụ như kết quả thực hiện một vụ việc cụ thể; kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng, trong năm, trong nhiệm kỳ
Để đánh giá kết quả mức độ hoàn thành công việc cần dựa vào các tiêu chí sau:
+ Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
+ Tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; + Mức độ hài lòng của đối tượng được phục vụ
Mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ (kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của đội ngũ cán bộ) Đây là tiêu chí trung tâm, chủ yếu nhất, là dấu hiệu cụ thể nhất, rõ nhất để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay Kết quả công tác thực tế người cán bộ bao gồm những yếu tố
cụ thể sau:
- Thái độ công tác biểu hiện sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân… tạo ra bầu không khí làm việc, có những biểu hiện cụ thể sau: Sự miệt mài, say sưa
Trang 30làm việc hàng ngày, chịu khó đi sâu nghiên cứu, học tập để thường xuyên nâng cao trình độ, khả năng, kinh nghiệm công tác, có tinh thần trách nhiệm
và sự hiểu biết trong công tác, có tinh thần chủ động làm việc, có ý thức về thời gian làm việc và kỷ luật lao động…
- Khối lượng công việc biểu hiện qua: Số lượng đầu công việc đảm nhận và hoàn thành Mức độ phức tạp, quy mô, cường độ, tốc độ, thời gian làm việc
- Hiệu suất công tác (năng suất lao động cá nhân): Thời gian và tốc độ hoàn thành công việc; mức độ vượt qua những trở ngại của bản thân và vượt lên những khó khăn của hoàn cảnh để hoàn thành công việc được giao; sự tiết kiệm những chi phí về tài chính cũng như sức người, sức của trong quá trình tiến hành công việc
* Tiêu chí đánh giá thông qua sự hài lòng của đối tượng được phục vụ
Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, CBCC phải tận tuỵ phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, đặc biệt đối với CBCC trên địa bàn huyện là những người trực tiếp giải quyết các công việc của dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Vì vậy để đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện chúng ta không thể không xem xét sự hài lòng của các đối tượng được phục vụ do CBCC trên địa bàn huyện thực hiện Tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng của đối tương được phục
vụ bao gồm:
+ Tinh thần trách nhiệm đối với công việc;
+ Thái độ và phong cách phục vụ;
+ Tính chuyên nghiệp và quy chuẩn;
+ Hiệu quả giải quyết công việc
Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ như trên có quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau, tạo thành một hệ tiêu chí thống nhất Để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ cần xem xét đầy đủ các tiêu chí đó, cách
Trang 31đánh giá phải thật sự khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể, vừa định lượng, vừa định tính, lấy định lượng để định tính; xem xét toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố có thể đo đạc, định lượng được để định tính rõ ràng, đầy đủ chất lượng đội ngũ cán bộ
1.1.3 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
* Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ công chức
Việc quy hoạch CBCC nhằm mục đích phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ
có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương,
cơ quan, đơn vị và của đất nước Những CBCC chủ yếu là người đã có tuổi,
có kinh nghiệm lâu năm về công tác quản lý, hành chính mới được đảm nhận các vị trí vai trò quan trọng tại huyện Do đó, việc quy hoạch CBCC cần phải được thực hiện, để dự nguồn nhân lực Hơn thế nữa còn phải thực hiện một cách tổng thể, dài hạn để các lớp cán bộ nối tiếp nhau, học tập kinh nghiệm của người đi trước và truyền đạt lại cho thế hệ kế cận
Để làm tốt vấn đề quy hoạch cán bộ, nhằm chọn người tài đức, ngay trước khi tuyển dụng cần phải bám chắc yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ CBCC ở cơ quan trong mỗi thời kì và gắn với thực tiễn nội dung phát triển CBCC Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ, phát triển, các quy định hướng dẫn công tác quy hoạch, quản lý cán bộ là “kim chỉ nam” cho các nhà quản lý nhân sự các cấp có kế hoạch, chiến lược đúng đắn trong việc phát triển đội ngũ CBCC tại các địa phương
Cần đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch Căn cứ để được lựa chọn, giới thiệu CBCC vào làm việc tại các đơn vị huyện chính là những tiêu chuẩn, tiêu chí được nêu rõ ở mục trên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực thực tiễn cũng như là uy tín, sức khỏe, chiều hướng và triển vọng phát triển gắn với lợi ích cộng đồng của địa phương…
Trang 32* Công tác tuyển dụng đội ngũ cán bộ công chức
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số BNV ngày 21/5/2019 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, căn cứ để tuyển dụng công chức là yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt để làm căn cứ tuyển dụng công chức Hàng năm, cơ quan sử dụng công chức xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức, báo cáo cơ quan quản lý công chức để phê duyệt và tổ chức tuyển dụng công chức Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển hoặc tiếp nhận đối với một số trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển Nguồn cho tuyển dụng CBCC có thể là bên trong (bên trong bộ máy hành chính địa phương) hay bộ phận nhân lực tài giỏi bên ngoài, có nguyện vọng làm việc và cống hiến cho nhân dân Việc tuyển chọn cần phải bám sát nhu cầu chọn lựa của nhà nước, yêu cầu hoạt động của cơ quan làm việc Các quy trình tuyển chọn cần phải tuân thủ yêu tố: minh bạch, rõ ràng, cơ hội chia để cho tất cả các đối tượng phù hợp, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “con ông cháu cha” Các quy trình, yêu cầu tuyển chọn phải rõ ràng, đảm bảo mọi người có thể hiểu được nó Trong quá trình tuyển dụng, cần phải chú ý các yếu tố công bằng và minh bạch
02/NĐHN-Như vậy, tuyển dụng công chức là việc lựa chọn và chấp nhận một người tự nguyện gia nhập hệ thống công vụ sau khi đã xác nhận người đó có
đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật để bổ nhiệm vào một ngạch công chức theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần tuyển Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức trách nhất định hay
để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà nước trao cho công chức, do vậy việc tuyển dụng công chức phải cẩn trọng
Trang 33* Bố trí sử dụng, phân công đội ngũ cán bộ công chức
Việc sử dụng, phân công đội ngũ CBCC cũng là một trong những nội dung của việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Với bất cứ nhân lực, nếu không được sử dụng một cách hợp lý, được đặt vào đúng vị trí phát huy sở trường của mình sẽ khó mà có tâm lý cống hiến vì công việc, tâm lý thỏa mãn trong công việc dẫn đến chất lượng làm việc giảm sút Việc sử dụng và bố trí đội ngũ CBCC phải thỏa mãn những yếu cầu như sau:
Sử dụng đội ngũ CBCC vì mục đích chung, cần tìm hiểu rõ chuyên ngành riêng, chuyên môn riêng của từng vị trí chức vụ cán bộ dể có thể sắp xếp vào công việc cùng chuyên môn Việc sử dụng đội ngũ CBCC không chỉ là làm công việc thường ngày mà còn góp phần làm cầu nối giữa nhân dân và cơ quan quản lý nhà nước
Sự dụng đội ngũ CBCC dựa trên những nhận định khách quan về công việc, những ưu điểm cũng như nhược điểm của đội ngũ CBCC mà bố trí, sắp xếp công việc sao cho phát huy được ưu điểm và hạn chế được nhược điểm của đội ngũ CBCC
* Công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức
Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức nói chung là nhiệm vụ thường xuyên, dài hạn mới mong có thể thay đổi trình độ chuyên môn, năng lực làm việc, đạo đức làm việc của đội ngũ CBCC Trong tình hình kinh tế- chính trị- văn hóa đang thay đổi từng ngày, việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ CBCC là tất yếu nhằm thực hiện quá trình đổi mới đất nước theo hướng CNH-HĐH, hòa vào xu thế của thế giới Trên cơ sở quy hoạch cán bộ và nhu cầu thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương, cấp Ủy xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể, phù hợp với từng chức danh, ngạch, bậc
Tập trung vào quan tâm đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng đào tạo chuyên sâu sau đại học để có đội ngũ trí thức
Trang 34giỏi trên từng ngành, lĩnh vực, nhất là những ngành, lĩnh vực có yêu cầu cao trong hội nhập quốc tế Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ phải gắn với việc sử dụng CBCC , tránh tình trạng đào tạo không đúng chuyên môn nghiệp vụ
Chú trọng xây dựng chương trình đào tạo thích hợp, từ cơ sở vật chất đến đội ngũ giáo viên có kiến thức sâu rộng, có cả kinh nghiệm thực tế trong ngành Đào tạo, bồi dưỡng nhiều mặt và trọn vẹn, từ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kĩ năng lãnh đạo đến kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực quản lý Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng CBCC cũng như các cấp phải luôn luôn được đổi mới, cập nhật liên tục theo tình hình kinh tế- chính tri- xã hội mới Các kiến thức và kỹ năng có được phải phù hợp, thiết thực với công việc mà CBCC đang làm trên địa bàn của họ để đảm bảo việc đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả, không xa rời thực tế
* Các chính sách đãi ngộ
Chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần: mọi hoạt động của con người suy cho cùng đều nhằm thoả mãn nhu cầu nhất định về vật chất hoặc về tinh thần Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất để con người tồn tại, phát triển về thể lực Nhu cầu về tinh thần là những điều kiện để con người tồn tại, phát triển về trí lực Để khuyến khích, động viên, tạo động lực cho đội ngũ CBCC nỗ lực làm việc trước hết phải thường xuyên chăm lo tới quyền lợi chính đáng của họ Do vậy, chính sách đãi ngộ đối với CBCC cần phải được xây dựng phù hợp, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực như: tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ ngơi… Đồng thời, cần phải kết hợp hài hoà cả về vật chất và tinh thần nhằm động viên, khuyến khích họ nỗ lực làm việc, đem hết tài năng, sức lực cho hoạt động, công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội
* Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra; công tác phát triển đội ngũ CBCC
Trang 35Việc thanh tra, kiểm tra công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC giữ vai trò quan trọng, giúp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trong các cơ quan, đơn vị Bên cạnh đó để nâng cao ý thức làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm của CBCC trong công việc Với những kết quả đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC tại đơn vị, cơ quan, cần thanh tra, kiểm tra kỹ càng và sát sao để nhận định được những phương pháp và cách làm khoa học, mang lại hiệu quả tốt Ngược lại kịp thời phát hiện những hoạt động dẫn đến những hạn chế về chất lượng của nguồn nhân lực mà gây ảnh hưởng, lãng phí đến kinh phí và thời gian của cơ quan, đơn vị Để từ đó tìm ra những biện pháp khắc phục một cách tốt nhất, nhanh nhất mang lại kết quả tốt nhất
Tuy nhiên thanh tra, kiểm tra công tác phát triển đội ngũ CBCC là công việc rất phức tạp, đòi hỏi thời gian, con người cũng như kinh phí trong quá trình thanh tra, kiểm tra, đòi hỏi sự minh bạch, công bằng từ phía tổ chức, cá nhân thực hiện Các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá phải công tâm khách quan Phải căn cứ vào tiêu chuẩn cụ thể, lợi ích chung của toàn cơ quan để đánh giá, áp dụng những phương thức và chương trình, nội dung phù hợp Kiên quyết loại bỏ những thói hư, tật xấu, những hành động làm ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC cũng như ảnh hưởng đến hoạt động chung tại cơ quan, đơn vị
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC
1.1.4.1 Các yếu tố khách quan
* Các yếu tố về chính sách
Chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBCC là hệ thống các quy định do nhà nước, địa phương đặt ra để tạo nguồn và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Chế độ, chính sách đối với CBCC bao gồm: Các quy định về ưu tiên tuyển dụng, ưu đãi, thu hút nhân tài vào đội ngũ CBCC , các quy định nhằm tạo điều kiện để CBCC có điều kiện học tập, câng cao trình độ, điều kiện bảo
Trang 36đảm môi trường làm việc thuận lợi, từng bước hiện đại hóa công sở, nhà công
vụ, trang thiết bị làm việc trong công sở, phương tiện để thi hành công vụ; bảo đảm sự quan tâm, hỗ trợ về vật chất khi CBCC gặp rủi ro trong công việc, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
Chế độ, chính sách đối với CBCC là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng CBCC Chế độ, chính sách là do con người tạo ra, nhưng đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách hợp lý có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của CBCC Vì vậy, việc nâng cao chất lượng CBCC phải gắn liền với đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách Trong đó tiền lương là một yếu tố quan trọng bậc nhất của quyền lợi CBCC Đối với CBCC tiền lương là sự bảo đảm về phương diện vật chất để thực thi công vụ, đồng thời cũng là sự đãi ngộ đối với họ và là yếu tố ràng buộc chặt chẽ họ với công vụ
Thể chế quản lý cán bộ, công chức: Do đặc điểm của đội ngũ CBCC có
tính thống nhất cao trong toàn hệ thống, chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật hiện hành nên nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC của UBND quận chịu sự tác động và chi phối của thể chế quản lý CBCC Thể chế quản lý CBCC nói chung bao gồm hệ thống luật pháp, các chính sách, chế độ liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển, luân chuyển,
đề bạt, chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ bằng vật chất và khuyến khích tinh thần thần… Thể chế quản lý CBCC còn bao gồm bộ máy, tổ chức nhà nước và các quy định về kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của CBCC , các quy định về khen thưởng, kỷ luật Hệ thống thể chế quản lý CBCC đầy
đủ, có chất lượng, được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, công khai, minh bạch, dân chủ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC các cấp
* Cơ cấu tổ chức bộ máy
Chất lượng của đội ngũ CBCC trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có số
Trang 37lượng, cơ cấu hợp lý so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Tính hợp lý được biểu hiện ở sự tinh giảm hợp lý, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt
và đạt hiệu quả cao nhất Một bộ máy cồng kềnh, một đội ngũ CBCC quá đông sẽ gây ra sự trì trệ trong công việc, trong điều hành, gây ra sự dư thừa, lãng phí nhân lực dẫn đến thiếu sự dựa dẫm, ỷ nại, không tạo được động lực làm việc cho mỗi cá nhân Cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả đội ngũ, tạo nên tính năng động, sáng tạo, sự phối hợp nhịp nhàng và hài hòa trong các hoạt động công vụ
* Thị trường lao động bên ngoài:
Điều kiện về thị trường lao động bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tuyển dụng CBCC Thị trường lao động được thể hiện qua cung và cầu lao động Khi cung lao động lớn hơn cầu lao động thì việc tuyển dụng CBCC là thuận lợi và ngược lại Khi đó, không chỉ tuyển được đủ số lượng CBCC theo chỉ tiêu mà cơ hội tuyển được những ứng viên tiềm năng là rất lớn Mặt khác, khi nói đến thị trường lao động không thể không nói đến chất lượng lao động cung ứng, nếu chất lượng lao động trên thị trường là cao và dồi dào thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng tuyển dụng Như vậy, xét về cả quy mô và chất lượng của cung cầu lao động trên thị trường lao động đều đồng thời ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến tuyển dụng CBCC
1.1.4.2 Các yếu tố chủ quan
* Công tác tuyển dụng và sử dụng công chức
Tuyển chọn và sử dụng công chức đúng người, đúng việc là một trong những yêu cầu, thách thức lớn đối với cơ quan nhà nước hiện nay
Tuyển dụng công chức là khâu quan trọng quyết định chất lượng của đội ngũ công chức Nếu công tác tuyển dụng công chức được thực hiện tốt,
Trang 38công khai, dân chủ, công bằng thì sẽ tuyển được những người thực sự có năng lực, trình độ và phẩm chất bổ sung vào đội ngũ CBCC và ngược lại
Tuyển dụng công chức phải đảm bảo nguyên tắc:
Công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật;
Đảm bảo tính cạnh tranh;
Tuyển chọn đúng người đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ;
Ưu tiên tuyển người có công, người dân tộc thiểu số
Tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và ví trí việc làm và căn cứ vào chỉ tiêu biên chế được giao
* Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Nói về vai trò của đào tạo con người, nhà nghiên cứu người Anh Alvin Toffer đã viết: “Con người nào không được đào tạo, con người đó sẽ bị xã hội loại bỏ Dân tộc nào không được đào tạo, dân tộc đó sẽ bị đào thải” Từ năm
1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến nền kinh tế, văn hóa” Vì thế, có thể nói giáo dục - đào tạo là con đường cơ bản để nâng cao kiến thức và trình độ lành nghề cho nguồn nhân lực, là chìa khoá để con người mở cửa tương lai đi vào các ngành, các lĩnh vực
Đào tạo, bồi dưỡng quyết định trực tiếp tới chất lượng chất lượng của đội ngũ CBCC Để đào tạo, bồi dưỡng mang lại hiệu quả như mong muốn, điều quan trọng là cần phải xác định một cách đúng đắn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, đối tượng đào tạo, chương trình và phương thức đào tạo phù hợp với từng loại đối tượng CBCC Nhu cầu đào tạo phải được xác định dựa trên phân tích và đánh giá công việc, nhu cầu của CBCC của từng cơ quan, từng ngành
và từng lĩnh vực
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải thiết thực, tránh dàn trải, chung chung; đào tạo nhiều kiến thức quản lý và các kỹ năng quản lý Áp dụng các
Trang 39hình thức đào tạo bồi dưỡng mới, như đào tạo bồi dưỡng theo chức danh và vị trí việc làm, gắn lý thuyết với thực hành
*Sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức
Sử dụng đội ngũ CBCC là một khâu rất quan trọng trong công tác quản
lý CBCC của Đảng và Nhà nước ta Việc sử dụng đội ngũ CBCC phải xuất phát từ mục tiêu lâu dài, đem lại hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của nền công vụ, phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và địa phương Bởi vậy, trong
sử dụng đội ngũ CBCC phải đảm bảo tính khoa học, dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tránh lãng phí chất xám
Sử dụng đúng, hiệu quả đội ngũ CBCC sẽ phát huy được trình độ, năng lực và các phẩm chất của đội ngũ CBCC , tạo động cơ làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền công vụ
* Đánh giá cán bộ, công chức và thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức
Đánh giá thực hiện công việc của CBCC đóng vai trò quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực và trong nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC Đánh giá thực hiện công việc không chỉ là cấp trên đánh giá cấp dưới mà còn
là việc tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng CBCC và sự đánh giá của cấp dưới đối với cấp trên Đánh giá thực hiện công việc nhằm xác định kết quả làm việc cụ thể của từng CBCC trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao
Muốn nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC cần đổi mới cơ bản chính sách đãi ngộ về vật chất đối với CBCC Căn cứ vào từng loại CBCC , vào trình
độ, số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của mỗi CBCC mà đảm bảo các chế độ tiền lương, phụ cấp, điều kiện và phương tiện làm việc, nhà ở phù hợp, đảm bảo cho CBCC có điều kiện học tập, tu dưỡng nâng cao trình độ và năng lực làm việc Tiền lương của CBCC phải thật sự trở thành thu nhập cơ bản của CBCC Tiền lương phải đủ đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động của công chức
Trang 401.2 cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
1.2.1 Kinh nghiệm các địa phương
Kinh nghiệm từ huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu
Huyện Sìn Hồ chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (CBCC ) nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện, nâng cao sự hài lòng của người dân đối với chính quyền, thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện ngày càng phát triển
Huyện Sìn Hồ có 81 CBCC cấp huyện, 411 CBCC cấp xã Tuy mặt bằng về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị cấp huyện, xã trên địa bàn huyện được nâng lên rõ rệt song chưa đồng đều, vẫn còn công chức chưa đạt chuẩn theo vị trí việc làm, trình độ chuyên môn và đào tạo theo quy định tại Quyết định số 17/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc ban hành quy định chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn đối với CBCC xã, phường, thị trấn trên địa bàn Chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số CBCC còn hạn chế, yếu kém, chưa tương xứng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc
Trước thực trạng đó, Phòng Nội vụ huyện thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ CBCC Ông Bùi Ngọc Toàn - Phó Phòng Nội vụ huyện cho biết: Xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC là việc làm thường xuyên và lâu dài Do vậy, Phòng
đã rà soát lại đội ngũ CBCC từ cấp xã tới huyện, xác định mặt mạnh, yếu của từng CBCC để xây dựng kế hoạch, lộ trình đào tạo, gắn với việc bố trí, sử dụng CBCC sau đào tạo Hướng dẫn, định hướng các xã, thị trấn lựa chọn CBCC ở các ngành, lĩnh vực còn yếu để tập trung bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước về công tác cán bộ Hàng năm,
tổ chức các cuộc họp sơ kết, tổng kết đánh giá về công tác cán bộ để phát hiện những nhân tố mới, những cách làm mới trong công tác cán bộ Đồng thời,