1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè tại công ty TNHH MTV chè phú bền huyện thanh ba tỉnh phú thọ

97 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm chè Việt Nam có mặt tại hơn 100 quốc gia, chủ yếu là Anh, Đức, Nhật Bản, Nga, Paskistan, Hoa Kỳ, Iran, Iraq… Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chè là cây công nghiệp mũi nhọn, thuộc ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

HOÀNG HUY ĐỒNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHÈ TẠI CÔNG TY TNHH MTV CHÈ PHÚ BỀN,

HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8310110

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN THỊ THU HÀ

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và nội dung trong luận văn là trung thực Kết quả của luận văn chƣa đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào

Tác giả

Hoàng Huy Đồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Thu Hà, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp, đã tận tình truyền đạt kiến thức suốt thời gian học tập, là nền tảng cơ sở cho quá trình nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn cơ quan: công ty TNHH MTV chè Phú Bền đã cho phép thu thập thông tin, số liệu để phục vụ cho quá trình nghiên cứu Trân trọng cảm ơn bà con nông dân đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các số liệu thực tiễn trong quá trình sản xuất của hộ giúp cho quá trình nghiên cứu được củng

cố thêm các dữ liệu thực tiễn

Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Ban lãnh đạo, các cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị, luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc

Trân trọng cảm ơn!

Thanh Ba, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Hoàng Huy Đồng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN……… i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 5

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

1.1.2. Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 9

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 10

1.2 Cơ sở thực tiễn sản xuất kinh doanh chè 11

1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật cây chè và SXKD chè 11

1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh chè trên thế giới 19

1.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh chè tại Việt Nam 20

Trang 6

1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 24

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ 26

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28

2.1.3.Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh chè……… 32

2.2 Đặc điểm của Công ty TNHH MTV chè Phú Bền 34

2.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 34

2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh 35

2.2.3 Khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV chè Phú Bền………… 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 45

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 45

2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 45

2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 46

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của Công ty TNHH MTV chè Phú Bền 48

3.1.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 48

3.1.2 Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 51

3.1.3 Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội 65

3.1.4 Đánh giá hiệu quả về môi trường 66

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty 68

3.2.1 Các yếu tố bên trong 68

3.2.2 Các yếu tố bên ngoài 70

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của Công ty 72

Trang 7

3.3.1 Đánh giá chung 723.3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của Công ty 73KẾT LUẬN 80TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ROS: Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu

ROA: Tỷ suất lợi nhuận/vốn

ROE: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

CBCNV: Cán bộ công nhân viên

RA: Chứng chỉ của Rainforest Alliance

MRL: Nồng độ tối đa của thuốc bảo vệ thực vật

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình lao động và dân số huyện Thanh Ba giai đoạn 2015-2017 29

Bảng 2.2 Bảng thống kê các loại chè đen công nghệ OTD 38

Bảng 2.3 Bảng thống kê các loại chè đen công nghệ CTC 39

Bảng 3.1 Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV Chè Phú Bền 49

Bảng 3.2 Tỷ trọng tiêu thụ chè 51

Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng tài sản cố định giai đoạn 2015 - 2017 52

Bảng 3.4 Hiệu quả sử dụng vốn cố định 53

Bảng 3.5 Giá trị vốn lưu động 2015-2017 55

Bảng 3.6 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2015 - 2017 55

Bảng 3.7 Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh 57

Bảng 3.8 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu 58

Bảng 3.9 Tình hình lao động 60

Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động 61

Bảng 3.11 Điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với công nhân 62

Bảng 3.12 Tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất 64

Bảng 3.13 Đánh giá chi phí nguyên, nhiên liệu trong dòng thải 65

Bảng 3.14 Tình hình sản xuất chè tại hộ nông dân 67

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức tại công ty TNHH MTV Chè Phú Bền 35

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình sản xuất chè tổng quát 40

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ sơ lƣợc dây chuyền công nghệ chế biến sản phẩm chè CTC 41

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Từ những năm đổi mới cho đến nay, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng với

sự nỗ lực của toàn dân dựa trên những nguồn lực sẵn có, đồng thời tiếp thu thành tựu từ bên ngoài đã góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho người dân và đảm bảo an sinh xã hội Với đặc điểm địa hình, khí hậu đã tạo cho nước ta những lợi thế phát triển một số ngành nông nghiệp, là tiền đề để đổi mới nền kinh tế đất nước Trong đó, cây chè được lựa chọn là một cây trồng chủ đạo ở nhiều địa phương trong cả nước Hiện nay, Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với hơn 130 nghìn tấn chè khô, kim ngạch đạt 230 triệu USD Sản phẩm chè Việt Nam có mặt tại hơn 100 quốc gia, chủ yếu là Anh, Đức, Nhật Bản, Nga, Paskistan, Hoa Kỳ, Iran, Iraq…

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chè là cây công nghiệp mũi nhọn, thuộc chương trình kinh tế nông nghiệp trọng điểm của tỉnh, là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng sâu, vùng xa.Đã từ lâu, cây chè bén rễ thích nghi ở hầu hết các địa phương trong tỉnh Mỗi vùng đất với điều kiện thổ nhưỡng khác nhau nên đã đem lại cho sản phẩm chè Phú Thọ nhiều hương vị đặc trưng riêng Các địa phương trong tỉnh hiện đang tập trung phát triển cây chè bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa với các sản phẩm đa dạng có chất lượng đảm bảo an toàn thực phẩm mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao giá trị thu nhập cho người sản xuất và kinh doanh chè.Hiện nay cây chè đã được trồng ở 90 % số xã, thị trấn, tập trung nhiều ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Ba, Đoan Hùng, Hạ Hòa… Với

Trang 12

diện tích hiện có trên 170 ngàn ha, cộng với hàng trăm cơ sở chế biến lớn, nhỏ , các hoạt động thương mại… ngành chè thực sự giải quyết việc làm cho lực lượng rất lớn lao động của tỉnh Hầu hết những xã trồng chè đời sống nhân dân ổn định, kinh tế khá hơn những địa phương cùng điều kiện chỉ phát triển một số cây trồng khác Cùng với đó việc trồng chè còn góp phần rất lớn vào phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường

Trên địa bàn tỉnh có 12 làng nghề sản xuất, chế biến chè, 56 doanh nghiệp chế biến chè đen, chè xanh và các loại chè cao cấp có công suất từ 1 tấn búp tươi/ngày trở lên và khoảng 700 hộ, cơ sở chế biến nhỏ với tổng công suất ước đạt trên 260 ngàn tấn/năm, lợi nhuận của người trồng chè đạt 18,5 triệu/ha Hằng năm, sản lượng chè khô các loại của tỉnh đạt khoảng 54 - 55 nghìn tấn, trong đó khoảng hơn 30 nghìn tấn chè khô các loại xuất bán trực tiếp ra nước ngoài, còn lại bán qua các doanh nghiệp trong nước

Tuy nhiên, sự phát triển này còn chưa xứng với tiềm năng của tỉnh Chè xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, các sản phẩm chế biến tinh còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập nhưng việc đầu tư vào mở rộng vùng nguyên liệu chưa được chú trọng dẫn đến tình trạng doanh nghiệp chỉ hoạt động được 60-70% công suất; công nghệ còn lạc hậu và trình độ quản lý còn chưa cao nên chất lượng, giá trị sản phẩm thấp, khó cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước

Việc nghiên cứu hoạt động sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là yêu cầu hết sức cấp thiết Chính vì vậy,

tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè

tại Công ty TNHH MTV chè Phú Bền, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”

làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học

Lâm nghiệp

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV chè Phú Bền, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của công ty

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sản xuất kinh doanh chè tại

Công ty TNHH MTV chè Phú Bền

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: đề tài đƣợc thực hiện tại công ty TNHH một thành

viên chè Phú Bền

- Phạm vi thời gian: số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ năm 2014 đến năm 2017

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè nói riêng;

- Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chè tại Công ty TNHH MTV chè Phú Bền;

Trang 14

- Các yêú tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chè tại Công ty TNHH MTV chè Phú Bền;

- Giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chè tại công ty TNHH một thành viên chè Phú Bền

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;

Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT

KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Hiệu quả sản xuất kinh doanh: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một

phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Có quan điểm cho rằng: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó", [7, trang 275] Quan điểm này đã đề cập tới khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Trên góc độ này

rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất làm cho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết đây là mức hiệu quả cao nhất

mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được trên giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Một số nhà quản trị học lại quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả

đó Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh

Trang 16

Quan điểm khác lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội xã hội chủ nghĩa Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục đích nhất định

Trong những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và những yếu tố hợp thành phạm trù hiệu quả vận động theo những khuynh hướng khác nhau

Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và do vậy quyền lợi về kinh tế, chính trị đều dành cho nhà tư bản Chính vì thế việc phấn đấu tăng hiệu quả kinh doanh thực chất là đem lại lợi nhuận nhiều hơn nữa cho nhà tư bản nhằm nâng cao thu nhập cho họ, trong khi thu nhập của người lao động có thể thấp hơn nữa Do vậy, việc tăng chất lượng sản phẩm không phải là để phục vụ trực tiếp người tiêu dùng mà để thu hút khách hàng nhằm bán được ngày càng nhiều hơn và qua đó thu được lợi nhuận lớn hơn

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phạm trù hiệu quả vốn tồn tại vì sản phẩm sản xuất xã hội sản xuất ra vẫn là hàng hoá Do các tài sản đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, toàn dân và tập thể, hơn nữa mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng khác mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội nên bản chất của phạm trù hiệu quả cũng khác với tư bản chủ nghĩa

Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều

ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh

- Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá",[kinh tế thương mại dịch vụ - NXB thống kê, 1998] Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng

Trang 17

sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả

- Quan điểm nữa cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế Tuy nhiên chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh được hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này [8]

- Quan điểm khác nữa lại cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với ý nghĩa là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh" Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó.[8]

Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn ) để đạt được mục tiêu xác định Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào

Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn

- Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình

độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức

Trang 18

sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại

- Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội

là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội

Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường

- Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu

ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất

và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Trang 19

Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

1.1.2 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải

sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình

Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất: trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa

Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Với tư cách một công cụ đánh giá và

Trang 20

phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn được sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Và như đã lưu ý, do phạm trù hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi nó không phải chỉ như phương tiện để đạt

kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần đạt

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp

Thị trường là nơi diễn ra mọi hoạt động giao dịch buôn bán, là nơi xuất hiện các cuộc cạnh tranh gay gắt cả về giá cả, chất lượng mẫu mã, quy cách, chủng loại sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần chiếm lĩnh được thị trường Đó là yếu tố quyết định cũng

là yếu tố phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thị trường đầu vào ảnh hưởng tới tính liên tục và tính hiệu quả sản xuất Nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung ứng cho thị trường đầu ra của doanh nghiệp

Thị trường đầu ra của doanh nghiệp quyết định quá trình tái sản xuất

mở rộng và hiệu quả kinh doanh Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu thị trường, thị hiếu khách hàng và khả năng của bản thân doanh nghiệp đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất

- Nhân tố con người:

Nhân tố con người trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng vì con người là chủ thể quả quá trình sản xuất kinh doanh, trực tiếp tham giá vào hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó nhân tố con người ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh

Trang 21

Do nhân tố con người có tầm quan trọng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có

kế hoạch đào tạo tay nghề cho lao động, đảm bảo quyền làm chủ của mỗi cá nhân, chăm lo tới đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân viên, đồng thời có hình thức thưởng phạt hợp lý nhằm khuyến khích người lao động có ý thức trách nhiệm, tâm huyết với doanh nghiệp và từ đó luôn sẵn sàng làm việc hết khả năng

- Nhân tố về quản lý:

Bộ máy quản lý gọn nhẹ hoạt động có hiệu quả cao sẽ cho phép doanh nghiệp sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp lãnh đạo doanh nghiệp đề ra những quyết định chỉ đạo kinh doanh chính xác, kịp thời và nắm bắt được thời cơ Để quản lý tốt, doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ quản lý nhanh nhạy, nhiệt tình và

có kinh nghiệm

- Nhân tố về kỹ thuật và công nghệ:

Kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nó cho phép doanh nghiệp nâng cao năng xuất chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

1.2 Cơ sở thực tiễn sản xuất kinh doanh chè

1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật cây chè và SXKD chè

Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế

để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại

bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu

tư sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất

Trang 22

lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè

Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè:

a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

- Đất đai và địa hình: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản

xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Yếu tố đất đai cho phép quyết định chè được phân bổ trên những vùng địa hình khác nhau

Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở

độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 - 800m So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu

về đất không nghiêm ngặt Nhưng để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua

và thoát nước Độ pH thích hợp là 4,5 - 6,0 đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm mực nước ngầm phải dưới 1m Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng

và chất lượng chè Chè trồng trên núi cao có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn ở vùng thấp

- Thời tiết khí hậu: Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm

độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè

Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 - 40000C Nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích luỹ tanin trong chè, nếu nhiệt độ vượt quá 350C liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù

Cây chè tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Tuỳ theo giống và tuổi của chè mà yêu cầu

Trang 23

ánh sáng cũng khác nhau Thời kỳ cây con, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn trong thời kỳ cây trưởng thành và giống lá chè nhỏ

Do cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85% Ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong năm

b Nhóm nhân tố về kỹ thuật

- Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất dài,

giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913, Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng di truyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt Theo ông, để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước:

Bước 1: Nghiên cứu vật liệu cơ bản

Bước 2: Chọn hạt

Bước 3: Lựa chọn trong vườn ươm

Bước 4: Nhân giống hữu tính và vô tính

Bước 5: Chọn dòng

Bước 6: Lựa chọn tiếp tục khi thu búp ở các dòng chọn lọc

Bước 7: Thử nghiệm thế hệ sau

Trang 24

Lựa chọn thế hệ sau được tiến hành theo các đặc tính của tính trạng bên ngoài của cây như: Thân, cành, lá, búp, hoa, quả

Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định, mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè Vì vậy, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện mỗi vùng

Để đáp ứng yêu cầu kế hoạch sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài

- Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng

nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao

- Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè

cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộ vào giống chè, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại,

vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý

- Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng

Trang 25

đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu

Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiền từ những kinh nghiệm của thực tiến sản xuất Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh Ba - Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: "Năm đốn - năm lưu"

Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú

Hộ - Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

Đốn Phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm

Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65cm Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40

- 50cm Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10 - 15cm

Nghiên cứu về đốn chè các tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979), Đỗ Ngọc Quỹ (1980) đều cho thấy: đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vừa tầm hái

- Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng

nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt

Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi

Trang 26

trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể thiếu được Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 - 60%

Hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè, kết quả nghiên cứu trong 10 năm cho (1988-1997) ở Phú Hộ cho thấy:

Đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến Lân và Kali đối với sinh trưởng của chè nhỏ tuổi

Đạm và Lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò của tổ hợp Đạm và Kali Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè ở các giai đoạn khác nhau, tác giả Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức 1998 cho thấy: phân lân có vai trò với sinh trưởng

cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con

Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc chỉ bón mỗi đạm Thời kỳ đầu của giai đoạn kinh doanh

sự sinh trưởng tán chè tiếp tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm Như vậy, cây chè cần được cung cấp N, P, K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất

- Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến

chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè

Trang 27

- Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái

có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h

do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè

- Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản

phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gòm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm

Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè - Làm héo - Vò - Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằng máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè

Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: từ chè búp xanh (1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 1000

C với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm bớt tỷ

lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn (chú ý nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy thuộc vào khách hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu nước xanh óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi

Chế biến chè vàng: Yêu cầu của việc chế biến khác với chè xanh và chè đen, chè vàng là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công

c Nhóm nhân tố về kinh tế

- Thị trường và giá cả: Kinh tế học đã chỉ ra 3 vấn đề kinh tế cơ bản: sản

Trang 28

xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất phải trả lời cho được, để trả lời câu hỏi này người sản xuất tìm kiếm thị trường, tức là xác định được nhu cầu

có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận ở mức độ nào, giá cả có phù hợp hay không,

từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện

Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng và tập trung vào hai loại chè chính là chè đen và chè xanh Chè đen được bán ở thị trường Châu Âu và Châu Mỹ, còn chè xanh được tiêu thụ ở thị trường Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc ) Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường chè cần lưu ý tới độ

co giãn cung cầu về chè

Cuối cùng là vấn đề sản xuất cho ai Ở đây muốn đề cập tới khâu phân phối Hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào? ai là người được hưởng lợi ích từ việc sản xuất đó, cụ thể là bao nhiêu? Có như vậy mới kích thích được sự phát triển sản xuất có hiệu quả

Thực tế cho thấy rằng, thực hiện cơ chế thị trường, sự biến động của cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó, việc ổn định giá cả và

mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp

Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường chè, một yếu tố cần thiết là hệ thống đường giao thông Phần lớn những vùng sản xuất chè xa đường quốc lộ rất khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đường giao thông kém, đi lại khó khăn nên người sản xuất thường phải bán với giá thấp do tư thương ép giá, làm hiệu quả sản xuất thấp Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát triển ngành chè trong tương lai cần thiết phải có hệ thống giao thông thuận lợi

để nâng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Trang 29

- Cơ cấu sản xuất sản phẩm: Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có ý

nghĩa thực tiễn cao, vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội Đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường và tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá nhưng đồng thời phải phát huy những mặt hàng truyền thống đã có kinh nghiệm sản xuất, chế biến, được thị trường chấp nhận

1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh chè trên thế giới

Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến châu Phi Trong đó, có một số nước

có diện tích và sản lượng chè lớn, có ưu thế và truyền thống trong nghề trồng chè điển hình như:

Trung Quốc: Nghề trồng chè của Trung Quốc đã có một lịch sử lâu

đời Người Trung Quốc uống chè đã có hơn 4 nghìn năm lịch sử, trong sinh hoạt hằng ngày của người Trung Quốc không thể thiếu một loại nước giải khát đó là trà, trà được liệt vào một trong 7 thứ quan trọng trong cuộc sống Chè được trồng chủ yếu ở 15 tỉnh: Chiết Giang, An Huy, Hồ Nam, Đài Loan,

Tứ Xuyên, Vân Nam, Phúc Kiến, Hồ Bắc, Giang Tây, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tô, Thiểm Tây, Hà Nam Trung Quốc là nước có sản lượng chè cao nhất thế giới, có khoảng 70% sản lượng phục vụ cho nhu cầu trong nước, còn lại là xuất khẩu Trung Quốc có rất nhiều giống chè, trong đó chủ yếu là giống chè Trung Quốc lá to và lá trung bình

Ấn Độ: Ấn Độ bắt đầu trồng chè vào khoảng từ năm 1834 – 1840 Đặc

điểm sản xuất chè của Ấn Độ là trồng tập trung, giống chè lá to, trồng cây bóng râm cho chè và áp dụng phương pháp hái chừa nhiều lá Do điều kiện khí hậu thích hợp, những năm gần đây, Ấn Độ đã đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè Hàng năm, Ấn Độ xuất khẩu trên 25% sản lượng, còn lại là phục vụ thị trường trong nước

Sri Lanka: Sri Lanka bắt đầu trồng chè vào khoảng từ năm 1837 –

Trang 30

1840, nhưng thực sự phát triển từ năm 1867 – 1873 (sau khi các vườn cà phê

bị tiêu diệt bởi bệnh nấm Hemileia vastatrix) Chè Sri Lanka tập trung ở các tỉnh miền trung, miền Tây và Tây Bắc Đây là nước có thị phần xuất khẩu cao trên thế giới, hầu hết các sản phẩm làm ra đều phục vụ cho xuấtkhẩu

Nhật Bản: Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc

(năm 805 – 814) Nhật Bản là nước kinh doanh chè theo phương thức tiểu nông, diện tích không lớn song khu vực chè tương đối tập trung, giống chè chủ yếu là giống lá nhỏ, chế biến chè xanh là chính Quản lý vườn chè chu đáo, lượng phân bón 20ang nhiều, hái bằng kéo Nhật Bản sản xuất 85.900 tấn chè/năm, và với số lượng người uống trà đông đảo, mặc dù sản lượng cao nhưng lượng xuất khẩu của Nhật Bản chỉ chiếm 2% trong số 20ang nghìn tấn

họ sản xuất ra 99,9% giống trà của Nhật được trồng và sản xuất là trà xanh, không chỉ phổ biến mà nó trở thành lựa chọn mặc định trong nước

Inđônêxia: Indonesia đã bắt đầu sản xuất chè từ năm 1700, và được

biết đến với các cây trồng mang đến từ chủ nghĩa thực dân Hà Lan Nền văn hóa trà đã không phát triển và phổ biến được ở các miền địa phương giống như cách nó đã làm với các nhà sản xuất thuộc địa khác Trong năm 2015, Indonesia sản xuất 150.100 tấn trà và tới 65% số đó được xuất khẩu

Indonesia tập trung chủ yếu sản xuất chè đen, và một lượng nhỏ trà xanh khác Tại Indonesia, giống chè rất đa dạng vì thế sản phẩm được sản xuất ra được pha trộn các loại khác nhau

1.2.3 Tình hình sản xuất kinh doanh chè tại Việt Nam

Chè là một trong những mặt hàng nông nghiệp chủ lực có giá trị và chất lượng rất cao ở Việt Nam Nghề trồng chè Việt Nam đã có từ lâu, nhưng cây chè được khai thác và trồng với diện tích lớn mới bắt đầu khoảng hơn 50 năm nay Trong các vùng trồng chè, chè là nguồn thu nhập chủ yếu, góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Việc sản xuất

Trang 31

và cung cấp chè vừa có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trong nước và nhu cầu xuất khẩu Chính bởi vậy, so với các loại cây trồng khác ở Việt Nam, chè là một trong những cây có ưu thế nhất cả về điều kiện khí hậu và nguồn lực lao động

Chính phủ và Nhà nước cũng có nhiều chính sách quan tâm đặc biệt tới phát triển và quản lý ngành chè tại Việt Nam theo hướng quy mô hóa những vùng trồng chè trọng tâm, nâng cao chất lượng sản phẩm chè và tăng sản lượng xuất khẩu chè hàng năm Với quỹ đất dồi dào và điều kiện khí hậu phù hợp để cây chè phát triển Khắp nơi trên cả nước, đâu đâu cũng có thể trồng chè từ trung du, đồng bằng đến vùng núi cao quanh năm mây mù bao phủ Ở miền Nam, chè được trồng chủ yếu ở hai tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai, ở miền Bắc là các tỉnh: Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai… Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới chỉ sau Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Sri Lanka và ngang hàng với Indonesia

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong năm 2015, xuất khẩu chè đạt hơn 130 nghìn tấn, với kim ngạch đạt 228,5 triệu USD, giảm 0.4 % về giá trị

so với năm trước Tổng diện tích đất trồng chè của nước ta hiện nay khoảng 125.000 ha Trong đó, diện tích chè đang cho thu hoạch là 113.000 ha, năng suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/1ha Số cơ sở sản xuất chế biến chè trên cả nước trong năm 2015 gồm trên 1000 cơ sở, với tổng công suất trên 500.000 tấn chè khô một năm Theo đánh giá của các chuyên gia, đây là một con số chưa thể đáp ứng với kỳ vọng và tiềm năng phát triển của ngành chè nước ta

Theo số liệu của Hiệp hội chè Việt Nam, năm 2015, lượng chè xanh có giá xuất khẩu cao được xuất đi nhiều hơn, chiếm tới 60% tổng lượng chè xuất khẩu, tăng hơn 10% so với năm trước

Lâm Đồng là tỉnh trồng và chế biến chè lớn nhất cả nước, diện tích

Trang 32

trồng chè lên tới hơn 25.000 ha, tạo việc làm cho 50 vạn lao động, hiện có 74 doanh nghiệp và hơn 10.000 hộ kinh doanh, trồng và chế biến chè… Cây chè được xác định là cây trồng thế mạnh của Lâm Đồng, công tác nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển ngành chè rất được chú trọng Trong những năm qua thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi, theo chủ trương của tỉnh, đẩy mạnh việc trồng các giống chè cành cao sản: TB 14,

LĐ 97, LDP 1 và các giống chè cành chất lượng cao như: Kim Tuyên, Tứ Quý, Thúy Ngọc, Olong được chú trọng phát triển Bên cạnh các chương trình trợ giá giống cây trồng, chính sách hỗ trợ của nhà nước sự phát triển nhanh diện tích các giống chè cành cao sản, các giống chè cành chất lượng cao trong những năm qua có sự đóng góp của quá trình chuyển giao và ứng dụng kỹ thuật; đặc biệt là kỹ thuật nhân giống chè cành, chè ghép

Thái Nguyên là một trong những tỉnh có diện tích và sản lượng chè lớn của cả nước, chỉ đứng sau tỉnh Lâm Đồng Diện tích chè của tỉnh có hơn 18.600 ha, trong đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn Từ lâu, Thái Nguyên đã nổi tiếng với vùng chè Tân Cương bao gồm 3 xã Phúc Xuân, Phúc Trìu và Tân Cương, có tổng diện tích 4.861,8 ha.Để đảm bảo chất lượng chè nguyên liệu, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ nông dân đầu tư thâm canh trong đó có áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) Từ năm 2009, mô hình đầu tiên sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP đã được thực hiện ở xã Hòa Bình (Đồng Hỷ), sau đó tiếp tục được triển khai tại nhiều địa phương Hiện nay, toàn tỉnh

có 15 mô hình chè VietGAP ở các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Định Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Lương và T.P Thái Nguyên, với tổng diện tích khoảng 500ha Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 29 doanh nghiệp, trong đó có 17 doanh nghiệp có hoạt động thu mua chè búp tươi để chế biến sản phẩm, sản lượng chế biến đạt 37.400 tấn, trong đó chế biến công nghiệp đạt 6.385 tấn,

Trang 33

bằng 17% tổng sản lượng Sản phẩm chè chế biến công nghiệp chủ yếu là sản xuất chè đen, chè xanh để xuất khẩu Còn lại phần lớn sản lượng chè được chế biến thủ công với nguyên liệu chè búp tươi được nông dân sơ chế bằng máy sao tôn quay, máy vò, chỉ có vùng chè đặc sản mới chế biến chè thành phẩm Chè Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội địa chiếm 70% với sản phẩm là chè xanh, chè xanh đặc sản, chỉ có khoảng 30% sản lượng chè chế biến được xuất khẩu, giá xuất

từ 1.400-1.500 USD/tấn, thị trường nhập khẩu chủ yếu là các nước Trung Đông, một số nước Châu Á và Đông Âu

Tại tỉnh Yên Bái hiện có 12.290 ha chè, gồm: diện tích chè vùng thấp chiếm 78%, chè vùng cao chiếm 28%, với thương hiệu nổi tiếng là chè shan Suối Giàng Năm 2017 là một năm khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất chế biến chè nói riêng Song, với sự quyết tâm chỉ đạo của các cấp, ngành, sự nỗ lực của nông dân, sản xuất kinh doanh chè đã thêm một năm vượt khó Sản lượng chè búp tươi đạt trên 81.000 tấn, bằng 101,25% kế hoạch, tăng 0,41%, tương đương 333 tấn so với 2016 Đáng chú ý là, sản lượng chè búp tươi đạt chất lượng cao, trên 11.000 tấn - một con số mà nhiều địa phương làm chè mơ ước trong bối cảnh sản xuất chè hiện nay

Để nâng cao chất lượng, giá trị sản xuất, kinh doanh chè, Yên Bái đã có những sự chỉ đạo quyết liệt, đầu tư thỏa đáng cho các vùng chè Những diện tích chè già cỗi được trồng thay thế bằng các giống chè nhập nội, chè lai như: Kim tuyên Thúy Ngọc, Hồng Bạch trà đến Phúc Vân tiên, Bát tiên rồi đến chè lai LDP1, LDP2 Từ một tỉnh lúc đầu chỉ có giống chè trung du, nay Yên Bái đã có các giống chè nhập nội, giống mới lai tạo đáp ứng cho chế biến chè chất lượng cao

Phú Thọ được xem như cái nôi của ngành chè Việt Nam Năm 1885 Pháp đã tiến hành khảo sát về cây chè trên đất Phú Thọ và về sản xuất chè ở

Trang 34

Việt Nam Đến giai đoạn 1890 – 1891 tại vùng giữa sông Đà và sông Hồng một đồn điền kinh doanh chè đầu tiên đã được xây dựng tại xã Tình Cương (Cẩm Khê) với diện tích 60ha Sau khi nghiên cứu về nông học, để khai thác hết các tài nguyên thế mạnh của vùng trung du miền núi, năm 1918 toàn quyền Đông Dương đã ký quyết định thành lập Trại nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ, tiền thân của Viện nghiên cứu chè ngày nay…

Với ưu thế về đất đai, khí hậu tập quán và truyền thống lâu đời của người dân làm chè Phú Thọ có một lợi thế lớn về sản xuất và chế biến chè, lại

có hệ thống đường xá giao thông cả ba tuyến rất thuận lợi: Chính vì những thế mạnh đó mà ngay từ sau năm 1956 khu công nghiệp chế biến chè đầu tiên của

cả nước do Liên Xô giúp đỡ xây dựng tại Đào Giã (Thanh Ba) và Hương Xạ (Hạ Hòa) tiếp theo đó đến những năm 1970 các nhà máy Đoan Hùng, Thanh Sơn Năm 2015 năng suất chè búp tươi đạt 9,5 tấn/ha, giá trị bình quân đạt

35 - 38 triệu đồng/ha Hiện nay, 80% sản lượng chè của Phú Thọ dành cho xuất khẩu, đạt kim ngạch hơn 15 triệu USD/năm Sản phẩm chè của tỉnh Phú Thọ không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Đức, Anh, Pakistan Đặc biệt, sản phẩm chè của Phú Thọ đã xâm nhập một số thị trường khó tính như: Đức, Mỹ, Hà Lan, Nhật Ngoài 2 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty Chè Phú Bền, Công ty Chè Phú Đa), trên địa bàn tỉnh còn có một số doanh nghiệp

có khối lượng sản phẩm chè xuất khẩu lớn như: Công ty TNHH MTV chè Phú Bền, Công ty cổ phần Chè Phú Thọ, Công ty Chè Đại Đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Chè Hưng Hà

1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, là cơ sở cho việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh

tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất

Trang 35

để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề quan trọng, được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Con đường cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh là tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu hoặc giảm chi phí, hoặc làm cho tốc độ tăng doanh thu phải nhanh hơn tốc độ tăng chi phí

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, có một số đề tài đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này, cụ thể như:

Lê Lâm Bằng (2008), khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, kết quả phân tích cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh chè cao hơn so với các loại ăn quả như nhãn, vải, bưởi

Tài liệu “ Đầu tư phát triển ngành chè Việt Nam – thực trạng và giải pháp” đã nêu rõ, để đầu tư phát triển ngành chè, cần chú trọng giải quyết các vấn đề về vốn đầu tư; nguồn nhân lực; trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật từ khâu nông nghiệp đến khâu sản xuất chế biến, từ khâu nguyên liệu đến khâu tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường ở trong và ngoài nước; trình độ quản lý vĩ mô toàn ngành và năng lực quản ly vi mô trong từng doanh nghiệp

Mạc Thị Khánh Linh (2011) khi nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh chè tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, qua kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất chè búp tươi bao gồm: trình độ học vấn, số lượng lao động, diện tích đất đai, vốn đầu tư

Lê Diên Dũng (2013), nghiên cứu giải pháp nâng cao giá trị gia tăng trong xuất khẩu chè Phú Thọ chỉ ra cơ cấu chuỗi giá trị mặt hàng chè xuất khẩu Phú Thọ: sản xuất, thu mua – chế biến, tiêu thụ

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

độ Đông Địa giới hành chính tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:

- Phía Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng;

- Phía Tây Bắc giáp huyện Hạ Hoà;

- Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê;

- Phía Nam giáp huyện Tam Nông;

- Đông Nam giáp thị xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh

Thị trấn Thanh Ba là trung tâm của huyện Thanh Ba, cách thành phố Việt Trì khoảng 40 km về phía Tây Bắc

Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 78.813 ha gồm có 26 đơn

vị hành chính (25 xã và 1 thị trấn) Huyện có các tuyến đường: ĐT311, ĐT312, ĐT315 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy suốt chiều dài huyện (21,6km), tuy đường giao thông chưa thật thuận tiện cho giao thương với các vùng, song vị trí này là cửa ngõ nối liền một số huyện nên giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giao thương giữa các tỉnh, huyện bạn

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình thổ nhưỡng

Thanh Ba là huyện miền núi của tỉnh có độ dốc thấp dần theo hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam Nhìn chung địa hình, địa mạo của huyện được chia thành 2 dạng chính:

- Địa hình đồng bằng phù sa: Đây là dải đất phù sa bằng phẳng, màu mỡ

Trang 37

nhưng hẹp chạy dọc theo Sông Hồng Dải đất phù xa này có độ dốc <30

Địa hình này tạo thế mạnh trong phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp

ở vùng phía bắc huyện và tiềm năng phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản

2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết, thủy văn

Huyện Thanh Ba nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, đặc điểm mùa này là nhiệt độ cao, mưa nhiều, mùa đông bắt đầu từ tháng 11

và kết thúc vào tháng 3 của năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,20C, nhiệt độ cao nhất khoảng 380C, nhiệt độ thấp nhất trong năm khoảng

60C Độ ẩm bình quân năm 84% Lượng mưa bình quân hàng năm 1.500 mm - 1.800 mm, năm có lượng mưa cao từ 2.400 mm - 2.420 mm, thấp nhất khoảng 1.100 mm - 1.200 mm

Thanh Ba có mạng lưới thủy văn đa dạng, có sông Hồng chảy qua huyện với chiều dài 32 km với lưu lượng nước dồi dào là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp, cùng với Sông Hồng là khoảng 750ha diện tích mặt nước ao, hồ, đầm Chính Công, tuy các ao, hồ, đầm không nhiều và phân bố không đồng đều trên địa bàn nhưng cũng rất quan trọng trong việc cung cấp nước cho các xã trong toàn huyện Nhìn chung nguồn tài nguyên nước huyện Thanh Ba dồi dào, nguồn nước không bị ô nhiễm chất lượng tốt đảm bảo cung cấp đầy đủ cho sản xuất Nông - Lâm - Nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

Trang 38

2.1.1.5 Đặc điểm và tình hình sử dụng đất đai

Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Đất là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư và xây dựng các cơ sở kinh

tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng

Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai thế nào cho có hiệu quả nhất lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương Vì thế việc sử dụng đất đai có hiệu quả đã trở thành một nhiệm vụ có tính chất chiến lược nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của xã hội

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động ở nông thôn huyện Thanh Ba

Dân số là cơ sở để phát triển nguồn lao động Chất lượng nguồn lao động lại là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế

Huyện Thanh Ba có gần 179.532 người (năm 2017) thuộc nhiều dân tộc như: Kinh, Dao, Cao Lan Dân cư phân bố không đều theo lãnh thổ, phần lớn tập trung đông tại các khu trung tâm cụm xã, thị tứ và thị trấn như Đồng Xuân, Thanh Xá và thị trấn Thanh Ba Lao động của huyện có 97.664 người (chiếm 54% dân số), trong đó 91% số lao động sống ở nông thôn, trên 94% lao động làm nông nghiệp Những tỷ lệ này khá ổn định cùng với sự gia tăng của dân số Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ làm nông nghiệp đang có xu hướng giảm

Trang 39

Bảng 2.1 Tình hình lao động và dân số huyện Thanh Ba giai đoạn

2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % 14,7 11,95 10,97

3 Tỷ lệ dân số ở k/v nông thôn % 92 92 92

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Thanh Ba)

Trong những năm gần đây, mặc dù tỷ lệ sinh trên địa bàn huyện có biến động theo chiều hướng giảm, nhưng tỷ lệ này còn ở mức cao 16,87% (năm

Trang 40

2016), tỷ lệ tử là 5,9% (năm 2016) Do đó, tốc độ phát triển dân số của huyện không giảm, bình quân dân số giai đoạn 2005 - 2017 tăng 0,77% tương ứng với gần 1.349 người Như vậy, dân số của huyện có xu hướng tăng nhẹ trong thời gian tới, đảm bảo cung cấp nguồn lao động dồi dào cho huyện trong phát triển kinh tế

2.1.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng

Cơ sở vật chất là điều kiện cơ bản để thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển Nhìn chung tình hình cơ sở vật chất của huyện vẫn chưa đảm bảo được sự phát triển về mặt văn hóa - tinh thần cho người dân cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, huyện đã cố gắng tạo điều kiện cải thiện hệ thống cơ

sở vật chất cho các xã, thị trấn

* Hệ thống đường giao thông

- Đường bộ: Quốc lộ có tuyến quốc lộ số 3 dài 22,0 km, đường đã trải nhựa Đường tỉnh có 4 tuyến (ĐT 311, ĐT312, ĐT 313, ĐT318) với tổng chiều dài 77,5 km

- Đường thuỷ: Trải dài với 32,0km Sông Hồng chảy dọc địa phậnhuyện

- Đường sắt: Địa bàn huyện có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạyqua tổng chiều dài 21,6km, đây là tuyến liên vận huyết mạch nối liền Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và đi Trung Quốc

Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông của huyện đã được đầu tư

mở rộng đáp ứng sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội, thuận lợi cho giao thương hàng hóa, đi lại của nhân dân trong huyện Nhiều tuyến đường được nâng cấp và xây dựng mới, kể cả hệ thống giao thông nông thôn

Toàn huyện hiện có trên 100 km đường quốc lộ và trên 200 km đường giao thông liên xã Những tuyến quốc lộ qua huyện đều được trải nhựa, hàng năm thường xuyên được duy tu, bảo dưỡng Phần lớn hệ thống đường giao thông nông thôn, liên thôn, xã được cải tạo, sửa chữa bê tông hóa và dải cấp

Ngày đăng: 24/06/2021, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Nguyễn Văn Công (2013), Giáo trình Phân tích kinh doanh, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích kinh doanh
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Văn Công
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2013
2. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quang (2011), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
5. Lê Lâm Bằng (2008), Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên đị bàn huyện Văn Chấn - Tỉnh Yên Bái, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên đị bàn huyện Văn Chấn - Tỉnh Yên Bái
Tác giả: Lê Lâm Bằng
Năm: 2008
6. Ths. Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự (2013), Quản lý hoạt động cung ứng chè nguyên liệu tại công ty TNHH MTV chè Phú Bền, UBND tỉnh Phú Thọ, Trường đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động cung ứng chè nguyên liệu tại công ty TNHH MTV chè Phú Bền
Tác giả: Ths. Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự
Năm: 2013
3. Viện chính sách và chiến lƣợc Phát triển nông nghiệp nông thôn, Hồ sơ ngành chè Khác
4. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2013), Chuỗi giá trị ngành hàng Chè Việt Nam Khác
7. P.Samueleson và W.Nordhmas (bản dịch tiếng việt 1991), giáo trình kinh tế học, Viện quan hệ quốc tế - Bộ ngoại giao xuất bản.8. Website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w