độ phù hợp của các chức danh công tác ở địa phương hiện nay về trình độ, năng lực, sở trường công tác 2.14 Đánh giá của CBCC về đời sống vật chất và tinh thần của 2.15 Đánh giá của người
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Bình Định, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 8
1.1 Khái niệm 8
1.2 Vị trí, vai trò, tổ chức của đội ngũ CBCC cấp xã 17
1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã 20
1.4 Các điều kiện đảm bảo việc sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã ở Việt Nam… 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CBCC CẤP XÃ TẠI HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH 25
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định 25
2.2 Các qui định pháp luật về việc sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã ở Việt Nam 29
2.3 Tình hình sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định 33
2.4 Đánh giá chung về tình hình sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định 54
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CBCC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH 58
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã 58
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã 61
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 52.4 Thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã huyện An Lão theo trình
độ chuyên môn nghiệp vụ từ năm 2016 đến năm 2020 37
2.5
Thực trạng CBCC cấp xã huyện An Lão đạt chuẩn theo
trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học từ năm 2016-
2.8 Đánh giá của CBCC và nhân dân về công tác đánh giá,
phân loại, khen thưởng CBCC cấp xã hàng năm 41
2.9 Đánh giá của CBCC và người dân, doanh nghiệp về phẩm
chất đạo đức, lối sống của CBCC cấp xã 42
2.10 Đánh giá của CBCC về tinh thần thực thi công vụ, thái độ
2.11 Đánh giá của người dân, doanh nghiệp về tinh thần thực
thi công vụ, thái độ phục vụ nhân dân của CBCC cấp xã 44
2.12
Đánh giá của CBCC và người dân, doanh nghiệp về tinh
thần đoàn kết thể hiện qua mối quan hệ với đồng nghiệp
của CBCC cấp xã
45
2.13 Đánh giá của CBCC và người dân, doanh nghiệp về mức 46
Trang 6độ phù hợp của các chức danh công tác ở địa phương hiện
nay (về trình độ, năng lực, sở trường công tác)
2.14 Đánh giá của CBCC về đời sống vật chất và tinh thần của
2.15 Đánh giá của người dân, doanh nghiệp về đời sống vật
chất và tinh thần của người dân hiện nay so với trước đây 49
2.16 Đánh giá của CBCC và nhân dân về tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội hiện nay so với trước đây 50
2.17 Đánh giá của CBCC và nhân dân về tình hình chăm sóc
sức khỏe của nhân dân hiện nay so với trước đây 51
2.18
Máy móc, thiết bị văn phòng của cán bộ, công chức, viên
chức và phòng làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp
xã
52
3.1
Đánh giá của CBCC về tính khả thi của một số giải pháp
nhằm sử dụng có hiệu quả đội ngũ CBCC cấp xã trong thời
gian đến
68
3.2
Đánh giá của người dân và doanh nghiệp về tính khả thi
của một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả đội ngũ
CBCC cấp xã trong thời gian đến
69
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều 110 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phân định hệ thống chính trị của nước ta gồm 4: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn Mỗi cấp có một vị trí vai trò khác nhau và đều rất quan trọng trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện nước ta đang trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân” thì chính quyền cấp xã sẽ trực tiếp đảm bảo trên thực tế mục đích to lớn
và nhân văn ấy Bởi vì cấp xã là cấp cơ sở, nơi gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở địa phương
Để cấp xã đảm đương tốt vai trò nhiệm vụ của mình, công tác cán bộ là khâu rất quan trọng mang tính chất quyết định Như Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.“Công việc thành công
hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” Để có đội ngũ cán bộ, công chức
tốt thì ngoài vấn đề tuyển dụng cán bộ đủ tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, thì việc sử dụng cán bộ, công chức để cán bộ công chức phát huy được trình độ, năng lực phẩm chất, sở trường công tác cũng là việc cần phải được coi trọng Với công tác sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở “dụng nhân như dụng mộc”- dùng người như người thợ mộc dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được Trong công tác cán bộ phải “khéo dùng” (hay còn gọi là nghệ thuật dùng người), là phải dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm công tác và hăng hái thi đua cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng Biết tùy tài mà dùng
Trang 82
người không những tránh lãng phí người tài, mà còn có tác dụng tích cực, làm cho người tài ngày càng nhiều thêm.Ngược lại, ở địa phương nào thực hiện việc dùng người không khéo thì có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng như kéo lùi việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương ấy
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác sử dụng cán bộ, công chức trên địa bàn huyện, nhất là cấp xã, những năm qua Ban Thường vụ Huyện ủy luôn quan tâm thực hiện công tác tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, bố trí, sắp xếp tính gọn bộ máy, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị ở địa phương Tuy nhiên qua khảo sát của tôi, năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ công chức cấp xã còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của huyện trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như: Yếu về chất lượng, cơ cấu chưa hợp lý, tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, kém năng động và sáng tạo; một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã còn có biểu hiện cơ hội, quan liêu xa rời lý luận và thực tiễn, sách nhiễu quần chúng nhân dân, gây một số bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương
Việc đánh giá lại quy trình tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí công tác đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện đang trở thành vấn đề bức thiết, nhằm nắm vững và phân tích được thực trạng hoạt động và tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng, sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị ở địa phương Với lý do đó nên
tôi xin chọn đề tài “Sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định” làm đề tài cho luận văn của mình
Trang 93
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một công việc cụ thể nhưng rất phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học, những công trình nghiên cứu được công bố dưới những góc độ, mức độ, hình thức thể hiện khác nhau, tiêu biểu của các tác giả:
-Nguyễn Văn Hòa (2019), Xây dựng đội ngũ công chức hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh Luận Án Tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.Luận án đã hệ thống hóa, phân tích làm sáng tỏ về khái niệm cán bộ, công chức, công chức nhà nước và quan niệm Hồ Chí Minh về công chứcxây dựng đội ngũ công chức Đồng thời, làm rõ những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ công chức, bao gồm: Quan điểm Hồ Chí Minh về
vị trí, vai trò của đội ngũ công chức, phương pháp xây dựng đội ngũ công chức
-Nguyễn Kim Diện (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế.Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước tỉnh Hải Dương; phân tích thực trạng của đội ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh, tìm ra những ưu điểm và những tồn tại hạn chế Từ đó đã đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, như hoàn thiện quy hoạch, nhấ là phải đảm bảo từ 3- 4 thế hệ tuổi Giải pháp về nâng cao tinh thần và đạo đức, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong đội ngũ công chức hành chính nhà nước
- Đặng Thế Anh (2018), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ khoa học Kinh tế Nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ,
Trang 104
công chức cấp xã tại thị xã Ba Đồn tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2014-
2016 và đề xuất các giải pháp trong 10 năm tới nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại địa phương Trong đó, đặc biệt quan tâm đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thi tuyển một số chức danh cán bộ công chức, đổi mới chế độ chính sách thu hút người có bằng cấp, chuyên môn nghiệp vụ cao về công tác; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc
-Ngô Văn Tịnh (2020), sử dụng đội ngũ công chức cấp xã từ thực tiễn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ luật học Nghiên cứu đã chỉ ra đội ngũ công chức chuyên môn cấp xã đã và đang là nhân tố quyết định
sự phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương Cần làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức; tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ, nâng cao chất lượng công chức
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau và có những đóng góp nhất định trong việc hoạch định chủ trương, chính sách, tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước ở nước ta nói chung và cán bộ công chức cấp xã nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu bàn luận khái niệm cán bộ, công chức, công chức hành chính, viên chức và thường đi sâu phân tích đánh giá về công chức hành chính nói chung, ít đi sâu đánh giá phân tích về cán bộ, công chức cấp xã Các công trình nghiên cứu trên tập trung vào phương pháp luận hoặc nghiên cứu trên phạm vi khá rộng hoặc cụ thể ở một địa phương Đến nay, ở địa bàn huyện An Lão với đặc thù của một huyện miền núi, với 7/10 xã, thị trấn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào về lĩnh vực sử dụng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã một cách có hiệu quả nhằm vực dậy và phát triển kinh
tế, xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa phương Vì vậy tác giả chọn vấn đề này để làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ của mình
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ đi sâu giải quyết những nhiệm vụ sau:
+ Về mặt lý luận: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, nghiên cứu các vấn đề thực tiễn chung để làm rõ khái niệm mới về cán bộ, công chức cấp xã, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
+ Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện An Lão Qua đó thấy được những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng thật sự
hiệu quả đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của huyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề lý luận, pháp lý về sử dụng đội ngũcán bộ, công chức cấp xãtại địa bàn huyện, thực tiễn sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại
huyện An Lão tỉnh Bình Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian:Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn huyệntừ năm 2016- 2020
Trang 12dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập
thông tin về sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
+ Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích các công trình nghiên cứu liên quan Qua việc thống kê, so sánh, quy nạp, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung tài liệu đã thu thập
để học hỏi, kế thừa và phát triển phù hợp với đề tài, đảm bảo tính khoa học
và logic giữa các vấn đề được nêu ra
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả thu nhập thông tin bằng bảng hỏi, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với 150 cán bộ công chức và 50 người dân, doanh nghiệp trên địa bàn huyện để tiến hành điều tra về sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với các vị trí đang đảm nhận về: phẩm chất, đạo đức, lối sống, thái độ phục vụ nhân dân,…
số liệu thu thập được phân loại theo nhóm nội dung, phân tích và so sánh thống kê, sau đó được sử lý bằng phần mềm Excel
- Phương pháp phỏng vấn: tác giả tiến hành các cuộc phỏng vấn trực tiếp một số người dân, doanh nghiệp, cán bộ công chức để có đánh giá khách quan về sử dụng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện An Lão
Trang 137
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ thêm
cơ sở lý luận về sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện An Lão nói riêng
và tỉnh Bình Định cũng như cả nước nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong tổng kết thực tiễn về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của cấp ủy, chính
quyền địa phương các cấp ở tỉnh Bình Định
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chương 2:Thực trạng sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại
huyện An Lão tỉnh Bình Định
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định
Trang 141.1.1 Khái niệm công chức
Công chức theo cách hiểu thông thường là những người làm công, ăn lương Nhà nước, giữ một vị trí, chức danh công việc nào đó trong bộ máy hành chính Nhà nước
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): khái niệm Công chức và công vụ có lịch sử khá lâu dài, đội ngũ công chức manh nha hình thành từ thời kỳ phong kiến tại Trung Quốc nó bắt đầu bằng các học thuyết
về tổ chức nhà nước và nên Nho giáo của Khổng Tử và được áp dụng chặt chẽ hơn, nâng lên thành thiết chế dưới thời của Hán Vũ Đế thuộc triều Hán vào khoảng thế kỷ thứ III Công nguyên (206- 220 CN) thời này với học thuyết Nho giáo thịnh hành, tổ chức chính quyền của Trung Hoa phong kiến
đã chia thành 06 bộ (Lục bộ) như Bộ binh, Bộ hình, Bộ lại, Bộ lễ, Bộ công,
Bộ hộ và mô hình này ảnh hưởng đến nhiều nước như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản
Đến thế kỷ thứ XVI thì hệ thống công chức bắt đầu hình thành và phát triển ở châu Âu phong kiến Tuy nhiên thuật ngữ công chức chính thức được
ra đời tại nước Anh trong thế kỷ XIX (năm 1847)
Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó
là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước Công chức của một quốc gia thường là công dân, người
có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Phạm vi làm việc
Trang 15Cộng hòa Pháp, định nghĩa: “Công chức là những người được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm
cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý”.[14,tr15]
Nhật Bản, công chức được phân làm hai loại chính gồm: công chức
nhà nước và công chức địa phương: “Công chức nhà nước gồm những người
được nhậm chức trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh việc quốc lập, xí nghiệp và đơn vị
sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương”.[14, tr15]
Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là: “những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ Công chức gồm 2 loại:
+ Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp
+ Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm,
do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ Công chức Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”.[14, tr15]
Trang 1610
Từ những khái niệm trên ta thấy: Công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ hay thừa hành công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, được hưởng lương từ ngân sách và chịu sự chế tài của Luật Công chức
Ở Việt Nam, ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số
76/SL về quy chế công chức, tại Điều I, mục 1 công chức được định nghĩa là:
“Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một
vị trí thường xuyên trong các cơ quan của chính phủ ở trong hay ngoài nước
Ngày 26/12/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chương, 48 điều Tại Điều I, cũng đã nêu khái niệm về cán bộ, công chức Đến năm 2008 , Luật cán bộ công chức ra đời, tại
Điều 4, khoản 2, Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định: “Công chức là
công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo
từ quy lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Để hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số
06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định công chức là “Công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên
Trang 1725/11/2019, có hiệu lực vào ngày 01/7/2020): "Công chức là công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước"
Như vậy, Luật số 52/2019/QH14 đã có thêm một số điểm mới đó là:
- Đưa thêm cụm từ “tương ứng với vị trí việc làm” để chỉ rõ công chức
ở một vị trí việc làm cụ thể phù hợp với trình độ chuyên môn, nghề nghiệp được đào tạo
- Công chức không bao hàm lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập Như vậy Luật mới đã đưa đối tượng này ra khỏi diện Công chức
Như vậy, có nhiều định nghĩa và cách quy định khác nhau về công chức Trong Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm công chức theo định nghĩa của Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán
bộ, công chức và Luật Viên chức
* Phân loại công chức: Công chức được phân thành nhiều loại khác
nhau, tùy theo tiêu chí phân loại
- Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
Trang 18- Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:
+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
Một cách phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo lĩnh vực công tác thì công chức được phân thành nhiều loại như: công chức ngành y tế, công chức ngành nội vụ, công chức ngành giáo dục, công chức ngành ngoại vụ…
Nếu phân loại theo cấp hành chính thì công chức được phân thành 4 loại Bao gồm công chức trung ương, công chức cấp tỉnh, công chức cấp huyện và công chức cấp xã Trong đó công chức cấp xã là cấp thấp nhất
1.1.2 Khái niệm cán bộ
Tại điểm 1, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã định nghĩa:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
1.1.3 Cán bộ, công chức cấp xã
Điểm 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã định nghĩa: “Cán
bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
Trang 1913
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Như vậy, cán bộ, công chức cấp xã được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ và được tuyển dụng, phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp
vụ cụ thể tại hệ thống chính trị cấp xã, trực tiếp tham mưu và lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống chính trị ở địa phương thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
1.1.4 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được hiểu là tập thể gồm những cán
bộ, công chức cấp xã được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ hay đượctuyển dụng, bổ nhiệm theo các chức danh quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ, họ làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị ở cấp xã; họ được hưởng lương, các chế độ chính sách khác từ ngân sách Nhà nước
1.1.5 Sử dụng
Về mặt thuật ngữ khái niệm “sử dụng” được hiểu theo nhiều cách, nhưng nội hàm cơ bản giống nhau về các cách hiểu Chẳng hạn, Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa: “sử dụng là đem dùng vào mục đích nào đó” Ví dụ: sử dụng năng lực một cách hợp lý, sử dụng thuốc đúng quy định Từ điển Viktionary Tiếng Việt định nghĩa: “sử dụng là dùng trong một công việc” Ví dụ: Sử dụng tài liệu để viết sách, sử dụng tiếng Anh để giao tiếp Một số từ điển khác cũng nêu lên quan điểm: sử dụng là lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu,mục đích nào đó” Ví dụ: hết
Trang 2014
hạn sử dụng, quyền sử dụng đất Như vậy, sử dụng đồng nghĩa với “dùng”,
“xài” công năng của một sự vật cụ thể cho mục đích nào đó
1.1.6 Sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
a.Theo Từ điển tiếng Việt
“Sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật, các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên, chưa có một định nghĩa thống nhất hay có một khái niệm hoàn chỉnh cho thuật ngữ này Theo từ điển Tiếng Việt, “sử dụng”
có nghĩa là “dùng” trong một công việc cụ thể hay nhằm để phục vụ một mục đích riêng biệt của chủ thể sử dụng Vậy cụm từ “sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã” được hiểu theo nghĩa thông thường là việc các cơ quan trong hệ thống chính trị cấp xã, là chủ thể sử dụng công chức, theo thẩm quyền được giao, tạo lập nên các khung pháp lý hoặc ban hành, thực thi các chính sách, pháp luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu trên các lĩnh vực công tác của từng địa phương
b Theo giải thích của các văn bản quy phạm pháp luật
Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tuy vẫn chưa có khái niệm, quy định cụ thể việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhưng tại Điều 5 Luật cán bộ công chức năm 2008 có quy định về các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức phải: “Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước” Tại khoản 2 Điều 67 Luật Cán bộ, công chức có quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức.” và giao cho: “Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức.” Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý Nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của cơ quan hành
Trang 2115
chính Nhà nước cấp trên; Điều đó có nghĩa là việc quản lý và sử dụng đội ngũcán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói riêng đều phải thống nhất thực hiện theo các quy định, Điều lệ Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội, của Luật Cán bộ, công chức và các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành Trong quá trình thực hiện theo thẩm quyền được giao, các cơ quan ở cấp Trung ương và địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn việc áp dụng các quy định của Đảng, nhà nước cho các cơ quan, đơn vị thực hiện phù hợp với điều kiện, đặc điểm
và thực tế của ngành, địa phương Hệ thống các văn bản này tạo nên thể chế quản lý cán bộ, công chức, làm cơ sở cho việc quản lý và sử dụng cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị của nước ta nói chung và cán bộ, công chức cấp
xã nói riêng
c Đặc điểm:
Cán bộ, công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán
bộ, công chức (CBCC) trong hệ thống chính trị của Việt Nam Tuy nhiên, do
vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cấp xã nên đội ngũ CBCC cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù riêng như sau:
Thứ nhất, CBCC cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ CBCC cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành
Thứ hai, CBCC cấp xã thường hội tụ đủ các vai trò khác nhau mà họ phải thể hiện như: công dân; đồng hương, bà con, họ hàng; người đại diện của cộng đồng; đại diện cho Nhà nước Những vai trò này vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn, xung đột trong mỗi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - Nhà nước
Trang 2216
Thứ ba, hoạt động của CBCC cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp Họ phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân
Thứ tư, hiện nay trình độ của CBCC cấp xã đã từng bước được nâng lên Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, nhận thức, năng lực thực thi nhiệm vụ, đặc biệtlà CBCC ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thứ năm, công chức cấp xã gồm cả lực lượng vũ trang, theo quy định, công chức cấp xã có chức danh Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Quân
sự cấp xã Trước đây, trưởng công an xã thuộc lực lượng công an xã và là lực lượng bán chuyên trách,từ năm 2018 đến nay, thực hiện Nghị quyết số 22-
NQ/TW ngày 15/3/2018 về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ
Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" các địa phương trong cả
nước đã đưa lực lượng công an chính quy về đảm nhiệm chức vụ trưởng công
an xã và các chức vụ thành viên làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo
vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Đối với Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã, mối quan hệ trong công tác của chỉ huy trưởng quân sự cấp xã được quy định tại khoản 3, Điều 11 Thông tư số 76/2010/TT-BQP: “chịu sự chỉ đạo và chỉ huy công tác quốc phòng, phòng thủ dân sự, công tác dân quân tự vệ theo thẩm quyền”
Như vậy, theo ngành dọc, Trưởng Công an xã chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Công an; Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã chịu sự quản lý của Bộ Quốc phòng, nhưng theo chiều ngang, cả 2 chức danh này chịu sự quản lý cuẩ cấp ủy Đảng và chủ tịch UBND cấp xã Việc có chức danh Trưởng công
an (Ở một số nơi chưa bố trí công an chính quy) và Chỉ huy trưởng quân sự
Trang 23Đội ngũCBCC cấp xã có vị trí vai trò của đội ngũ CBCC nói chung
và có vị trí vai trò riêng thể hiện ở các phương diện sau đây:
Đội ngũ CBCCcấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện cộng đồng, hầu hết họ vừa là người cùng làng, cùng họ và cũng là người dân; chính vì vậy mà họ luôn gần gũi, sát dân nhất, là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của dân và phản ánh lên các cấp chính quyền để các cấp ủy Đảng, chính quyền đặt ra chủ trương, chính sách đúng Thực tế cho thấy, ở đâu mà cán bộ, công chức chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân thì ở đó các cấp ủy Đảng, chính quyền sẽ đề ra chủ trương, chính sách đúng và ngược lại, ở đâu
mà cán bộ, công chức cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ đề ra chủ trương, chính sách không phù hợp
Đội ngũCBCCcấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Là người tiên phong, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư
Đội ngũCBCCcấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân Là người am hiểu các phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương họ là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân
cư
Trang 2418
Tóm lại, đội ngũCBCCcấp xã là người có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế- xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư
1.2.2 Tổ chức của đội ngũ CBCC cấp xã
a Về chức vụ, chức danh CBCC cấp xã:
Chức vụ, chức danh CBCC cấp xã được quy định tạiĐiều 61, Luật cán
bộ công chức năm 2008, bao gồm:
1 Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
2 Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
Trang 2519
g) Văn hóa - xã hội
Tại khoản 4, Điều 61 Luật cán bộ công chức năm 2008 cũng đã quy định: Cán bộ, công chức cấp xã bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã
b Về số lượng
Nghị định 34/2019/NĐ-CP, ngày 24/4/2019 đã sửa đổi, bổ sung quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã Cụ thể, số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn: Cấp xã loại 1 tối đa 23 người (giảm 2 người so với quy định cũ); cấp
xã loại 2 tối đa 21 người (giảm 2 người so với quy định cũ); cấp xã loại 3 đối
đa 19 người (giảm 2 người so với quy định cũ)
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bố trí số lượng cán bộ, công chức cấp xã bằng hoặc thấp hơn quy định nêu trên, bảo đảm đúng với chức danh và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Đối với xã, thị trấn bố trí Trưởng công an xã là công an chính quy thì số lượng cán bộ, công chức quy định nêu trên giảm 1 người
Số lượng cán bộ, công chức cấp xã nêu trên bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã Riêng trường hợp luân chuyển về đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND cấp xã thì thực hiện theo Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25/1/2016 của Chính phủ về số lượng Phó Chủ tịch UBND và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên UBND
Nghị định cũng sửa đổi, bố sung quy định số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Cụ thể, số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn: Loại 1 tối đa 14 người (giảm 8 người so với
Trang 26CP của Chính phủ quy định: UBND cấp xã có nhiệm vụ và quyền hạn “trực tiếp quản lý và sử dụng công chức cấp xã, nhận xét, đánh giá hàng năm đối với công chức cấp xã” Như vậy, chủ thể sử dụng trực tiếp công chức cấp xã chính là UBND cấp xã, đứng đầu là chủ tịch UBND
Ngoài ra, cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị 4 cấp của nước ta, do đó, không những cả hệ thống chính trị ở cấp xã nói chung mà cán
bộ, công chức cấp xã nói riêng đều chịu sử lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhất là
về mặt chuyên môn của cấp trên từ trung ương đến cấp huyện
1.3.2 Đối tượng sử dụng
Tất cả những người được xếp vào diện CBCC cấp xã theo Luật cán bộ, công chức và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.Riêng đối với chức danh công chức Trưởng Công an cấp xã, theo Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Trưởng Công an đối với xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy theo quy định của Luật Công an nhân dân năm 2018 là công chức cấp xã (Hiện hành chỉ để cụm từ “Trưởng công an xã”) Như vậy, Trưởng công an phường, Trưởng
Trang 2721
công an xã, thị trấn đã tổ chức công an chính quy thì không còn là công chức nữa mà sẽ là đối tượng thuộc Lực lượng công an nhân dân
1.3.3 Nội dung sử dụng
Khoản 4, Điều 7, Luật cán bộ công chức (2008) quy định “Cơ quan sử
dụng cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền
quản lý, phân công, bố trí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức”.Chương 3, Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về sử dụng công chức,xét từ đặc thù của đội ngũ CBCC cấp xã, có thể khái quát hoạt động sử dụng CBCC cấp xã bao gồm một số nội dung cơ bản sau:Xác định tiêu chuẩn đối với CBCC cấp xã; quy hoạch CBCC cấp xã; bố trí, luân chuyển, điều động CBCC cấp xã; đánh giá CBCC cấp xã; thực hiện chế độ, chính sách đối với CBCC cấp xã Người đứng đầu cơ quan sử dụng CBCC cấp xã (Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND cấp xã) chịu trách nhiệm bố trí, phân công công tác, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của CBCC ở địa phương mình, bảo đảm các điều kiện cần thiết để CBCC thi hành nhiệm vụ và thực hiện các chế độ, chính sách đối với CBCC
Việc bố trí, phân công công tác cho CBCC cấp xã phải bảo đảm phù hợp giữa quyền hạn và nhiệm vụ được giao, phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng CBCC khác nhau tùy thuộc vào trình độ chuyên môn, năng lực, sở trường công tác, tránh tình trạng phân công không phù hợp với CBCC hoặc dồn quá nhiều việc cho CBCC có năng lực Càng dẫn đến sự bất hợp lý và ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của CBCC và tập thể CBCC đơn vị Điều này nhằm phát huy được năng lực, sở trường, chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề đào tạo của từng cá nhân, tự giác nâng cao tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, nỗ lực công tác của CBCC
Trang 2822
1.4 Các điều kiện đảm bảoviệc sử dụng đội ngũ CBCCcấp xã ở Việt Nam
1.4.1 Các điều kiện khách quan
Các điều kiện khách quan đảm bảo việc sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã bao gồm: Tình hình kinh tế - chính trị của xã hội, của đất nước và địa phương trong từng giai đoạn; trình độ văn hóa, sức khỏe của dân cư; sự phát triển của công nghệ thông tin; đường lối phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quan điểm sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã của Đảng, Nhà nước và địa phương, Quan điểm của Đảng, Nhà nước và địa phương có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã Đội ngũ CBCCcấp xã có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng Nếu quan điểm của Đảng, Nhà nước và địa phương quan tâm và mạnh dạn trong việc tăng thẩm quyền cho hệ thống chính trị cấp xã, phân cấp hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCcấp xã và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ Thể chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã: bao gồm hệthống luật pháp, các chính sách, chế độ liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và phát triển, thù laolao động, đề bạt Thể chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã còn bao gồm bộ máy tổ chức và các quy định về thanh tra, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ cũng như tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức
1.4.2 Điều kiện chủ quan
Các điều kiện chủ quan đảm bảo việc sử dụng hiệu quả đội ngũ CBCCcấp xã bao gồm: Tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác Tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; đối với những CBCCcấp xã có tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẽ luôn ý thức tu dưỡng, rèn luyệnvà hoàn thành tốt nhiệm vụ Ngược lại, với những CBCC cấp xã thiếu tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật dễ dẫn đến quan liêu xa dân,
Trang 2923
xa rời quan điểm, mục tiêu lý tưởng của Đảng, từ đó nảy sinh những vấn đề tiêu cực, không hoàn thành nhiệm vụ,ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và chính quyền nhân dân
Trang 3024
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, trong chương 1, luận văn đã phân tích một cách toàn diện và
có hệ thống về cơ sở nhận thức đối với chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã để từ đó khẳng định việc sử dụng có hiệu quả hơn nữa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong cả nước nói chung và huyện An Lão nói riêng hiện nay hoàn toàn có cơ sở lý luận khoa học và là yêu cầu mang tính tất yếu, khách quan
Trang 3125
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CBCC CẤP XÃ
TẠI HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình kinh tế - chính trị, xã hội của An Lão
a Điều kiện tự nhiên:
An Lão là huyện miền núi của tỉnh Bình Định cách Quốc lộ 1A 32km về hướng Bắc, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn hơn 120km về hướng Tây Bắc An Lão nằm ở vĩ độ 14° 33' 24" N kinh độ 108° 48' 4" E; phía Bắc giáp với huyện Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi); phía Nam giáp huyện Hoài Ân, Vĩnh Thạnh; phía Đông giáp huyện Hoài Nhơn; phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) và huyện K.Bang (tỉnh Gia Lai)
Huyện An Lão có 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn An Lão (huyện lỵ) và 9 xã: An Dũng, An Hòa, An Hưng, An Nghĩa, An Quang, An Tân, An Toàn, An Trung, An Vinh
Theo thống kê năm 2019, huyện có diện tích 697 km², dân số là 27.837 người,trong đó, dân tộc kinh có 16.209 người, dân tộc Hre có 10.304 người, dân tộc Bana 1.215 người và 109 người thuộc các dân tộc khác Mật độ dân
số 40 người/km², thấp hơn rất nhiều so với mật độ dân số cả nước (290 người/km²), tập trung phần lớn ở các xã An Hòa, An Trung và thị trấn An Lão
Do đó, có sự tác động rất lớn đến công tác sử dụng CBCCcủa huyện nhất là cấp xã trong việc quản lý dân cư, có xã mật độ dân số rất thấp (3,7người/km²) như xã An Toàn, nhiều hộ dân ở phân tán nên lực lượng CBCCxã làm việc rất vất vả
b Tình hình kinh tế
Trang 3226
Trong 5 năm qua, kinh tế huyện nhà phát triển khá,tổng giá trị sản xuất năm 2020 đạt 1.450,3 tỷ đồng;cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ.Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản năm 2020 đạt 770,3 tỷ đồng Hằng năm sản xuất
ổn định 2.170,52ha lúa nước, 234,66ha ngô, 152,78ha lạc, 265,2ha mì Năng suất cây lúa tăng từ 57,3 tạ/ha (năm 2015) lên 62,5 tạ/ha (2020).Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 14.989,75 tấn.Năm
2020 tổng đàn gia súc có khoảng 40.170 con, sản lượng thu hoạch cá nước ngọt hằng năm đạt 65 tấn Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp, xây dựng năm 2020 đạt 300,2 tỷ đồng Hiện nay, toàn huyện có 356 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thu hút 517 lao động Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2019 còn 36,34%, cuối năm 2020 giảm 9,42 % còn 26,92%, bình quân hàng năm (2015- 2020) giảm khoảng 7,6% Đây là bước đột phá lớn với sự vào cuộc quyết tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện, trong đó, có phần tích cực của đội ngũ CBCC cấp xã
d Tình hình xã hội
Trang 3327
Trong 5 năm qua, huyện đã chỉ đạo tổ chức tốt các lễ hội văn hóa và đại hội thể dục thể thao các cấp, đồng thời tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao cấp tỉnh luôn đạt giải cao Công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các di tích văn hóa, lịch sử được chú trọng; tiếp tục bảo vệ, tôn tạo 8 di tích lịch sử cấp tỉnh và 01 di tích lịch sử cấp Quốc gia Cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa được đầu tư, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của người dân Đến nay57/57 thôn có nhà văn hóa, 10/10 xã, thị trấn có khu sinh hoạt văn hóa thể thao, Nhà văn hóa và Đài truyền thanh Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu; công tác kế hoạch hóa gia đình được chú trọng và triển khai nhiều hoạt động thiết thực Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động số 07- CTr/HU về phát triển các hoạt động văn hóa gắn với du lịch giai đoạn 2016-2020 bước đầu đạt kết quả; đặc biệt chú ý phát triển du lịch sinh thái tại xã vùng cao An Toàn, với rừng nguyên sinh, bản sắc văn hóa người Bana, không khí mát mẽ trong lành ở độ cao gần 1000m so với mực nước biển Là bước tiến mới, đầy thử thách đối với CBCC của xã vùng cao An Toàn, nhất là công chức làm công tác văn hóa xã hội
2.1.2 Trình độ văn hóa, sức khỏe của dân cư huyện An Lão
Trong 5 năm qua, huyện luôn tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình hành động số 05- CTr/HU về “Nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2016 -2020” đạt nhiều kết quả tích cực Quy mô, chất lượng giáo dục, đào tạo phát triển khá, đội ngũ cán bộ, giáo viên được chuẩn hóa; cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa và đồng bộ Công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia được quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả tích cực; tính đến cuối năm 2019, toàn huyện có 13 trường đạt chuẩn Quốc gia Chất lượng giáo dục được nâng lên; tỷ lệ học sinh giỏi các bậc học hàng năm tăng từ 1-
Trang 3428
1,2%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp và thi đỗ vào các trường đại học ngày càng tăng Công tác khuyến học, khuyến tài được thực hiện thường xuyên Trung tâm Học tập cộng đồng các xã, thị trấn tiếp tục được củng cố, kiện toàn và đi vào hoạt động, góp phần xây dựng xã hội học tập, là sự nỗ lực của huyện và sự cố gắn của CBCCvà là nhiệm vụ mới rất khó khăn được giao của công chức văn hóa xã hội các xã, thị trấn
2.1.3 Sự phát triển hạ tầng công nghệ thông tin của huyện An Lão
Trong những năm qua, huyện tiếp tục đầu tư mua sắm trang thiết bị công nghệ thông tin tại Bộ phận một cửa cấp xã (An Trung, An Vinh, An Quang, An Dũng) theo hướng hiện đại, đến nay 10/10 xã, thị trấn đều được trang bị Triển khai nghiêm túc việc vận hành phần mềm một cửa điện tử cấp huyện, cấp xã theo Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 của UBND tỉnh, đặc biệt là việc cập nhật tình hình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính vào hệ thống một cửa điện tử tỉnh, 100% đơn vị cấp huyện Thực hiện kiểm soát quy trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ bằng các biện pháp như: cử công chức, viên chức thành viên tổ đầu mối của huyện, xã để kiểm tra trên phần mềm Một cửa điện tử, kết xuất báo cáo hàng tuần, hàng tháng theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ hàng ngày, đôn đốc, nhắc nhở kịp thời những hồ sơ giải quyết sắp đến hạn…nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng hồ sơ trễ hạn Thực hiện kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng dịch vụ công quốc giatrong thực hiện các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai bắt đầu từ ngày 24/12/2020, đến nay đã phát sinh 16 giao dịch thanh
Trang 3529
a Về kinh tế
Phát triển toàn diện sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản; triển khai có hiệu quả Chương trình hành động “Tái cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020-2025”.Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, sản Tổ chức, củng cố hoạt động các loại hình dịch
vụ, đẩy mạnh tiến độ đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng Khu thương mại, dịch
vụ và dân cư Đồng Bàu, Chợ An Tân, hình thành chợ phiên An Trung và An Quang Từng bước đưa du lịch An Lão trở thành điểm du lịch trong chương trình du lịch của tỉnh
b Về văn hóa- xã hội
Tiếp tục triển khai các hoạt động văn hóa gắn với phát triển du lịch, giai đoạn 2020- 2025 Tiếp tục bảo tồnvà phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào đồng bào dân tộc thiểu số Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu Quốc gia về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động Quan tâm trợ giúp kịp thời các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, bị thiệt hại do thiên tai gây ra
2.2 Các qui định pháp luật về việc sử dụng đội ngũ CBCCcấp xã ở Việt Nam
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về việc sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã ở Việt Nam có thể kể đến:
- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII), Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
- Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, được ban hành ngày
13/11/2008
Trang 3630
- Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức (được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2019, có hiệu lực vào ngày 01/7/2020)
- Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về Chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
- Nghị định 204/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định về Chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
- Nghị định 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố
- Nghị định 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ về Công chức xã, phường, thị trấn
- Nghị định 161/2018/NĐ-CP của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một
số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập
- Nghị định 46/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức
- Thông tư 03/2007/TT-BNV của Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện chế
độ kỷ luật công chức cấp xã
- Thông tư 13/2019/TT-BNV của Bộ nội vụ hướng dẫn về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố
- Thông tư liên tịch 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH giữa Bộ nội vụ, Bộ tài chính, Bộ lao động- thương binh và xã hội Hướng dẫn thực hiện chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
Trang 37hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về CBCCcấp xã có mối quan hệ nội tại, mật thiết, không tách rời nhau tạo thành một hệ thống thống nhất Các quy định về CBCCcấp xã chính
là kết quả của sự điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ nảy sinh trong quá trình hình thành và thực hiện nhiệm vụ của CBCCcấp xã Vì vậy, có thể hiểu các quy định về CBCCcấp xã là hệ thống các văn bản của Đảng và các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình hình thành và thực hiện hoạt động của CBCC cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước
Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng các văn bản của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật về sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện An Lão nói riêng đã thể hiện một số điểm hạn chế, vướng mắc như sau:
- Nghị định 34/2019/NĐ-CP, ngày 24/4/2019 đã sửa đổi, bổ sung quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã Cụ thể, số lượng cán bộ, công chức
Trang 3832
cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn: Cấp xã loại 1 tối đa 23 người; cấp xã loại 2 tối đa 21 người; cấp xã loại 3 đối đa 19 người Áp dụng nghị định này, huyện An Lão có 2 xã thấy bất hợp lý đó là: xã An Toàn dân số 600 người thuộc xã loại 3, có số lượng cán bộ, công chức tối đa 19 người Trong khi đó, xã An Hòa có hơn 9000 người dân, thuộc xã loại 2, có số lượng cán bộ, công chức tối đa là 21 người, hơn 2 người so với xã An Toàn, trong khi đó dân số lớn hơn 15 lần Tuy nhiên, hiện nay xã An Toàn vẫn chưa thuộc diện sáp nhập xã chưa đủ tiêu chí
về diện tích và dân số theo Nghị quyết 18-ND/TW ngày 25/10/2017 Trung ương 6 (Khóa XII) “khuyến khích sáp nhập, tăng quy mô các đơn vị hành chính các cấp ở những nơi có đủ điều kiện để nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tăng cường các nguồn lực của địa phương”, do diện tích xã An Toàn rất lớn thuộc rừng đặc dụng, chiếm gần 1/3 diện tích của huyện An Lão
- Về xét tuyển công chức không qua thi tuyển: Tại điểm 1, Điều 6
Thông tư 13/2019/TT-BNV, ngày 6/11/2019 của Bộ nội vụ quy định “Việc
xác định tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên ở trong nước, loại khá trở lên ở nước ngoài được căn cứ vào xếp loại tại bằng tốt nghiệp” Đồng thời tại
Điều 3 của Thông tư này đã quy định “Điều kiện đăng ký dự tuyển công
chức cấp xã thực hiện theo quy định tại Điều 6 Nghị định số
112/2011/NĐ-CP Trong đó, không phân biệt loại hình đào tạo, trường công lập, ngoài công lập” Như vậy đã khẳng định, người tốt nghiệp Đại học loại khá hệ
Chính quy trường công lập, không bằng người tốt nghiệp loại giỏi hệ tại chức, từ xa của các trường khác Trong khi đánh giá chất lượng của các loại hình đào tạo và các trường luôn có độ chênh lệch rất lớn thể hiện qua chất lượng đầu vào, đầu ra, cách thức, phương pháp giảng dạy, tinh thần, thái độ học tập, Điều này đặt ra câu hỏi mở: Vậy, học Đại học chính quy trường công lập danh tiếng để làm gì?
Trang 3933
2.3 Tình hình sử dụng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện
An Lão, tỉnh Bình Định
2.3.1 Trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát việc thi hành kỷ luật
Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng được Huyện ủy và các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo trở thành nền nếp Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa Hàng năm,Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành Chương trình kiểm tra, giám sát và
tổ chức thực hiện nghiêm túc Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Huyện ủy, cấp ủy
và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra, giám sát 178 lượt tổ chức đảng và đảng viên; kiểm tra 8.290 lượt đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; trong đó, Ban Thường vụ Huyện ủy kiểm tra, giám sát chuyên đề 59 lượt tổ chức đảng và đảng viên thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý (kiểm tra 45 cuộc, giám sát 14 cuộc) Công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm được coi trọng Trong giai đoạn 2015- 2020,cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm 21 đảng viên (10 đảng viên thuộc diện Ban Thường vụHuyện ủy quản lý); kiểm tra 03 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm Việc thi hành kỷ luật đảng thực hiện nghiêm túc, đúng phương hướng, phương châm,
nguyên tắc, quy trình, quy định; đã thi hành kỷ luật 04 tổ chức đảng (khiển trách
03, cảnh cáo 01), thi hành kỷ luật 85 đảng viên (khiển trách 54, cảnh cáo 22, khai trừ 09); góp phần bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật và các quy định, Điều lệ
Đảng, cảnh tỉnh cán bộ, công chức, đảng viên trong toàn huyện
2.3.2 Trong lĩnh vực giải quyết công việc và đảm bảo việc làm vị trí việc làm
a Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện An Lão
- Số lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện An Lão thực hiện theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP, được thể hiện qua bảng 2.1
Trang 40Nguồn:Phòng Nội vụ huyện An Lão
Qua Bảng 2.1 ta thấy, số lượng CBCC cấp xã huyện An Lão có tính ổn định qua từng năm, đến năm 2020 cơ bản đủ số lượng theo quy định;riêng có
2 xã An Nghĩa và An Quang, qua Đại hội Đảng bộ xã do nhân sự không đủ chuẩn nên đã để khuyết Bí thư Đảng ủy;từ năm 2019 đến nay,huyện đã thực hiện Đề án bố trí 10/10 công an chính quy về làm Trưởng công an các xã, thị trấn nên không tính là chức danh công chức cấp xã Bên cạnh đó, do đặc thù công việc, một số chức danh công chức như văn phòng- thống kê, địa chính- Nông nghiệp- Xây dựng, tư pháp- Hộ tịch được bố trí ở mỗi xã, thị trấn nhiều hơn 1 người
- Cơ cấu CBCC cấp xã theo giới tính và độ tuổi