LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá sự tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên” được thực
Lý do thực hiện đề tài
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư phát triển hệ thống mạng lưới y tế, trong đó có các bệnh viện đa khoa Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật tiên tiến, sự gia tăng chuyên môn hóa ngành y tế với việc triển khai các kỹ thuật y tế tinh vi đã chuyển bệnh viện thành một tổ chức hoạt động khá phức tạp, đòi hỏi phải có cơ chế và phương pháp tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả Hiện nay môi trường và cơ chế hoạt động của bệnh viện đã thay đổi, cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động của bệnh viện vì vậy hầu hết các quốc gia đề phải chú trọng vào kỹ thuật quản lý bệnh viện, đảm bảo quản lý có chất lượng mọi mặt hoạt động của bệnh viện, trong đó quản lý hoạt động tài chính là một nội dung hết sức quan trọng Hơn thế nữa, hiện nay Nhà nước ta đã và đang chuyển đổi phương thức quản lý tài chính, biên chế của các cơ quan quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, trong đó có các bệnh viện công lập Trước đây, Nhà nước ban hành tất cả các chế độ, chính sách yêu cầu các đơn vị phải tuân thủ Hiện nay, các đơn vị được giao khoán kinh phí, biên chế để chủ động trong việc điều hành thực hiện nhiệm vụ và khoản kinh phí tiết kiệm được sử dụng để cải thiện thu nhập cho cán bộ viên chức Việc chuyển đổi phương thức quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định trong Nghị định số 16/2015/NĐ- CP ngày 14/02/2015 của Chính Phủ, quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
Từ hai lí do kể trên ta có thể thấy, nhiệm vụ của các nhà quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng nhiều, không chỉ làm nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải làm tốt công tác quản lý tài chính, biên chế Trong khi đó, cán bộ quản lý tại các đơn vị này thường chỉ giỏi về mặt chuyên môn khám chữa bệnh Do đó, để có thể nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, và các bệnh viện công lập nói riêng thì việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) vững mạnh là một điều rất cần thiết Nó sẽ giúp ngăn ngừa và phát hiện những sai phạm, yếu kém, giảm thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả hoạt động giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trên cơ sở nhận thấy được vai trò quan trọng của hệ thống KSNB trong việc đảm bảo cho bệnh viện hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật, tôi quyết định chọn đề tài “Đánh giá sự tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên ”.
Mục tiêu nghiên cứu
₋ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo hướng dẫn của INTOSAI
₋ Đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên
₋ Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên
₋ Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất định hướng một số kiến nghị để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên.
Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nói trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
₋ Hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên hoạt động có hữu hiệu không ?
₋ Mức độ tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện nói trên?
₋ Các chính sách nào cần thực hiện nhằm tăng cường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên?
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu là phương pháp định lượng, cụ thể:
Dùng phân tích nhân tố khám phá EFA để khẳng định 5 yếu tố cấu thành hệ thống KSNB có tồn tại trong hệ thống KSNB hiện hành tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên
Dùng phân tích mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố nói trên với tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập này
Dùng phương pháp suy diễn từ kết quả mô hình hồi quy đa biến để bàn luận và kiến nghị các chính sách phù hợp nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên.
Những đóng góp của luận văn
Đánh giá tình hình thực trạng hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Đo lường được mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB với tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập
Đề xuất các chính sách hợp lý nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập nói trên.
Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, nội dung được chia làm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
1/ Angella Amudo và Eno L Inanga (2009) với nghiên cứu “Evaluation of internal control systems: A case study from Uganda Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng mô hình chuẩn sử dụng trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong các dự án khu vực công ở Uganda do Ngân hàng Phát triển Châu Phi tài trợ Tác giả bài nghiên cứu đã dựa trên báo cáo COSO và khuôn mẫu COBIT để thiết lập mô hình các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là hệ thống kiểm soát nội bộ Sau khi tiến hành nghiên cứu, Angella & Eno L.Inanga kết luận rằng có 6 nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB, bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin và truyền thông, các hoạt động kiểm soát, giám sát và công nghệ thông tin
2/ Gamage, Mrs CT, Kevin Low Lock, and A A J Fernando (2014) với nghiên cứu “A Proposed reaserch framework: effectiveness of internal contro system in state commercial banks in Sri Lanka” Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Sri Lanka Trên cơ sở các nghiên cứu trước liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ mà các tác giả đã tìm hiểu và tóm tắt trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã đưa ra mô hình đề xuất gồm 5 yếu tố độc lập mà họ cho là có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB (bao gồm môi trường kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị, thông tin và truyền thông, các hoạt động kiểm soát và giám sát) Sau đó họ đã tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng cách gửi bảng câu hỏi khảo sát tới các nhà quản lý tại 36 chi nhánh của ngân hàng Bank of Ceylon (BOC) và 28 chi nhánh của ngân hàng Peoples Bank (PB) (2 ngân hàng thương mại nhà nước lớn của Sri Lanka có trên
300 chi nhánh trên cả nước), mỗi chi nhánh tiến hành khảo sát 2 đối tượng Dữ liệu thu thập được đo lường độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha, sau đó tiến hành phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và thống kê suy luận (xử lý bằng phần mềm SPSS) Kết quả cho thấy mô hình cả 5 yếu tố trong mô hình đề xuất của nhóm tác giả có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng thương mại nhà nước của Sri Lanka
3/Etuk Ifiok Charles (2011) với nghiên cứu “Evaluation of internal control system of banks in Nigeria” (Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ở các ngân hàng tại
Nigeria) Mục đích của bài nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng Nigeria Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đưa ra
6 giả thuyết nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến các hoạt động của các ngân hàng tại Nigeria Tác giả đã tiến hành thu thập số liệu bằng cách phòng vấn bằng bảng câu hỏi gửi tới 100 cán bộ cao cấp ở 5 trong số 25 ngân hàng và các chi nhánh của nó ở Nigeria Các dữ liệu thu thập được được phân tích bằng cách sử dụng tỷ lệ phần trăm giản đơn, mô hình Chi-Square, mô hình tương quan Spearman Rank và Pearson để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra Kết quả kiểm định cho thấy sự hiện diện của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng đã cung cấp sự đảm bảo hợp lý về hiệu quả của hoạt động quản lý, sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, độ tin cậy của báo cáo kế toán và báo cáo quản trị và việc đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định trong ngân hàng ở Nigeria Từ kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ở các ngân hàng, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị để cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ ở các ngân hàng này như nâng cao các khía cạnh kỹ thuật của kiểm soát nội bộ, nâng cao đãi ngộ đối với các nhân viên kiểm soát nội bộ….Ngoài ra, trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã tổng kết một cách cụ thể các khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ, mục tiêu, tính năng thiết yếu phân loại hệ thống kiểm soát nội bộ, cũng như là phần mềm để hỗ trợ cho kiểm soát nội bộ
4/ Shakirat Adepeju Babatunde và Kabiru Isa Dandago (2014) với nghiên cứu
“Internal control system deficiency and capital project mismanagement in the Nigerian public sector” Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tác động của sự thiếu hụt hệ thống kiểm soát nội bộ đến việc quản lý các dự án vốn trong khu vực công Nigeria Trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích như ANOVA, chi-square…để xử lý các số liệu thu thập được qua 228 dự án vốn, tác giả đã rút ra kết luận rằng việc thiếu hụt hệ thống kiểm soát nội bộ có tác động tiêu cực đến việc quản lý các dự án vốn trong khu vực công ở Nigeria Từ đó, tác giả cũng đã đưa ra một số kiến nghị để giúp nâng cao việc quản lý các dự án vốn như việc chính phủ chỉ nên tập trung một số dự án vốn trong một khoảng thời gian nhất định và cần nghiêm túc hơn trong việc quản lý chung của mình Đồng thời bài nghiên cứu còn nhấn mạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ đem lại nhiều lợi ích tốt nhất cho công dân
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
1/ Phạm Hồng Thái (2011) với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành Y tế tỉnh Long An” Trong nghiên cứu này, dựa vào 5 thành phần cấu tạo nên hệ thống KSNB tác giả đã tìm hiểu , phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các đơn vị ngành Y tế tỉnh Long An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại các đơn vị được khảo sát Việc khảo sát thực trạng hệ thống KSNB tài các đơn vị thuộc ngành Y tế tỉnh Long An tác giả đã dựa trên 5 yếu tố cấu thành theo báo cáo COSO 1992 và tiến hành lập bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên dữ liệu thu được từ khảo sát, tác giả đã dử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp, phương pháp biện chứng duy vật để phân tích đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp
2/ Trần Thị Bích Duyên (2014) với đề tài “Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định” Trong nghiên cứu này, tác giả đã tìm hiểu và đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định dựa trên 5 thành phần và 16 nguyên tắc cấu thành nên hệ thống KSNB theo báo cáo COSO 2013 Để thu thập dữ liệu tác giả đã sự dụng bảng câu hỏi khảo sát được gửi trực tiếp và qua ứng dụng Google Docs đến các đối tượng có liên quan thuộc 133 DN kinh doanh trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định Dựa trên số liệu thu thập được, tác giả sử dụng các phương pháp như kiểm định Cronbach’s Alpha, thống kê mô tả, kiểm định giá trị bình quân để đánh giá về sự hữu hiệu của từng thành phần cấu thành nên hệ thống KSNB ở các DN này và sử dụng phân tích ANOVA để xem xét liệu có sự khác nhau về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB giữa các nhóm đối tượng khác nhau trong các DN thuộc lĩnh vực du lịch nói trên hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp du lịch Bình Định còn nhiều yếu kém Trên cơ sở khảo sát, tác giả đã nhận diện được các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự yếu kém của hệ thống KSNB ở các DN nói trên và từ đó đưa ra các kiến nghị để giúp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ở những
3/ Cao Thị Thanh Tâm (2014) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo INTOSAI dành cho các đơn vị thuộc khu vực công lập Và trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả đã tiến hành tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng về hệ thống KSNB của các đơn vị y tế trực thuộc ngành y tế tỉnh Tiền Giang dựa trên 5 thành phần cấu thành của hệ thống KSNB theo INTOSAI Tác giả đã tiến hành khảo sát 16 đơn vị trực thuộc sở y tế tỉnh Tiền Giang bằng bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên số liệu thu thập được, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, tổng hợp để phân tích, đánh giá các mặt được và chưa được của hệ thống KSNB ở các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang cũng như là nguyên nhân yếu kém của hệ thống KSNB ở các đơn vị này Tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống KSNB cho các đơn vị này trên cơ sở 5 thành phần cấu thành nên hệ thống KSNB và một số các giải pháp khác đối với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
4/ Nguyễn Thị Mai Sang (2015) với đề tài: “Đánh giá các yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến chất lượng quản lý của hệ thống kiểm soát rủi ro tại các doanh nghiệp xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh”.Mục tiêu của nghiên cứu này xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành đến chất lượng quản lý của hệ thống KSRR tại các doanh nghiệp xây dựng ở TP.HCM, từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng quản lý của hệ thống KSRR tại các doanh nghiệp xây dựng Dựa trên lý thuyết về Báo cáo COSO năm 2004, tác giả đã xây dựng một mô hình nghiên cứu gồm
08 yếu tố tác động đến chất lượng quản lý kiểm soát rủi ro của DN xây dựng (bao gồm: môi trường kiểm soát; thiết lập mục tiêu, nhận dạng sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, phản ứng với rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin & truyền thông, giám sát) Sau đó, tác giả đã áp dụng của phương pháp phân tích dữ liệu như Cronbach’sAlpha, EFA và phân tích mô hình hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu thu thập được từ 130 phiếu khảo sát hợp lệ Kết quả cho thấy cả 8 yếu tố trong mô hình mà tác giả xây dựng ban đầu đều có ảnh hưởng và biến thiên cùng chiều với chất lượng quản lý KSRR, trong đó yếu tố tác động mạnh nhất là môi trường kiểm soát, tiếp theo lần lượt là thiết lập mục tiêu, đánh giá rủi ro, phản ứng rủi ro, nhận dạng sự kiện tiềm tàng, hoạt động kiểm soát, giám sát và ảnh hưởng thấp nhất là thông tin và truyền thông Cuối cùng, căn cứ vào kết quả phân tích được, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý KSRR tại DN theo báo cáo COSO năm 2004 cho các DN XD ở TP.HCM.
Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu những nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài của luận văn, tác giả nhận thấy rằng:
- Đối với các nghiên cứu nước ngoài: phần lớn các nghiên cứu về hệ thống KSNB trong khu vực công chủ yếu là tìm hiểu về tầm vĩ mô, chỉ có số ít là đi vào nghiên cứu hệ thống KSNB trong một loại hình tổ chức công cụ thể (chủ yếu là ngân hàng nhà nước, hay trường học ) Liên quan đến đề tài hệ thống KSNB thì cũng có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu về sự ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến một đối tượng (như mức độ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ, đến khả năng thu ngân sách nhà nước…) hoặc nghiên cứu về mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong một lĩnh vực cụ thể… và hầu hết các đề tài trong hướng nghiên cứu thứ 2 đều đưa ra mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB là gồm 5 yếu tố cấu thành nên hệ thống KSNB theo COSO hoặc INTOSAI Dựa trên cơ sở đó, tác giả sẽ vận dụng vào xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất cho luận văn của mình
- Đối với các nghiên cứu trong nước liên quan đến lĩnh vực y tế công: cơ bản nêu được thực trạng kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công, nhận thấy được mặt tồn tại của đơn vị đó, từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mới bước đầu dừng lại ở việc nghiên cứu bằng phương pháp định tính, do đó cũng chưa xác định được cụ thể mức độ tác động của từng yếu tố cấu thành nên hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động khám chữa bệnh ở những cơ sở y tế đó Đồng thời, khu vực tỉnh Phú Yên nơi tác giả đang sinh sống là một nơi có hệ thống các bệnh viện công lập đang ngày càng mở rộng và phát triển, tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ ở những bệnh viện công lập nơi đây Chính vì vậy, tác giả đã quyết định nghiên cứu theo hướng định lượng đề tài: “Đánh giá sự tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên”
Chương 1 trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến những nội dung nghiên cứu mà tác giả thực hiện Qua đó, tác giả xác định khe hở nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung và mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng, nó là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước.Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB sử dụng cho các cơ quan, tổ chức công lập Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp
Năm 1953, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao gọi tắt là INTOSAI (International Organization of Supreme Audit Institutions) được thành lập Hiện này, INTOSAI có 192 thành viên chính thức và 5 thành viên dự bị Với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI), INTOSAI đã góp phần quan trọng trọng việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình Ngoài ra, INTOSAI còn là diễn đàn về kiểm toán viên nhà nước trên toàn thế giới, trao đổi những vấn đề cung quan tâm và cập nhật những tiến bộ mới nhất của các chuẩn mực kiểm toán và các quy định về nghề nghiệp cũng như thông lệ tốt nhất
Năm 1992, INTOSAI đã ban hành “Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ dành cho khu vực công” Tài liệu này được xây dựng dựa trên nền tảng của báo cáo COSO 1992 về kiểm soát nội bộ với những điểm chính: xác định KSNB là một bộ phận, quy trình không thể thiếu trong một đơn vị nhằm giúp đảm bảo tính hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị, đảm bảo tính tin cậy của các báo cáo tài chính, tránh sự thất thoát tài sản cũng như đảm bảo các cá nhân và tổ chức luôn tuân thủ pháp luật và các quy định Hệ thống KSNB theo tài liệu hướng dẫn này cũng bao gồm năm thành phần đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thủ tục kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Điểm đặc biệt của tài liệu này đó là tập trung hơn vào những điểm đặc thù của khu vực công trong quá trình xây dựng hệ thống KSNB Hướng dẫn nói trên được cập nhập vào năm 2001 (công bố năm 2004) Bản mới nhất hiện nay được cập nhật vào năm
2013 (so với bản 1992 có bổ sung thêm 17 nguyên tắc)
2.1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ kiểm soát nội bộ Cụ thể như:
₋ Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (AICPA) định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau:
“Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”
₋ Theo Báo cáo COSO thì : “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng Quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ”
₋ Còn theo VSA 315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị:KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tại ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan
₋ Theo INTOSAI GOV 9100 thì KSNB được định nghĩa là” “một quá trình không thể tách tời được thực hiện bởi nhà quản lý và các nhân viên trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức”
Những mục tiêu cần phải đạt được:
Thực hiện các hoạt động trong đơn vị một cách có kỹ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp
Thực hiện trách nhiệm giải trình
Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định tại đơn vị
Bảo vệ các nguồn lực để không thất thoát, sử dụng sai mục đích
2.1.3 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập với ba mục tiêu chính như sau:
Mục tiêu tuân thủ: Hệ thống KSNB được thiết lập trong đơn vị phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành pháp luật và các quy định Hệ thống kiểm soát nội bộ sau khi thiết lập xong cần hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị nhằm đảm bảo các mục tiêu của đơn vị
Mục tiêu báo cáo tài chính: Hệ thống KSNB phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính được lập phải phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành
Mục tiêu hoạt động: Đây là mục tiêu liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động Kiểm soát nội bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin
2.1.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.4.1 Lợi ích Đối với tất cả các tổ chức nói chung và đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng, việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu mang lại cho đơn vị những lợi ích sau:
Tạo lập một cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ quy trình hoạt động của đơn vị
Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn được phương pháp tối ưu đối phó với các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu
Tạo lập được một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB
Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc cấp trên với cấp dưới giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai phạm do thiếu sót hoặc cố tình gây ra, động thời cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của HTKSNB…
KSNB giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hướng xác định mục tiêu, đánh giá rủi ro và thiết lập các hoạt động kiểm soát; đồng thời tạo lập một môi trường kiểm soát tốt đi đôi với một hệ thống thông tin hữu hiệu
2.1.4.2 Hạn chế Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống, thế nhưng vẫn không thể có một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn toàn hữu hiệu Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng được một hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, tính hữu hiệu thật sự của nó vẫn phụ thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự…Nói cách khác, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể hạn chế tối đa những sai phạm, vì nó có các hạn chế tiềm tàng xuất phát từ nhưng nguyên nhân sau đây:
Các yếu tố cấu thành nên hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2013
Môi trường kiểm soát của một tổ chức phản ánh văn hóa, sắc thái chung, chi phối ý thức kiểm soát của các cá nhân trong tổ chức và các bộ phận khác của KSNB Môi trường kiểm soát bao gồm các yếu tố sau:
₋ Sự chính trực và giá trị đạo đức : sự chính trực và giá trị đạo đức của nhà quản lý và nhân viên xác định thông qua cư xử chuẩn mực của họ trong công việc, thể hiện qua sự tuân thủ các luật lệ, quy định và đạo đức của cán bộ công chức ở mọi thời điểm Điều này thể hiện qua các việc như kê khai tài sản cá nhân, lập bảng tự kiểm điểm hàng kỳ
Ngoài ra, các tổ chức phải cho công chúng thấy được nhiệm vụ, sứ mệnh và tiêu chuẩn đạo đức của họ thông qua các văn bản chính thức
₋ Năng lực nhân viên : thể hiện qua trình độ hiểu biết, kỹ năng làm việc của nhân viên đảm bảo kỹ cương, đạo đức, trung thực, tiết kiệm, thực hiện công việc hữu hiệu và hiệu quả, cũng như hiểu đúng đắn về trách nhiệm của mình liên quan đến KSNB Nhà quản lý và nhân viên phải đảm bảo duy trì mức độ hiểu biết của họ về tầm quan trọng của KSNB, của việc phát triển, thực hiện và duy trì một HTKSNB tốt Đồng thời phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để hoàn thành các mục tiêu của KSNB và mục tiêu của toàn đơn vị Do đó, các thành viên trong tổ chức cần có kỹ năng để đánh giá rủi ro, đảm bảo hoàn thành trách nhiệm của họ trong tổ chức
₋ Triết lý quản lý và phong cách điều hành của lãnh đạo : triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà lãnh đạo thể hiện qua cá tính, tư cách, thái độ, cách xử lý, ứng xử, thể hiện mình để làm gương cho nhân viên Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức Khi nhà quản lý cấp cao nhất xác định rằng KSNB là rất quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức sẽ nhận biết và cố gắng cùng nhay xây dựng hệ thống kiểm soát Và ngược lại, khi các thành viên trong tổ chức thấy rằng việc kiểm soát không phải là mối quan tâm lớn của nhà quản lý cấp cao thì mục tiêu kiểm soát tại tổ chức gần như là không thể đạt được hiệu quả
₋ Cơ cấu tổ chức : một cơ cấu tổ chức hợp lý phải đảm bảo sự thông suốt trong việc giao quyền, ủy quyền và phân công trách nhiệm Một cơ cấu tổ chức bao gồm:
Sự phân quyền và trách nhiệm
Quyền hạn và trách nhiệm báo cáo
Hệ thống báo cáo phù hợp
Cơ cấu tổ chức xác định quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận trong tổ chức Một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ tác động tốt đến môi trường kiểm soát và ngược lại Do vậy, cơ cấu tổ chức phải thiết kế sao cho ngăn chặn được vi phạm cũng như những hành vi che giấu sai phạm Cơ cấu tổ chức có thể bao gồm một đơn vị kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác và đơn vị kiểm toán nội bộ này cần báo cáo trực tiếp lên bộ phận quản lý cao nhất trong tổ chức
₋ Chính sách nhân sự : chính sách nhân sự bao gồm việc tuyển dụng, định hướng, đào tạo và giáo dục, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật… Mỗi cá nhân đóng vai trò nhất định trong một tổ chức và có vai trò quan trọng trong KSNB
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của HT KSNB Nên khi quyết định tuyển dụng thì đảm bảo đối tượng tuyển dụng phải có giá trị đạo đức, liêm chính cũng như phải có kinh nghiệm để thực hiện công việc của họ Các nhà quản lý và nhân viên phải có đầy đủ hiểu biết về KSNB và sẵn sàng chịu trách nhiệm, điều này rất quan trọng để KSNB có hiệu quả và có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển tính chuyên nghiệp và thực thi chính sách minh bạch trong tổ chức; đặc biệt, đánh giá hiệu quả hoạt động và bổ nhiệm phải dựa trên thành quả công việc
2.2.2 Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro là quá trình quan trọng nhằm xác định và phân tích rủi ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức, từ đó xác định các biện pháp đối phó kịp thời Quy trình này bao gồm các bước sau:
₋ Cụ thể hóa các mục tiêu của đơn vị : Mục tiêu không phải là một bộ phận của kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro Bởi lẽ một sự kiện có trở thành một rủi ro quan trọng đối với đơn vị hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của nó đến mục tiêu của đơn vị Trong quá trình đánh giá rủi ro, người quản lý cần dựa vào mục tiêu chung đã được thiết lập để cụ thể hóa thành các mục tiêu và phổ biến để từng bộ phận, từng hoạt động có thể nhận dạng rủi ro
₋ Nhận dạng rủi ro : rủi ro có thể là rủi ro bên trong, rủi ro bên ngoài tổ chức hay rủi ro của từng bộ phận, rủi ro ở cấp toàn đơn vị Việc xác định phương án đánh giá rủi ro phụ thuộc vào việc xác định rủi ro nào, ảnh hưởng như thế nào đến mục tiêu của tổ chức
Xác định rủi ro là quá trình liên tục và xuyên suốt, được lập đi lập lại và được thực hiện cùng với quá trình lập kế hoạch Ở khu vực công, các cơ quan nhà nước phải quản trị rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu giao phó, bao gồm các chỉ tiêu được giao trong kế hoạch đơn vị
₋ Đánh giá rủi ro : là việc đánh giá tầm quan trọng, ước tính thiệt hại mà rủi ro có thể gây ra và khả năng rủi ro có thể xảy ra Có nhiều cách xác định rủi ro tùy theo loại rủi ro như thế nào nhưng phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống Mục đích chính của việc đánh giá rủi ro là để giúp cho nhà quản lý tìm ra phương án kịp thời để đối phó, ngăn chặn cũng như thực hiện các thủ tục kiểm soát theo thứ tự ưu tiên Đơn vị có thể dùng phương pháp định tính, định lượng hoặc cả hai để đánh giá mức độ rủi ro
₋ Đánh giá mức rủi ro có thể chấp nhận được : một việc quan trọng để xem xét, đối phó rủi ro là xác định mức rủi ro nào có thể chấp nhận Để xác định ngưỡng rủi ro có thể chấp nhận được cần phải xem xét cả hai loại rủi ro, đó là rủi ro vốn có và rủi ro còn lại Rủi ro vốn có là rủi ro đối với một thực thể trong trường hợp không có bất kỳ hoạt động quản lý nào có thể làm thay đổi khả năng xảy ra rủi ro hoặc ảnh hưởng của rủi ro Rủi ro còn lại là rủi ro của một hoạt động, sự kiện, một phương pháp hoặc một quá trình ngay cả khi những biện pháp đối phó rủi ro đã được áp dụng Mức rủi ro có thể chấp nhận được phụ thuộc vào việc nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro đó ảnh hưởng như thế nào đến mục tiêu Xác định các rủi ro chấp nhận được là một vấn đề chủ quan nhưng nó vẫn là một giai đoạn quan trọng trong việc xây dựng chiến lược rủi ro tổng thế
₋ Phát triển các biện pháp đối phó rủi ro: có bốn biện pháp đối phó với rủi ro là phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Phần lớn các trường hợp các rủi ro phải được xử lý hạn chế và phải duy trì hệ thống KSNB hiệu quả để có biện pháp thích hợp, giữ rủi ro ở mức chấp nhận được; vì các đơn vị nhà nước phải làm theo nhiệm vụ được giao Trong một đơn vị, rủi ro không thể không có nên mục đích của việc xử lý là phải ngăn chặn được rủi ro ở mức thấp nhất
Đặc điểm của kiểm soát nội bộ trong bệnh viện công lập
2.3.1 Khái niệm bệnh viện công lập
Bệnh viện công lập là những bệnh viện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước Là một đơn vị hành chính sự nghiệp có thu với chức năng là cung cấp dịch vụ công về y tế cho người dân, đồng thời thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về y tế
2.3.2 Đặc trưng của các bệnh viện công lập
₋ Đây là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước
₋ Mục tiêu hoạt động đem lại cho người dân những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang tính phúc lợi xã hội
₋ Chức năng hoạt động chủ yếu là khám chữa bệnh cho người dân, ngoài ra còn có chức năng đào tạo nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế
₋ Bệnh viện được tổ chức hết sức khoa học, các khâu khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được gắn kết chặt chẽ với nhau
2.3.3 Mục tiêu kiểm soát nội bộ ở các bệnh viện công lập
₋ Mục tiêu hoạt động: tối đa hóa lợi ích cộng đồng
₋ Mục tiêu báo cáo: các thông tin tài chính và phi tài chính phải được trình bày và báo cáo trung thực, đáng tin cậy; phải được cung cấp kịp thời và phù hợp với từng đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị
₋ Mục tiêu tuân thủ: phải chấp hành tuân thủ các quy định của Nhà nước và quy chế của đơn vị
2.3.4 Đặc điểm của kiểm soát nội bộ trong bệnh viện công lập
Lao động trong ngành y tế là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe của con người và tính mạng của người bệnh Chính vì đặc thù này mà vấn đề đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề y cần phải được đề cao hơn bất kỳ ngành nghề nào khác Tuy nhiên thực tế kết quả của một cuộc điều tra diện rộng cho thấy có đến 70% đội ngũ y bác sĩ vi phạm vấn đề y đức với các biểu hiện: kê đơn thuốc đắt tiền để hưởng phần trăm hoa hồng của trình dược viên; móc ngoặc chuyển bệnh nhân về phòng khám tư; thiếu tôn trọng bệnh nhân; lơ là, sao nhãng không hoàn thành nghĩa vụ, gây khó khăn cho bệnh nhân để nhận tiền bệnh nhân…
Nguyên nhân của việc vi phạm y đức nói trên theo kết quả phỏng vấn là do lương thấp, do quá tải, trình độ chuyên môn của các bác sỹ không đồng đều cũng như đội ngũ bác sĩ còn thiếu dẫn đến khó tránh khỏi tiêu cực để có được bác sĩ giỏi hơn chữa bệnh cho mình, cho người nhà Đặc biệt, đối với các cở sở y tế công lập, thì lương của bác sĩ được trả theo hệ thống lượng ngạch bậc của nhà nước do đó còn tương đối thấp, việc tuyển dụng bác sĩ vẫn còn có trường hợp dựa trên mối quan hệ quen biết chứ chưa chú trọng đến năng lực chuyên môn…
Ngoài ra, giống như các đơn vị sự nghiệp công lập khác, nguồn kinh phí hoạt động của các bệnh việc công, đặc biệt là các bệnh viện công lập ở các tỉnh lẻ như tỉnh Phú Yên, chủ yếu là từ nguồn ngân sách nhà nước cấp, do đó để sử dụng ngân sách sao cho hợp lý, tránh thất thoát, lãng phí, tham nhũng thì vấn đề đạo đức của những cán bộ trong các bệnh viện công là vấn đề cần quan tâm gắt gao
Chính vì các nguyên nhân kể trên, khi tiến hành xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ ở các bệnh viện công lập thì cần phải nhấn mạnh rõ tầm quan trọng của giá trị đạo đức.
Lý thuyết nền
Lý thuyết ủy nhiệm được khởi xướng bởi Micheal C.Jensen và William H.Meckling vào năm 1976 Theo lý thuyết này, mối quan hệ ủy nhiệm như là một hợp đồng mà trong đó bên ủy nhiệm (principal- có thể là một hay nhiều cá nhân) cam kết với bên đại diện (agent) thay mặt họ thực hiện một số công việc nào đó bao gồm cả việc ủy quyền ra quyết định kinh tế cho bên đại diện Trong công ty cổ phần, bên ủy nhiệm hay người chủ sở hữu là các cổ đông thuê nhà quản lý-bên đại diện thực hiện việc kiểm soát và ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cổ đông
Khi người chủ sở hữu thuê bên đại diện quản lý công ty, một vấn đề nảy sinh khi xuất hiện xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý Nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và có xu hướng quên đi lợi ích của cổ đông khi họ có thể đạt được mức lợi nhuận nào đó Lý thuyết ủy nhiệm nêu ra vấn đề chính là làm thể nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này
Trong các bệnh viện công lập, ban giám đốc chỉ là những người đại diện quản lý bệnh viện và tất cả tài sản của bệnh viện thay cho người chủ sở hữu bệnh viện là Nhà nước Vì vậy, ban giám đốc các bệnh viện có thể có xu hướng đưa ra các quyết định mạng lại lợi ích cho bản thân hơn là lợi ích công cộng; thậm chí nếu như trong quá trình hoạt động của bệnh viện có xảy ra thất thoát tài sản công hay sự cố rủi ro trong quá trình khám chữa bệnh cho người dân thì ban giám đốc cũng sẽ có xu hướng che giấu thông tin để tránh ảnh hưởng đến lợi ích bản thân
Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để ban giám đốc bệnh viện có thể kiểm soát tốt các hoạt động của bệnh viện mình, đồng thời giảm thiểu được hành vi tư lợi của ban giám đốc? Để làm được điều đó đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ các hoạt động của bệnh viện và hành vi của ban giám đốc
Khi áp dụng lý thuyết nói trên vào phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng ban giám đốc tại các bệnh viện, những người được Nhà nước tin tưởng giao quản lý các bệnh viện công lập, sẽ thực hiện việc xây dựng một hệ thống KSNB đầy đủ và hoạt động hữu hiệu, đáp ứng được việc kiểm soát các hoạt động trong bệnh viện, đảm bảo mọi hành vi của ban giám đốc và công nhân viên của bệnh viện đều đúng pháp luật, tài sản công trong bệnh viện được sử dụng đúng mục đích và bảo vệ an toàn, đảm bảo mọi hoạt động của bệnh viện đều vì mục đích cộng đồng
2.4.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1970 bởi G.A.Akerlof Theo lý thuyết này thì thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác, đồng thời bên có nhiều thông tin hơn có những hành vi gây bất lợi cho bên kia Lý thuyết này cũng đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng, chủ yếu tập trung vào ba nội dung: cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàn lọc, và cơ chế giám sát (Hà Xuân Thạch, 2016,trang 27 và 30) Áp dụng lý thuyết này vào thực tế của luận văn ta có thể thấy: sẽ có xuất hiện hiện tượng thông tin bất cân xứng giữa bệnh viện với người khám bệnh, với các cơ quan nhà nước khác có liên quan (như Sở Y tế, Bộ Y tế, Bộ Tài chính…); thông tin bất cân xứng giữa ban giám đốc bệnh viện với các khoa, phòng trong bệnh viện Trong luận văn này, tác giả kỳ vọng rằng việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, thông qua việc xây dựng và hoạt động đồng bộ của 5 yếu tố cấu thành (đặc biệt là yếu tố giám sát và yếu tố thông tin và truyền thông) sẽ đảm bảo hạn chế được tình trạng thông tin bất cân xứng,đảm bảo thông tin mà ban giám đốc nhận được cũng như là các thông tin được cung cấp từ bệnh viện đến các đối tượng bên ngoài là đầy đủ và trung thực, đảm bảo mục tiêu báo cáo tài chính của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trong chương 2, tác giả đã trình bày tóm tắt về:
₋ Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công
₋ Hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên lý thuyết nền INTOSAI năm 2013 được cấu thành bởi 5 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh ra rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin & truyền thông, giám sát
₋ Đặc điểm của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công lập
₋ Một số lý thuyết nền áp dụng trong bài nghiên cứu
Trên cơ sở các lý thuyết đã tóm tắt làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu và là tiền đề để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra trong các chương tiếp theo.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khung nghiên cứu của luận văn
Khung nghiên cứu của luận văn được xây dựng qua các bước từ việc xác định các vấn đề nghiên cứu, đề ra các mục tiêu cụ thể, xây dựng cơ sở lý luận, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo cho luận văn Sau đó sử dụng các công cụ thống kê để kiểm chứng mô hình từ đó kết luận vấn đề nghiên cứu, cuối cùng là đưa ra một số kiến nghị Quy trình nghiên cứu được tóm tắt theo sơ đồ dưới đây:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
Các nhân tố cấu thành nên hệ thống KSNB theo INTOSAI ,tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Các nghiên cứu trước đây
Xác định mô hình nghiên cứu và thang đo
Xử lý số liệu Phân tích độ tin cậy Phân tích hệ số tương quan EFA
Phân tích hồi quy đa biến
Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và kiến nghị
Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
3.2.1.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công
Trên cơ sở lý thuyết về KSNB theo INTOSAI 2004 đã tóm tắt ở chương 2, mô hình lý thuyết nghiên cứu được đề xuất gồm năm yếu tố, nhằm phản ánh thực trạng của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu a Môi trường kiểm soát
Trong bất kỳ một quy trình hoạt động, kiểm soát nào thì yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố then chốt đem lại thành công cho quy trình đó Đối với hoạt động kiểm soát ở các bệnh viện công lập cũng vậy Nếu như người đứng đầu đơn vị hiểu rõ tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đưa ra các chính sách, quyết định đúng đắn để các cá nhân trong toàn bệnh viện cùng thực hiện thì hoạt động của hệ thống
Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB
Môi trường kiểm soát Đánh giá rủi ro
Thông tin và truyền thông
Giám sát kiểm soát nội bộ trong bệnh viện đó mới thực sự có hiệu quả Do đó, tác giả đưa ra gải thuyết như sau:
Giả thuyết H1: Môi trường kiểm soát tốt làm tăng tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên b Đánh giá rủi ro
Bệnh viện là môi trường đầy rẫy nguy cơ và rủi ro Những rủi ro này có thể đến từ các yếu bên trong bệnh viện (vd: sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp có thể dẫn đến sự thất thoát nguồn lực của đơn vị; trình độ chuyên môn của các bác sĩ thấp dẫn đến sự nguy hại cho người bệnh hay một chương trình phần mềm thu viện phí bị lỗi có thể dẫn đến thiệt hại tài chính cho người bệnh….) hoặc do bên ngoài tác động đến (vd: sự ban hành một chính sách bảo hiểm y tế mới có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của bệnh viện,…) Nhưng rủi ro ấy có thể ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động chung của bệnh viện Do đó, đưa ra giả thuyết như sau:
Giả thuyết H2: Việc đánh giá rủi ro có ảnh hưởng tích cực đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên c Hoạt động kiểm soát
Khi ban lãnh đạo của bệnh viện đưa ra một chỉ thị, quyết định gì thì đồng thời phải có các chính sách và thủ tục để đảm bảo các quyết định, chỉ thị đó được thực hiện Hơn nữa, khi tiến hành đánh giá, nhận diện các rủi ro có thể xảy ra trong quá tình hoạt động của bệnh viện cần phải thiết lập các hoạt động kiểm soát đi kèm để kiểm soát và hạn chế khả năng xảy ra các rủi ro đó đến mức thấp nhất Hoạt động kiểm soát cần có mặt ở khắp mọi nơi và ở mọi cấp độ trong các bộ phận chắc năng của bệnh viện Vì lí do đó, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:
Giả thuyết H3: Hoạt động kiểm soát chặt chẽ làm tăng tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên d Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông nắm vai trò quan trọng đối với hoạt động kiểm soát nội bộ Nếu các cá nhân, bộ phận cấp dưới không nắm được thông tin chính xác, kịp thời về các chính sách, quyết định do cấp trên ban hành thì sẽ dẫn đến việc chấm trễ, sai sót trong việc thực hiện Hoặc nếu như cấp trên không được kịp thời báo cáo về các hành vi sai phạm, thiếu sót của cấp dưới thì dẫn đến việc đưa ra các quyết định, chỉ dẫn thiếu tính kịp thời, hợp lý Tất cả nhưng vấn đề đặt ra ở trên có thể là cho các quy trình hoạt động trong bệnh viện bị chậm trễ Chinh vì vậy, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:
Giả thuyết H4: Việc nâng cao chất lượng thông tin và các quá trình tuyền thông góp phần làm tăng tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên e Giám sát
Mục đích của việc kiểm tra, giám sát là nhằm giúp lãnh đạo đơn vị có thể phát hiện ra những sai sót, sai phạm phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị, đồng thời có thể xác định được những khó khăn, vướng mắc, hoặc các điểm yếu kém, chưa phù hợp trong hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó kịp thời khắc phục và sửa chữa Ngoài ra kết quả kiểm tra giám sát cũng là cơ sở, căn cứ quan trọng cho hoạt động thanh tra, kiểm toán của các đơn vị cấp trên Vì vậy, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:
Giả thuyết H5:Hoạt động giám sát chặt chẽ góp phần làm tăng tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên
3.2.2.1 Thang đo cho các nhân tố của hệ thống KSNB a Thang đo nhân tố “môi trường kiểm soát”
Nhân tố “môi trường kiểm soát” được ký hiệu là MTKS và được đo lượng bằng 6 biến quan sát sau:
MTKS1:Các quy định về đạo đức nghề nghiệp ngành y, các quy tắc ứng xử được phổ biến rộng rãi đến toàn bộ các viên chức, công chức trong bệnh viện
MTKS2:Bệnh viện có sự phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng, phù hợp với trình độ chuyên môn của mỗi cá nhân
MTKS3:Bệnh viện có chính sách hỗ trợ để khuyến khích tất cả các nhân viên (cả nhân viên hành chính, bác sĩ, điều dưỡng…) học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
MTKS4: Các quy định và biện pháp để giải quyết những nhân viên có trình độ chuyên môn, năng lực không đáp ứng tình hình công việc hiện tại
MTKS5: Quy trình tuyển dụng của bệnh viện được ban hành công khai và quy định cụ thể bằng văn bản
MTKS6: Bệnh viện có đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá cụ thể để khen thưởng và xử phạt nhân viên b Thang đo nhân tố “đánh giá rủi ro”
Nhân tố “Đánh giá rủi ro” được ký hiệu là ĐGRR và được đo lường bằng4 biến quan sát sau: ĐGRR1: Bệnh viện xây dựng mục tiêu hoạt động chung và mục tiêu hoạt động cụ thể cho từng khoa, phòng ĐGRR2: Bệnh việnthiết lập cơ chế để nhận diện các rủi ro liên quan đến các hoạt động trong đơn vị (hoạt động khám chữa bệnh, quản lý tài chính…) ĐGRR3: Định kỳ, bệnh viện tiến hành đánh giá mức độ ảnh hưởng những rủi ro có thể xảy ra ĐGRR4: Bệnh viện có thiết lập các biện pháp cụ thể để đối phó với các rủi ro có thể xảy ra c Thang đo nhân tố” hoạt động kiểm soát”
Nhân tố “hoạt động kiểm soát” được ký hiệu là HDKS và được đo lường bằng 6 biến quan sát sau:
HDKS1: Các nghiệp vụ trước khi phát sinh đều được phê duyệt bởi người có thẩm quyền
HDKS2:Các hành vi vi phạm quy tắc ứng xử, nội quy của bệnh viện đều bị xử phạt nếu bị phát hiện ra
HDKS3: Ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các hoạt động của đơn vị
HDKS4: Bệnh viện luôn cập nhật kịp thời các quy định về chuyên môn như phát đồ điều trị, quy trình phòng chống dịch bệnh…
HDKS5: Thường xuyên đối chiếu giữa kết quả hoạt động với các mục tiêu đã đặt ra để kịp thời điều chỉnh
HDKS6:Định kỳ đối chiếu giữa số thực tế và số ghi chép trên sổ sách tài sản của đơn vị d Thang đo nhân tố “thông tin và truyền thông”
Nhân tố “thông tin và truyền thông” được ký hiệu là TT và được đo lường bằng 6 biến quan sát sau :
TT1: Tất cả các thông tin (về tình hình tài chính, hoạt động khám chữa bệnh….) trong đơn vị được cung cấp đúng đối tượng, đầy đủ, kịp thời và chính xác
TT2: Khi có các sự cố xảy ra, thông tin luôn được kịp thời cung cấp cho ban giám đốc
TT3: Trưởng các khoa, phòng thường xuyên báo cáo tình hình công việc cho ban giám đốc để họ đưa ra các chỉ đạo kịp thời
TT4: Bệnh viện thiết lập kênh truyển thông để trao đổi thông tin với nhau và với các khoa trong nội bộ đơn vị
TT5: Bệnh viện thiết lập các kênh truyền thông để trao đổi thông tin giữa bệnh nhân, khách liên hệ với các nhân viên và các khoa phòng
TT6: Bệnh viện luôn tiếp nhận thông tin phản hồi từ bệnh nhân và các đối tượng khác bên ngoài đơn vị e Thang đo nhân tố “giám sát”
Nhân tố “giám sát” được ký hiệu là GS và được đo lường bằng 4 biến quan sát sau:
GS1: Ban giám đốc thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động của các khoa, phòng
GS2: Bệnh viện có bộ phận chuyên trách để đánh giá, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của bệnh viện
GS3: Định kỳ, các trưởng khoa phòng đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng nhân viên
GS4: Các cơ quan Nhà nước như Sở Y tế, cơ quan kiểm toán nhà nước… thường xuyên giám sát và kiểm tra hoạt động của đơn vị
3.2.2.2 Thang đo tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Có nhiều nghiên cứu về hệ thống KSNB đã đưa ra nhiều nhân tố khác nhau để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Theo Amudo & Inanga (2009) và Jokipii
(2010), để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, phải dựa trên việc đạt được các mục tiêu của nó bao gồm sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định Còn theo LaFond và You (2010) thì thực hành kế toán tốt nhất, tuân thủ luật pháp và các quy định, sự hiệu quả của hệ thống hoạt động, nâng cao nhận thức của nhân viên, và sự minh bạch của quá trình kinh doanh là những yếu tố được sử dụng để đo lường tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Hay theo như Poel & Vanstraelen (2011) thì độ tin cậy của thông tin tài chính chính là kết quả của hệ thống KSNB hữu hiệu (Nguyễn Hữu Bình,2014)
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
Về thang đo áp dụng: Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng một trong những hình thức thang đo lường phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng, đó là thang đo Likert 05 mức độ phổ biến từ 1-5 (1 là hoàn toàn không có, 2 là có ít, 3 là trung bình,
4 là có nhiều và 5 là có đầy đủ) để tìm hiểu mức độ đánh giá của người trả lời
Về nội dung bảng câu hỏi khảo sát : Tác giả dựa trên lý thuyết về hệ thống KSNB của INTOSAI và các nghiên cứu trước có liên quan như đã trình bày ở chương
1,2 để xác định các mục hỏi cần thiết cho mỗi thang đo Sau đó để đảm bảo các cán bộ viên chức trong các bệnh viện có thể hiểu được nội dung của các câu hỏi và đảm bảo các mục hỏi là cần thiết cho nghiên cứu, tác giả đã gửi bảng câu hỏi sơ bộ (bao gồm
38 câu thuộc 7 nội dung) (xem phụ lục 1) đến một số chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán và một số người đang làm việc trong lĩnh vực y tế (xem phụ lục 3 )
Sau khi tổng hợp các ý kiến đánh giá của các đối tượng được gửi bảng câu hỏi sơ bộ nói trên và tiến hành hiệu chỉnh bảng câu hỏi theo các ý kiến đóng góp đó, bảng câu hỏi chính thức được sử dụng để khảo sát bao gồm 31 câu hỏi thuộc 7 nội dung như sau (xem phụ lục 2):
(5) Thông tin và truyền thông
(7) Hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
3.3.2 Lấy mẫu khảo sát và tiến trình thu thập dữ liệu a Xác định kích thước mẫu khảo sát
Trong nghiên cứu này, tác giả dự kiến sửa dụng các công cụ phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy bội nên kích thước mẫu khảo sát phải đáp ứng được kích thước mẫu tiêu chuẩn của các công cụ phân tích nói trên Trước hết, để sử dụng EFA, chúng ta cần kích thước mẫu rất lớn; theo Hair và ctg (2006) (trích trong Nguyễn Đình Thọ 2011) thì để sử dụng EFA kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát trên biến đo lường (N/p) là 5:1 nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát, tốt hơn là 10:1 trở lên Trong nghiên cứu này, tác giả đưa 31 biến đo lường vào phân tích, do đó kích thước mẫu mẫu cần quan sát là 31*5= 155 Riêng đối với phân tích hồi quy bộ thì theo Green (1991) và Tabachnick và Fidell (2007) (trích trong
Nguyễn Đình Thọ, 2011) thì quy mô mẫu có thể được xác định theo công thức : n ≥ 50
+8k ( với k là số biến độc lập của mô hình) Trong nghiên cứu này, có 5 biến độc lập được đưa vào phân tích, như vậy số mẫu tối thiểu của luận văn là nP + 8*5 = 90 Ta có thể thấy kích thước mẫu cần thiết để sử dụng phân tích EFA lớn hơn rất nhiều so với phân tích hồi quy bội Do đó, để đảm bảo các kết quả phân tích được chính xác thì kích thước mẫu tối thiểu của nghiên cứu phải là 160 b Phương pháp và tiến trình thu thập dữ liệu
Dữ liệu thu về thông thường sẽ có sai sót do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Do vậy, để đảm bảo đạt được cỡ mẫu cần thiết như trên, tác giả gửi 200 bảng câu hỏi khảo sát đến các cán bộ viên chức tại 14 bệnh viện công lập trên địa bản tỉnh Phú Yên Số lượng bảng câu hỏi phát ra ở 14 bệnh viện công lập được xác định tương đối theo quy mô giường bệnh theo bảng dưới đây:
Bảng 3.1 Bảng kê số lượng mẫu khảo sát theo quy mô giường bệnh
STT Tên bệnh viện Quy mô giường bệnh
Số lượng bảng câu hỏi
1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên 500 50
4 Bệnh viện Điều dưỡng- phục hồi chức năng 130 16
5 Bệnh viện Y học cổ truyền 130 16
6 Bệnh viện đa khoa thành phố Tuy Hòa 70 8
7 Bệnh viện đa khoa huyện Sông Cầu 155 16
8 Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Xuân 70 8
9 Bệnh viện đa khoa huyện Tuy An 70 8
10 Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hòa 70 8
11 Bệnh viện đa khoa huyện Tây Hòa 70 8
12 Bệnh viện đa khoa huyện Sơn Hòa 70 8
13 Bệnh viện đa khoa huyện Sông Hinh 70 8
14 Bệnh viện đa khoa huyện Phú Hòa 70 8
Dữ liệu được thu thập trong thời gian là 06 tuần Tổng số phiếu thu hồi lại được là 180 phiếu (tỷ lệ phản hồi đạt 90%)
3.3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu thu được trước tiên sẽ được làm sạch Trong 180 phiếu khảo sát thu về có
17 phiếu không hợp lệ do không trả lời hết câu hỏi Những phiếu không hợp lệ này đã bị loại bỏ Dữ liệu thu được từ 163 phiếu khảo sát hợp lệ còn lại được xử lý trên máy tính và tiến hành mã hóa để sử dụng cho phần mềm SPSS20.0
Sau khi dữ liệu được làm sạch và mã hóa, tác giả lần lượt tiến hành các phương pháp phân tích dữ liệu như sau:
Đầu tiên, tác giả sử dụng phân tích Cronbach alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo Thông qua kết quả đánh giá để loại bỏ các biến quan sát, các thang đo không đạt yêu cầu
Tiếp theo, tác giả tiến hành phân tích dữ liệu với bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm xác định xem thử 5 yếu tố của hệ thống KSNB có được xây dựng trong hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập hay không ?
Cuối cùng, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến nhằm mục đích đo lường mối quan hệ nhân quả giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Trước khi chạy mô hình hồi quy, tác giả phải tiến hành kiểm tra tương quan giữa các biến độc lập với nhau để xem thử liệu có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy hay không và kiểm tra tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập Sau khi loại trừ hiện tượng đa cộng tuyến và đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy sẽ tiến hành thực hiện phân tích hồi quy đa biến
Trong chương này, tác giả đã trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu, bao gồm trình tự tiến hành các bước nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu dự kiến, đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng thang đo cho các biến độc lập và biến phụ thuộc Đồng thời trình bày rõ cách thức xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, cách thức thu thập dữ liệu, trình bày cụ thể các phương pháp phân tích dữ liệu được áp dụng và mục đích sử dụng các phương pháp đó
Chương này cũng trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ Kết quả cho thấy thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc là phù hợp Nghiên cứu chính thức được thực hiện với mẫu có kích thước n3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương 4 sẽ bao gồm các nội dung sau: Khái quát về tình hình tổ chức và hoạt động của ngành Y tế tỉnh Phú Yên; Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha; Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA; Kết quả phân tích hồi quy đa biến; Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu; Phân tích thực trạng và bàn luận kết quả; Kết luận chương 4
4.1 Khái quát về tình hình tổ chức và hoạt động của ngành y tế tỉnh Phú Yên 4.1.1 Khái quát về nhân lực y tế tỉnh Phú Yên năm 2015 Đến tháng 12/2015, toàn tỉnh Phú Yên có 156 cơ sở y tế (trong đó có 14 bệnh viện công lập tuyến tỉnh huyện), với 2.211 giường bệnh; bình quân 23,5 giường bệnh/vạn dân Toàn ngành hiện có 3.213 nhân viên y tế và người lao động, trong đó có
445 bác sĩ (bình quân 34 nhân viên y tế/vạn dân; 5,3 bác sĩ/vạn dân) Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân của tỉnh Phú Yên so với tỷ lệ bình quân cả nước 7 bác sĩ/vạn dân là tương đối thấp Mặc dù trong năm vừa qua, tỉnh đã thực hiện Nghị quyết số 110/2014/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Phú Yên về chính sách thu hút, đào tạo, đãi ngộ bác sĩ trên địa bàn tỉnh Phú Yên, tuy nhiên số lượng bác sĩ về tỉnh vẫn còn thấp và trình độ vẫn chưa cao
4.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện đa khoa tỉnh, các bệnh viện chuyên khoa và các bệnh viện đa khoa tuyến huyện
Toàn tỉnh Phú Yên có 1 bệnh viện đa khoa tỉnh, 4 bệnh viện chuyên khoa và 9 bệnh viện tuyến huyện
Chức năng chính của các bệnh viện này là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh trên địa bàn
Thực hiện chỉ đạo tuyến, phụ trách theo từng chuyên khoa, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn tại đơn vị và cử các bác sĩ đến hỗ trợ khám và điều trị tại các trung tâm y tế Đồng thời hỗ trợ về phương tiện cấp cứu (khi cần)
Thực hiện công tác nghiên cứu, đào tạo: hàng năm các bệnh viện sẽ tiếp nhận học sinh từ Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên đến thực tập, bệnh viện tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất cho các thực tập sinh thực hành và đồng thời phân công cán bộ phụ trách hướng dẫn lâm sàng cho học sinh theo từng khoa phòng Đồng thời mở các lớp đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên môn, tay nghề cho các nhân viên trong bệnh viện; tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học có thể áp dụng vào thực tiễn khám chữa bệnh
Thực hiện các chương trình mục tiêu y tế của quốc gia dưới sự chỉ đạo của Sở y tế tỉnh Phú Yên
4.1.3 Kết quả công tác khám chữa bệnh và phục hồi chức năng trên địa bàn tỉnh Phú Yên năm 2015
Hệ thống khám chữa bệnh công lập tiếp tục được củng cố, mở rộng về qui mô và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Trong năm, thực hiện 2.157.545 lượt khám bệnh, bình quân 2,3 lượt/người/năm,điều trị nội trú 119.092 bệnh nhân Công suất sử dụng giường bệnh tuyến tỉnhđạt 103%, tuyến huyện đạt 114%
Bệnh viện đa khoa tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Đề án bệnh viện vệ tinh về 2 chuyên ngành: Tim mạch và chấn thương chỉnh hình; Phối hợp với BV TW Huế tổ chức lớp tập huấn về xây dựng các qui trình xét nghiệm chuẩn, qui trình kiểm tra chất lượng xét nghiệm miễn dịch, hóa sinh; Bệnh viện đã triển khai nhiều dịch vụ kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị người bệnh (phẫu thuật điều trị trượt thân đốt sống, tán sỏi ngoài cơ thể và nội soi tán sỏi, lọc máu liên tục, tách khối tiểu cầu bằng máy Cobe Spectra…), giảmđược số bệnh nhân phải chuyển tuyến trên
Bệnh viện Sản Nhi mở rộng và phát triển dịch vụ kỹ thuật chuyên khoa ngoại nhi, bước đầu tiếp nhận phẫu thuật tai mũi họng dưới sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng 2 theo Đề án 1816 Cho đến nay, bệnh viện đã tự thực hiện thành công các ca phẫu thuật ngoại nhi: tái tạo niệu đạo (Dị tật bẩm sinh, niệu đạo thấp), tràn dịch màng tinh hoàn, nang thừng tinh… phẫu thuật nội soi cắt tửcung, thực hiện được kỹ thuật đo huyết áp động mạch xâm lấn trên bệnh nhân sốt xuất huyết nặng…
Bệnh viện Phục hồi chức năng triển khai có hiệu quả xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình để cung cấp chân, tay giả, nạng, nẹp chỉnh hình cho bệnh nhân tại bệnh viện và cộng đồng; Đã sản xuất và hỗ trợ 120 nẹp, chân giả cho người khuyết tật, hỗ trợ cho người khuyết tật nghèo được điều trị phục hồi chức năng Bệnh viện đã phát triển chuyên sâu các lĩnh vực về điện trị liệu, vận động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, … nâng cao chất lượng trongđiều trị và phục hồi chức năng
Toàn ngành có 206 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến được áp dụng trong phòng bệnh, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng
Triển khai việc hỗ trợ kinh phí khám chữa bệnh cho người nghèo và người gặp khó khăn đột xuất do mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo (bệnh nhân bị ung thư, chạy thận nhân tạo, mổ tim không có khảnăng chi trả) khi điều trị tại các bệnh viện công lậptheo quyết định số 809/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2014 về việc ban hành một số chế độ hỗ trợ một phần chi phí khám, chữa bệnh cho người nghèo, người gặp khó khăn đột xuất do mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo trên địa bàn tỉnh Trong năm đã hỗtrợ cho 5.751 lượt bệnh nhân, với tổng số tiền 2.491 triệu đồng
Tiếp tục thực hiện cải cách thủtục hành chính trong công tác khám, chữa bệnh thông qua việc thực hiện Quyếtđịnh 1313 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn Quy trình khám bệnh tại Khoa Khám bệnh của bệnh viện nhằm giảm phiền hà, đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân Nhìn chung, thủ tục đăng ký, dây chuyền khám bệnh từ phòng tiếp đón đến quầy phát thuốc được bố trí thuận tiện cho người đến khám, rút ngắn thời gian chờ đợi, góp phần làm tăng sự hài lòng của người bệnh
Thực hiện Quyết định số4858/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế v/v ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, trong năm 2015, Sở Y tế đã tổ chức đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ tiêu chí mới của Bộ Y tế tại 14 bệnh viện, kết quả 3 bệnh viện đạt loại khá, 11 bệnh viện đạt loại trung bình
4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha
Nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo, tác giả sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha kiểm tra tính nhất quán bên trong của kiểm định, xác định những biến quan sát không phù hợp với kiểm định trong việc đo lường hiện tượng điều tra
Tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Cronbach’s Alpha >=0.7 Thang đô có độ tin cậy Cronbach’s Alpha >= 0.6 cũng được chọn nếu là nghiên cứu mới (Nunnally, 1978; Peterson,1994) Về lý thuyết, Cronbach’s Alpha càng cao càng tốt (thang đo càng có độ tin cậy)
4.2.1.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo các nhân tố của hệ thống KSNB
Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng của các nhân tố thành phần của hệ thống KSNB được diễn giải dưới đây a Môi trường kiểm soát