Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin trên BCTN của doanh nghiệp đóng vai trò kết nối với nhiều đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài, giúp họ ra quyết định hợp lý và đạt được mục tiêu Đặc biệt, thông tin về lợi nhuận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tất cả các bên liên quan, vì nó phản ánh hiệu quả kinh doanh và triển vọng tăng trưởng của công ty Bất kỳ sự can thiệp nào làm sai lệch thông tin trên báo cáo đều có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC Các vụ bê bối tài chính như Enron, WorldCom, Parmalat và những vụ việc tại Việt Nam như Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông đã làm giảm niềm tin của công chúng vào chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp niêm yết.
Năm 2015 ghi nhận tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết điều chỉnh lợi nhuận sau kiểm toán vượt 70%, với 52% chỉ trong 6 tháng đầu năm, tạo ra mối lo ngại lớn về chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) Sự quan tâm đến quản trị lợi nhuận (QTLN) ngày càng gia tăng, bởi cả QTLN "hợp pháp" lẫn "bất hợp pháp" đều có tác động đáng kể đến độ tin cậy của thông tin trên BCTC của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết ủy nhiệm, sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý dẫn đến xung đột lợi ích, vì vậy việc giám sát quyết định của nhà quản lý là cần thiết để cải thiện sự liên kết giữa quản lý và lợi ích cổ đông, đồng thời giảm thiểu hành vi cơ hội Sự gia tăng các vụ bê bối kế toán đã chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính thông qua việc thiết lập cơ cấu quản trị tốt Quản trị công ty hiệu quả không chỉ tối đa hóa giá trị doanh nghiệp mà còn đảm bảo tính minh bạch trong công bố thông tin.
Cơ cấu sở hữu trong hệ thống quản trị công ty là yếu tố quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ali và cộng sự (2008) chỉ ra rằng các nhà quản lý sở hữu một phần lớn vốn chủ sở hữu có ít động lực để thao tác thông tin kế toán, từ đó hạn chế hành vi QTLN Ngoài ra, Shaikh và cộng sự (2012) cho rằng các nhà đầu tư tổ chức có khả năng phát hiện QTLN tốt hơn so với nhà đầu tư không phải tổ chức nhờ vào việc tiếp cận thông tin kịp thời và phù hợp Những nghiên cứu này khẳng định rằng cơ cấu sở hữu của công ty ảnh hưởng đáng kể đến QTLN, qua đó tác động đến chất lượng thông tin lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
Dựa trên lý thuyết ủy nhiệm, nghiên cứu gần đây đã chỉ ra tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu thực nghiệm cụ thể nào tại Việt Nam về vấn đề này Điều này dẫn đến câu hỏi liệu cơ cấu sở hữu của các công ty tại Việt Nam có ảnh hưởng đến hành vi QTLN hay không, và nếu có, ảnh hưởng đó ra sao? Để trả lời câu hỏi này, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” cho luận văn của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích tác động của cơ cấu sở hữu đối với hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.
Nhằm đạt được mục tiêu chung nói trên, luận văn cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
Nhận diện các yếu tố của cơ cấu sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Các yếu tố này bao gồm tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, sự phân tán cổ phiếu, và các mối quan hệ giữa các cổ đông Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp cải thiện hiệu quả quản trị và minh bạch trong hoạt động kinh doanh của các công ty.
Nghiên cứu này đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những gợi ý chính sách nhằm cải thiện quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp này.
Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Những nhân tố nào thuộc cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến hành vi QTLN?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh là rất quan trọng Các yếu tố như tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, sự phân tán cổ phần và sự hiện diện của các nhà đầu tư tổ chức có thể tác động mạnh mẽ đến quyết định QTLN Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và quản lý công ty trong việc tối ưu hóa chiến lược kinh doanh.
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét ảnh hưởng cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN
Phạm vi nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp trên BCTN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015
Để đạt được mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận văn áp dụng cách tiếp cận suy diễn, chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Phương pháp phân tích và tổng hợp đóng vai trò quan trọng trong việc tổng quát lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu và các nghiên cứu liên quan Điều này tạo nền tảng vững chắc để đề xuất mô hình nghiên cứu nhằm khảo sát ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị tài sản.
Phương pháp định lượng là công cụ chính trong luận văn, giúp kiểm tra và đo lường tác động của các yếu tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lãnh đạo Việc phân tích được thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm Excel và Stata 14.0, thông qua các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy.
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn phân tích ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM qua thông tin trong báo cáo tài chính (BCTN) Nghiên cứu đưa ra gợi ý chính sách nhằm hỗ trợ các chủ thể trên thị trường chứng khoán hạn chế hành vi QTLN Kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò của cơ cấu sở hữu trong việc kiểm soát hành vi QTLN và cung cấp tài liệu hữu ích cho người sử dụng BCTN, từ đó nâng cao khả năng ra quyết định.
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Bài viết nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị tài chính của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, từ đó nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) và phục vụ tốt hơn cho người sử dụng thông tin kế toán Nghiên cứu này cũng giúp nhà đầu tư đánh giá chất lượng BCTC của công ty để đưa ra quyết định phù hợp Nhiều học giả trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu của họ Tác giả sẽ lược khảo một số nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam và trên thế giới liên quan đến chủ đề này.
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
Nghiên cứu của Park & Shin (2004) về ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến quản lý lợi nhuận tại Canada đã áp dụng mô hình Modified Jones của Dechow và cộng sự (1995) để đo lường biến kế toán dồn tích, với mẫu 539 quan sát từ các công ty trong giai đoạn 1991-1997 Kết quả cho thấy rằng lợi nhuận thường bị quản lý tăng lên để tránh tổn thất trong báo cáo, trong khi sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và cổ đông tổ chức có tác động làm giảm hành vi quản lý lợi nhuận Ngược lại, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài lại dẫn đến gia tăng hành vi quản lý lợi nhuận, đi ngược lại với quan điểm cho rằng điều này sẽ nâng cao tính độc lập của HĐQT và giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và lớn.
Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2008) đã phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hành vi quản lý lợi nhuận trong 1001 công ty niêm yết tại Malaysia trong hai năm 2002 và 2003, sau khi loại trừ các công ty tài chính và thiếu dữ liệu Kết quả cho thấy mức độ sở hữu của nhà quản lý có thể hạn chế hành vi quản lý lợi nhuận, với một mối quan hệ tích cực giữa quy mô công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Mặc dù sở hữu của nhà quản lý có tác dụng giảm thiểu hành vi này, quy mô doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng Do đó, việc khuyến khích sở hữu của nhà quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ là cần thiết để cải thiện hiệu quả giám sát và bù đắp cho những thiếu sót trong cơ chế quản trị công ty khác.
Nghiên cứu của Kim & Yoon (2008) về "Tác động của quản trị công ty đến quản lý thu nhập tại Hàn Quốc" đã phân tích các yếu tố quản trị có khả năng giảm thiểu hành vi quản lý thu nhập của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc trong giai đoạn 2004-2005 Mức độ quản lý thu nhập được xác định thông qua khoản kế toán dồn tích điều chỉnh và tổng dồn tích theo mô hình Modified Jones do Dechow và các cộng sự phát triển.
Nghiên cứu năm 1995 sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy để khảo sát tác động của quản trị công ty đến chất lượng lợi nhuận (QTLN) Kết quả cho thấy rằng sự độc lập của Hội đồng quản trị, sự tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu nước ngoài, tỷ lệ đòn bẩy và quy mô công ty đều có ảnh hưởng đáng kể đến các khoản kế toán dồn tích có điều chỉnh và tổng dồn tích.
Nghiên cứu của Jang và cộng sự (2009): “The Effect of Board Structure and
Nghiên cứu "Cấu trúc sở hữu tổ chức đối với quản lý thu nhập" xem xét vai trò của giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức trong việc hạn chế các hoạt động quản lý thu nhập Mẫu nghiên cứu bao gồm 613 công ty niêm yết tại Malaysia, thuộc các lĩnh vực xây dựng, sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tiêu dùng, trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2023.
Mô hình Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995) được áp dụng để nhận diện hành vi QTLN, cho thấy mức độ QTLN của các công ty niêm yết tại Malaysia chiếm khoảng 16% tổng tài sản năm trước, với xu hướng tăng lên thay vì giảm Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa độ lớn QTLN và tỷ lệ giám đốc bên ngoài cũng như cổ đông tổ chức Jang, Chun & Ramadili cho rằng giám đốc bên ngoài có thể thiếu chuyên môn tài chính cần thiết để phát hiện QTLN, dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá thông tin Hơn nữa, tình trạng không độc lập hoàn toàn của giám đốc bên ngoài tại Malaysia và quyền sở hữu tập trung cao có thể cản trở khả năng hạn chế hành vi QTLN.
Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmi (2011) đã phân tích ảnh hưởng của cơ chế quản trị công ty đến quản lý lợi nhuận, với mẫu gồm 196 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran từ 2004 đến 2008 Kết quả cho thấy, sự tập trung quyền sở hữu, Hội đồng quản trị độc lập và việc kiêm nhiệm chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị có tác động ngược chiều đến quản lý lợi nhuận, trong khi các công ty có tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của tổ chức cao lại có quản lý lợi nhuận nhiều hơn Ngoài ra, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính cũng thể hiện mối quan hệ cùng chiều với quản lý lợi nhuận.
Nghiên cứu của Wang & Yung (2011) mang tên “Do state enterprises manage earnings more than privately owned firms? The case of China” đã phân tích tác động của sở hữu nhà nước đến chất lượng lợi nhuận (QTLN) của các công ty niêm yết tại Trung Quốc Mẫu nghiên cứu bao gồm 557 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 1998-2006, được chia thành hai nhóm: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Kết quả cho thấy mức độ dồn tích của QTLN ở doanh nghiệp nhà nước thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân, điều này trái ngược với giả thuyết rằng sở hữu nhà nước là nguyên nhân chính gây ra sự kém hiệu quả Wang & Yung giải thích rằng sự bảo vệ của chính phủ đối với các doanh nghiệp nhà nước đã giúp giảm áp lực lên các nhà quản lý, từ đó hạn chế việc thao tác thông tin.
Nghiên cứu của Klai & Omri (2011) về "Quản trị Doanh nghiệp và Chất lượng Báo cáo Tài chính: Trường hợp các công ty Tunisia" đã phân tích 22 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tunisia trong giai đoạn 1997-2007 nhằm đánh giá tác động của cơ chế quản lý đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) Nghiên cứu chỉ ra rằng các đặc điểm của ban giám đốc và cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN), từ đó tác động đến chất lượng BCTC Kết quả cho thấy sự thiếu độc lập của ban giám đốc và mức độ tập trung quyền sở hữu có ảnh hưởng tiêu cực đến QTLN Cụ thể, kiểm soát bởi các cổ đông nước ngoài, gia đình và mức độ tập trung quyền sở hữu làm gia tăng QTLN và giảm chất lượng BCTC, trong khi kiểm soát từ nhà nước và các tổ chức tài chính góp phần hạn chế QTLN, cải thiện chất lượng BCTC Ngoài ra, ba biến kiểm soát như quy mô công ty, cơ hội phát triển và đòn bẩy tài chính cũng có tác động hạn chế đến hành vi QTLN.