PHONG THỊ LOAN CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỐC OAI CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ MÃ SỐ: 8310110 LUẬN VĂN T
Trang 1
PHONG THỊ LOAN
CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN QUỐC OAI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Học viên Phong Thị Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài này là kết quả của bản thân sau một quá trình nỗ lực học tập và nghiên cứu với sự giúp đỡ của thầy cô, đơn vị, đồng nghiệp và người thân
Để có được thành quả ngày hôm nay, lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Xuân Hương, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian, công sức trong quá trình nghiên cứu để giúp tôi hoàn thành đề tài này
Tiếp theo, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trường Đại học Lâm Nghiệp, Khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo của trường Đại học Lâm Nghiệp đã giảng dạy tận tình và truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô và những người quan tâm đến
đề tài có những đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Học viên Phong Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm, vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 5
1.1.2 Cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp 7
1.1.3 Nội dung chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 11
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 13
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 17
1.2.1 Kinh nghiệm của các địa phương về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 17
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Quốc Oai 23
1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 25
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Quốc Oai 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 29
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp huyện Quốc Oai 37
Trang 52.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 38
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 40
2.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng trong luận văn 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Thực trạng cơ cấu cây trồng nông nghiệp huyện Quốc Oai 42
3.1.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp huyện Quốc Oai 42
3.1.2 Thực trạng cơ cấu cây trồng nông nghiệp huyện Quốc Oai 44
3.2 Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp huyện Quốc Oai theo hướng nâng cao giá trị gia tăng 45
3.2.1 Chuyển đổi loài cây trồng 45
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai 56
3.3.1 Nhóm nhân tố về điều kiên tự nhiên 56
3.3.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội 57
3.3.3 Nhóm nhân tố về tổ chức - kỹ thuật 58
3.4 Đánh giá chung về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai 59
3.4.1 Kết quả đạt được 59
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 60
3.5 Một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai 63 3.5.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 63
3.5.2 Giải pháp chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai 66
3.6 Khuyến nghị 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KTNN kinh tế nông nghiệp
GTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
KT-XH Kinh tế - xã hội
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng đất đai của huyện Quốc Oai năm 2019 29
Bảng 2.2 Thực trạng dân số, lao động của huyện Quốc Oai, 2017-2019 30
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Quốc Oai, 2017-2019 33
Bảng 2.4: Các nguồn thu thập thông tin thứ cấp 39
Bảng 3.1 Diện tích, sản lượng các loại cây chủ yếu trong 3 năm 42
Bảng 3.2: Cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp của huyện Quốc Oai 44
Bảng 3.3: Chuyển đổi cơ cấu cây lương thực theo diện tích (2017 - 2019) 45
Bảng 3.4: Chuyển đổi cơ cấu cây lương thực theo sản lượng (2017 - 2019) 46
Bảng 3.5: Chuyển đổi cơ cấu cây lương thực theo giá trị (2017 - 2019) 47
Bảng 3.6: Chuyển đổi cơ cấu cây ăn quả theo diện tích (2017 - 2019) 47
Bảng 3.7: Chuyển đổi cơ cấu cây ăn quả theo sản lượng (2017 - 2019) 48
Bảng 3.8: Chuyển đổi cơ cấu cây ăn quả theo giá trị (2017 - 2019) 49
Bảng 3.9: Chuyển đổi cơ cấu cây công nghiệp về diện tích (2017 - 2019) 50
Bảng 3.10: Chuyển đổi cơ cấu cây công nghiệp về sản lượng năm (2017 - 2019) 51
Bảng 3.11: Chuyển đổi cơ cấu cây công nghiệp theo giá trị (2017 - 2019) 52
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế canh tác cây lúa năm 2019 53
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế canh tác cây bưởi năm 2019 54
Bảng 3.14: Hiệu quả kinh tế canh tác cây đậu năm 2019 55
Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế canh tác cây mía năm 2019 56
Bảng 3.16: Đánh giá của các hộ điều tra về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện 56
Bảng 3.17: Đánh giá của cán bộ huyện về ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp huyện 58
Bảng 3.18: Đánh giá của các hộ điều tra về ảnh hưởng của tổ chức – kỹ thuật đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện 59
Bảng 3.19 Phân tích mô hình SWOT 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Sau hơn 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 65% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước và ổn định chính trị - xã hội Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc: giá trị sản xuất và giá trị gia tăng đã tăng liên tục trong một thời gian dài, sản lượng hàng hóa ngày càng tăng, xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ cao, thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ
và dựa trên mức độ tận dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và nguồn lực tự nhiên cao Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường như mất đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất và đe dọa tính bền vững của tăng trưởng Vì vậy, chất lượng và sự bền vững của tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn tới Trong tương lai, nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp
sẽ không còn được dồi dào, nông nghiệp sẽ phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp và dịch vụ khác Chí phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam với vị thế nhà sản xuất “chi phí thấp” trên trường quốc tế Nông nghiệp sẽ phải nâng cao vị thế cạnh tranh trên cơ sở nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và an toàn vệ sinh thực phẩm Điều này có thể đạt được thông qua tận dụng tiềm năng và cơ hội
để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng hàng nông sản, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường Vì vậy, cần có những thay đổi tích cực góp phần xây dựng nông nghiệp tiên tiến, tạo nền tảng cho
Trang 9một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống,
ổn định xã hội, xây dựng nông thôn Việt Nam ngày càng phồn thịnh, văn minh
Huyện Quốc Oai là một huyện ngoại thành Hà Nội, mặc dù trong những năm qua đã có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế của huyện Để khai thác tối ưu, bền vững các tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tạo ra các vùng sản xuất tập trung hàng hoá lớn có sức cạnh tranh, tối ưu hoá nguồn lực đầu tư, cùng hướng tới mục tiêu chung là sản xuất theo hướng hàng hoá, chế biến có quy mô lớn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, gắn với xây dựng huyện Quốc Oai trở thành huyện nông thôn mới, thì việc nghiên cứu tìm giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt và là nhu cầu cấp bách đặt ra đối với huyện Quốc Oai hiện nay
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn cung cấp luận cứ khoa
học góp phần vào việc giải quyết nhiệm vụ cấp bách nêu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Quốc Oai, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Quốc Oai
- Về nội dung: Đánh giá thực trạng cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai; Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi
cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai
- Về thời gian: Đề tài thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp qua 3 năm 2019); Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2020
(2017-4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp
- Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai
- Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai
Trang 11- Một số giải pháp chuyển đổi cơ cấu cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Quốc Oai
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Đặt vấn đề, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU
CÂY TRỒNG TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm, vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm…để thoả mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp
Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức
xạ mặt trời… trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác,
lề thói, tập quán… đã có từ hàng nghìn năm nay
1.1.1.2 Đặc điểm của ngành nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp chịu tác động và chi phối mạnh của các quy luật
tự nhiên và các điều kiện cụ thể như đất đai, khí hậu, sinh vật, thời tiết
- Lao động nông nghiệp của con người phụ thuộc vào quá trình tăng trưởng của sinh vật, cây con trong nông nghiệp có quy luật vận động riêng Đặc điểm đó có vai trò quyết định đến năng suất lao động trong nông nghiệp
Trang 13- Thời gian lao động và thời gian sản xuất không ăn khớp, tính thời vụ cao, tiềm năng lao động trong nông nghiệp còn rất lớn, nhất là những vùng chậm phát triển
- Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản hiện ra trên một không gian rộng lớn và thời gian dài
- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng không thể thay thế được trong hoạt động nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm do tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá
- Chủ thể chính của sản xuất nông nghiệp là nông dân với trình độ văn hoá, khoa học và kỹ thuật rất thấp
1.1.1.3 Vai trò của ngành nông nghiệp
Vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện ở một số điểm sau:
- Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong quá trình sản xuất tư liệu tiêu dùng thiết yếu cho con người (lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp) mà không một ngành nào có thể thay thế được
- Nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, góp phần đáng kể vào tích luỹ ban đầu cho sự nghiệp phát triển đất nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển Tích luỹ trong nông nghiệp được thực hiện trực tiếp thông qua thuế sử dụng đất nông nghiệp Nguồn thu này tuy không lớn nhưng là nguồn ổn định và là nguồn thu chủ yếu có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của địa phương trong thời kỳ công nghiệp hoá
- Nông nghiệp có ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là ngành công nghiệp Sự phát triển ổn định, vững chắc của nông nghiệp
có ý nghĩa quyết định đối với ngành công nghiệp, dịch vụ và toàn nền kinh tế quốc dân Việc giải quyết đủ lương thực cho nhu cầu trong nước và dư thừa
để xuất khẩu được coi là nền tảng quan trọng nhất cho sự ổn định nền kinh tế
Trang 14quốc dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngoài lương thực và thực phẩm, nông nghiệp còn cung cấp nhiều loại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến nông sản Sự phát triển của công nghiệp chế biến, ở mức độ rất lớn phụ thuộc vào quy mô và tốc độ của sản xuất nông nghiệp Tính phụ thuộc này sẽ càng tăng lên khi nhu cầu sản xuất và xuất khẩu nông sản với kỹ thuật cao tăng lên
- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân
- Nông nghiệp, nông thôn là nguồn cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội phát triển Quá trình phát triển kinh tế ở hầu hết các nước đều gắn liền với sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta đòi hỏi nguồn lao động không ngừng được bổ sung từ khu vực nông nghiệp
- Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện để chuyển các yếu tố sản xuất sang khu vực phi nông nghiệp
1.1.2 Cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm, nội dung cơ cấu cây trồng
a Khái niệm
Khái niệm cơ cấu cây trồng được hiểu xuất phát từ thuật ngữ “cơ cấu” theo thuyết cấu trúc (Structuralism) và học thuyết tổ chức hữu cơ “Oganism” thì cơ cấu của nó có thể hiểu như một cơ thể được hình thành trong một môi trường nhất định (hiểu theo nghĩa rộng) Trong đó các bộ phận hay yếu tố của
nó được cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một trật tự và tỷ lệ thích ứng Nội dung cốt lõi của nó biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận hợp thành và có mối tương tác lẫn nhau trong tổng thể Một cơ cấu có thể thay đổi
để phù hợp với điều kiện khách quan nhất định
Như vậy có thể hiểu, cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng
Trang 15SXNN nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, KT – XH sẵn có (Đào Thế Tuấn,1977)
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) đưa ra khái niệm Cơ cấu cây trồng đồng nhất với hệ thống trồng trọt mà theo ông “… là tổng thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian, tức mối quan hệ giữa các loại cây trồng, giống cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên một mảnh đất, trong mọi hệ sinh thái…”
Cơ cấu cây trồng là bộ phận chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Sự phát triển của cơ cấu cây trồng còn tùy thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động của xã hội Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu Cơ cấu cây trồng còn là một trong những nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp Xét trong phạm
vi các điều kiện canh tác thì cơ cấu cây trồng thể hiện thành phần các loại cây trồng được bố trí theo từng địa điểm, thời gian cụ thể Vì thế xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp Muốn phát triển trồng trọt ở từng vùng đạt hiệu quả kinh tế cao trước hết phải xem xét bố trí cây trồng thích hợp nhất với điều kiện tự nhiện - kinh tế - xã hội của vùng
Do đó cấu trúc một cơ cấu cây trồng hợp lý không những phát triển sản xuất một cách có lợi nhất mà còn bảo vệ tốt đất đai, môi trường
b Nội dung cơ cấu cây trồng
Nội dung cốt lõi của cơ cấu cây trồng biểu hiện vị trí, vai trò của từng
bộ phận và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng trong tổng thể Một cơ cấu có tính ổn định tương đối và được thay đổi để ngày càng hoàn thiện, phù hợp với điều kiện khách quan, điều kiện tự nhiên, môi trường nhất định Cơ cấu cây trồng lệ thuộc rất nghiêm ngặt vào điều kiện tự nhiên, các nguồn tài
Trang 16nguyên và điều kiện kinh tế - xã hội Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện để tăng trưởng và phát triển sản xuất
Cơ cấu cây trồng còn là cơ sở để bố trí mùa vụ, chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi và đặt ra cho ngành sản xuất trồng trọt những yêu cầu cần giải quyết Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, có tính chất xác định lẫn nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loài cây trồng với nhau, từ đó khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và
có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
a Khái niệm chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là chuyển từ trạng thái cây trồng cũ sang trạng thái cây trồng mới với mục tiêu chủ yếu là để nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế, phát triển những cây trồng phù hợp với điều kiện của địa phương và có triển vọng mang lại giá trị kinh tế cao trên thị trường, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải gắn liền với thị trường tiêu thụ
và chế biến Chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng được hiểu là sự thay đổi mối quan hệ về diện tích, phần trăm tỷ trọng trong cơ cấu, sự thay đổi về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng của toàn ngành dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và con người
b Sự cần thiết chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và của khoa học cây trồng nói riêng, cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp của nước ta có
Trang 17nhiều sự thay đổi tích cực theo hướng gia tăng năng suất, chất lượng của cây trồng trong nông nghiệp, từ đó góp phần gia tăng giá trị kinh tế trong trồng trọt cho người dân, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà nông nghiệp nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, cơ cấu nông nghiệp chưa thực sự phù hợp, đặc biệt trong việc nâng cao giá trị kinh tế của cây trồng Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong đó có cơ cấu cây trồng là đòi hỏi tất yếu, cần thiết để phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nước ta là một tất yếu xuất phát từ vị trí của nông nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội, từ thực trạng
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta trước yêu cầu của CNH, HĐH nông nghiệp để đáp ứng tốt yêu cầu của nền kinh tế thị trường Do vậy, việc lựa chọn cơ cấu cây trồng trong bối cảnh hiện nay phải xuất phát từ thị trường, đồng thời phải đảm bảo yếu tố kinh tế cho người trồng trọt, từ đó mới tạo động lực để người nông dân đổi mới, tìm kiếm các cây trồng phù hợp, mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp xuất phát từ vị trí của nông nghiệp và thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay Kinh
tế nông nghiệp trước mắt cũng như lâu dài vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta Trong tương lai nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất quan trọng đảm bảo các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Trên địa bàn nông thôn có gần 70% lao động xã hội, đó là nguồn cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, việc xác lập
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong đó có cơ cấu cây trồng hợp lý có ý nghĩa quan trọng góp phần sử dụng lao động phù hợp để phát triển nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Trang 18- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp do yêu cầu của phát triển sản xuất và chế biến nông sản
Là một ngành cung cấp lương thực, thực phần chính cho nền kinh tế Trong bối cảnh nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người và gia xúc, gia cầm ngày càng tăng mạnh do việc mở rộng sản xuất đòi hỏi ngành trồng trọt cần đổi mới, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng Điều đó đòi hỏi quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải triển khai theo hướng thâm canh, phát triển các vùng chuyên môn hóa gắn với bảo quản và chế biến nông sản phẩm
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp nước ta còn xuất phát từ yêu cầu phát triển một nền kinh tế nông nghiệp có hiệu quả, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở nông thôn, trong đó là tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho cư dân nông thôn
1.1.3 Nội dung chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo vùng: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng
theo vùng thể hiện ở việc thay đổi về quy mô và địa điểm trồng các loài cây chủ đạo trong nông nghiệp (bao gồm cả cây lương thực, cây ăn quả, cây lấy dầu, nguyên liệu khác….) dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội của mỗi vùng mà hình thành các cây trồng đặc trưng Các vùng kinh tế này có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung là dựa vào những lợi thế đó để khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng trong vùng nhằm tạo ra sự phát triển lớn hơn và bền vững
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ, đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy, cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chính là sự
Trang 19bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất
và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn bó cơ cấu kinh tế của từng vùng với cả nước
Phân công lao động thực hiện càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân chia tỷ mỉ và đa dạng, nhưng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu vẫn phải đảm bảo năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực đạt được ở mức nhất định Trước hết đảm bảo số lượng và chất lượng lương thực cần thiết cho toàn xã hội, sau đó mới tạo nên sự phân công giữa những người sản xuất lương thực và những người sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp, tạo nên sự phân công lao động giữa những người SXNN và người làm ngành khác
- Chuyển đổi cơ cấu theo phương thức canh tác: làm cho những diện
tích đất trước đây chưa sử dụng, hoặc sử dụng chưa hiệu quả chuyển đổi sang hướng sản xuất có hiệu quả kinh tế, môi trường cao hơn Khi có một cơ cấu cây trồng theo vùng hợp lý sẽ thu hút được vốn đầu tư từ bên ngoài để tiêu thụ, chế biến các nông sản đó
Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng tăng năng suất, tăng giá trị kinh
tế trên một diện tích canh tác nhằm đem lại nguồn lợi cao nhất cho người nông dân đang trở thành yêu cầu cấp thiết của ngành nông nghiệp hiện nay Song để có được một đề án quy hoạch hoàn chỉnh, rõ ràng vẫn còn là bài toán khó, nhất là việc xác định giống cây trồng chủ lực tại mỗi địa phương, từ đó lựa chọn các giống cây trồng xen canh mang lại hiệu quả cao nhất
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo giá trị: Lựa chọn các loại cây trồng
có hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng mới cần phải đạt hiệu quả kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Để đạt hiệu quả kinh tế cao thì các loại cây trồng trong cơ cấu cây trồng đều phải đạt năng suất cao
Trang 20Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, xãhội của vùng và của cơ sở sản xuất
Cùng với cơ chế, chính sách hỗ trợ của trung ương, ngành Nông nghiệp cùng các địa phương đang đẩy mạnh các giải pháp tích tụ ruộng đất, tạo thuận lợi cho người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Không chỉ được kỳ vọng ở hiệu quả kinh tế thông qua những con số cụ thể, chuyển đổi cây trồng thành công sẽ góp phần quản lý và
sử dụng đất một cách linh hoạt, hiệu quả; giải quyết vướng mắc, khó khăn hiện nay trong nông nghiệp như: thiếu lao động, bỏ ruộng không canh tác, hình thành các nhóm, tổ hợp tác sản xuất theo quy trình tiên tiến, thay đổi tư duy sản xuất của nông dân về thị trường và hội nhập quốc tế với chính sản phẩm nông nghiệp
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
1.1.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiên tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện tự nhiên, bởi đối tượng sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp là cơ thể sống, sản xuất chủ yếu ở ngoài trời nên điều kiện tự nhiên quyết định rất lớn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành nông nghiệp
- Vị trí địa lý: Đóng vai trò quan trọng trong việc bố trí cây trồng của đơn vị sản xuất, đồng thời là cơ sở để xác định lợi thế so sánh của đơn vị sản xuất, kinh doanh; khi tiến hành định hướng sản xuất để có hiệu quả như mong muốn cần phải chọn sản xuất cây gì, giống nào, cung cấp cho thị trường nào đều phải dựa vào vị trí địa lý nơi sản xuất như những vùng đất trung tâm thị
xã, thị trấn … có thể bố trí những cây trồng mang tính truyền thống, cây phục
vụ cho nhu cầu về lương thực, thực phẩm và những cây đặc sản Còn những nơi xa trung tâm thì bố trí các loại cây lâu năm, cây nguyên liệu phục vụ cho
Trang 21công nghiệp chế biến, để tạo ra sản phẩm phục vụ cho nghành công nghiệp, cung ứng cho thị trường, chuyển dịch cơ cấu cây trồng từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu KHKT, phát triển ngành nghề chế biến
- Đất đai: Là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp Khi được sử dụng đất đai hợp lý thì ngày càng làm tăng độ phì của đất, tức là khi bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ cải tạo đất, làm cho đất màu mỡ góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích Tùy vào điều kiện địa hình, độ dốc ,thành phần cơ giới, độ phì của đất để bố trí cây trồng cho phù hợp
Mỗi loại cây có đặc điểm sinh trưởng riêng Do vậy ta phải bố trí các loại cây trồng thích hợp, không nên bố trí các loại cây trồng có tác dụng làm xấu đi thổ nhưỡng của đất, nhằm bảo vệ và cải tạo đất để có hướng sản xuất bền vững
- Thời tiết, khí hậu: Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong trồng trọt, vì nó được tiến hành sản xuất ngoài trời nên thời tiết khí hậu mang tính quyết định lớn cho năng suất của cây trồng Chính dựa vào yếu tố này mà sinh ra tính thời vụ của cây trồng, nắm vững được yếu tố này để bố trí các loại cây trồng và công thức luân canh phù hợp giảm được thiệt hại do thiên tai gây ra nhằm làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế Ngày nay, mặc dù trình
độ KHKT đã có những bước tiến vượt bậc nhưng cũng chỉ khắc phục được phần nào chứ không hoàn toàn làm chủ về yếu tố tự nhiên
1.1.4.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - kỹ thuật
+ Nhân tố lao động: Lực lượng lao động là yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến mọi quá trình trong sản xuất, kinh doanh, là động lực thúc đẩy, tạo ra của cải vật chất cho xã hội, bất kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào cũng cần đến lao động, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, bởi con
Trang 22người là nhân tố quyết định các phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh Hình thành việc chuyển đổi cơ cấu ngành trồng trọt, cơ cấu lao động hợp lý để thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Vốn: Cùng với nhân tố lao động, thì nhân tố về vốn cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong lĩnh vực trồng trọt Thực tế hiện nay, đời sống nhân dân đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn nằm trong điều kiện chung đó là thiếu vốn để tổ chức sản xuất, kinh doanh, thiếu vốn cho mở rộng phát triển ngành nghề, dịch vụ và nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, ảnh hưởng lớn cho đầu tư tái mở rộng sản xuất Điều này đã kìm hãm tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nông dân thiếu vốn dẫn đến sản xuất, kinh doanh, mang tính tự cung, tự cấp, hàng hóa sản xuất ra chất lượng và hiệu quả kinh tế thấp, khó cạnh tranh trên thị trường Đứng trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho người nông dân để cơ cấu sản xuất, như hỗ trợ về tập huấn, nâng cao trình độ bằng công tác khuyến nông, khuyến lâm, cho vay vốn với lãi suất thấp, trợ giá nông sản phẩm, miễn thu thuế nông nghiệp Nhưng đối với thực tế thì các chính sách đó chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng
+ Cơ sở hạ tầng: Là nhân tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp có
cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng Hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông tốt sẽ thuận lợi cho giao lưu vận chuyển hàng hóa, hệ thống thủy lợi là nhân tố đóng góp có hiệu quả trong việc bố trí cây trồng và tạo điều kiện bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và cho sản xuất nông nghiệp Xây dựng và nâng cấp
hệ thống thủy lợi là một trong những giải pháp kỹ thuật không thể thiếu của công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng
+ Thị trường: Với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là động lực cho mọi thành phần kinh tế phát huy trên mọi thế mạnh của mình, khai thác
Trang 23tối đa nguồn nhân lực để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Trong nông nghiệp, thị trường đóng vai trò quan trọng, bởi hiện nay quá trình sản xuất chú trọng đến việc tạo ra hàng hóa nông sản, thị trường vừa là trung gian, vừa mang tính định hướng trong sản xuất, người sản xuất phải luôn luôn nghĩ sản xuất cây gì? bán ở đâu? và bán cho ai? để có hiệu quả kinh tế cao nhất hoặc sản xuất ra cái gì mà thị trường cần chứ không phải sản xuất ra cái mình có Hiện nay, cả thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp đã hình thành thì quan hệ thị trường từng bước được mở rộng nó có tác động lớn đến việc sản xuất hàng hóa cho nên cần phải có những thông tin kịp thời về thị trường để người sản xuất quyết định sản xuất số lượng, chất lượng chủng loại sản phẩm mà thị trường đang yêu cầu, từ đó bố trí sản xuất cơ cấu cây trồng hợp lý, cung ứng sản phẩm đáp ứng kịp thời cho thị trường
Tuy nhiên nền sản xuất nông nghiệp thiếu thông tin về thị trường, người sản xuất mang tính thụ động, và mang tính may, rủi thì hiệu qủa không cao, trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm còn mang tính chất tươi sống khó bảo quản, yêu cầu tiêu thụ kịp thời trong một thời gian ngắn như vậy thiếu hụt thông tin về thị trường sẽ làm bất lợi cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa nông nghiệp
+ Khoa học công nghệ dịch vụ: Trong thời đại ngày nay, các tiến bộ KHKT đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ sinh học tiên tiến trên thế giới đã sản xuất các loại giống cây trồng mới với thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh
Tiếp thu ứng dụng KHKT của thế giới để vận dụng vào việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng ở Việt Nam, đồng thời phải chuyển giao KHCN đến người dân bằng cách tập huấn nâng cao trình độ người lao động; phát triển hệ thống dịch vụ nông nghiệp vừa cung cấp kịp thời giống và các loại vật tư phục vụ cho sản xuất, vừa bảo đảm giá trị các sản phẩm của nông nghiệp, vừa làm động lực cho sự phát triển sản xuất
Trang 241.1.4.3 Nhóm nhân tố về chính sách của Nhà nước
Đây là những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong quản
lý, điều tiết nền kinh tế Thực tế cho thấy khi nhà nước có chính sách đúng sẽ
là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và ngược lại, nếu nhà nước ban hành một chính sách không phù hợp với thực tế khách quan thì thì
sẽ làm kiềm hãm sự phát triển của xã hội Những năm qua, Đảng và nhà nước
ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách đúng đắn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng như:
NĐ 64/CP của Chính phủ về giao ruộng đất đến hộ nông dân, chủ trương chuyển đổi đất, dồn điền, đổi thửa từ ô nhỏ đến ô thửa lớn để đầu tư thâm canh sản xuất; chính sách tín dụng miễn thuế nông nghiệp của nông dân, những chính sách đó đã góp phần tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển, thu được nhiều kết quả; đặc biệt là việc chú trọng đến việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
1.2.1 Kinh nghiệm của các địa phương về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
a Kinh nghiệm của tỉnh Bình Thuận
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận, để phát huy hiệu quả sử dụng đất và tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới, trong năm
2019, toàn tỉnh đã chuyển đổi hơn 3.000 ha đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác hiệu quả hơn đã tạo một số hiệu ứng tích cực trong sản xuất nông nghiệp, nhất là tạo hướng đi mới trên đất canh tác lúa nước từ quảng canh, thu nhập thấp sang luân canh có thu nhập cao, tiết kiệm nước tưới
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả và xã hội hóa giống lúa được triển khai tích cực Nhờ đó, tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh năm 2019 đạt trên 830.000 tấn
Trang 25Một trong những địa phương triển khai hiệu quả trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng là huyện Tuy Phong Nếu như trước đây Tuy Phong được biết đến là nơi đất đai khô cằn với khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa thấp nhất cả nước… thì nay với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, những vùng đất hoang hóa được thay bằng màu xanh cây trái Người dân đã đem rất nhiều giống cây về thử nghiệm; trong đó nhiều loại cây đặc sản mang lại hiệu quả trên vùng đất này như: thanh long, nho, xoài, dừa…
Vùng đất Tuy Phong đang nổi lên như một điểm nhấn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả
Để tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững,
Ủy ban nhân dân huyện Tuy Phong đã thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm trồng trọt… Chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất khô hạn của huyện, nhằm mang lại hiệu quả trồng trọt cho người nông dân
Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuy Phong, nhờ chủ trương đúng đắn trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đó kinh tế trang trại trên địa bàn huyện đang phát triển khá mạnh, khẳng định được chỗ đứng trên thị trường bằng sản phẩm chất lượng Hiện toàn huyện có 14 trang trại đạt tiêu chí được cấp giấy chứng nhận Phần lớn các trang trại được đầu tư bài bản, quy mô, mang tính bền vững cao, khẳng định là mô hình sản xuất hàng hóa tập trung và hiệu quả, tăng thu nhập, tạo việc làm thường xuyên cho người lao động, khai thác và sử dụng có hiệu quả trong diện tích hơn 70.000
ha đất nông nghiệp Các trang trại cho thu nhập trung bình từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/năm
Ngoài việc đẩy mạnh thâm canh các giống lúa xác nhận cho năng suất cao, các hộ dân ở các xã Phước Thể, Phong Phú, Phú Lạc (huyện Tuy Phong) còn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đất hoa màu, đất lúa 1 vụ bấp bênh sang trồng nho, thanh long Đồng thời, chính quyền các xã đã tuyên truyền,
Trang 26khuyến khích bà con dân tộc thiểu số thực hiện các mô hình chăn nuôi bò, dê sinh sản và trồng các loại cây ăn quả
Điển hình như nông dân xã Vĩnh Hảo, xã Vĩnh Tân đã mạnh dạn đầu tư trồng 300 ha cây trôm lấy mủ, đạt lợi nhuận cao Các loại cây ăn quả chất lượng cao đang phát triển mạnh ở xã Bình Thạnh, Phong Phú, với diện tích khoảng 80 ha, gồm xoài cát Hòa Lộc, xoài Thái Lan, cam sành Giá bán các loại trái cây giống ngoại cao gấp đôi so với giống nội Nghề sản xuất muối được duy trì, mở rộng trên 540 ha và đã thực hiện theo mô hình “Muối sạch trải bạt”, mang lại hiệu quả kinh tế cao…
Xác định chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải gắn với ứng dụng công nghệ cao là hướng phát triển chủ đạo và tất yếu để nâng cao sức cạnh tranh của nền nông nghiệp, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững Tỉnh Bình Thuận
đã xây dựng Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm
2020 Hiện tỉnh đang xây dựng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bình Thuận tại huyện Bắc Bình với diện tích 2.000 ha, dự kiến phát triển các loại cây trồng cạn có giá trị, thích nghi khô hạn như nhóm rau các loại, gia vị (hành, tỏi), cây dược liệu (lô hội, đinh lăng), cây lương thực và một số cây ăn trái nhiệt đới tưới ít nước…
Để việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả, nhất là ứng dụng công nghệ cao thực sự trở thành yếu tố đột phá năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản và của ngành nông nghiệp, trong thời gian tới, Bình Thuận triển khai các chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là trên các cây trồng, vật nuôi lợi thế của tỉnh Đồng thời, ngành nông nghiệp tăng cường chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ và khuyến nông, đưa nhanh các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, chế biến; thúc đẩy việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP trong sản xuất nông nghiệp
Trang 27b Kinh nghiệm của tỉnh Gia Lai
Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, Gia Lai đã từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với các tiềm năng của địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa Cơ cấu kinh tế nông, lâm, của tỉnh có
sự chuyển biến đáng kể Ngành nông nghiệp Gia lai thời kỳ 2010 - 2019 vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, mặc dù chịu tác động xấu của cuộc khủng kinh tế - tài chính khu vực và thế giới Tuy nhiên diện tích, sản lượng và chất lượng một số cây trồng có thế mạnh của tỉnh vẫn rất ổn định như cao su, cà phê đặc biệt là cây hồ tiêu Gia Lai nổi tiếng trên cả nước
Để đạt được kết quả đó, Gia Lai đã chú trọng khuyến khích nông dân đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ưu tiên những vùng đất mới chuyển đổi bằng giảm thuế, miễn giảm thủy lợi phí để chuyển dần từ độc canh cây cà phê sang là chủ yếu sang trồng nhiều loại cây khác phù hợp với đặc điểm địa phương, từng vùng đất
Nhận thức được rằng, hiệu quả kinh tế từ trồng sắn trên địa bàn không cao bằng một số loại cây trồng, khác, tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với những chủ trương, chính sách cụ thể Đồng thời, tỉnh cũng khuyến cáo nông dân không được biến đất trồng thành đất thổ cư Nhờ đó, phong trào chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
đã phát triển mạnh mẽ trong toàn tỉnh Từ năm 2010-2019, toàn tỉnh đã chuyển khoảng 5.000 ha đất trồng cây sắn không hiệu quả sang trồng cây ăn quả kết hợp trồng cỏ nuôi bò phát triển rất tốt.Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Gia Lai còn chậm, chưa rõ nét, sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, mang yếu tố tự phát, việc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất còn chậm nên năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp còn thấp, kém hiệu quả và thiếu bền vững
Trang 28c Kinh nghiệm của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Thực hiện Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã đẩy mạnh sản xuất đối với một số cây trồng mũi nhọn, trong đó có miến dong đỏ, từng bước nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
- Thay đổi tập quán canh tác
Để thay đổi nhận thức, tập quán từ sản xuất nhỏ lẻ truyền thống sang sản xuất các mặt hàng nông sản chủ lực có giá trị kinh tế cao, huyện Nguyên Bình
đã tập trung công tác tuyên truyền Đồng thời, chỉ đạo các xã, thị trấn bố trí kinh phí thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất
Từ chủ trương đó, đến nay, trên địa bàn huyện đã có một số cây trồng mũi nhọn đang có chiều hướng phát triển ổn định
Đơn cử như cây thuốc lá nguyên liệu được trồng ở 10 xã, toàn huyện trồng trên 166 ha, sản lượng đạt hơn 283 tấn Cây mía tập trung ở xã Thể Dục
và thị trấn Nguyên Bình với diện tích trên 36 ha Lạc giống hơn 240 ha với trên 1.400 hộ nông dân tham gia
Cây trúc sào phát triển được 2.119 ha, riêng năm 2019 trồng mới 1,89
ha và diện tích mọc lan hơn 63 ha, trong đó số diện tích đang khai thác 1.625
ha Các loại cây ăn quả như: cây lê vàng 29 ha, năm 2019 trồng mới 16,56 ha; cây thanh long hiện toàn huyện có trên 22 ha, năm 2019 trồng thêm 1,63 ha
Đặc biệt, cây dong riềng được huyện quan tâm tập trung chỉ đạo mở rộng diện tích và hỗ trợ đầu tư, trang bị giống và kiến thức cho các hộ gia đình Để phát triển diện tích trồng dong riềng và nghề làm miến dong ở địa phương, huyện huy động, lồng ghép các chương trình hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, hướng dẫn quy trình sản xuất an toàn
Đồng thời, khuyến khích các xóm thành lập nhóm hộ, tổ hợp tác để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau về vốn, giống, công lao động, thông tin về thị trường giá cả, tiêu thụ sản phẩm, quảng bá và giữ vững thương hiệu sản
Trang 29phẩm miến dong Nguyên Bình Hiện, trên địa bàn huyện duy trì trên 319 ha cây dong riềng, năng suất trung bình đạt 540 tạ/ha, sản lượng hằng năm đạt trên 25.000 tấn
Huyện hiện có 35 nhóm đồng sở thích về trồng cây dong riềng và sản xuất miến dong, trung bình mỗi nhóm có từ 12 hộ trở lên tham gia Từ khi tổ chức sinh hoạt theo mô hình liên kết nhóm giúp người nông dân tiếp cận với sản xuất hàng hóa liên kết theo chuỗi giá trị và nâng cao thu nhập hơn trong sản xuất
Đặc biệt, huyện chú trọng phát triển cây dong riềng đỏ ở xã Phan Thanh Miến dong được làm từ củ dong đỏ Phan Thanh được đánh giá thơm ngon, giữ được hương vị đặc trưng của củ dong riềng Để đưa miến dong đỏ Phan Thanh trở thành sản phẩm nông nghiệp hàng hóa có thế mạnh của địa phương, xã xây dựng thương hiệu nhằm mở rộng thị trường cho sản phẩm
- Xây dựng thương hiệu miến dong đỏ
Lãnh đạo UBND xã Phan Thanh cho biết, năm 2014, xã đã xây dựng thương hiệu miến dong đỏ và thành lập HTX miến dong Kim Mộc HTX đã đăng ký nhãn hiệu độc quyền thương hiệu “Đặc sản miến dong đỏ Nguyên Bình” Cơ sở chế biến miến của HTX có bao bì, mẫu mã, mã vạch riêng cho sản phẩm của mình
Việc hoàn thiện về quy trình sản xuất hàng hóa đã giúp sản phẩm miến dong đỏ Phan Thanh ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng Để giúp cho làng nghề thêm phát triển, những năm qua, Đảng ủy xã Phan Thanh ban hành Nghị quyết về phát triển làng nghề, xây dựng thương hiệu miến dong đỏ Phan Thanh
Trong thời gian tới, xã tiếp tục xác định cây dong đỏ là một trong những cây trồng chủ lực của địa phương Xã đặt ra mục tiêu diện tích quay vòng hằng năm đối với cây dong riềng giữ mức ổn định là 175 ha
Trang 30Cùng với việc quảng bá sản phẩm, UBND xã chỉ đạo các hộ dân và HTX chế biến miến tập trung nâng cao chất lượng, ký cam kết đảm bảo vệ sinh môi trường trong quá trình chế biến Bên cạnh đó, huyện Nguyên Bình thường xuyên đưa sản phẩm miến dong đỏ Phan Thanh tham gia các hội chợ nông sản để giới thiệu sản phẩm
Ngoài việc phát triển các nhóm hộ, huyện Nguyên Bình luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX hoạt động, thực hiện tốt mô hình chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012 HTX Miến dong Cốc Phường, xã Thành Công được kiện toàn và vận hành sản xuất từ năm 2014, chủ yếu tập hợp các thành viên duy trì nghề truyền thống làm miến dong
Dự án Hỗ trợ kinh doanh cho nông hộ tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1 đã đầu tư cho HTX 4 máy ép miến, 9 thùng khoắng bột inox, 2 máy dập túi sản phẩm, 4 thùng lọc bột và một số thiết bị khác với tổng số tiền hỗ trợ trên 4 tỷ đồng
Ngoài ra, tổ chức các lớp tập huấn cho nông dân kỹ thuật trồng, chăm sóc dong riềng và lập phương án sản xuất, kinh doanh cho HTX Từ khi được
hỗ trợ thiết bị, phương tiện, hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX ổn định
và đạt hiệu quả cao hơn
Trong khâu sản xuất đã giảm được chi phí, công lao động, điều kiện sản xuất, chế biến an toàn, sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Dự
án Hỗ trợ kinh doanh cho nông hộ tỉnh còn thực hiện kết nối giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm miến dong cho HTX, vì vậy thu nhập bình quân một thành viên của HTX hằng năm từ trồng và làm miến dong đạt khoảng 70 - 80 triệu đồng,
hộ thu nhập cao đạt trên 100 triệu đồng/năm
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Quốc Oai
Từ kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng của một địa phương trong nước có thể rút ra bài học cho huyện Quốc Oai như sau:
Trang 31(1) Khuyến khích nông dân đẩy mạnh phát triển các cây trồng có lợi thế cạnh tranh phục vụ xuất khẩu đi đôi với đầu tư thâm canh, đa dạng hóa sản xuất trên cơ sở địa phương tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, hỗ trợ tín dụng, khoa học và công nghệ
(2) Phát triển công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp và sử dụng nhiều lao động ở nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến Theo đó, địa phương cần quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh kèm theo chính sách khuyến khích đầu tư nhà máy chế biến, phát triển hệ thống tín dụng và thông tin thị trường ngay tại địa bàn sản xuất nhằm đảm bảo thị trường đầu ra ổn định cho nông dân
(3) Ưu tiên đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp: Thực hiện các biện pháp ưu tiên đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học để tạo ra các giống mới có năng suất và chất lượng cao, hỗ trợ tín dụng để nông dân mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ cơ giới hóa nhằm nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản xuất
(4) Khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tham gia vào thu mua, xuất khẩu nông sản thông qua chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, kho chứa nông sản ngay tại địa bàn nông thôn để nông dân yên tâm đầu tư vào sản xuất, giảm bớt rủi ro
(5) Tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển: Thúc đẩy các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển, nhất là kinh tế tập thể, kinh tế trang trại và kinh tế tư nhân thông qua chính sách thuế, kiến lập thị trường tín dụng, thị trường buôn bán vật tư và nông sản, nhằm từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa, đảm bảo cả về quy mô số lượng cũng như chất lượng nông sản hàng hóa theo yêu cầu của thị trường
Trang 321.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
- Nguyễn Văn Lạng (2002) khi nghiên cứu cơ sở khoa học xác định hệ thống cây trồng hợp lý đã đánh giá được tiềm năng đất, nước, khả năng bố trí cây trồng theo diện tích và đã đề xuất nhiều mô hình luân canh, xen canh, thâm canh hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao tại huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông
- Hồ Gấm (2003) đã nghiên cứu chuyển đổi hệ thống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông và cho rằng hệ thống cây trồng, hiệu quả kinh tế của các loại hình sản xuất, thu nhập và tích luỹ của các nhóm nông hộ rất khác nhau phụ thuộc vào nguồn lực của các nông hộ, hệ thống cây trồng chính mà nông hộ sử dụng và thị trường giá cả nông sản
Hệ thống cây trồng khá đa dạng và có sự khác biệt giữa các nhóm nông
hộ theo các vùng Bên cạnh những hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như hồ tiêu, cây rau, cà phê, cây bông vải, cây ngô, cây đậu tương, còn có những hệ thống cây trồng chưa hợp lý về sinh thái và hiệu quả kinh tế Các cây trồng tuy có đa dạng về chủng loại nhưng hệ thống về diện tích chưa thật hợplý làm cho sản xuất nông nghiệp không ổn định Trình độ canh tác của các nhóm nông hộ còn thấp, năng suất, sản lượng cây trồng chưa được phát huy
- Nguyễn Công Lý (2015) “chuyển đổi c cấu cây trồng hợp lý để giảm thiệt hại ở Đăk Lắc” Quan nghiên cứu đã đưa ra được định hướng và giải pháp quan trọng hàng đầu là phải chuyển đổi, bố trí cơ cấu cây trồng cho phù hợp với từng địa bàn, kiên quyết chuyển đổi những diện tích cà-phê ngoài vùng quy hoạch, có điều kiện đất đai, khí hậu không phù hợp và thiếu nước tưới sang trồng các loại cây khác cần ít nước tưới hơn để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
- Nguyễn Bảo Tuấn (2015), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sỹ kinh tế ngành Kinh tế chính trị, trường Đại học Vinh Đề tài
Trang 33đã đi sâu phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp tỉnh Nghệ An Đề tài cũng đã đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế, phân tích nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
- Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2007), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ kinh tế ngành kinh tế phát triển[8], Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Công trình đã đề cập những vấn đề
lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghiệp tỉnh Khánh Hòa và đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phạm Nguyệt Thương (2008), Giải pháp chủ yếu chuyển dổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sỹ kinh tế, Ngành kinh tế nông nghiệp, trường Đại học Thái Nguyên Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp; đồng thời đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Nghệ An
Các công trình đã công bố nêu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận
và thực tiễn, quan điểm và phương hướng, giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên phạm vi cả nước và các địa phương Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên huyện Quốc Oai Do đó, nghiên cứu của tác giả là không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Quốc Oai
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Huyện Quốc Oai nằm ở khoảng giữa khu vực phía tây Hà Nội, giáp danh với tỉnh Hoà Bình Cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía Tây, huyện được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp với huyện Thạch Thất; Phía Đông giáp huyện Hoài Đức; Phía Nam giáp huyện Chương Mỹ; Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
Diện tích tự nhiên của huyện là 14.700,62 ha, chiếm 4,4% diện tích tự nhiên của Hà Nội Quốc Oai vốn có những lợi thế nhất định về vị trí địa lý, đất đai: Không chỉ là nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, mà còn thuộc phạm vi quy hoạch chuỗi đô thị vệ tinh của Thành phố Hà Nội: đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây, đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 372/QĐ -TTg
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Huyện Quốc Oai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 4 mùa rõ rệt Mùa xuân có nhiệt độ không khí mát mẻ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng vật nuôi, Mùa hạ, nhiệt độ trung bình 25-350C, nhưng do ảnh hưởng của nhiệt độ nóng lên của trái đất nhiệt độ thường sảy ra những đợt nắng nóng trong những năm gần đây nhiệt độ cao lên đến 39 - 400C, đây là mùa chịu nhiều mưa bão, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất cây trồng, các xã nằm vùng ven sông Tích Giang thường hay ngập úng khi có mưa Mùa đông có nhiệt độ trung bình 16-
220C, Điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đa dạng
Vùng đồng bằng ven sông phù hợp để canh tác cây nông nghiệp, vùng
gò đồi có thể phát triển tốt các giống cây ăn quả, cây công nghiệp, các khu trang trại
Trang 352.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Địa hình mang tính chất chuyển tiếp giữa miền núi, bán sơn địa và đồng bằng, lại bị chia cắt nhiều bởi sông ngòi nên địa hình tương đối phức tạp Địa hình Quốc Oai được chia làm ba 3 vùng sinh thái khá rõ là: Vùng Bãi sông Đáy gồm 09 xã và 1 thị trấn gồm: Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn, Đồng Quang, Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành và Thị trấn Quốc Oai; Vùng bán sơn địa và các xã miền núi có 5 xã: Đông Xuân, Đông Yên, Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch; Khu vực nội đồng gồm 7 xã: Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Liệp Tuyết, Tuyết Nghĩa, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Thạch Thán Trên địa bàn Có hai con sông Đáy và sông Tích Giang chảy song song của huyện không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy mà còn đem lạinguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Trong đó vùng ven sông chủ yếu phát triển cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi gia xúc gia cầm, nuôi trồng thủy sản; vùng đồng bằng trung tâm tập trung phát triển cây lương thực mà lúa là cây trồng chủ đạo, cây hoa màu các loại; vùng bán sơn địa trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chăn nuôi gia súc
và một số cây khác, vùng núi chủ yếu trồng rừng sản xuất lấy gỗ, phát triển mạnh các mô hình kinh tế trang trại của huyện
2.1.1.4 Tài nguyên khoáng sản, môi trường
Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản có trữ lượng để khai thác là đá vôi, sét, cát, than bùn, trong đó tại khu vực đồi núi có loại đá vân đẹp có thể sản xuất
đá xẻ trang trí, có đá vôi độ tinh khiết cao có thể dùng sản xuất sản phẩm mỹ nghệ và CaCO3 dùng cho ngành công nghiệp cao su, NaHCO3 dùng cho ngành
y tế Đất sét ở nhiều khu vực có thể sản xuất vật liêu xây dựng, cát ở Lam Điềncó thể khai thác Than bùn có ở nhiều xã Tuy nhiên do để bảo vệ cảnh quan
và sử dụng cho mục đích quốc phòng việc khai thác đá đã chấm dứt; để bảo vệ môi trường nhiều khu vực cũng đã cấm khai thác đất sản xuất VLXD; để chống sói lở đất và bảo vệ đê huyện cũng không cho phép khai thác cát
Trang 362.1.15 Tài nguyên rừng
Trên địa bàn huyện Quốc Oai có 04 xã có rừng, gồm có Đông Xuân, Đông Yên, Hòa Thạch, Phú Mãn Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là: 1.493,07 ha Diện tích đất có rừng là 1.293,70 ha, đất trống quy hoạch dành cho lâm nghiệp là 199,37 ha; diện tích rừng trồng là 1.005,25 ha có trữ lượng, diện tích rừng tự nhiên của huyện là 288,45 ha Rừng trồng trên đất lâm nghiệp địa bàn Quốc Oai chủ yếu là rừng thuần loại, phần lớn là rừng có trữ lượng thấp, giá trị phòng hộ, cảnh quan và kinh tế thấp
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
2.1.2.1 Diện tích đất đai
Bảng 2.1 Thực trạng đất đai của huyện Quốc Oai năm 2019
Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ 242,93 1,65 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 243,28 1,65
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quốc Oai, 2020
Trang 37Với tổng diện tích 14.700,62 ha, cơ bản trên 90% diện tích đất của huyện được sử dụng, phần đất chưa sử dụng là đất đồi núi, sông suối hoặc núi
đá Diện tích đất nông nghiệp là 6.140,74 ha, chiếm tỷ lệ cao nhất 47,05% tổng diện tích đất toàn huyện trong đó đất dành cho kinh tế trang trại cây hàng năm, lâu năm, cây lâm nghiệp, thủy sản, cây khác là 260,24 ha chiếm 4,24%
so với đất sản xuất nông nghiệp của huyện, đất ở là 1.787,07 ha chiếm 13,77%; đất chuyên dùng là 4.432,84 ha chiếm 34,16% (trong đó đất sử dụng cho các công trình năng lượng là khoảng 4,09 ha); đất cho sử dụng khác là 519,64 ha (đất tôn giáo tín ngưỡng, sông suối, nghĩa trang) chiếm 13,49%; đất chưa sử dụng là 131,53 ha chiếm 1,01%
Sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả kinh tế cao luôn được huyện xem xét hết sức thận trọng Tuy nhiên đất canh tác của huyện, theo dự báo sẽ liên tụcgiảm do việc xây dựng các đô thị sinh thái Quốc Oai, đô thị công nghệ cao Hòa Lạc,
Trang 38Chỉ tiêu 2017 2018 2019
Tốc độ phát triển bình quân (%)
bào DTTS và miền núi 13.837 13.811 13.836 103,48
Nguồn: Thống kê huyện Quốc Oai
Theo thống kê năm 2019, dân số trung bình toàn huyện, là 172.691 người, có tỷ lệ nam: 49% và nữ 51% Dân số thành thị có tỷ lệ nhỏ (8%) Tỷ
lệ tăng dân số trung bình là 1,85%/năm, cao hơn tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (1,31%/năm), do địa bàn huyện đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa nên có sự tăng cơ học số lượng dân cư
Theo số liệu thống kê năm 2019, số người trong độ tuổi lao động của huyện là 98.131 người, trong đó 86.260 người đang làm việc trong các ngành KTQD, 7.797 người đang theo học các khóa đào tạo, 2.997 người không làm việc, 430 người chưa tìm được việc làm
Có nghề nghiệp, việc làm, thu nhập ổn định là mong muốn của không riêng những người dân tại các khu vực có đất thu hồi để chuyển đổi mục đích
sử dụng mà của các bộ phận người dân trong huyện Các doanh nghiệp đóng trên địa bàn đã thường xuyên mở các lớp đào tạo nhằm bổ sung nhân lực Ngoài ra, toàn huyện có 65/101 làng có nghề, (trong đó 16 làng nghề đã được công nhận làng nghề truyền thống) thu hút trên 33.000 hộ gia đình
Trang 392.1.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng
- Giao thông thủy lợi: Những năm gần đây hệ thống giao thông của Quốc Oai đã được đầu tư và xây dựng đúng mức Các tuyến đường liên huyện, liên xã, thôn và đường làng ngõ xóm được đầu tư làm mới theo mục tiêu xây dựng nông thôn mới Trong đó có dự án đầu tư thi công đường 421B dài hơn
17 km đi qua 8 xã của huyện Quốc Oai và huyện Chương Mỹ (có mức đầu tư gần 117 tỷ đồng); dự án đầu tư xây dựng công trình đường Trại Cá - Liệp Tuyết - Phú Cát có chiều dài 5km (với tổng mức đầu tư trên 14 tỷ đồng) Trục đường lớn phát triển về phía tây của Hà Nội cógần 10 km đi qua địa bàn của Quốc Oai, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp cũng như phát triển đô thị quanh trục đường này Ngoài ra, có đường 21A (Sơn Tây - Xuân Mai) cũng chạy qua địa bàn Quốc Oai 8 km, Đại lộ Thăng Long và một số trục lộ khác đã và đang được triển khai xây dựng, góp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng giao thông của địa phương Đó cũng chính là nền tảng để phát triển đô thị, cũng như các ngành kinh tế, du lịch, góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương
- Bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin: hệ thống bưu chính viễn thông của huyện trong những năm trở lại đây được phát triển mạnh để phục
vụ cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo được chất lượng truyền thông các nhà mạng đem lại lợi ích to lớn cho địa phương, Mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu và thời tiết, như bão, lũ, gây thiệt hại cơ
sở vật chất, nhưng ngành bưu chính viễn thông Quốc Oai đã luôn triển khai công tác một cách chủ động, tích cực, có các phương án đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt cho hoạt động thường ngày của các cơ quan hữu quan; các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn huyện
- Hệ thống điện: Đảm bảo điện lưới phục vụ 24/24 giờ cho nhân dân của huyện sinh hoạt và phát triển kinh tế, đã phát triển đến 100% số xã và thị trấn Năm 2019 điện thương phẩm bình quân tính trên đầu người đạt 606
Trang 40kWh/ng/năm, bằng 50% so với chỉ tiêu toàn thành phố Hà Nội, công ty điện lực Quốc Oai thường xuyên kiểm tra duy tu, bảo trì bảo dưỡng hệ thống điện đường dây, máy phát, một số trạm biến áp được quy hoạch xây mới, sửa chữa kịp thời đáp ứng đầy đủ điện sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong huyện
2.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Quốc Oai
* Tình hình phát triển kinh tế
Với những lợi thế về đất đai, thủy lợi, nguồn nhân lực, Quốc Oai được đánh giá là huyện giàu tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Thực tế cho thấy, từ trước đến nay, nông nghiệp luôn là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, đóng góp nhiều nhất trong GDP của huyện
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Quốc Oai, 2017-2019
(Đơn vị tính: %)
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Quốc Oai
Trong những năm qua,với chủ trương của huyện đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế bền vững, phá bỏ thế độc canh cây lúa, tiến tới đa canh để thích ứng với địa hình đa dạng của địa phương nhằm phát triển những mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp khác nhau, gắn với thế mạnh của từng vùng, tạo hiệu quả kinh tế cao nhất Trong đó vùng ven sông chủ yếu phát triển cây ăn quả, rau màu, chăn nuôi bò sữa; vùng đồng bằng trung tâm tập trung phát triển cây lương thực mà lúa là cây trồng chủ đạo; vùng bán sơn địa triển khai thực hiền trồng tre Bát Độ lấy măng và một số cây khác