1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện yên lập tỉnh phú thọ

95 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Sản Xuất Chè Quy Mô Hộ Gia Đình Trên Địa Bàn Huyện Yên Lập, Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Kim Huỳnh
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Minh Nguyệt
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 793,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sản xuất và phát triển cây chè ở Yên Lập vẫn còn gặp nhiều khó khăn; một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm và chưa nhận thức đầy đủ về hiệu quả từ sản xuất chè m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN KIM HUỲNH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Thị Minh Nguyệt Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa công bố bất kỳ dưới hình thức nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá được tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Kim Huỳnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các cơ quan và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể Quý thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh và các cán bộ công chức Phòng Sau đại học - Trường Đại học Lâm Nghiệp và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Thị Minh Nguyệt, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện

đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Kim Huỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ 5

TRONG SẢN XUẤT CHÈ 5

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè 5

1.1.1 Vị trí, vai trò của cây chè trong sự phát triển kinh tế 5

1.1.2 Các khái niệm về hiệu quả kinh tế 7

1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế 9

1.1.4 Bản chất hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè 11

1.1.5 Giá các yếu tố đầu vào, đầu ra trong sản xuất chè 11

1.1.6 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè 15

1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của nông hộ 17

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả sản xuất chè cho nông hộ 24

1.2.1 Trên thế giới 24

Chương 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 36

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 36

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Yên Lập 41

2.1.3 Nhận xét thuận lợi, khó khăn 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 47

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 47

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 48

Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51

Trang 5

3.1 Thực trạng phát triển sản xuất chè của nông hộ trên địa bàn huyện Yên

Lập, tỉnh Phú Thọ 51

3.1.1 Tình hình sản xuất chè tại huyện Yên Lập 51

3.1.2 Tình hình sản xuất chè của các nhóm hộ trồng chè 54

3.1.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn huyện Yên Lập 57

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Lập 63

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 66

3.3.1 Những thành công 66

3.3.2 Những hạn chế 66

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69

3.4 Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 70

3.4.1 Định hướng nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 70

3.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 71

3.5 Khuyến nghị để thực hiện các giải pháp 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2017 của một số nước trên

thế giới 24

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ 24

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng của chè Việt Nam (2015 – 2018) 27 Bảng 1.4: Số liệu xuất khẩu chè năm 2018 28

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Lập qua các năm từ 2015 - 2018 40

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Yên Lập giai đoạn 2015-2018 41

Bảng 2.3: Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Lập qua 3 năm (2015 – 2018) 43

Bảng 3.1: Tình hình sản xuất chè tại huyện Yên Lập từ năm 2015 - 2018 52

Bảng 3.2: Tình hình nhân lực của hộ kiêm trồng chè và hộ 54

chuyên trồng chè 54

Bảng 3.3: Phương tiện sản xuất của hộ trồng chè 55

Bảng 3.4: Tình hình sử dụng đất của các hộ kiêm và hộ chuyên trồng chè 56

Bảng 3.5: Tình hình sản xuất chè của hộ nghiên cứu trong huyện 57

Bảng 3.6: Chi phí bình quân sản xuất chè của hộ nghiên cứu trong huyện Yên Lập trong năm 2018 59

Bảng 3.7: Hiệu quả sản xuất chè tính trên 1 ha của hộ nông dân 61

trong huyện Yên Lập 61

Bảng 3.8: Hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân trong huyện 62

Bảng 3.9: Hiệu quả sử dụng lao động của các hộ nông dân trong huyện 62

Bảng 3.10: Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây chè 63

Bảng 3.10 Bảng tổng hợp những khó khăn của các hộ 67

nông dân sản xuất chè 67

Bảng 3.11 Nguyện vọng của người dân về các chính 68

sách hỗ trợ của Nhà nước 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chè là cây công nghiệp dài ngày, ưa ánh sáng, sinh trưởng thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ từ 20 đến 30 độ C, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao,

có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa một số bệnh đường ruột Chính vì những đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành một đồ uống phổ thông với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trên toàn thế giới Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, chè cho năng suất sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi

Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam, có vị trí trung tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội Hiện nay toàn tỉnh có 16,3 nghìn ha chè; trong đó diện tích chè kinh doanh gần 15.000 ha; năng suất bình quân đạt 10,3 tấn/ha, sản lượng chè búp tươi hàng năm đạt 152.000 tấn Có 75 cơ sở chế biến có hợp đồng với vùng nguyên liệu cũng như tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu - cơ sở chế biến - tiêu thụ, là tỉnh có diện tích chè đứng thứ 4 cả nước Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè, nên chè búp tươi ở Phú Thọ có phẩm cấp, chất lượng rất cao Người sản xuất chè của tỉnh Phú Thọ đã có những kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh

Trang 8

đẹp, thơm hương chè, hương cốm, có vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Phú Thọ, với chất lượng và giá trị cao; sản phẩm chè chủ yếu là chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu chè đen

Yên Lập là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ huyện có tổng diện tích tự nhiên 43.824,6 ha, dân số 85,5 ngàn người; huyện

có 17 xã, thị trấn với 17 dân tộc cùng sinh sống (trong đó Dân tộc Mường chiếm trên 80% tổng dân số của huyện) Yên Lập cách đường cao tốc Nội bài

- Lào cai 15 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 100km, cách cửa khẩu quốc tế

Hà Khẩu (giữa Lào Cai - Việt Nam và Vân Nam - Trung Quốc) 200km Do

có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển, từ những năm 1960 người Pháp đã đến khảo sát và trồng thử nghiệm thành công cây chè Shan Tuyết trên núi Đù, xã Xuân Thủy, Yên Lập ở độ cao 600m so với mặt nước biển Hiện nay cây chè được huyện xác định là cây mũi nhọn để phát triển triển kinh tế của huyện, cây chè được phân bổ ở tất cả các xã, thị trấn trong huyện Tổng diện tích cây chè của huyện tính đến năm 2018 là 1.935,7 ha, diện tích chè cho sản phẩm 1.725,1 ha Sản phẩm chè của Yên Lập nói riêng và Phú Thọ nói chung đã được xuất khẩu đi nhiều nước như: Pháp, Iran, Iraq, Nhật Bản và các nước khác

Tuy nhiên, sản xuất và phát triển cây chè ở Yên Lập vẫn còn gặp nhiều khó khăn; một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm và chưa nhận thức đầy đủ về hiệu quả từ sản xuất chè mang lại, người dân chưa quan tâm đầu tư thâm canh; giá chè búp tươi có thời điểm không ổn định; chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho sản phẩm chè Yên Lập

Xuất phát từ thực tiễn tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và từ những

vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản

xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ”

làm đề tài nghiên cứu thực hiện Luận văn tốt nghiệp

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng về hiệu quả sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập làm cơ sở đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất chè

- Đánh giá thực trạng sản xuất chè trên địa bàn huyện Yên Lập trong 3 năm từ năm 2016 – 2018

- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ gia đình tại huyện Yên Lập

- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, Phú Thọ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi về nội dung

Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

3.2.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên

Lập, tỉnh Phú Thọ

3.2.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu

- Thời gian thu thập số liệu: Các số liệu thứ cấp được thu thập trong giai

Trang 10

đoạn từ năm 2016 - 2018 Số liệu sơ cấp thu thập năm 2019

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè

- Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn huyện Yên Lập trong 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sản xuất chè của hộ gia đình tại địa phương

- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở bài, kết luận và kiến nghị thì luận văn gồm có 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè

- Chương II: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

- Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

TRONG SẢN XUẤT CHÈ 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè

1.1.1 Vị trí, vai trò của cây chè trong sự phát triển kinh tế

Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu quả đất đai

ở vùng trung du, miền núi đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ, đã tạo công

ăn việc làm cho người lao động địa phương, chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng một nền kinh tế sản xuất hàng hóa, góp phần phân công lao động giữa miền ngược và miền xuôi Cây chè cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớn cho NSNN và có vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực, cụ thể:

1.1.1.1 Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp

Nghị định số: 01-CP, ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính Phủ ban hành quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước, cùng với những giải pháp của ngành chè đã giải quyết được vấn đề về việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, cơ chế và phương thức mua chè thuận lợi cho các hộ gia đình đã tạo động lực khuyến khích các hộ chủ động đầu tư thâm canh chè để đạt năng suất, chất lượng cao Vì đặc điểm cây chè phù hợp với các điều kiện vùng trung du, miền núi điều này dẫn tới quan điểm chuyển sang trồng chè thay vì lúa nương của nhân dân miền núi

Cây chè có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ môi sinh Hiện nay bình quân độ che phủ trong cả nước còn thấp do vậy ở những nơi này trồng được chè sẽ giúp nâng cao độ che phủ đồi trọc tốt hơn

1.1.1.2 Sản xuất chè với phát triển ngành công nghiệp chế biến

Phát triển cây chè luôn gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến chè bằng việc hàng loạt các nhà máy chế biến chè được xây

Trang 12

dựng, các trang thiết bị như cối vò chè, máy sấy, máy phát điện…các thiết bị đóng gói thành phẩm cũng được nghiên cứu và phát triển Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến chè đã phát triển theo hướng hiện đại hóa với sự không ngừng đổi mới thiết bị và công nghệ chế biến chè đặc biệt trong chế biến chè đặc sản và nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới về chè

1.1.1.3 Sản xuất chè với ngành xuất khẩu

Xuất khẩu chè tạo ra một nguồn vốn đáng kể cho đất nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Chè là một trong những mặt hàng nông sản xuât khẩu chủ lực của nước ta, hàng năm mang về cho đất nước rất nhiều ngoại tệ để thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước như: Năm 2018 lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 127.338 tấn, thu về 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 4,4% về kim ngạch so với năm 2017 Tuy những con số này vẫn chưa chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta những xuất khẩu chè cũng đã đóng góp một nguồn vốn đáng kể cho đất nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá

Xuất khẩu chè sẽ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ và giao lưu học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới Hiện nay chè của Việt Nam xuất khẩu sang trên 20 thị trường chủ yếu, trong đó nhiều nhất

là sang Pakistan, Đài Loan, Nga, Trung Quốc, Indonesia từ đó tạo ra nhiều mối quan hệ kinh tế cho các doanh nghiệp trong ngành chè nói riêng và các doanh nghiệp trong cả nước nói chung

Xuất khẩu chè tạo ra sự ổn định cho những người trồng chè về mặt tiêu thụ sản phẩm từ đó giúp họ yên tâm hơn trong sản xuất chè Do đó chất lượng chè cũng phần nào được cải thiện từ đó nâng cao được khả năng cạnh tranh chè của nước ta trên thị trường thế giới

1.1.1.4 Sản xuất chè với việc giải quyết các vấn đề xã hội

Chè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việc phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc ở miền

Trang 13

núi phía Bắc và Tây Nguyên Tại các địa phương này, cây chè gần gũi với từng gia đình, góp phần định cư, ổn định cuộc sống và xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc ít người Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động góp phần ổn định đời sống cho các hộ gia đình Việc quy hoạch các vùng sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông – công nghiệp – dịch vụ, hình thành các cụm dân cư đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài nhưng nhanh cho sản phẩm thu hoạch, là cây trồng xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế

ở vùng núi và trung du Việt Nam, góp phần thúc đẩy trung du miền núi có điều kiện tiến kịp với các vùng khác trong cả nước Cây chè là cây trồng có thể áp dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế

1.1.2 Các khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng mức sống ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội

Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Các quan điểm này được trình bày như sau:

- Theo P Samerelson và W Nordhaus thì : "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó"

Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền

Trang 14

kinh tế có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa

- Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế

- Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ

số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế

- Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính

là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí

- Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến đó là: hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc

Trang 15

một qúa trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy

đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về

hiệu quả kinh tế như sau: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của quá trình sản xuất được xác định bằng cách so sánh kết quả đầu ra của sản xuất với các chi phí đầu vào sản xuất

1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế

Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: nâng cao cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội

Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh

tế xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không thể có được Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác

Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Trang 16

Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối (phép chia) mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối (phép trừ) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối

Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra, thì hiệu quả xã hội là mối tương quan

so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra

Hiệu quả về kinh tế, xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế

Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:

- Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn

- Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung toàn bộ nền sản xuất xã hội

- Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: là xét riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện

- Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục

Trang 17

tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu quả của quốc gia Cũng vì thế mà nhà nước sẽ có các chính sách liên kết vĩ

mô với doanh nghiệp

- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ Căn

cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì

có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành từng loại:

• Hiệu quả sử dụng vốn

• Hiệu quả sử dụng lao động

• Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị

• Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng

• Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật và quản lý

1.1.4 Bản chất hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè

Bản chất của nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè là nâng cao năng suất chè và tiết kiệm chi phí sản xuất chè trên một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè cũng bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè chính là hiệu quả của người nông dân bằng kinh nghiệm và kiến thức của mình sử dụng một lượng đầu vào thích hợp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) để sản xuất

ra một khối lượng chè lớn hơn trên cùng một đơn vị diện tích, trong cùng một khoảng thời gian của vụ của năm Hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất chè của nông hộ là mức giảm lượng đầu tư cho một đơn vị sản phẩm sản xuất ra Sản xuất chè đạt hiệu quả phân bổ khi giảm được chi phí trên một đơn vị sản phẩm hoặc tăng giá bán trên một đơn vị sản phẩm đầu ra

1.1.5 Giá các yếu tố đầu vào, đầu ra trong sản xuất chè

Giá trong sản xuất chè bao gồm: Giá sản phẩm đầu vào và Giá các sản phẩm đầu ra Trong tiếng Việt giá được một số từ điển kinh tế sử dụng bao gồm cả 2 nghĩa: Chi phí (the cost) và Giá cả (the price) Theo nghĩa chi phí,

Trang 18

giá là các khoản chi thường xuyên phải trả bằng hiện vật hoặc tiền mặt trong suốt quá trình sản xuất chè (vật tư, giống, phân bón, vận chuyển ) Còn giá

cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm được hiểu là giá trị đo bằng tiền các vật tư, dịch vụ của các nhân tố đầu vào của sản xuất chè

Như vậy, khái niệm chi phí gắn chặt với quá trình hoạt động sản xuất, giá cả dùng để đo giá trị của một sản phẩm, một dịch vụ hàng hoá cụ thể Trong nghiên cứu này, khái niệm chi phí gắn với quá trình sản xuất chè, còn giá cả đo giá trị của sản phẩm chè

Theo các học thuyết kinh tế, giá cả luôn biến động quanh giá trị trung bình, bao gồm giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Vì thế một sản phẩm, hay dịch vụ sẽ được gắn với giá nhất định khi sản phẩm và dịch vụ đó trở hành hàng hoá Trong quá trình lưu thông hàng hóa, giá sẽ thay đổi ở từng công đoạn lưu thông, từng thị trường khác nhau Giá luôn biến động và nguyên nhân của sự biến động giá trên thị trường rất phức tạp và khó xác định

Đối với chi phí và giá, tuy khác nhau về khái niệm, nhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Khi giá của các yếu tố tham gia quá trình sản xuất (giá đầu vào) thay đổi sẽ làm cho chi phí sản xuất hay chi phí cung cấp một dịch vụ (giá đầu ra) cũng biến đổi theo (do giá thành thay đổi) Nếu sản phẩm đầu ra là sản phẩm cuối cùng phục vụ tiêu dùng thì việc tăng giá sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của người tiêu dùng Khi chi phí tái sản xuất sức lao động trở nên đắt đỏ hơn thì bản thân giá của hàng hóa sức lao động cũng sẽ thay đổi Còn nếu sản phẩm sản xuất ra lại là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất khác, viêc tăng giá ở quá trình sản xuất trước kéo theo sự tăng giá ở quá trình tiếp theo Như vậy, tác động tăng giá là tác động lan toả, kéo theo và phức tạp Rất ít có sự biến động giá đơn lẻ đối với một mặt hàng hay dịch vụ này

mà không ảnh hưởng đến giá cả các mặt hàng khác Vì vậy, cần nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động giá và sự thay đổi kết quả kinh tế của một số hoạt động sản xuất nông nghiệp và thu nhập của người nông dân

Trang 19

Trong sản xuất chè, khi giá các yếu tố đầu vào tăng lên sẽ làm cho chi phí sản xuất chè tăng lên, giá bán sản phẩm chè cũng tăng theo Tuy nhiên, tốc độ tăng của giá trị kết quả sản phẩm chè đầu ra và chi phí các yếu tố đầu vào sản xuất chè khác nhau Tốc độ tăng của kết quả đầu ra có thể bằng, hoặc lớn hơn, hoặc thấp hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào, hiệu quả sản xuất chè của hộ vì thế cũng thay đổi khác nhau Vì vậy, cần xem xét sự ảnh hưởng của biến động giá các yếu tố đầu vào tới kết quả và hiệu quả sản xuất chè của hộ nông dân

Có nhiều loại giá được sử dụng trên thị trường tùy thuộc vào mục đích

và quan hệ trao đổi Trong nghiên cứu này với mục đích xem xét ảnh hưởng của biến động tăng giá đầu vào đến hiệu quả sản xuất chè của các hộ nông dân chúng tôi đề cập đến các loại giá sau:

(1) Giá đầu vào sản xuất chè: Gồm giá của giống chè, giá vật tư, giá dịch vụ và giá thuê lao động (lao động phải thuê)

(a) Giá vật tư bao gồm phân bón (chủ yếu là phân vô cơ như đạm, lân, kali), thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích và các loại phân khác…

(b) Giá dịch vụ bao gồm dịch vụ làm đất, tưới tiêu, dịch vụ BVTV … (c) Giá công lao động chỉ tính giá công gia đình phải thuê thêm

Đối với giá cả vật tư phân bón đầu vào, nhiều nhà nghiên cứu có chung

ý kiến rằng: nếu giá vật tư phân bón đầu vào biến động tăng sẽ làm tăng chi phí sản xuất và có thể dẫn đến việc nông dân hoặc sẽ hạn chế đầu tư thâm canh, hoặc sẽ chuyển đổi hệ thống sản xuất lựa chọn những cây trồng khác, ít phải đầu tư hơn nhằm giảm sức ép về vốn Hệ quả là năng suất chè có thể giảm xuống và thu nhập của người nông dân cũng bị giảm theo (F.Ellis, 1995) Cơ cấu sản lượng cung cấp ra thị trường vì thế có thể bị thay đổi

Tuy nhiên, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp là mang tính mùa vụ nên sự tác động của giá có những điểm đặc thù Người ta nói nhiều đến tính

Trang 20

trễ của sự thay đổi về sản lượng nông nghiệp khi có sự thay đổi về giá Mỗi khi có sự biến động giá (ví dụ giá tăng), do tính mùa vụ trong nông nghiệp nên phải đợi đến vụ tiếp sau nông dân mới tăng diện tích gieo trồng lên được

Và như vậy phải đợi thêm một chu kỳ sản xuất nữa sản lượng nông nghiệp mới tăng, khi đó giá lại bắt đầu giảm xuống Tương tự như vậy phải mất một chu kỳ sản xuất tiếp theo khi nông dân không đầu tư sản xuất nữa thì sản lượng mới giảm xuống và giá lúc đó lại tăng lên

(2) Giá đầu ra của sản xuất chè là giá bán sản phẩm chè (giá chè búp tươi và giá chè búp khô)

Giá cả đầu ra ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất, thu nhập và hiệu quả của người sản xuất chè Một số tác giả cho rằng giá sản phẩm chè cao không chỉ làm tăng thu nhập cho người sản xuất chè mà còn góp phần điều chỉnh thu nhập giữa các khu vực nông thôn và thành thị Nói cách khác là giá cao góp phần chuyển một phần thu nhập từ thành phố, nơi đa phần là người tiêu dùng sản phẩm chè về nông thôn Tuy nhiên, một số người khác lại cho rằng vấn đề không đơn giản như vậy Sự phân bổ này ngoài sự phụ thuộc vào cơ cấu sản lượng tự tiêu của chính nông hộ, còn phụ thuộc vào tỷ lệ người dân không có đất ở nông thôn là nhiều hay ít Những người dân nông thôn không có đất canh tác phải mua giá nông sản cao sẽ làm gia tăng tỷ lệ nghèo ở nông thôn (F.Ellis, 1995) Tương tự, theo Nakajima, 1986 sự tăng giá đầu ra có thể dẫn đến tăng thu nhập cho các nông hộ Nhưng do thu nhập tăng có thể có sự tăng tiêu dùng trong chính các nông hộ khiến sản lượng bán ra thị trường không tăng Do vậy, phản ứng cung cho thị trường đối với các hộ nửa tự cung, nửa

tự cấp là rất khó xác định về lí thuyết Kết luận này trái với quan điểm thứ nhất và càng không đúng với kết luận của Timmer, 1983 rằng: Đối với nền kinh tế nông dân phản ứng cung cho thị trường luôn dương, có nghĩa là khi giá tăng thì nông dân sẽ tăng sản lượng bán ra thị trường Ngoài ra còn một

Trang 21

tác giả khác cũng cho rằng, tác động của giá đến Cung là thường xuyên Nhưng việc sản lượng cung có tăng hay không còn phụ thuộc vào quy mô sản xuất của các hộ nông dân Nếu quy mô sản xuất của các hộ nông dân quá bé, manh mún, phản ứng Cung từ các hộ này bị hạn chế hơn rất nhiều Mặt khác, giá đầu ra tăng sẽ khuyến khích các hộ đầu tư, thâm canh Khi giá cao, các nông hộ sản xuất hàng hoá sẽ tập trung vốn, lao động, đất đai để sản xuất Không chỉ có vậy, lợi nhuận nông nghiệp cao sẽ thu hút các nhà đầu tư từ các khu vực khác vào khu vực nông nghiệp, tạo nên sự cân đối mới về đầu tư trong nền kinh tế

Khi giá bán sản phẩm chè có lợi, người sản xuất chè mang thái độ lạc quan sẽ tăng mức đầu tư vốn, lao động, đất đai vào sản xuất Khi đó, một sự thay đổi tương đối của mức đầu ra này so với đầu ra khác dẫn đến sự thay đổi

cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm của nông hộ do hộ nông dân đã điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo sự thay đổi về khả năng sinh lợi tương đối của các sản phẩm đầu ra

1.1.6 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè

1.1.6.1 Khái niệm về nông hộ và kinh tế hộ

* Khái niệm về hộ:

Hiện có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm nông hộ như:

- Theo tác giả Weberster (1990) cho rằng Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng chung một ngân quỹ

- Theo Raul (1989): Hộ là những người có chung huyết thống, có quan

hệ mật thiết lẫn nhau trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tạo ra sản phẩm

để tồn tại cho bản thân và cho gia đình trong cộng đồng

- Theo Martin (1998): Hộ gia đình Là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội

có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dừng và các hoạt động kinh tế khác

- Có nhiều khái niệm khác nhau về hộ nhưng có chung đặc điểm sau:

Trang 22

+ Chung sống dưới một mái nhà

+ Chung nguồn thu nhập

+ Sản xuất chung

+ Có trách nhiệm với nhau trong sự tồn tại và phát triển

* Khái niệm nông hộ:

Là đơn vị kinh tế có đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Các thành viên trong hộ đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình

* Khái niệm về kinh tế hộ:

Kinh tế hộ là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế Kinh tế

hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình, mục đích hoạt động của loại hình kinh

tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Nó là đơn vị kinh tế

tự chủ căn bản, dựa vào tích lũy là chủ yếu vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi đói nghèo vươn lên làm giàu từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa

1.1.6.2 Đặc điểm kinh tế hộ sản xuất

Kinh tế hộ nông dân tồn tại ở các xã hội khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau có sự khác nhau về hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, quy mô sản xuất và hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau nhưng tựu trung lại, kinh tế hộ nông dân mang một sốc đặc điểm cơ bản sau:

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng

- Hộ nông dân có khả năng tự duy trì được tái sản xuất giản đơn do hộ nông dân có tư liệu sản xuất của riêng họ đó là đất đai và lao động

- Việc tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất và không phải mục tiêu chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân

Trang 23

- Hộ nông dân có thể vượt qua áp lực của thị trường bằng việc sử dụng lao động của gia đình

- Lao động quản lý và lao động trực tiếp trong hộ nông dân có sự gắn

bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp rất cao

- Hộ nông dân có khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hộ,

do đó họ có thể giảm thiểu bớt rủi ro

- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, có khả năng thích nghi và sự điều chỉnh rất cao

Hộ nông dân sản xuất chè ở Phú Thọ ngoài mang những đặc điểm chung của hộ nông dân nêu trên còn mang một sô đặc điểm:

- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún

- Tiềm lực, nguồn lực (như vốn, lao động…) để sản xuất yếu nên các

hộ nông dân sản xuất chè không dự trữ được các vật tư, yếu tô đầu và cho sản xuất chè Do đó, khi có biến động tăng giá đầu và các hộ chịu sự tác động lớn

- Trình độ dân trí thấp, vì thế cho dù có đủ nguồn lực để đầu tư cho sản xuất chè thì hộ nông dân cũng không đủ kiến thức để tính đoán được mức dự trữ tố ưu

- Hộ nông dân sản xuất chè của Phú Thọ có địa hình đồi núi, sản xuất của các hộ chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên, nhất là và mùa mưa

- Điều kiện sản xuất của hộ nông dân còn nghèo, giao thông đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trường kém, nguồn thông tin bị hạn chế dẫn đến kinh tế chậm phát triển Để hộ nông dân trồng chè phát triển được thì ngoài sự

cố gắng của bản thân người dân, họ còn cần sự quan tâm của nhà nước để có định hướng và giải pháp phát triển cho từng vùng cụ thể

1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của nông hộ

1.1.7.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

- Đất đai và địa hình: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh hưởng

Trang 24

đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 - 800m So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt Nhưng

để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp

là 4,5 - 6, đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1 m

Bên cạnh đó quy mô diện tích sản xuất chè cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất chè, với quy mô sản xuất lớn người dân sẽ có điều kiện thuận lợi

để áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, giảm chi phí lao động, chi phí dịch vụ, khấu hao tài sản cố định, do vậy hiêu quả sản xuất sẽ được nâng cao

- Thời tiết khí hậu:

Cây chè là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, cây chè đã được trồng ở cả những nơi khá xa với nguyên sản của nó Trên thế giới, cây chè phân bố từ 42 vĩ độ Bắc đến 27

vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam

Cây chè bắt đầu sinh trưởng được ở nhiệt độ >100C Nhiệt độ trung bình hàng năm để cây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,5o

C, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15- 23o

C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại

Do cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85% Ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng

5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong năm

Trang 25

1.1.7.2 Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật

+ Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913, Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng di truyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt Theo ông, để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước:

1 Nghiên cứu vật liệu cơ bản

2 Chọn hạt

3 Lựa chọn trong vườn ươm

4 Nhân giống hữu tính và vô tính

Trang 26

Để đáp ứng yêu cầu kế hoạch sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài

+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao

+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ giốc,điều kiện

cơ giới hóa Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại,

vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý

+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú

ý nghiên cứu

Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiên từ những kinh nghiệm của thực tiến sản xuất Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh

Ba - Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: "Năm đốn - năm lưu"

Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú

Hộ - Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

Trang 27

Đốn Phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm

Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65cm Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40

- 50cm Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10 - 15cm

Nghiên cứu về đốn chè các tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979), Đỗ Ngọc Quỹ (1980) đều cho thấy: đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vừa tầm hái

+ Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt

Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể thiếu được Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 - 60%

Hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè, kết quả nghiên cứu trong 10 năm cho (1988-1997) ở Phú Hộ cho thấy:

Đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến Lân và Kali đối với sinh trưởng của chè nhỏ tuổi

Đạm và Lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò của tổ hợp Đạm và Kali Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè ở các giai đoạn khác nhau, tác giả Chu Xuân Ái,

Trang 28

Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức 1998 cho thấy: phân lân có vai trò với sinh trưởng

cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con

Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc chỉ bón mỗi đạm Thời kỳ đầu của giai đoạn kinh doanh

sự sinh trưởng tán chè tiếp tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm Như vậy, cây chè cần được cung cấp N, P, K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất

+ Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè

+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái

có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè

+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gòm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm

Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè - Làm héo - Vò - Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằng máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi quy trình kỹ

Trang 29

thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè

Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: từ chè búp xanh (1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 100oC với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm bớt tỷ lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn (chú ý nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy thuộc vào khách hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu nước xanh óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi

Chế biến chè vàng: Yêu cầu của việc chế biến khác với chè xanh và chè đen, chè vàng là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công

1.1.7.3 Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội

Thứ nhất, về điều kiện kinh tế:

Tùy thuộc vào khả năng, điều kiện kinh tế của mỗi hộ mà mức độ đầu

tư cho sản xuất chè khác nhau giữa các hộ, những hộ có điều kiện kinh tế sẽ

có sự chủ động đầu tư cao hơn so với những hộ có điều kiện kinh tế kém, với

sự đầu tư thỏa đáng thi hiệu quả sản xuất mang lại sẽ tốt hơn

Thứ hai về điều kiện xã hội:

Yếu tố thị trường và giá cả: Việc thực hiện cơ chế thị trường cũng như

sự biến động của cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó, việc ổn định giá cả và mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp

Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường chè, một yếu tố cần thiết là hệ thống đường giao thông Phần lớn những vùng sản xuất chè xa đường quốc lộ

Trang 30

rất khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đường giao thông kém, đi lại khó khăn nên người sản xuất thường phải bán với giá thấp do tư thương ép giá, làm hiệu quả sản xuất thấp Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát triển ngành chè trong tương lai cần thiết phải có hệ thống giao thông thuận lợi

để nâng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả sản xuất chè cho nông hộ

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới

Ngày nay, cây chè được trồng rộng rãi trên thế giới từ 42o

Bắc (Gruzia) đến 27o

Nam (Achentina), với lịch sử có từ rất lâu đời khoảng hơn 4.000 năm Trong đó, châu Á vẫn chiếm vị trí chủ đạo về diện tích và sản lượng, sau đó là châu Phi và ít nhất là châu Đại Dương, độ cao trồng chè khá lớn, phân bố từ 0m đến 220m so với mặt nước biển

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng chè năm 2017 của một số nước

trên thế giới T

TT Tên nước Diện tích (ha) Năng

suất(kg/ha)

Sản lượng khô (tấn)

(Nguồn: Số liệu thống kế của FAO, năm 2017)

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ STT Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 31

Theo số liệu tổng hợp của FAO được thể hiện qua bảng 1.1 và bảng 1.2, tính đến năm 2017 diện tích chè thế giới tương đối cao đã đạt 4.076.102

ha Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 2.224.261 ha, Ấn Độ 621.610 ha Năng suất trung bình trên thế giới năm

2017 đạt được 14.968 hg/ha; Sản lượng chè khô trên toàn thế giới đạt 6.101.062 tấn vào năm 2017 Đứng đầu thế giới là Trung Quốc có sản lượng cao nhất đạt 2.473.443 tấn sau đó đến Ấn Độ với 1.325.050 tấn, Kenya với 439.857 tấn

1.2.1.2 Kinh nghiệm trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè một

số nước trên thế giới

Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng chè với các mức độ khác nhau Các nước trồng chè đã tận dụng ưu thế đó để phát triển sản xuất trong đó có những nước xem chè là cây trồng chính của đất nước như Kenya, Ấn Độ… Sau đây là kinh nghiệm sản xuất chè của một số nước trên thế giới:

* Trung Quốc: Là nước phát hiện và sử dụng chè sớm nhất trên thế

giới, Chè được coi là 1 trong 7 thành phẩm quan trọng trong đời sống nhân dân Trung Quốc Trung Quốc là nước có điều kiện tự nhiên rất phù hợp với sản xuất chè Tận dụng lợi thế này, Trung Quốc đã xây dựng các vùng chè nguyên liệu, đa dạng các giống chè có năng suất và chất lượng cao Bên cạnh

đó, Trung Quốc còn xây dựng các trung tâm nghiên cứu chè trên cả nước, xây dựng các trường đại học và cơ sở nghiên cứu chè ở các tỉnh, xuất bản các tạp chí, sách tham khảo và phổ biến tài liệu khoa học kỹ thuật trồng và chế biến chè Đặc biệt Trung Quốc rất chú trọng phát triển văn hóa trà như xây dựng các bảo tàng văn hóa, biên soạn các tác phẩm về trà, tổ chức các lễ hội văn hóa trà, trà sử, trà pháp…Điều này đã thu hút nhiều khách du lịch và nâng cao

được vị thế của chè Trung Quốc trên thị trường thế giới

Trang 32

* Ấn Độ: Ấn Độ là nước có truyền thống lâu đời về phát triển chè Ấn

Độ có hai vùng sản xuất chè nguyên liệu lớn là vùng Assam và vùng chè Kerala Các vùng chè này rất quan tâm đến việc phát triển khoa học kỹ thuật tập trung tại các trạm nghiên cứu chè Tocklai, UPASI, xuất bản các tạp chí nghiên cứu về chè Ngoài ra, Ấn Độ còn thành lập các trung tâm đấu giá chè

lớn trên toàn quốc như: Calcuta, Guwahati,…

* Kenya: Kenya cũng là một trong những nước sản xuất chè lớn trên

thế giới Nền sản xuất chè của Kenya đã phát triển nhanh chóng, đạt chất lượng tốt với giá bán cao trong những năm gần đây Sở dĩ, Kenya đạt được những thành công này là do ngoài những yếu tố điều kiện tự nhiên thuận lợi thì ngành chè Kenya đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới vào sản xuất chè đó là quy trình sản xuất chè đen CTC Ngoài ra, chính phủ Kenya còn đưa ra các chính sách khuyến khích phát triển ở cả ba thành phần kinh tế, nhất là công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật Các viện nghiên cứu chè đã được thành lập, có các bộ môn nghiên cứu

thực vật học, hóa học môi trường sinh thái, công nghệ chế biến…

* Malaysia: Để phát triển sản xuất chè, Malaysia đẩy mạnh khuyến

khích người dân của các dân tộc uống trà bằng cách tư vấn cho mọi người cố gắng sử dụng những loại trà có lợi cho sức khoẻ; tổ chức các hoạt động liên quan đến trà trên cơ sở có sự phối hợp với các thương gia trà để giúp người dân hiểu rõ hơn về hiệu quả của trà và lợi ích của việc uống trà Malaysia cũng hướng tới hỗ trợ các thương gia trà về mặt tài chính để giúp họ vượt qua những khó khăn, hạn chế và hỗ trợ họ quảng bá thương hiệu của riêng họ Điều này đã giúp họ dễ dàng xâm nhập vào được thị trường quốc tế và tăng thu nhập ngoại tệ cho Malaysia Malaysia cũng đẩy mạnh các hoạt động triển lãm chè quốc tế hoặc tổ chức các chuyến đi thăm quan triển lãm chè quốc tế nhằm mục đích tương tác với các thương gia chè quốc tế để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chè Điểm đáng chú ý, để nâng cao cấp bậc

Trang 33

thương hiệu quốc tế quan điểm của ngành chè Malaysia là không tự mãn hay bảo thủ đối với sản phẩm chè và hình dáng, đóng gói là một phần không thể thiếu để nâng cao thương hiệu sản phẩm Ra sức tìm hiểu về thương hiệu quốc tế cũng như những công nghệ tiên tiến trên thế giới để rút kinh nghiệm hay ứng dụng để khắc phục những điểm yếu còn hiện hữu của ngành chè

Malaysia…

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam

Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu đời nhưng mới được chú ý trồng và phát triển trên quy mô lớn trong những năm gần đây Điều kiện đất đai và khí hậu của nước ta rất thích hợp cho cây chè phát triển, 2/3 diện tích là đất đồi núi, đặc biệt ở những vùng cao và có điều kiện tự nhiên khắc nghiệp lại tạo lên những giống chè đặc sản nổi tiếng

Những năm gần đây, chè được quan tâm nhiều hơn, đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè tăng thu nhập cho người sản xuất và kim ngạch xuất khẩu Nhà nước

Việt Nam có 35/63 tỉnh, thành phố trồng chè, chủ yếu tập trung ở vùng trung du miền núi phía Bắc và cao nguyên Lâm Đồng với gần 130.000ha Hiện có khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình Đội ngũ lao động chế biến chè liên quan đến 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng dân sống trong vùng chè

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lƣợng của chè Việt Nam (2015 – 2018) STT Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lƣợng (tấn)

Trang 34

Từ năm 2015 trở lại đây, diện tích chè nước ta có xu hướng tăng qua các năm, năm 2015, tổng diện tích chè đạt 117.822 ha, năm 2016 đạt 118.824

ha và đến năm 2018, diện tích chè của Việt Nam đạt 125.875 ha Đối với sản lượng chè của Việt Nam cũng có xu hướng tăng trong giai đoạn 2015-2018 Việc tăng sản lượng chè chủ yếu do tăng trưởng về năng suất, điều đó chứng

tỏ ngành chè nước ta đang nỗ lực phát triển theo chiều sâu, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm chè Việt Nam trên thị trường quốc tế

Việc quan tâm đầu tư kỹ thuật trong canh tác nên năng suất chè cũng không ngừng tăng lên, tổng cả nước năm 2015 đạt 20.030 kg/ha, năm 2016 đạt 20.198 kg/ha, năm 2018 đạt 22.046 kg/ha Cá biệt có một số nơi năng suất đạt 25.000-30.000 kg/ha Các vùng chè nguyên là nông trường quốc doanh thì năng suất bình quân đều đạt 10.000 -15.000 kg/ha; chỉ có vùng chè nông dân trồng năng suất thấp

Bảng 1.4: Số liệu xuất khẩu chè năm 2018

2017 (%)* Lƣợng (tấn) Trị giá (USD) Lƣợng Trị giá

Trang 35

Thị trường Năm 2018 +/- so với năm

2017 (%)* Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng Trị giá

(Nguồn: Tổng hợp và tính toán số liệu của Tổng cục Hải Quan)

Qua bảng số liệu, có thể thấy rằng:

Năm 2018 lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 127.338 tấn, thu về 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 4,4% về kim ngạch so với năm 2017

Giá chè xuất khẩu bình quân trong tháng 12/2018 đạt 1.833,7 USD/tấn, giảm 2,4% so với tháng 11/2018 Tính trung bình trong cả năm 2018 giá đạt mức 1.710,7 USD/tấn, tăng 4,9% so với năm 2017

Chè của Việt Nam xuất khẩu sang trên 20 thị trường chủ yếu, trong đó nhiều nhất là sang Pakistan, đạt 38.213 tấn, tương đương 81,63 triệu USD, chiếm 30% trong tổng khối lượng chè xuất khẩu của cả nước và chiếm 37,5% trong tổng kim ngạch, tăng 19,4% về lượng và tăng 18,8% về kim ngạch so với năm 2017 Giá chè xuất khẩu sang Pakistan giảm nhẹ 0,5%, đạt 2.136,3 USD/tấn

Đài Loan (TQ) là thị trường lớn thứ 2 tiêu thụ chè của Việt Nam chiếm gần 14,6% trong tổng khối lượng và chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch, đạt 18.573 tấn, tương đương 28,75 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 5,4% về

Trang 36

kim ngạch Giá xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm 0,6%, chỉ đạt 1.548 USD/tấn

Chè xuất khẩu sang thị trường Nga - thị trường lớn thứ 3 sụt giảm mạnh 20% về lượng và giảm 114,6% về kim ngạch, đạt 13.897 tấn, tương đương trên 21,21 triệu USD, chiếm 10,9% trong tổng khối lượng và chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch Giá xuất khẩu tăng 6,7%, đạt 1.526,2 USD/tấn

Riêng chè xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại tăng giá rất mạnh so với năm 2017, tăng 47,3%, đạt trung bình 1.943,3 USD/tấn, vì vậy lượng chè xuất khẩu tuy giảm 8,8%, đạt 10.121 tấn nhưng kim ngạch lại tăng 34,2%, đạt 19,67 triệu USD

Các thị trường nổi bật về mức tăng mạnh kim ngạch trong năm 2018 gồm có: Đức tăng 39%, đạt 1,96 triệu USD; Philippines tăng 24%, đạt 1,6 triệu USD, Saudi Arabia tăng 33,1%, đạt 5,72 triệu USD; Pakistan tăng 18,8%, đạt 81,63 triệu USD

Các thị trường sụt giảm mạnh về kim ngạch gồm có: Ấn Độ giảm 56,6%, đạt 0,91 triệu USD; U.A.E giảm 59,1%, đạt 4,21 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 48%, đạt 0,78 triệu USD

Ngành chè nhiều năm nay vẫn phải đối mặt vấn đề chất lượng, giá chè xuất khẩu của Việt Nam thường chỉ bằng 65 - 70% giá chè xuất khẩu của nhiều nước Nguyên nhân theo hiệp hội chè Việt Nam (Vitas) đưa ra là mạng lưới cơ

sở chế biến chè phát triển quá nhanh và đầy tính tự phát, không tương xứng với vùng nguyên liệu Nhiều cơ sở Doanh nghiệp không đủ điều kiện về sản xuất vẫn tham gia chế biến, lưu thông và xuất khẩu, gây nên tình trạng hỗn loạn Hiện nay cả nước có khoảng 250 cơ sở chế biến chè công nghiệp với năng lực khoảng 70.000 tấn/năm, song nguồn nguyên liệu chỉ đáp ứng được 88% yêu cầu Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh các cơ sở chế biến chè tư nhân với công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu đã đẩy giá chè búp tươi lên cao và giảm chất lượng sản phẩm, khiến uy tín mặt hàng chè Việt Nam đối với người tiêu dùng thế giới bị

Trang 37

lung lay

Mới đây, Vitas đã đưa ra cảnh báo khả năng ngành chè mất thị trường EU sau khi khách hàng ở Anh và nhiều nước châu Âu có thông báo về việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam vượt ngưỡng cho phép nhiều lần Để nâng cao an toàn, chất lượng và uy tín chè Việt Nam cần đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ, cơ cấu giống mới đáp ứng yêu cầu thị trường; Doanh nghiệp chè phải đăng ký và đạt các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO và HACCP, đưa ra các yếu tố văn hoá vào xây dựng thương hiệu chè Việt Nam, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người trồng chè

1.2.2.2 Kinh nghiệm trong nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè ở hộ gia đình ở một số địa phương của Việt Nam

- Về phát triển vùng nguyên liệu: Hàng năm tỉnh Thái Nguyên tổ chức trồng mới và trồng lại bình quân 1.000 ha/năm bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao Để đảm bảo chất lượng chè nguyên liệu, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ nông dân đầu tư thâm canh trong đó có áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP)

- Về chế biến chè: Chè Thái Nguyên được chế biến bằng 2 phương pháp: thủ công và công nghiệp Sản phẩm chè chế biến công nghiệp chủ yếu

là sản xuất chè đen, chè xanh để xuất khẩu Còn lại phần lớn sản lượng chè

Trang 38

được chế biến thủ công với nguyên liệu chè búp tươi được nông dân sơ chế bằng máy sao tôn quay, máy vò, chỉ có vùng chè đặc sản mới chế biến chè thành phẩm

- Chuỗi sản xuất ngành chè Thái Nguyên: Trong chuỗi sản xuất chè bao gồm các khâu: trồng và chăm sóc; thu hái; vận chuyển; chế biến; đóng gói; bảo quản; thương mại; tiêu thụ đều có liên quan chặt chẽ về quy trình kỹ thuật

và các biện pháp đảm bảo chất lượng sản phẩm chè

Ở Thái Nguyên, có nhiều tác nhân tham gia trong chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị ngành chè như:

+ Trong khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch chè bao gồm: Các hộ nông dân trồng và chế biến chè có quy mô sản xuất trang trại hoặc nông hộ, những

hộ nông trường viên là những công nhân nông trường đã nhận đất của nông trường theo hợp đồng khi nông trường chuyển đổi thành công ty; các hộ có khả năng ký hợp đồng sản xuất cho các công ty chè Thái Nguyên; Các hộ là

xã viên HTX (gồm cả những hộ tham gia tổ, nhóm nông dân)

+ Trong thu gom chè: có các nhóm người thu gom, tư thương

+ Trong chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm: có các cơ sở chuyên chế biến tư nhân, hộ sản xuất kiêm chế biến, DNNN, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh chế biến và xuất khẩu; người thu gom, người bán buôn,

+ Các tác nhân hỗ trợ cho sản xuất, chế biến chè như Sở NN&PTNT,

Sở Công Thương, các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,…các tổ chức NGOs

Nhờ những chính sách trồng và chăm sóc chè đúng quy trình và có sự đầu tư trong các phương thức chế biến chè mà Chè Thái Nguyên ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong ngành sản xuất chè của cả nước

Trang 39

Để ổn định diện tích và khẳng định thương hiệu, Lâm Đồng đề ra mục tiêu chú trọng chuyển đổi cơ cấu, chất lượng giống để tăng năng suất chè bình quân toàn tỉnh lên khoảng 12 tấn/ha, sản lượng đạt 300 ngàn tấn Trong đó chuyển từ 5.000 ha chè hạt, già cỗi, năng suất thấp sang các giống chè cành cao sản như TB 14, LĐ 97 Chuyển đổi 2000 ha chè hạt, giống cũ sang có giống chè có chất lượng cao như Kim Tuyên, tứ Quý, Ô Long Đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong khâu chăm sóc, thu hoạch để giảm chi phí sản xuất, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ chế biến theo hướng sản xuất chè O long, chè xanh chất lượng cao để nâng cao chất lượng sản phẩm

Nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây chè ở Lâm Đồng, đảm bảo tiêu chuẩn

để xuất khẩu sang thị trường các nước trên thế giới

1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Lập

Để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn Huyện Yên Lập, cùng với những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các địa phương ở Việt Nam Một số nội dung huyện Yên Lập cần quan tâm, chú ý đó là:

Thứ nhất, Chế biến chè gắn với quy hoạch

Để cây chè phát huy hết tiềm năng, huyện cần tập huấn cho người dân

về kỹ thuật trồng chè, đốn và tạo tán cây, sử dụng phân bón, áp dụng GAP , khuyến cáo nông dân không cắt chè bằng liềm; thu hái chè bằng tay đúng quy

Trang 40

trình kỹ thuật; sử dụng máy hái chè nhưng bảo đảm điều kiện kỹ thuật trồng

và chăm sóc theo yêu cầu của vườn chè hái máy Một trong những giải pháp

cơ bản nữa là tuyên truyền đẩy mạnh an toàn vệ sinh thực phẩm cho nguyên liệu chè búp tươi, bằng cách thực hiện VietGAP/GAP ở tất cả vùng trồng chè trên quy mô toàn quốc

Thứ hai, Nâng cao chất lượng sản phẩm từ cây chè

Cùng với việc quảng bá thương hiệu, chất lượng chè phải được đặt lên hàng đầu Do vậy, cùng với việc áp dụng nhiều hơn nữa các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là về cơ cấu giống mới, thu hái, sơ chế bảo đảm chất lượng, các doanh nghiệp sản xuất chè phải tăng cường sản xuất, đảm bảo về mặt chất lượng, tiến tới đầu tư để sản xuất ra những loại chè đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm

Thứ ba, Huyện Yên lập cần tổ chức sàn giao dịch chè minh bạch, công khai Huyện cần phải tổ chức một sàn giao dịch chè để các đơn vị giới thiệu

và bán sản phẩm một cách minh bạch, công bằng, tạo tiền đề cho sự ra đời trung tâm đấu giá chè sau này Việc làm này không những giúp các doanh nghiệp chè nâng cao thương hiệu mà còn hạn chế được khâu bán hàng qua trung gian, triệt tiêu được những thủ đoạn làm ăn không đàng hoàng của các thương lái Bên cạnh đó, các đơn vị sản xuất, chế biến chè tích cực tìm thị trường trong và ngoài nước để có chiến lược phát triển phù hợp đáp ứng thị trường nước bạn

Thứ tư, sản xuất chè an toàn

Huyện Yên Lập cần mở rộng nhiều lĩnh vực thông tin tuyên truyền về sản xuất chè an toàn Các kênh truyền thông có thể là: phương tiện thông tin đại chúng, các chuyên mục trên đài báo và tổ chức biên soạn, phát hành, công

bố các tài liệu thông tin, nhất là về kỹ thuật, trong đó tập trung chủ yếu vào việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, các biện pháp canh tác tổng hợp

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013), Điều tra thực trạng chuỗi giá trị sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè và đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng ngành chè, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng chuỗi giá trị sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè và đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng ngành chè
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2013
2. Báo Phutho.vn (2017), Yên Lập tập trung phát triển cây chè, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yên Lập tập trung phát triển cây chè
Tác giả: Báo Phutho.vn
Năm: 2017
5. Đặng Hạnh Khôi (1993), Chè và công dụng của chè, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chè và công dụng của chè
Tác giả: Đặng Hạnh Khôi
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1993
6. Quyết định số 1121/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Ban hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về Ban hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn
7. Quyết định số 84/QĐ-BNN ngày 28/7/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Ban hành quy chế chứng nhận quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả và chè an toàn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về Ban hành quy chế chứng nhận quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả và chè an toàn
9. UBND tỉnh Phú Thọ (2012), Quy hoạch phát triển sản xuất chè Tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển sản xuất chè Tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
Tác giả: UBND tỉnh Phú Thọ
Năm: 2012
3. Hiệp hội chè Việt Nam, Thông Tin Xuất Nhập Khẩu Khác
4. Huyện ủy Yên Lập, Tổng kết sơ bộ các năm 2015-2018, Phú Thọ Khác
8. Trung tâm thông tin nghiên cứu và phát triển (IRC) (2016), Thu hoạch, bảo quản và chế biến chè xanh an toàn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w