Tình hình áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên trên thế giới Phương pháp CVM được áp dụng khá rộng rãi, đã có nhiều nghiên cứu trong định giá tài nguyên có sử dụng phương pháp CVM để
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết của vấn đề
Sự phát triển kinh tế đã đưa môi trường toàn cầu vào tình trạng báo động Việt Nam cũng không ngoại lệ, vấn đề rác thải chỉ được chúng ta quan tâm trong vài chục năm trở lại đây, khi mà ô nhiễm từ rác thải đe dọa nghiêm trọng môi trường sống
Kinh tế phát triển, dân số tăng, không những rác thải công nghiệp mà rác thải sinh hoạt cũng đang là vấn nạn môi trường Khi mối đe dọa về rác thải đã ở mức độ nghiêm trọng, người dân và các cấp chính quyền đã quan tâm và có những giải pháp cụ thể, tuy chưa giải quyết triệt để rác thải nhưng
đó là bước đầu cho hành trình xử lý rác thải ở Việt Nam
Huyện Ba Vì là địa phương đang trong quá trình phát triển kinh tế Ba
Vì cũng cũng gặp vấn đề về thu gom và xử lý rác thải Hiện nay, huyện Ba Vì
đã có một mô hình thu gom rác thải đem lại hiệu quả, đó là mô hình hợp tác
xã dịch vụ môi trường Thành Đạt – Tản Lĩnh – Ba Vì – Hà Nội (từ năm 2009 đổi tên là Công ty môi trường đô thị Ba Vì) Tuy nhiên, quy mô của hợp tác
xã môi trường còn nhỏ (30 lao động năm 2005, 60 lao động năm 2011) Để thu gom rác thải tại địa bàn hợp tác xã cần có đầu tư thêm trang thiết bị và lao động
Hiện tại, công ty môi trường đô thị thực hiện thu góp rác thải tại 30 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Ba Vì, phương thức thu gom là thu gom tại chỗ và
ký hợp đồng xử lý rác thải với nhà máy xử lý rác thải Sơn Tây, sau khi thu gom công ty vận chuyện rác đến nhà máy xử lý rác thải Sơn Tây, việc xử lý rác thải được thực hiện tại đây Công ty tiến hành thu phí tại những điểm đăng
ký thu gom tại mỗi xã, mức thu chưa thống nhất, tại một số nơi thì thu mức phí tính trên một đầu người (Cổ Đô, Phong Vân ), tại một số nơi thu theo hộ (Phú Sơn) Như vậy chưa huy động đóng góp được của nhân dân trên toàn địa bàn huyện, trong khi đó lại thiếu vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ việc thu gom rác thải
Trang 2Vấn đề đặt ra ở đây là mức phí môi trường, làm thế nào để có một mức phí môi trường vừa phù hợp với mức sống của người dân địa bàn huyện vừa đảm bảo hoạt động của hợp tác xã dịch vụ môi trường đáp ứng được nhu cầu thu gom rác thải tại địa bàn huyện Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng mức phí dịch vụ môi trường tại 5 xã thuộc Huyện
Ba Vì - Hà Nội”
Đây là các xã thuộc huyện Ba Vì chưa có hệ thống thu gom rác thải thống nhất, chỉ tiến hành thu gom trong phạm vi nhỏ hoặc hình thành các tổ thu gom tự phát trong dân và hoạt động trong phạm vi nhỏ Trong phạm vi thời gian và nguồn lực tác giả lựa chọn 5 xã trên để đảm bảo cho việc tiến hành nghiên cứu thuận lợi
Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là đề xuất mức phí dịch vụ môi trường làm tối đa hóa doanh thu của Công ty môi trường đô thị Ba Vì, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức bằng lòng chi trả phí dịch vụ môi trường của người dân thuộc khu vực nghiên cứu
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, luận văn gồm 3 phần
Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nêu các công trình nghiên cứu đã sử dụng phương pháp CVM, các ưu điểm và hạn chế của phương pháp và rút ra một số bài học kinh nghiệm
Chương II: Mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Nêu mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Trình bày các kết quả nghiên cứu địa bàn thu được, đề xuất mức phí dịch vụ môi trường theo tiêu chí tối đa hoá doanh thu của Công ty môi trường
đô thị Ba Vì Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức bằng lòng chi trả phí dịch vụ môi trường
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên trên thế giới và
ở Việt Nam
a Tình hình áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên trên thế giới
Phương pháp CVM được áp dụng khá rộng rãi, đã có nhiều nghiên cứu trong định giá tài nguyên có sử dụng phương pháp CVM để định giá các hàng hoá và dịch vụ môi trường Chẳng hạn như các giá trị tồn tại của các loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng hay giá trị của các khu rừng, vườn quốc gia Đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở các nước trên thế giới trong định giá hàng hoá và dịch vụ môi trường
Áp dụng phương pháp CVM của Whittington và cộng sự (1991), nghiên cứu về các mức WTP để cải thiện hệ thống cấp nước ở Onissha, Nigeria cho thấy mức nước đưa ra bởi các nhà cung cấp là giới hạn trên hiệu quả của mức tiền mà người được hỏi đồng ý chi trả Mức WTP của họ không cao hơn mức giá mà nhà cung cấp đưa ra vì nước được cung cấp có chất lượng tốt và nguồn cung cấp nước là ổn định
Một trong những nghiên cứu của Dixon và cộng sự (1993) sử dụng phương pháp CVM để tìm hiểu nhận thức chung của khách du lịch và mức WTP cho công viên biển Bonaire ở vùng biển Caribean Mức WTP trung bình thu được là 27,4 USD và tổng mức WTP là 325.000 USD Mức phí 10 USD chỉ chiếm một phần trong mức WTP
Kramer và Mercer (1997) áp dụng phương pháp này trong một cuộc điều tra quốc gia , để đánh giá các giá trị mà cư dân Mỹ định giá cho việc bảo vệ rừng mưa nhiệt đới Trung bình mỗi người phỏng vấn sẵn lòng chi trả từ 21 USD đến
31 USD theo phương thức trả một lần để bảo vệ thêm 5% số rừng nhiệt đới
Shultz và cộng sự (1998) sử dụng phương pháp CVM để ước lượng
Trang 4mức WTP cho vé vào cửa trong tương lai nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ ở núi lửa Poas và các công viên nằm ở Manuel Antonio, Costa Rica Kết quả thu được từ các cư dân vùng này là mức WTP nằm trong khoảng từ
11 USD đến 13 USD, cao hơn 9 lần giá vé vào cổng thực tế tại thời điểm đó; còn đối với người nước ngoài, mức WTP trung bình bằng khoảng 2,5 lần so với giá vé vào cổng thực tế họ bỏ ra
White và Lovett (1999) ước lượng mức WTP cho bảo tồn tự nhiên ở vườn quốc gia North York Moors (Anh) vào năm 1996 bằng phương pháp CVM Kết quả cho thấy mức WTP trung bình của một người một năm để bảo tồn tài nguyên tại đây là 3,1 bảng Anh Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng có một
sự ủng hộ đáng kể từ xã hội cho bảo tồn và nâng cấp cảnh đẹp tự nhiên cho vườn quốc gia
Cuốn sách về phương pháp CVM của Mitchell và Caron năm 1989 đã đưa ra danh sách hơn 100 nghiên cứu của Mỹ có sử dụng phương pháp CVM Với 26 nghiên cứu của Anh áp dụng phương pháp CVM cũng được Green và cộng sự (1990) đề cập đến trong một cuộc điều tra trước đó
b Tình hình áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên ở Việt Nam
Ở nước ta trong những năm gần đây cũng đã tiến hành sử dụng CVM nhằm xác định các giá trị của nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường như bảo vệ các di sản thiên nhiên, bảo vệ các loài động vật hoang dã,
Dự án Môi trường và Đầu tư – VIE/97/007 đã áp dụng phương pháp CVM để nghiên cứu thành lập quỹ Môi trường ở Quảng Ninh Điều tra được tiến hành đối với các khách sạn để lấy ý kiến về các nguồn đóng góp tiềm năng cho quỹ và các loại hình hoạt động của quỹ Đa số người được phỏng vấn cho rằng quỹ nên chi cho bảo vệ di sản thiên nhiên Vịnh Hạ Long
Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thành (1999) đã sử dụng phương pháp CVM để tìm hiểu mức WTP của khách du lịch cho những cải thiện các con đường và khu bảo vệ dành cho động vật hoang dã của vườn quốc gia Cúc
Trang 5Phương Điều tra được tiến hành từ tháng 10 năm 1996 đến tháng 1 năm
1997, đã thu được 253 phiếu dùng cho phân tích về mức WTP Kết quả cho thấy, mức WTP của một khách quốc tế là 119.167 đồng; của khách nội địa là 13.270 đồng, và các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP ở đây là thu nhập và trình độ học vấn
Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2001) đã tìm hiểu về mức WTP cho việc thành lập một vùng biển được bảo vệ ở vịnh Nha Trang quanh đảo Hòn Mun Kết quả thu được mức WTP vủa mỗi khách Việt Nam là 17.956 đồng và của khách nước ngoài là 26.786 đồng Tổng WTP của cả vùng biển được bảo vệ ở Hòn Mun là 6.041.571.008 đồng
Việc áp dụng phương pháp CVM ở Việt Nam chưa phổ biến còn gặp nhiều khó khăn, đó là việc điều tra đối với người dân gặp nhiều trở ngại do người được phỏng vấn chưa quen với các loại điều tra xã hội học Nhìn chung mức WTP còn thấp do là nước đang phát triển, đồng thời còn phụ thuộc vào một số yếu tố như nhận thức về các loại hàng hoá môi trường, thu nhập, trình
+ Cách thiết kế phiếu điều tra
Thị trường giả định phải vừa đáng tin cậy và vừa có tính thực tế Cơ chế thanh toán được sử dụng và thước đo phúc lợi (WTP) không nên đi ngược với các nguyên tắc về đạo đức Người được hỏi nên được cung cấp thông tin đầy
đủ về nguồn tài nguyên trong câu hỏi và phương thức chi trả để họ có thể hiểu được đúng vấn đề và có kinh nghiệm trong việc “mua bán” tài nguyên đó
Trang 6Nếu có thể thì nên tìm hiểu mức WTP, vì người được hỏi thường gặp khó khăn với khái niệm chấp nhận một khoản tiền đền bù cho sự thay đổi chất lượng hàng hoá, dịch vụ môi trường Điều này đặc biệt đúng khi có một sự tăng lên về phúc lợi
+ Cách phỏng vấn
Mỗi kỹ thuật tìm hiểu mức WTP lại có nhược điểm khác nhau Vì vậy
có thể kết hợp các kỹ thuật khi tiến hành phỏng vấn để khắc phục các nhược điểm đó Có thể sử dụng câu hỏi mở để tìm hiểu các giá trị của mức WTP Tiếp đó, kết hợp các kỹ thuật trò đấu giá và thẻ thanh toán để tìm hiểu mức WTP cao nhất của người được hỏi
+ Cỡ mẫu điều tra
Nên chọn cỡ mẫu đủ lớn để có thể thu được khoảng tin cậy như mong muốn và kết quả thu được là đáng tin cậy Cỡ mẫu trong nghiên cứu của Whttingon và cộng sự (1991) là 253 hộ gia đình Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thành (1999) đã phỏng vấn trực tiếp 253 khách du lịch tại địa điểm nghiên cứu, nên tìm hiểu xem liệu các đặc điểm của mẫu điều tra có tương ứng với các đặc điểm của tổng thể hay không, nếu cần nên có sự điều chỉnh
+ Phân tích số liệu
Ước lượng đường cong biểu diễn mức giá đưa ra và kiểm tra dấu hiệu của các thông số xem chúng có phù hợp với những kỳ vọng trước đó hay không Giá trị của hệ số xác định bội (R2) theo Mitchell và Caron (1989) thấp nhất phải đạt 15%
+ Các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP
Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới mức WTP là: Đặc điểm kinh tế - xã hội của người được phỏng vấn; hình thức chi trả; chất lượng của hàng hoá, dịch vụ môi trường
Trang 71.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Lý luận về ô nhiễm môi trường và chất thải
a Một số khái niệm về ô nhiễm môi trường và chất thải
- Khái niệm về môi trường
Có rất nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm về môi trường, một số định nghĩa của một số tác giả đã nêu ra như sau:
Masn và Langenhim, 1957, cho rằng: “Môi trường là tổng hợp các yếu
tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật”
Theo từ điển bách khoa Larouse, khái niệm môi trường được mở rộng hơn: “Môi trường là tất cả những gì bao quanh sinh vật Nói cụ thể hơn, đó là các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó
có sự sống hoặc không có sự sống Các yếu tố đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý mang tính tổng quát hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ trụ, năng lượng phản xạ, bảo tồn vật chất, Trong đó hiện tượng hoá học và sinh học là những đặc thù cục bộ Môi trường bao gồm tất cả những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật”
Theo luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người; có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Ngày nay người ta đã thống nhất với nhau về định nghĩa: “Môi trường
là các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hoá học, sinh học cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người để cùng tồn tại và phát triển Tổng hoà của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của hệ sinh
Trang 8thái và của xã hội con người”
Như vậy môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người, mức sống của con người càng được nâng cao thì lượng rác thải ra môi trường càng lớn, mức độ ô nhiễm môi trường càng lớn
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường
+ Định nghĩa về ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá một giới hạn cho phép, đi ngược lại mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và sinh vật
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi
Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hoá học, sinh học, mà qua đó
có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác
Dưới góc độ pháp lý, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành
phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005)
+ Các khái niệm về ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm sơ cấp: Là ô nhiễm nguồn do chất thải từ nguồn thải trực tiếp vào môi trường, gây ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm thứ cấp: Là ô nhiễm được tạo thành từ ô nhiễm sơ cấp và đã biến đổi qua trung gian rồi mới thải vào môi trường
Nhiễm bẩn: Là trường hợp trong môi trường xuất hiện các chất lạ làm
Trang 9thay đổi thành phần vi lượng, hoá học, sinh học của môi trường nhưng chưa đến mức làm thay đổi tính chất và chất lượng của môi trường thành phần
- Khái niệm về chất thải
Chất thải là những vật chất, trong một quá trình sản xuất nào đó, không còn khả năng sử dụng nữa (giá trị sử dụng bằng không) và bị loại ra từ quá trình sản xuất đó Chất thải của một quá trình sản xuất này chưa hẳn đã là chất thải của quá trình sản xuất khác, thậm chí nó còn có thể là nguyên liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo Chất thải có thể ở dạng khí, lỏng hoặc rắn Chất thải rắn còn được gọi là rác, ngay trong vũ trụ cũng có chất thải gọi là rác vũ trụ, đó là những mảnh vỡ của các vệ tinh, các mảnh tên lửa bị loại bỏ
+ Nguồn phát sinh chất thải rắn
Những nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu là:
+ Hộ gia đình: Rác thải phát sinh từ những thực phẩm thừa, carton, plastic, vải, da, gỗ vụn, thuỷ tinh, kim loại, tro bếp, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, pin, lốp xe ) và các chất thải độc hại
+ Thương mại: Rác phát sinh từ các nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, trạm xăng chủ yếu là đồ ăn thừa, dầu mỡ, giấy báo
+ Cơ quan (trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính ) rác thải ở đây giống như rác thải thương mại
+ Xây dựng: Rác công trình mới, tu sửa từ nhà ở đến công viên, trường học, bệnh viện, khách sạn chủ yếu là vôi vữa bê tông, gạch, thép, cốt pha
+ Dịch vụ công cộng: Rửa đường, rác du lịch (rác công viên, bãi biển, các danh lam thắng cảnh )
+ Công nghiệp: Công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đều phát sinh ra rác thải, chất thải như giấy vụn, hoá chất
+ Nông nghiệp: Các hoạt động nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải như đốt tro, thuốc trừ sâu
Trang 10- Phân loại chất thải
Rác thải được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
+ Theo bản chất nguồn tạo thành, rác thải được phân thành các loại:
- Rác sinh hoạt: Là chất thải rắn được sản sinh trong sinh hoạt hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại
- Rác thải công nghiệp: Là chất thải rắn của các cơ sở sản xuất (từ cá thể thủ công đến công nghiệp nhà máy)
- Rác thải xây dựng: Là các phế thải như cát đá, bê tông, vôi vữa do các hoạt động phá vỡ công trình, xây dựng công trình
- Rác thải nông nghiệp: Là những chất thải được thải ra từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp Ví dụ: trồng trọt chăn nuôi, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm chế biến từ sữa
Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 4 loại rác thải trên Ta biết rằng lượng rác thải sinh hoạt thải ra phụ thuộc vào 2 yếu tố chính đó là sự phát triển kinh tế và tỷ lệ gia tăng dân số
+ Theo mức độ nguy hại rác thải được phân thành:
- Rác thải nguy hại: Bao gồm các loại hoá chất dễ cháy gây phản ứng độc hại, chất thải sinh hoạt để thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất nhiễm khuẩn lây lan, có nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người và sinh vật
- Rác thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có những đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc có khả năng tương tác với các chất khác gây nguy hại tới sức khoẻ cộng đồng và môi trường
- Rác thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các chất
và hợp chất gây nguy hại trực tiếp và có khả năng tương tác thành phần
Trang 11b Tác động của chất thải rắn (rác thải) đến môi trường
+ Rác làm ô nhiễm môi trường nước
Các chất thải rắn, nếu là chất thải hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân huỷ một cách nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hoá chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, H2O, CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và là độc chất Bên cạnh đó còn bao nhiêu vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước
Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây lên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Sau đó quá trình oxy hoá có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước, nguồn nước Những chất thải độc như Hg, Pb hoặc các chất thải phóng xạ còn nguy hiểm hơn
+ Rác làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất thải hữu cơ còn được phân huỷ trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2 Nếu
là yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4, H2O, CO2 gây độc cho môi trường Với một lượng vừa phải thì khả năng làm sạch của môi trường đất khiến rác không trở thành ô nhiễm Nhưng với một lượng rác quá lớn thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nước ngầm, khi nước ngầm đã bị ô nhiễm thì không còn cách gì cứu chữa được
Trang 12+ Rác làm ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp Cũng có loại rác, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35oC và độ ẩm 70- 80%) sẽ có quá trình biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật Kết quả của quá trình là gây ô nhiễm không khí
+ Nước rò rỉ từ bãi rác và tác hại của chúng
Ở những bãi rác hoặc những đống rác lớn mà trong rác có một lượng nước nhất định hoặc mưa xuống làm nước ngấm vào rác thì tạo ra một loại nước
rò rỉ Trong nước rò rỉ chứa những chất hoà tan, những chất lơ lửng, chất hữu cơ
và nấm bệnh Khi nước này ngấm vào đất làm ô nhiễm môi trường đất trầm trọng Mặt khác, nó cũng làm ô nhiễm nguồn nước thổ nhưỡng và nước ngầm
1.2.2 Lý luận về quản lý và xử lý chất thải
a Khái niệm và nội dung công tác quản lý chất thải
Quản lý chất thải là các hoạt động phân loại rác, thu gom rác, vận chuyển, tái sản xuất- tái chế và cuối cùng là xử lý tiêu huỷ Mỗi một công đoạn đều có vai trò rất quan trọng, có tính quyết định đối với việc tạo lập một
hệ thống quản lý chất thải hiệu quả nhằm giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người
Mặc dù những năm gần đây, hoạt động của nhiều công ty môi trường
đô thị tại các địa phương đã có những tiến bộ đáng kể, phương thức tiêu huỷ chất thải đã được cải tiến nhưng chất thải vẫn là mối hiểm hoạ đối với sức khoẻ con người và môi trường
Trang 13Sơ đồ quản lý rác được biểu hiện như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ quản lý chất thải
+ Hệ thống thu gom
- Thu gom ở trong nhà, trong công xưởng, nhà máy sản xuất
- Hệ thống thu gom rác ở bên ngoài bằng các bô đựng rác và hệ thống gom rác để đổ vào các xe chở rác Mỗi nước có hệ thống gom rác khác nhau
Ví dụ:
+ Ở Cộng hoà Liên bang Đức người ta tiến hành phân loại rác tại tụ điểm rác bằng cách phân loại thùng rác tương ứng với loại rác Người xả rác
bỏ mỗi loại rác vào một túi nilon mỏng chuyên dụng bán sẵn Nhà nước có chính sách ưu tiên về tiền lương và thuế cho công nhân thu gom rác và các
Nguồn chất thải rắn
Lưu trữ
Thu gom
Phân loại
Trung chuyển và vận
chuyển
Xử lý tái sinh
sản xuất
Trang 14nhà mày sản xuất vật dụng vệ sinh
Ở Hàn Quốc mỗi hộ gia đình bỏ rác vào một túi nhựa đặc biệt có sẵn, một loại túi nhựa có khả năng tự huỷ sinh học Lệ phí thu gom có thể tính vào trong giá thể tích rác, có thể có chênh lệch lệ phí giữa các vùng dân cư, chênh lệch này được quyết định bởi chính quyền địa phương
+ Hệ thống vận chuyển rác
Hệ thống vận chuyển gồm nhiều phương tiện: trong những hẻm nhỏ vận chuyển rác bằng xe thô sơ và nhân viên thu gom rác bằng phương pháp thủ công ở các thành phố lớn thường có các loại xe có côngtennơ vận chuyển hoặc côngtennơ cố định Đối với các nước tiên tiến, công việc thu gom rác đường phố có xe chuyên dùng quét, thu gom, ép, vận chuyển
b Các phương pháp xử lý chất thải (rác thải)
- Ủ rác thành phân bón hữu cơ (composting)
Ủ rác hữu cơ thành phân bón hữu cơ (composting) là một phương pháp khá phổ biến ở các quốc gia đang phát triển Việc ủ rác sinh hoạt với thành phần chủ yếu là chất hữu cơ có thể phân huỷ được còn được tiến hành ngay ở các nước phát triển (quy mô hộ gia đình)
Công nghệ ủ rác có thể được phân chia thành hai loại:
+ Ủ hiếu khí:
Ủ rác hiếu khí là một công nghệ được sử dụng rộng rãi vào khoảng hai thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam
Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí với sự có mặt của oxy Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác khô thực hiện quá trình oxy hoá carbon thành đioxitcarbon (CO2) Thường thì chỉ sau hai ngày, nhiệt độ rác ủ tăng lên khoảng 450C Nhiệt độ này đạt được chỉ với điều kiện duy trì môi trường tối ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng
Trang 15nhất là không khí và độ ẩm
Sự phân huỷ hiếu khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2- 4 tuần là rác được phân huỷ hoàn toàn Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị huỷ diệt do nhiệt
độ ủ dâng cao Bên cạnh đó mùi hôi cũng bị huỷ nhờ quá trình ủ hiếu khí Độ
ẩm phải được duy trì tối ưu ở 40- 55%, ngoài khoảng nhiệt độ này quá trình phân huỷ sẽ bị chậm lại
+ Ủ yếm khí:
Công nghệ ủ yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu ở quy
mô nhỏ) Quá trình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí Công nghệ này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tốn kém, song nó cũng
có nhược điểm sau
+ Thời gian phân huỷ lâu thường từ 4 - 12 tháng
+ Các vi khuẩn gây bệnh luôn tồn tại cùng với quá trình phân huỷ vì nhiệt độ phân huỷ thấp
+ Các khí sinh ra từ quá trình phân huỷ yếm khí là khí mêtan và khí sulphuahydro gây ra mùi hôi khó chịu
Mặc dù vậy, phải thừa nhận phương pháp ủ yếm khí là một biện pháp
xử lý rác thải rẻ tiền nhất Sản phẩm phân huỷ có thể kết hợp rất tốt với phân hầm cầu và phân gia súc (đôi khi cả than bùn) cho ta phân hữu cơ với hàm lượng dinh dưỡng cao tạo độ xốp cho đất
- Đổ thành đống hay bãi rác hở (open dums)
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại người ta đã biết đổ rác bên ngoài tường các thành luỹ- lâu đài và ở cuối hướng gió Cho đến nay, phương pháp này vẫn còn được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Phương pháp này có
Trang 16nhiều nhược điểm như sau:
+ Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi con người thấy hay bắt gặp chúng
+ Đống rác thải là môi trường thuận lợi cho các loài động vật gặm nhấm, các loài côn trùng, các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người
+ Các bãi rác hở bị phân huỷ lâu ngày sẽ rỉ nước và tạo nên vùng lầy lội, ẩm ướt và từ đó hình thành các dòng nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên dưới, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng chảy tràn, gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân huỷ rác tạo thành các khí có mùi hôi thối, mặt khác ở các bãi rác hở còn có thêm hiện tượng “cháy ngầm” hay có thể cháy thành ngọn lửa và tất cả các quá trình trên sẽ dẫn đến nạn ô nhiễm không khí
Có thể nói, đây là phương pháp rẻ tiền nhất, chỉ tiêu tốn chi phí cho công việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác Tuy nhiên phương pháp này lại đòi hỏi một diện tích bãi thải lớn, do vậy ở các thành phố đông dân cư và quỹ đất khan hiếm thì nó lại trở thành phương pháp đắt tiền cộng với nhiều nhược điểm như đã nêu ở trên
- Bãi chôn rác vệ sinh (sanitary landfill)
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình xử lý rác thải Thí dụ ở Hoa Kỳ có trên 80% lượng rác thải đô thị được
xử lý bằng phương pháp này, hoặc ở các nước Anh, Nhật Bản, người ta cũng hình thành các bãi chôn rác thải vệ sinh theo kiểu này
Bãi chôn rác vệ sinh được thực hiện bằng nhiều cách, mỗi ngày trải rác
Trang 17thành lớp mỏng, sau đó nén ép chúng lại bằng các loại xe cơ giới, sau cùng là trải lên các lớp rác bị nén chặt một lớp đất mỏng khoảng 15 cm Công việc này cứ thế tiếp tục, việc thực hiện các bãi rác vệ sinh có nhiều ưu điểm
+ Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loài côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở
+ Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra giảm thiểu được mùi hôi thối, ít gây ô nhiễm không khí
+ Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt
+ Các landfill sau khi bị phủ đầy, có thể được xây dựng thành các công viên giáo dục, làm nơi sinh sống và phát triển của các loài động thực vật, qua
đó góp phần tăng cường tính đa dạng sinh học cho các đô thị
+ Chi phí điều hành các hoạt động của landfill không quá cao
Tuy nhiên việc việc hình thành các bãi chôn rác vệ sinh cũng có một số nhược điểm:
+ Các landfill đòi hỏi diện tích đất đai lớn Người ta ước tính một thành phố có quy mô 10.000 dân thì một năm thải ra một lượng rác có thể lấp đầy diện tích 1 ha với chiều sâu là 10 feet (khoảng 3 met)
+ Các lớp đất phủ ở các landfill thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa
+ Các landfill thường tạo ra khí metan hoặc khí hydrogen sufide độc hại
có khả năng gây cháy nổ hay gây ngạt Tuy nhiên người ta có thể thu hồi khí metan làm khí đốt và cung cấp nhiệt cho sinh hoạt
- Đốt rác (incineration)
Đốt rác ở đây được hiểu là sự đốt rác có kiểm soát các chất thải rắn có thể đốt được Tuy nhiên nó không đơn giản chỉ là việc đốt cháy một bãi rác ngoài
Trang 18trời Đốt rác là một phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Xử
lý rác thải bằng cách đốt trong lò này có nhiều ưu điểm:
+ Đốt cháy hay tiêu huỷ các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh, các chất gây ô nhiễm
+ Diện tích xây dựng các nhà đốt rác thường nhỏ hơn nhiều diện tích các landfill
+ Các lò đốt có thể làm giảm khối lượng của rác thải từ 80- 90%, số tro hay các chất còn sót lại có thể đem chôn ở các landfill thậm chí thải bỏ xuống biển, đại dương
+ Các lò đốt có thể xây dựng không xa các thành phố (trong khi các landfill thường phải xây dựng khá xa các đô thị) do đó chi phí vận chuyển rác được giảm đi
+ Nhiệt phát ra trong quá trình đốt rác được thu hồi, để cung cấp cho các nhà máy điện, cho các nhà máy hay các khu dân cư đô thị
+ Các lò đốt sẽ ít gây ô nhiễm đất, kể cả ô nhiễm không khí nếu được trang bị các thiết bị xử lý bụi và khí thải
+ Các lò đốt có thể xử lý được các chất thải rắn có chu kỳ phân huỷ rất lâu dài như vỏ xe, đệm cao su, các loại thiết bị và đồ dùng gia đình
Bên cạnh các ưu điểm trên, phương pháp đốt rác có những nhược điểm khá cơ bản như: Chi phí thiết bị máy móc và xây dựng nhà máy khá cao, chi phí vận chuyển các lò đốt rác thường cao so với các landfill, nhiều chất thải có thể tái thu hồi và tái chế bị đốt cháy cả
- Chôn rác thải dưới biển (supmarine disposal)
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc chôn rác dưới biển cũng có nhiều điều lợi Ví dụ ở thành phố New York, trước đây chất thải rắn được
Trang 19chở đến các bến cảng bằng những đoàn xe lửa riêng, sau đó chúng được các xà lan chở đem chôn dưới biển ở độ sâu tối thiểu 100 feets, nhằm tránh tình trạng lưới đánh cá bị vướng mắc Ngoài ra ở San Francisco, New York
và một số thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ người ta còn xây dựng các bãi ngầm nhân tạo (artifical reefs) trên cơ sở sử dụng các khối gạch bê tông phá vỡ từ các công trình xây dựng, hoặc thậm chí các ô tô thải bỏ Làm điều này vừa giải quyết được vấn đề chất thải, vừa đồng thời tạo nên nơi trú
ẩn cho các loài sinh vật biển
- Phương pháp nhiệt phân
Đây là cách xử lý rác thải tương tự như chúng ta làm than hầm (charcoal), có nghĩa là sử dụng nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong rác Phương pháp này có nhiều điểm thuận lợi như sau:
+ Quá trình nhiệt phân là một quá trình kín nên ít tạo ra khí thải gây ô nhiễm
+ Có thể thu hồi nhiều vật chất sau khi nhiệt phân Ví dụ: 1 tấn rác thải đô thị ở Hoa Kỳ sau khi nhiệt phân có thể thu lại 2 gallons dầu nhẹ (light oil), 5 gallons hắc ín và nhựa đường, 25 pounds chất ammonium sulfate, 230 pounds than, 133 gallons chất lỏng chứa rượu (liquor) Tất cả các chất kể trên đều có thể tái sử dụng làm nguyên liệu
1.2.3 Lý luận về phương pháp lượng giá giá trị tài nguyên môi trường
a Giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
Chúng ta đã biết, tiền tệ là phương tiện chính trong lưu thông hàng hoá, nhưng không phải bất cứ loại hàng hoá nào cũng được xác định thông qua tiền tệ, đặc biệt là hàng hoá môi trường, đối với những loại hàng hoá này khó
có thể cân đo đong đếm và khó có thể định lượng được Do đó, thất bại thị
Trang 20trường thường diễn ra đối với những loại hàng hoá này vì chưa định giá hoặc định giá chưa phù hợp
Vì vậy, việc định giá tài nguyên, môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong việc phân bổ và sử dụng tài nguyên môi trường một cách hợp lý Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, những vấn đề liên quan chủ yếu đến định giá tài nguyên môi trường là tổng giá trị kinh tế (TEV) của tài nguyên môi trường, giá trị thặng dư (CS), mức bằng lòng chi trả (WTP)
Theo lý thuyết kinh tế, tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường chính là tổng giá trị sử dụng và các giá trị không sử dụng của tài nguyên môi trường đó, cụ thể:
TEV = UV + NUV
Trong đó:
TEV: Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
UV : Giá trị sử dụng
NUV: Giá trị không sử dụng
Giá trị sử dụng (UV) là giá trị rút ra từ hiệu quả sử dụng thực của tài nguyên môi trường Chẳng hạn, người dân vào rừng lấy củi, gỗ để đun nấu; đi ngắm nhìn các danh lam thắng cảnh, Hay nói cách khác, đây chính là giá trị
mà các cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ tài nguyên môi trường cung cấp (Koop và Smith 1993)
Giá trị không sử dụng (NUV) là thành phần giá trị của nguồn tài nguyên môi trường thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp (Koop và Smith 1993)
Là những giá trị mà không có trong tính toán và khó có khả năng lượng
Trang 21hoá Trong thực tế nó không biểu hiện rõ ràng, nó thường thể hiện các giá trị nằm trong bản thân hàng hoá môi trường gọi là giá trị tuỳ thuộc nghĩa là phụ thuộc vào mục đích chi tiêu của con người cho nó là có giá trị Bao gồm giá trị của chức năng bảo tồn văn hoá làng xã truyền thống, bảo tồn tài nguyên sinh học, giữ gìn cảnh quan đẹp
Ví dụ: Sự tồn tại của giá trị của những người không có điều kiện đến thăm quan nhưng rất hạnh phúc để biết về sự tồn tại của quần thể thực vật và
hệ động vật vô danh trong vùng đầm lầy thông qua những bức tranh hoặc những thước phim Hay người ta có thể hài lòng khi biết rằng mưa rừng tồn tại trong lưu vực sông Amazon
Như vậy, do đặc thù về giá trị của hàng hoá môi trường nên việc đánh giá tác động môi trường khác biệt với đánh giá kinh tế khác
Khuyết tật của kinh tế thị trường thể hiện trong việc xác định giá trị sử dụng và các giá trị (chẳng hạn lợi ích) của môi trường tự nhiên đã không biểu hiện trong hệ thống tài khoản quốc gia Hay giá trị phi sử dụng, có khi dương,
có khi âm không bao giờ được đề cập đến trong hệ thống này
Các học thuyết kinh tế hiện nay thật sự đã cho thấy tầm quan trọng của giá trị phi sử dụng ngày càng tăng lên Việc xây dựng một con đập hoặc sự cải tạo vùng đầm lầy hoặc gây ra sự tuyệt chủng của quần thể thực vật, động vật, hoặc giảm bớt chức năng tự nhiên của hệ sinh thái hay những con sông bị
ô nhiễm bởi rác thải…từ công nghiệp Tất cả những chi phí của sự huỷ hoại môi trường cần thiết được biết đến
Trang 22Munasinghe (1992) đã phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên theo hợp phần như sau:
Giá trị lựa chọn (OV)
Giá trị
để lại (BV)
Giá trị tồn tại (EV)
Giá trị trực tiếp
và gián tiếp tương lai
GTSD và không sử dụng cho tương lại
GT từ nhận thức
sự tồn tại của tài nguyên
Đa dạng sinh học, nơi cư trú
Nơi cư chú các loài sinh vật
Hệ sinh thái các loài bị
đe doạ
Trang 23Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV): đó là giá trị của tài
sản, tài nguyên có thể dùng hoặc tiêu thụ trực tiếp Người ta thường phân loại giá trị này như là hàng hoá hữu hình
Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV): Lợi ích mang lại
một cách gián tiếp cho người sử dụng Ví dụ: Du lịch sinh thái, chống xói mòn, bơi lội, bơi thuyền, picnicking, là những hoạt động mà tài nguyên thiên nhiên mang lại gián tiếp cho con người
Giá trị lựa chọn (Option Value- OV) được hình thành khi một cá nhân
có thể tự đánh giá cách lựa chọn để lựa chọn các nguồn tài nguyên môi trường trong tương lai Đó chính là giá trị môi trường mà lợi ích trong tương lai đang tiềm ẩn và giá trị đó sẽ thực sự được sử dụng trong hiện tại Chẳng hạn như khi cá nhân đó đối mặt với sự không chắc chắn về vấn đề môi trường có được đảm bảo hay không, đó chính là giá trị sử dụng trong tương lai
Giá trị để lại (Bequest Value- BV) chính là phần giá trị thu được từ sự
mong muốn sẽ bảo tồn các nguồn tài nguyên môi trường cho thế hệ hiện tại
và tương lai Đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi
sử dụng có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường
Giá trị tồn tại (Existence Value-EV) là thành phần hiện có trong nội tại
bản thân các tài nguyên môi trường, hay những giá trị này có được qua các cá nhân nhận biết được sự tồn tại của tài nguyên môi trường
Đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi sử dụng
có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường
b Đường cầu và thặng dư người tiêu dùng
- Đường cầu - Sự bằng lòng trả và đường cầu xã hội
+ Bằng lòng chi trả (Willingness To Pay- WTP)
Để đo lường lợi ích môi trường, các nhà kinh tế môi trường sử dụng khái niệm “bằng lòng chi trả"
Trang 24Một cá nhân đã ưa thích hàng hoá nào đó thì họ sẵn sàng trả tiền để có loại hàng hoá dịch vụ đó (mức WTP), khi đó họ sẽ hy sinh việc tiêu thụ loại hàng hoá khác
+ Cận biên là khái niệm chỉ phần tăng thêm khi có biến động thêm một đơn vị nào đó Ví dụ: Chi phí cận biên là chi phí tăng thêm khi sử dụng thêm một đơn vị sản phẩm, lợi ích cận biên là lợi ích tăng thêm khi sử dụng thêm một đơn vị sản phẩm
+ Đường cầu xã hội
Đường cầu xã hội được hiểu là tổng hợp các nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội Vì sự bằng lòng chi trả của các thành viên trong xã hội khác nhau đối với một mặt hàng nào đó, nên đường cầu xã hội là tổng số các đường cầu của các cá nhân Đường cầu xã hội tổng hợp các đường bằng lòng chi trả cận biên của các cá nhân
+ Lợi ích
Lợi ích (benefits) là một thuật ngữ mà các nhà kinh tế thường sử dụng
có nghĩa là bao gồm tất cả phần lợi nào đó con người nhận được
Xét về bản chất kinh tế, một người có được "lợi ích" thì họ vui lòng hy sinh hoặc vui lòng trả tiền để có nó Như vậy, lợi ích mà người ta thu được bằng số tiền mà họ bằng lòng chi trả để có nó Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm của các nhà kinh tế môi trường
Đánh giá lợi ích môi trường thông qua phương thức bằng lòng chi trả là nhằm hướng tới xác định giá trị của hàng hoá môi trường
- Đường cung- Chi phí cận biên
Chi phí (costs) là khái niệm sử dụng phổ biến trong kinh tế học nói chung và kinh tế môi trường nói riêng Đối với người sản xuất (cá nhân) chi phí được các định là các khoản chi phí bỏ ra để mua nguyên liệu, thuê nhân công Về mặt xã hội, chi phí còn bao hàm ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả chi
Trang 25phí cơ hội Chi phí cơ hội để sản xuất ra một mặt hàng nào đó bao gồm giá trị tối đa của các sản phẩm khác có thể và sẽ được sản xuất ra, nếu chúng ta không dùng các tài nguyên để sản xuất ra cùng một mặt hàng đang nói đến Chi phí cơ hội là một khái niệm rộng hơn, được xét toàn diện và có tính đến yếu tố lựa chọn các phương án trong quyết định sản xuất
+ Đường cong chi phí cận biên
Giống như trường hợp bằng lòng chi trả, ta cần phân biệt giữa chi phí cận biên và tổng chi phí
Chi phí cận biên của sản xuất là một nhân tố then chốt để xác định thái
độ cung cấp của các công ty
Hình 1.3: Đường cong chi phí cận biên
- Thặng dư tiêu dùng
Đối với những loại hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá môi trường thì thất bại thị trường thường hay xảy ra Nguyên nhân chính là do định giá không đúng với giá trị thực tế mà nguồn tài nguyên đó có được Mọi người có thể hưởng thụ môi trường trong sạch, yên tĩnh, mà hầu hết mọi người không phải trả tiền cho việc hưởng thụ đó Nhưng trong thực tế, giá trị của nguồn tài nguyên môi trường này đem lại là rất lớn
Thặng dư tiêu dùng chính là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hoá, dịch vụ và những chi phí thực tế để có
Trang 26được lợi ích đó
Trên hình 1.4, thặng dư tiêu dùng đối với hàng hoá G ở mức giá P+, sản lượng cân bằng Q+ Đây chính là thặng dư phát sinh khi “Người tiêu dùng nhận được nhiều hơn cái mà họ trả” theo quy luật độ thoả dụng cận biên giảm dần
Q là khối lượng hàng hoá
P+, Q+ là giá và khối lượng hàng hoá cân bằng trên thị trường
PA là mức giá cá nhân sẵn lòng chi trả
D là đường cầu phản ánh sự sẵn lòng chi trả
Diện tích dưới đường cầu là mức WTP
Diện tích hình OABQ+ biểu hiện tổng giá trị lợi ích
Diện tích hình AP+B (a) biểu hiện thặng dư tiêu dùng (CS)
Diện tích hình P+BQ+O (b) là tổng chi phí thực tế theo giá thị trường
Trang 27Người tiêu dùng được hưởng thặng dư tiêu dùng chủ yếu vì họ phải trả một lượng như nhau cho mỗi đơn vị hàng hoá mà họ mua Giá trị của mỗi đơn
vị hàng hoá ở đây chính bằng lợi ích (sự hài lòng) của đơn vị cuối cùng Nhưng theo quy luật cơ bản về độ thoả dụng biên giảm dần người tiêu dùng
sẽ được hưởng độ thoả dụng thặng dư đối với mỗi đơn vị hàng hoá đứng trước đơn vị cuối cùng mà họ mua (Samuelson và Nordhaus)
- Mức sẵn lòng chi trả (WTP)- Thước đo giá trị kinh tế
Thực chất WTP chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng của khách hàng Thông thường, khách hàng thông qua giá thị trường (MP) để thanh toán các hàng hoá và dịch vụ mà họ tiêu dùng Nhưng có nhiều trường hợp tự nguyện chấp nhận chi cao hơn giá thị trường để được tiêu dùng và mức này cũng khác nhau Mức WTP chính là thước đo của sự thoả mãn và mức MWTP cho mỗi đơn vị tăng thêm giảm xuống khi khối lượng tiêu dùng tăng thêm Đây chính
là quy luật về độ thoả dụng cận biên giảm dần Do vậy, đường cầu được mô tả giống như đường “sẵn lòng chi trả” và mức WTP cũng được coi như thước đo của lợi ích và đường cầu là cơ sở xác định lợi ích cho xã hội từ việc tiêu dùng một loại hàng hoá nhất định Miền nằm dưới đường cầu đo lường tổng giá trị của mức WTP Mối quan hệ này được thể hiện như sau:
WTP = MP + CS Trong đó:
WTP: Mức sẵn lòng chi trả
MP: Chi phi theo giá thị trường
CS : Thặng dư người tiêu dùng
Trong hình 1.4 giá thị trường ở mức cân bằng đối với hàng hoá G được xác định bởi quan hệ cung cầu là P+ và áp dụng cho tất cả mọi cá nhân Tuy nhiên đối với nhiều loại hàng hoá, có thể là hàng hoá công cộng hoặc nửa công cộng và không có giá thị trường, chẳng hạn như hàng hoá môi trường thì
Trang 28mức giá liên quan đến mức WTP cao nhất sẽ khó có thể xác định và sẽ không
có thước đo cho giá trị mà các cá nhân gắn với hàng hoá đó Trong trường
hợp này, để đánh giá mức WTP của các cá nhân cần phải sử dụng các phương
pháp khác nhau để xác định như: Phương pháp du lịch phí (TCM), phương
pháp định giá ngẫu nhiên (CVM), Các phương tiện kỹ thuật này sẽ được
đưa ra trong các mục phương pháp định giá tài nguyên môi trường
c Các phương pháp định giá tài nguyên môi trường
Có rất nhiều phương pháp định giá khác nhau được sử dụng để định giá
tài nguyên môi trường, các phương pháp này cũng được phân loại theo nhiều
cách khác nhau (hình 1.5)
Hình 1.5: Một số phương pháp định giá tài nguyên môi trường
Chi phí thay thế (RC); giá thay thế (POS); chi phí cơ hội (OC); chi phí vốn con người (HCA) giá chi phí (CP)
Chi phí du lịch (TCM);giá hưởng
chênh lệch lương (WD); giá trị dư (RV); giá trị ẩn (IV)
Định giá ngẫu nhiên CVM);
thị trường nhân tạo (AM)
Giá hoàn
hảo
Định giá hàng hoá, dịch vụ môi trường
Giá bị bóp méo
Có yếu tố thay thế
Trang 29Thông thường những hàng hoá dịch vụ môi trường chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố ngoại ứng và đa số các giá bị bóp méo Nghĩa là giá không phản ánh đúng thực chất giá trị của hàng hoá và dịch vụ Tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của các yếu tố ngoại vi như: Chính sách, độc quyền, Do đó,
để phản ánh đúng giá trị của hàng hoá và dịch vụ cần sử dụng giá bóng (SP)
Nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo và những yếu tố ngoại vi thể hiện được bản chất của hàng hoá, dịch vụ, giá này có thể được biểu hiện trong nền kinh tế, tức là có giá thị trường và phản ánh giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ môi trường
Tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ môi trường thường không có giá thị trường hoặc giá cả đã bị bóp méo Để định giá những ảnh hưởng của môi trường, người ta có thể dùng sự thay thế trực tiếp, nghĩa là dựa trên cơ sở ước tính giá cả hoặc sự thay thế gián tiếp Chẳng hạn như tìm hiểu giá trị của môi trường tại một khu danh lam thắng cảnh qua vé vào cổng, Trong trường hợp không có yếu tố thay thế, buộc ta phải điều tra về mức sẵn lòng chi trả trực tiếp bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
d Lý luận về phương pháp đánh giá ngấu nhiên (Contingent Valuation Method- CVM)
- Cơ sở lý thuyết của phương pháp đánh giá ngấu nhiên (CVM)
CVM là một phương pháp cho phép ước lượng giá trị của một hàng hoá dịch vụ môi trường Tên của phương pháp này bắt nguồn từ câu trả lời ngẫu nhiên đối với một câu hỏi dựa trên việc mô tả thị trường giả định cho người được hỏi (Johasson 1993: 46) CVM lần đầu được Davis (1963) đưa ra để ước lượng giải trí ngoài trời Phương pháp này được tiến hành bằng cách hỏi các
Trang 30cá nhân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hàng hoá và dịch vụ môi trường Những cá nhân được hỏi về mức WTP của họ cho một sự thay đổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ môi trường và các mức này thường được thu thập thông qua phiếu điều tra Về thực chất, CVM tạo ra được một thị trường giả định, trong đó cá nhân trong mẫu điều tra được coi như các thành phần tham gia vào thị trường có thể sử dụng hay không sử dụng nguồn tài nguyên môi trường
Thông thường, với phương pháp này sẽ có hai giả định về sự thay đổi hàng hoá môi trường Nếu môi trường được cải thiện hay giảm thiểu, các
cá nhân được hỏi sẽ sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện đó không và nếu có thì mức WTP là bao nhiêu Ngược lại, nếu môi trường bị ảnh hưởng thì họ
có sẵn lòng chi trả để tránh thiệt hại đó hay không và nếu có thì mức WTP
là bao nhiêu
Cơ sở của phương pháp CVM chính là lý thuyết về độ thoả dụng ngẫu nhiên (RUT) Theo lý thuyết này, xác suất của việc một cá nhân lựa chọn một loại hàng hoá trong nhóm các loại hàng hoá phụ thuộc vào độ thoả dụng của hàng hoá đó với độ thoả dụng của hàng hoá khác (Morrison và cộng sự 1996) Hay nói cách khác, cá nhân q sẽ lựa chọn phương án i thay vì phương án j khi
và chỉ khi Uiq > Ujq (i j A), trong đó A là tập hợp các lựa chọn
Theo lý thuyết này, độ thoả dụng của một loại hàng hoá được cho là phụ thuộc vào các thành tố quan sát được như véctơ của các thuộc tính hàng hoá (x), đặc điểm cá nhân (s), cũng như các thành tố không quan sát được (e) Các thành tố (e) được xử lý như là các đại lượng ngẫu nhiên và được giả định tuân theo quy luật phân bổ nào đó
Trang 31Độ thoả dụng của hàng hoá i có thể biểu diễn như sau:
Uiq = V(sq,xiq) + eiq Trong đó: Uiq: Độ thoả dụng của hàng hoá i của cá nhân q
V : Hàm độ thoả dụng gián tiếp
sq : Vectơ đặc điểm của cá nhân q
xiq : Vectơ thuộc tính hàng hoá trong phương án i
eiq : Thành tố không quan sát được Xác suất của việc lựa chọn phương án i thể hiện:
P(i/i,jA) = P(Viq + eiq) > (Vjq + ejq) Trong đó: P: xác suất
P(i/i,jA) chính là xác suất lựa chọn phương án i thay vì phương
án j trong tập hợp A
Theo như trên, xác suất mà một cá nhân chọn i thay vì j tương ứng với xác suất của độ thoả dụng (V) đã định cộng với độ thoả dụng ngẫu nhiên (e) đối với i lớn hơn j
Hay nói cách khác, xác suất ngẫu nhiên của một cá nhân từ mẫu điều tra sẽ chọn phương án i tương đương với xác suất mà hiệu số giữa độ thoả dụng ngẫu nhiên của j và i nhỏ hơn hiệu số giữa độ thoả dụng đã định của i và j; nghĩa là:
P(i/i,jA) = P(Viq - Vjq) > (ejq- eiq ) Mức sẵn lòng chi trả của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau Bao gồm: Đặc điểm kinh tế xã hội của người được hỏi; như thu nhập (I), trình độ học vấn (E), và một số biến đo lường “số
Trang 32lượng” của chất lượng môi trường (q) (Hanley và Spash 1993: 56) Nói cách khác, mức WTP có thể biểu diễn bằng hàm số của các biến này như sau:
E: Biến trình độ văn hoá
q: Biến đo lường “số lượng” của chất lượng môi trường (chỉ tiêu mức
độ ô nhiễm, tiếng ồn….)
Thông qua hàm hồi quy, chúng ta sẽ phân tích ảnh hưởng của các yếu
tố khác nhau tới mức WTP
- Trình tự áp dụng của phương pháp định giá ngẫu nhiên
Để tìm hiểu WTP của các cá nhân đối với một thay đổi trong hàng hoá dịch vụ môi trường, cần triển khai các bước sau:
(1) Mô tả viễn cảnh và giải thích những ảnh hưởng do sự thay đổi trong việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ môi trường
(2) Cá nhân được hỏi sẽ được nhận biết viễn cảnh đưa ra, trong đó có các lựa chọn liên quan đến hàng hoá dịch vụ môi trường
(3) Dựa vào những thông tin được cung cấp ở trên, người được hỏi cung cấp ý kiến có liên quan đến WTP của họ, từ đó có thể suy ra phần giá trị
gắn với sự thay đổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ đã đưa ra trong câu hỏi
Trang 331c Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra
2d Kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP 2e Cơ chế chi trả
3a Quyết định 3b Quyết định tiến hành điều tra như thế nào, khi nào và ở đâu
3c Điều tra thử 3d Tiến hành điều tra
4a Thu thập và kiểm tra số liệu 4b Sử lý số liệu
4c Loại bỏ những phiếu điều tra không phù hợp 4d Xây dựng các biểu
4e Phân tích số liệu
5c Lợi nhuận ròng hàng năm 5d Tổng gía trị của hàng hoá dịch vụ môi trường
Hình 1.6: Trình tự các bước tiến hành áp dụng phương pháp
định giá ngẫu nhiên
Trang 34Một số kỹ thuật để tìm hiểu mức WTP từ người được phỏng vấn thông qua phiếu điều tra gồm: Câu hỏi mở (Open- Ended Question); Trò đấu thầu (Bidding Game); Thẻ thanh toán (Payment Card); và câu hỏi có hay không (Dichotomous Choice) Các kỹ thuật này được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Các kỹ thuật để tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả
+ Người được hỏi không quen với giá trị thầu một lần + Tỷ lệ không trả lời lớn
+ Tỷ trọng các giá trị lớn hoặc nhỏ không hợp lý
+ Thiên lệch chiến lược
(2)
Trò đấu thầu
+ Trước tiên các cá nhân được hỏi họ
có sẵn lòng chi trả một khoản tiền X nào đó cho một thay đổi môi trường hay không
+ Nếu câu trả lời là “có”, câu hỏi trên
sẽ được lặp lại với một mức tiền cao hơn một tỷ lệ nào đó, cho đến khi nhận được câu trả lời là “không” thì kết thúc Giá trị nhận được trước câu trả lời là “không” được hiểu là WTP lớn nhất
+ Thiên lệch do điểm xuất phát
Trang 35+ Nếu câu trả lời là “không”, câu hỏi trên sẽ được lặp lại với một mức tiền thấp hơn, cho đến khi nhận được câu trả lời là “có” Giá trị nhận được trước câu trả lời là “có” được hiểu là WTP lớn nhất
(3) Thẻ
thanh toán
+ Người được hỏi được xem tấm thẻ khác nhau với các giá trị khác nhau ghi trên đó, và được yêu cầu hoặc chọn một giá trị trong đó tương ứng với WTP của mình, hoặc đưa ra giá trị riêng của mình nếu giá trị này không
có trên thẻ
+ Thiên lệch do cơ chế thanh toán
+ Thiên lệch chiến lược
(4) Câu hỏi có
hay không
+ Xác định dãy giá trị có thể có của WTP (có thể xác định qua điều tra thử)
+ Chia mẫu điều tra thành nhiều mẫu nhỏ hơn Chỉ hỏi người được phỏng vấn một câu hỏi, đó là họ có sẵn lòng chi trả một mức tiền nào đó cho một thay đổi môi trường xác định hay không Với mỗi mẫu này hỏi với một giá trị của WTP trong dãy giá trị đã xác định ở trên
+ Không thu được WTP cao nhất, mà chỉ
là sự bằng lòng tự nguyện chi trả hay không bằng lòng +Phải xác định giá trị của hàng hoá môi trường qua kỹ thuật thống kê riêng
(Nguồn: Freeman III 1993; Markandya và cộng sự 2002; Mitchell và Caron 1989)
Trang 36- Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp định giá ngẫu nhiên
+ Ưu điểm
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp CVM so với một số phương pháp định giá tài nguyên khác là phương pháp này có thể áp dụng để định giá tất cả các loại hàng hoá dịch vụ môi trường CVM là một phương pháp được sử dụng khi định giá hàng hoá và dịch vụ môi trường, vì phương pháp này được tiến hành bằng cách tạo ra một thị trường giả định Từ đó, các nhà phân tích
có thể xác định giá trị của hàng hoá và dịch vụ môi trường qua việc xem xét thái độ và hành vi của các cá nhân trong thị trường giả định này
Tuy có nhiều phương pháp khác như phương pháp chi phí du lịch cũng được sử dụng trong định giá tài nguyên, nhưng CVM là phương pháp duy nhất có thể định giá các giá trị không sử dụng của hàng hoá môi trường Các giá trị không sử dụng này có thể chiếm từ 35% đến 70% tổng giá trị của một tài nguyên (Sutherland và Walsh 1985 ) Bỏ qua các giá trị không sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng do việc không phân bổ và sử dụng tài nguyên hợp lý
Một ưu điểm nữa của phương pháp này là trong trường hợp đơn giản không cần thiết phải có khối lượng dữ liệu lớn như các phương pháp khác Số liệu có thể thu thập dưới nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào thời gian và nguồn tài chính cho phép để nghiên cứu, và các kỹ thuật sử dụng để thu được các phần giá trị Nhiều nghiên cứu về định giá tài nguyên không có nhiều số liệu hoặc số liệu không đáng tin cậy, nhưng qua phương pháp CVM, số liệu được tiến hành qua các cuộc điều tra Điều tra có thể được tiến hành qua thư gửi bằng bưu điện, hoặc phỏng vấn trực tiếp trong nghiên cứu này số liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp
Trang 37+ Hạn chế
Bên cạnh những điểm mạnh của phương pháp CVM so với các phương pháp định giá khác, phương pháp này cũng còn một số hạn chế Thông thường mức WTP của người được hỏi thường bị hạ thấp do những người được hỏi cho rằng họ có thể được hưởng lợi, sử dụng hàng hoá môi trường một cách miễn phí và không phải trả tiền Chẳng hạn như chiêm ngưỡng cảnh đẹp, bầu không khí trong lành Do vậy, họ không đưa ra các mức bằng lòng chi trả cho tài nguyên môi trường đó, hoặc do họ cảm thấy không được lợi hoặc không được sử dụng tài nguyên đó
Ngoài ra, những câu hỏi thường được điều tra dựa trên tình huống giả định Do đó, khả năng áp dụng còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, hành
vi, thái độ, quan điểm và cách ứng xử về tài nguyên môi trường cần định giá
và mức thu nhập của người được phỏng vấn Đây là những lý do giải thích tại sao ở các nước đang phát triển mức WTP trung bình thường bị hạ thấp hơn so với các nước phát triển
Bên cạnh đó một hạn chế khác của CVM liên quan đến những thiên lệch vốn có trong các kỹ thuật, chủ yếu là thiên lệch chiến lược, thiên lệch do điểm xuất phát, do cơ chế thanh toán, Đây chính là những vấn đề mà chúng
ta cần quan tâm khi tiến hành phương pháp CVM
Trang 38Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường thuộc khu vực nghiên cứu, xây dựng mức phí dịch vụ môi trường cho việc thu gom rác thải bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên(CVM)
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi
trường, ô nhiễm môi trường, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
- Tìm hiểu thực trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường thuộc khu vực nghiên cứu
- Phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân
- Xây dựng mức phí dịch vụ môi trường thông qua việc ước lượng mức bằng lòng chi trả của người dân địa phương bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề về rác thải ô nhiễm môi trường tại 5 xã Chủ thể nghiên cứu trực tiếp là những người tiêu dùng và sản xuất trong khu vực trên
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp CVM và vận dụng phương pháp CVM vào xây dựng mức phí dịch vụ môi trường để thu gom và xử lý rác thải
Trang 39c Phạm vi về thời gian
Đề tài thực hiện dựa vào thu thập tài liệu liên quan đến các nội dung nghiên cứu từ năm 2009 – 2010
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Các giáo trình, sách, công trình nghiên cứu về phương pháp đánh giá tài nguyên môi trường
Kế thừa các tài liệu thống kê của chính quyền 5 xã về các chỉ tiêu kinh
tế và xã hội tại khu vực nghiên cứu
Phỏng vấn người dân, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1/6/2011 đến 1/8/2011 Cỡ mẫu điều tra là 259 mẫu, bao gồm các hộ gia đình và khối cơ quan, đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn 5 xã trên
Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng bảng hỏi với các nhóm câu hỏi đóng
và nhóm câu hỏi mở, kết hợp với việc phỏng vấn trực tiếp và sử dụng thẻ thanh toán
Trang 402.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Mức phí dịch vụ môi trường được xây dựng thông qua việc xác định mức bằng lòng chi trả (Willingness To Pay) của người được phỏng vấn Tiêu chí đánh lựa chọn mức phí dịch vụ môi trường là để tối đa hoá doanh thu của HTX môi trường Thành Đạt nay là Công ty môi trường đô thị Ba Vì
WTP của người được phỏng vấn có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau: Các đặc điểm kinh tế xã hội của người được phỏng vấn và một số biến số đo lường "số lượng” của chất lượng môi trường Nói cách khác, WTP có thể biểu diễn bằng hàm số sau của các biến này:
WTPi=f(wi,ini,ei,qi) Trong đó
i: Chỉ số của quan sát hay người được điều tra
wtp i =β 0 + β 1 gioitinh i + β 2 trinhdo i + β 3 thunhap i + β 4 D 1i + β 5 D 2i + β 6 D 3i +
β 7 D 4i + β 9 sothanhvien+ u i