1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tại huyện vân đồn tỉnh quảng ninh

112 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Nuôi Trồng Thủy Sản Tại Huyện Vân Đồn Tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Trương Phi Long
Người hướng dẫn Tiến Sỹ Trần Hữu Dào
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệp hóa, du lịch, đô thị hóa, di dân,...., hoặc do chính hoạt động NTTS gây ra; iii hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ NTTS chưa được đầu tư đồng bộ; iv tình hình sử dụng các loại thuốc t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của các thầy cô, cán bộ trong Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và đông đảo bà con nhân dân của huyện Vân Đồn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là Tiến sỹ Trần Hữu Dào, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ban của Huyện ủy, các Phòng, Ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn; xin cản ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và bà con nhân dân đã giúp

đỡ, cộng tác để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch./

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2014

Tác giả

Trương Phi Long

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi trồng thủy sản và PTBV trong nuôi trồng thủy sản 4

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 4

1.1.2 Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản 15

1.1.3 Vai trò ngành nuôi trồng thủy sản 16

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản 20

1.1.5 Các tiêu chí nuôi trồng thủy sản bền vững 25

1.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở một số nước trên thế giới và thực tiễn phát triển NTTS ở Việt Nam 25

1.2.1 Trên thế giới 25

1.2.2 Tại Việt Nam 30

1.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 32

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN VÂN ĐỒN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 34

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

2.1.3 Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững ở huyện Vân Đồn 46

Trang 3

2.2 Phương pháp nghiên cứu 47

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 47

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 47

2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu 48

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 49

Chương 3.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN HUYỆN VÂN ĐỒN – TỈNH QUẢNG NINH 50

3.1 Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh 50

3.1.1 Thực trạng diện tích NTTS trên địa bàn huyện 50

3.1.2 Thực trạng sản lượng và năng suất NTTS trên địa bàn huyện 42

3.1.3 Giá trị sản xuất NTTS trên địa bàn huyện 46

3.1.4 Hình thức và đối tượng NTTS trên địa bàn huyện Vân Đồn 48

3.1.5 Lao động tham gia nuôi trồng thủy sản 50

3.1.6 Các quy hoạch phát triển NTTS trên địa bàn huyện Vân Đồn 52

3.1.7 Công tác khuyến ngư 53

3.1.8 Thị trường tiêu thụ các sản phẩm thủy sản nuôi trồng 53

3.1.9 Việc áp dụng khoa học kỹ thuật 55

3.2 Thực trạng nuôi trồng thủy sản tại nhóm HGĐ điều tra 56

3.2.1 Đặc điểm chung các HGĐ 56

3.2.2 Năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản 62

3.2.3 Thu nhập và chi phí tại các HGĐ NTTS 64

3.2.4 Chế biến và tiêu thụ sản phẩm 71

3.2.5 Dịch vụ trong nuôi trồng thủy sản 74

3.2.6 Rủi ro trong NTTS 77

3.3 Những tồn tại và nguyên nhân trong NTTS huyện Vân Đồn 80

3.3.1 Những tồn tại 80

Trang 4

3.3.2 Nguyên nhân những tồn tại 81

3.4 Một số giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững tại huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh 82

3.4.1 Định hướng phát triển bền vững việc nuôi trồng thủy sản 82

3.4.2 Các giải pháp chủ yếu 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích nuôi trồng thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012 41

Bảng 3.2: Sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012 43 Bảng 3.3: Năng suất nuôi trồng thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012 45

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012 47 Bảng 3.5: Thực trạng lao động tham gia NTTS huyện Vân Đồn năm 2012 51

Bảng 3.6: Thực trạng nhân khẩu – lao động tại các HGĐ điều tra 56

Bảng 3.7: Trình độ văn hóa của lao động tham gia NTTS trực tiếp 59

Bảng 3.8: Hiện trạng sử dụng diện tích theo mục đích sử dụng các HGĐ 61

Bảng 3.9: Năng suất và sản lượng NTTS tại các HGĐ điều tra 63

Bảng 3.10: Thu nhập bình quân trên 01 ha của HGĐ NTTS 65

Bảng: 3.11: Chi phí bình quân trên 01 ha của HGĐ NTTS 67

Bảng: 3.12: Hiệu quả kinh tế HGĐ NTTS 69

Bảng 3.13: Thực trạng chế biến và tiêu thụ sản phẩm NTTS 72

Bảng 3.14: Thực trạng tiêu thụ thủy sản tại các HGĐ 73

Bảng 3.15: Cơ sở sản xuất con giống thủy sản năm 2012 75

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành thuỷ sản xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời với xuất phát điểm là đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Thời kỳ đầu đánh bắt thuỷ sản được coi là ngành quan trọng chủ yếu cấu thành nên ngành Thuỷ sản Vì vậy, ở thời điểm đó NTTS chưa phát triển và con người chưa ý thức được việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của các loài thuỷ sản Những thập kỷ gần đây, khi sản phẩm thuỷ sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ sụt giảm và cạn kiệt vì đánh bắt quá nhiều, tràn làn trong điều kiện nguồn lực có hạn thì NTTS ngày càng phát triển và trở nên quan trọng

NTTS là một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, các sản phẩm thuỷ sản được cung cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chế biến xuất khẩu Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nước với nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động NTTS

Nuôi trồng thủy sản ở huyện Vân Đồn trong thời gian qua được khẳng định là nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn và ven biển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và thu hút được sự quan tâm đầu tư của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước

Tuy nhiên, NTTS huyện Vân Đồn đang phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn như: i) thiếu quy hoạch hoặc quy hoạch chạy theo thực tế sản xuất; các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình chuyển đổi đất nông, lâm nghiệp sang NTTS; ii) các vấn đề môi trường trong và xung quanh các khu vực nuôi tập trung do hoạt động của các ngành kinh tế khác gây ra (công

Trang 7

nghiệp hóa, du lịch, đô thị hóa, di dân, ), hoặc do chính hoạt động NTTS gây ra; iii) hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ NTTS chưa được đầu tư đồng bộ; iv) tình hình sử dụng các loại thuốc thú y phục vụ NTTS diễn ra tràn lan, công tác kiểm tra, giám sát gặp nhiều bất cập; v) tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp mà chưa có các giải pháp phòng trị triệt để; tình trạng con giống không đảm bảo chất lượng, tình trạng thiếu vốn cho sản xuất và đặc biệt là diễn biến phức tạp của thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản trong và ngoài nước đang là những yếu tố gây cản trở cho việc phát triển tiếp theo của ngành thủy sản

Với thực tế nêu trên, đề tài: “Một số giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh” được tác giả lựa

chọn nhằm tìm hiểu thực trạng NTTS của huyện Vân Đồn, làm rõ những thách thức và cơ hội, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển cho lĩnh vực này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động NTTS ở huyện Vân Đồn, xem xét các yếu tố có liên quan đến phát triển như: nguồn lao động, vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường và đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực để phát triển bền vững NTTS

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản nước mặn

của huyện Vân Đồn

- Phạm vi về thời gian: Thu thập số liệu trong giai đoạn từ năm 2008-

2012

4 Nội dung nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi trồng thủy sản và phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản

Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở một số nước trên thế giới và thực tiễn phát triển NTTS ở Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh

Thực trạng nuôi trồng thủy sản tại nhóm HGĐ điều tra

Những tồn tại và nguyên nhân trong NTTS huyện Vân Đồn

Đề xuất một số giải pháp phát triển NTTS theo hướng bền vững tại huyện Vân Đồn

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi trồng thủy sản và PTBV trong nuôi trồng thủy sản

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

- Nuôi trồng thủy sản[16]

Nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu ) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu

là cá, tôm và các thủy sản khác ) có sự tham gia trực tiếp của con người Hoạt động này ở Việt Nam bao gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước ngọt, nước

lợ và nước mặn với các hình thức nuôi chủ yếu là:

+ Nuôi theo phương pháp thâm canh (TC), bán thâm canh (BTC), quảng canh (QC) và quảng canh cải tiến (QCCT);

+ Nuôi trong lồng bè trên mặt nước biển, sông, đầm,ven biển;

+ Nuôi nhuyễn thể;

+ Nuôi thủy sản ao hồ, đìa, đầm;

+ Nuôi thủy sản trên ruộng trũng, ruộng lúa;

+ Trồng rong biển

- Phát triển bền vững [15]

Thuật ngữ PTBV lần đầu tiên được sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) năm 1980 với mục tiêu tổng quát là đạt được sự PTBV thông qua bảo tồn các nguồn tàinguyên sống Khái niệm về PTBV đang phổ biến nhất được trình bày trong báo cáo

“Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) năm 1987, theo đó thừa nhận mối liên kết chặt chẽ giữa môi trường và phát triển: “PTBV là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp

Trang 10

ứng các yêu cầu của họ, đồng thời còn tạo điều kiện và bảo đảm cho các thế

hệ có cuộc sống tốt hơn”

Điều đáng lưu ý là trong khi IUCN nhấn mạnh đến sự thống nhất các giá trị, các vấn đề môi trường và bảo tồn trong quá trình phát triển thì WCED lại tập trung vào tính bền vững về KT – XH: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, xã hội, môi trường và tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của các thế hệ hiện tại

mà không làm tổnhại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế – xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng sống của các thế hệ tương lai”.Việc thừa nhận khái niệm về PTBV của WCED đã góp phần làm giàu thêm tư liệu về PTBV và có lẽ đây thực sự là một khái niệm rõ ràng nhất

và được sử dụng rộng rãi nhất Khái niệm này đã đưa ra khuôn khổ để lồng ghép giữa các chính sách môi trường và các chiến lược phát triển, và các chiến lược này cần có tầm nhìn dài hạn

Trong cuốn “Cứu lấy trái đất - Chiến lược vì sự sống bền vững”, khái niệm PTBV tiếp tục được hoàn thiện Theo đó việc bảo tồnmôi trường, các khía cạnh kinh tế và xã hội được lồng ghép với nhau, và các nguyên tắc lồng ghép cũng được cụ thể hoá Như vậy, nếu trước đây, PTBV thường được gắn với bảo vệ môi trường, thì ngày nay, khái niệm PTBV đã vượt khỏi khuôn khổ bảo vệ môi trường đơn thuần, trở nên bao quát và toàn diện hơn Khái niệm PTBV thể hiện một sự thừa nhận rằng những nhu cầu về xã hội, môi trường và kinh tế phải được lồng ghép với nhau một cách cân đối và hài hòa,chỉ có như vậy đất nước mới có thể PTBV trước mắt cũng như lâu dài Phát triển kinh tế, xã hội, quản lý tài nguyên và bảovệ môi trường là 03 trụ cột của phát triển bền vững

Phát triển bền vững hiện đang được toàn thế giới cùng quan tâm chung,

là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, là nhu cầu

Trang 11

cấp bách và sự lựa chọn có tính chiến lược, đã được các quốc gia đồng thuận xây dựng thành Chương trình Nghị sự cho từng thời kỳ và cùng đề ra các mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio (Braxin) năm 1992, cộng đồng quốc tế đã thông qua tuyên bố Rio về môi trường và phát triển, bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung của toàn thế giới trong thế kỷ 21 Cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển được hội tụ tại Nguyên tắc 04 củaTuyên bố Rio: “ để đạt được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường phải là một phần không thể tách rời của quá trình phát triển và không thể tách biệt khỏi quá trình đó” Uỷ ban của Liên hợp quốc về phát triển bền vững (CDS) đã bổ sung một khía cạnh thứ tư của phát triển bền vững, đó là thể chế Bốn khía cạnh này hiện đang là khuôn khổ báo cáo về thực hiện Chương trình Nghị sự 21 Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững (Jonhanesburgs - Nam Phi, năm 2002), quan điểm

về phát triển bền vững được chú trọng với nội dung cụ thể là “thu hẹp khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới, xoá bỏ nghèo đói, nhưng không làm ảnh hưởng đến môi sinh; thực hiện phát triển kinh tế trong tương quan chặt chẽ với bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội ở tất

cả các quốc gia, khu vực và toàn cầu” Đây là tiền đề và nền tảng bảo đảm sự phát triển bền vững

Từ sau Hội nghị Rio 1992 đến nay đã có 113 nước trên toàn thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và Chương trình Nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này

Một số tiêu chí về tính bền vững kinh tế – xã hội và các phương thức phát triển

Trang 12

Theo tình hình hiện nay, để đánh giá tính bền vững của sự phát triển

KT - XH là hết sức khó khăn Ngay thuật ngữ về thước đo tính bền vững, hiện nay còn nhiều ý kiến tranh cãi và sử dụng khác nhau như: “tiêu chí”, “chỉ tiêu”, “độ đo”, về phát triển bền vững Rất nhiều tài liệu trong lĩnh vực này đều chấp nhận tiền đề “cái gì đo được sẽ quản lý được”, và xét trên quan điểm

kế hoạch hóa thì thuật ngữ “chỉ tiêu” là phù hợp vì thể hiện thước đo kết quả

và mục tiêu của phát triển Nhưng hiện nay đang thiếu những chỉ tiêu có thể

sử dụng để định lượng Nếu không xem xét tổng thể và toàn diện thì khó có thể đánh giá và so sánh được một quốc gia, một vùng, một ngành hay một địa phương có phát triển bền vững hay không, do vậy, rất cần có những nghiên cứu bổ sung để xác định cácmục tiêu và mục đích phát triển một cách khoa học bằng việc xác định những giới hạn và những ngưỡngthiết yếu nhất để bảo đảm cuộc sống của con người, vừa bảotồn thiên nhiên và nguồn lợi cho mai sau

Trên thế giới hiện đang sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận kỹ thuật khác nhau để xây dựng các hệ thống xác định các đặc tính và đo lường sự bền vững Việc đánh giá định tính và địnhlượng sự bền vững liên quan đến sự lựa chọn cách xác định và định lượng những gì đang được phát triển, những gì đang được duy trì và trong khoảng thời gian bao lâu Trên thực tế, các nhóm

và các tổ chức nghiên cứu về phát triển bền vững đều có xu hướng thừa nhận rằng muốn phát triển bền vững chúng ta cần phải duy trì và phát triển nhiều mục tiêu khác nhauvà giải quyết các mâu thuẫn khác nhau, nhưng họ lại không nhất trí được trong việc nên xác định phần nào chỉ nên duy trì và phần nào sẽ được phát triển, môi trường sẽ gắn kết với phát triển như thế nào và trong bao lâu thì lại có rất nhiều quan niệm khác nhau

Trước đây, có nhiều tài liệu chỉ tập trung vào kinh tế vớicác ngành sản xuất cung cấp việc làm, của cải và sức tiêu thụ Theo họ, nền kinh tế đã thúc

Trang 13

đẩy và cung cấp mọi phương tiện để đầu tư cũng như cấp ngân sách cho việc duy trì và phục hồi môi trường Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, sự tậptrung đã chuyểnsang con người với sự nhấn mạnh vào phát triển con người như tăng tuổi thọ, tăng giáo dục, tạo sự công bằng và cơ hội Cuối cùng, cũng

có cả những lời kêu gọi phát triểnxã hội tập trung vào sự thịnh vượng và an ninh của các quốc gia, các khu vực, cácthể chế và các nguồn đầu tư tạo nên mối quan hệ và liên kết cộng đồng Mặc dù vậy, cũng đã có rấtnhiều hoạt động và nghiên cứu nhằmxây dựng nên các tiêu chí định lượng cho PTBV (của các nhóm và các tổ chức như: Uỷ ban phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (CSD), của Nhóm tư vấn về tiêu chí phát triển bền vững (CGSDI), Phương án Chỉ số thịnh vượng, Phương án Chỉ số Bền vững môi trường, Nhóm Bối cảnh toàn cầu, Phương án Các bước sinh thái, Nhóm Tiêu chí Tiến

bộ đích thực (GPI), Nhóm hành động liên cơ quan Hoa Kì về các tiêu chí phát triển bền vững (IWGSDI), Hệ thống tiêu chí của Costa Rica về PTBV, Dự án các tiêu chí Boston, Nhóm đánh giá các thất bại, Sáng kiến thông báo toàn cầu) Ngoài ra đã có một số nỗ lực đề cập đến các phạm trù và phương pháp xây dựng các tiêu chí Bản Tóm tắt các tiêu chí phát triển bền vững đã liệt kê hơn 500 tiêu chí Trong số này có 67 tiêu chí có qui mô toàn cầu, 103 qui mô quốc gia, 72 có qui mô bang hoặc tỉnh và 289 có qui mô địa phương hay thành phố

Vai trò chủ yếu của các tiêu chí là chỉ ra các tiến trình hướng tới hoặc

để cụ thể hoá các mục tiêu với lộ trình cụ thể của sự PTBV nhằm tư vấn cho công chúng, cho các nhà ra quyết định và các nhà quản lý Sự kiểm soát quản

lý này cũng có hàm ý sử dụng hàng loạt các đápứng về chính sách và dùng các tiêu chí để xác định các cơ hội cho những đáp ứng nói trên, chọn ra các hành động ưu tiên và đánh giá hiệu quả của chúng

Trang 14

Mặc dù hầu hết các Nhóm đều có các phương pháp rõ ràng, nhưng các thuật ngữ thường không nhất quán và những ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp hầu như ít được bàn đến Cách lựa chọn phươngpháp chủ yếu là dựa vào các số liệu về qui mô không gian và thời gian, vào sự lựa chọn các tiêu chí và sự kết hợp các tiêu chí

Về tổng thể phát triển, phát triển bền vững kinh tế - xã hội phải đạt tới

sự hài hòa, cân đối về kinh tế, xã hội và môi trường Từ các khái niệm cơ bản

về phát triển bền vững nêu trên, có thể hệ thống các tiêu chí cơ bản để đánh giá tính bền vững của sự phát triển, cụ thểlà những tiêu chí: thịnh vượng về kinh tế; dân chủ, công bằng và tiến bộ về xã hội; bền vững về môi trường sinh thái Các địa phương và các Ngành - trong đó có ngành thủy sản huyện Vân Đồn, có thể căn cứ vào các chỉ tiêu chung nêu trên để cụ thể hoá, đánh giá và

so sánh tính bền vững của Ngành Trong PTBV mà hiện nay các quốc gia đều theo đuổi, có ba nội dung cơ bản là:

1 Bền vững về kinh tế: bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, và duy trì

tốc độ ấy trong một thời gian dài Bền vững về kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải đảm bảo cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với các điều kiện nguồn lực,

sử dụnghiệu quả tài nguyên thiên nhiên, và việc phát triển công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, Một quốc gia được coi là phát triển bền vững về kinh tế phải đạt được những yêu cầu sau đây: Có tốc độ tăng trưởng GDP cao

và ổn định; GDP/đầungười cao và thườngxuyên tăng lên; có cơ cấu GDP hợp

lý, các ngành – thành tố của GDP phải ổn định và phát triển để làm cho tổng GDP của quốc gia ổn định và tăng lên; Tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho thế hệ mai sau Cần phải phân biệt rõ giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với việc bảo đảm, duy trì sự tăng trưởng đó trong một thời gian dài Tăng trưởng nhanh thường đi liền với việc đầu tư lớn, khai thác TNTN nhiều không giới hạn, chinh phục thị trường

Trang 15

bằng mọi cách để tăng sản lượng, tăng doanh thu và tăng lợinhuận Và như thế thường mâu thuẫn với PTBV, với xu hướng muốn duy trì sự tăng trưởng

đó một cách bềnbỉ và dài lâu, nghĩa là tăng trưởng hôm nay phải không được làm ảnh hưởng đến tương lai

2 Bền vững về xã hội: Phát triển kinh tế sẽ không bền vững nếu không

gắn với phát triển xã hội Bởi phát triển xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế, phù hợp với đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xã hội bền vững phải là mộtxã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội, chính trị ổn định và

an ninh quốc gia được bảo đảm Biểu hiện tổng hợp nhất của phát triển kinh

tế và phát triểnxã hội là chỉ số phát triển con người (Humen Development Index - HDI) phải ngày càng tăng lên Một trong những mục tiêu xã hội cần

ưu tiên là kiểm soát thường xuyên mức tăng dân số, mọi người được thụ hưởng cácthành quả của sự tăng trưởng kinh tế, việc làm và đời sống được cải thiện, thu nhập tăng cao, các tầng lớp dân cư trên cácvùng lãnh thổ có cùng cơ hội hưởng thụ phúc lợi xã hội: y tế, giáo dục, các hoạt động văn hoá, đào tạo nghề,… Xã hội của một nước không thể tồn tại bền vững nếu để mộttầng lớp người hay nhóm người bị gạt ra ngoài lề tiến trình phát triển của quốc gia Thế giới cũng không thể có phát triển bền vững nếu cuộc sống và tính mạng của một bộ phận nhân loại hay một số quốc gia đang bị đe doạ vì nhiều lý do: chiến tranh, xung đột, bệnh tật, nghèo nàn và thiếu các điều kiện sống tốithiểu như: nước sạch, không khí sạch, nhà ở, ăn uống, thuốc men…

3 Bền vững về môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên,

môi trường là đầu vào cơ bản có tầm quan trọng đối với sự phát triển ổn định KT- XH của mỗi nước

- Bền vững về môi trường cần bảo đảmcác chỉ tiêu, chức năng cơ bản là:

Trang 16

+ Bền vững về môi trường tự nhiên phải bảo đảm số lượng và chất lượng trong sạch về không khí, nguồn nước, đất, không gian về lý hóa và sinh học, cảnh quan Quá trình khai thác và sử dụng không được phép làm giảm

số lượng và chất lượng của các yếu tố đó dưới giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

+ Bền vững về môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động, học tập của con người,…), không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại

+ Với chức năng môi trường là nơi chứa đựng và xử lý phế thải cần quán triệt là lượng phế thải tạo ra trong sinh hoạt và sản xuất của con người phải nhỏ hơn khả năng tái sử dụng, tái chế và phân hủy của tự nhiên, không

để ảnh hưởng của cácđiều kiện này tới sự sống của con người và muôn loài

- Bền vững về tài nguyên thiên nhiên phả i bảo đảm:

+ Đối với các loại tài nguyên tái tạo được, chỉ khai thác và sử dụng trong giới hạn những tài nguyên đó được khôi phục lại về số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo ra hoặc bằng phương pháp nhân tạo thay thế

+ Các loại tài nguyên không tái tạo được, chỉ khai thác, sử dụng ít hơn, bằng số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo rahoặc bằng phương pháp nhân tạo thay thế Như vậy, môi trường sinh thái phải được bảo vệmột cách tốt nhất Phải tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách không lãng phí, làm cho hệ sinh thái đượctái sinh thường xuyên Cáchoạt động kinh tế và mưu sinh của con người phải được coi là một

bộ phận cấuthành của hệ sinh thái, và phát triển kinh tế phải bảo toàn sự cân bằng của hệ sinhthái, nếu không thì không thể bảo đảm bền vững

Những nội dung chung nhất ấy đang được hiểu và thực thi trong những

mô hình kinh tế và thể chế chính trị rất khác nhau Và vì vậy, kết quảđem lại cũng không giống nhau Trong lúc nhiều quốc gia cam kết cắt giảm lượng

Trang 17

phát thải công nghiệp theo Nghị định thư Kyoto, thì Mỹ - nước đang phát thải trên dưới 30% toàn cầu, lại tìm mọi lý do để từ chối, thậm chí đòi “mua lại” tiêu chuẩn phát thải của các nước nghèo, “xuất khẩu” nhà máy có lượng phát thải lớn ra ngoài lãnh thổ…

Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới đã làm rõ một nguyên lý cơ bản là: muốn tăng trưởng kinh tế nhanh phải có phương thức huy động tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực hiện có cho đầu tư phát triển Do sự thúc ép về kinh tế, chủ yếu là sự đối đầu với đói nghèo và lạc hậu, nên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hầu như tất cả các nước đều coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số một với quan điểm: tạm thời chưa chú trọng đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh Từ đây hình thành quan điểm“Phát triển với bất cứ giá nào” Như vậy, phải chấp nhận sự bất bình đẳng trong xã hội và sự suy thoái môi trường Sau khi đạt được trình độ phát triển kinh tế cao, sẽ có điều kiện để khắc phục dần dần sự bất bình đẳng về phân phối thu nhập trong xã hội và làm sạch lại môi trường Kết quả, nhiều nước đã đạt được tốcđộ tăng trưởng cao nhờ đầu tư lớn, nhờ khai thác mạnh các nguồntài nguyên thiên nhiên

Thế nhưng, với phương thức pháttriển như trên, đã làmnẩy sinh nhiều vấn đề môi trường và biến đổi xã hội – nhân văn ở nhiềunước Cái giá phảitrả

để tăng nhanh tốc độ tăng trưởng kinhtế là sự mất cân bằng về xã hội, sự đói nghèo của một bộ phận nhân dân, sự thất học của một số trẻ em, sự mở rộng các khu nhà ổ chuột ở đô thị, tỷ lệ thất nghiệp cao Tăng trưởng kinh tế không

có kiểm soát như trên sẽ khuyến khích hoạt đông khai thác dẫn đến cạn kiệt các nguồn TNTN, mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng cao, sự cố môi trường, thiên tai lũ lụt ngày càng gia tăng (sóng thần, động đất, bão Katrina,…), đất, các dòng sông bị ô nhiễm vì nước thải, bầutrời bị ô nhiễm vì khói bụi công nghiệp,… là những tác nhânlàm gia tăng dịch bệnh (SARS,

Trang 18

H5N1,…) càng làm nghiêm trọng thêm các vấn đề xã hội, nhất là những quốc gia nghèo và đang phát triển

Trong những trường hợp đó, những nỗ lực đầu tư cho phát triển sẽ trở nên “vô nghĩa” không thể có hiệu quả cao, hoặc chí ít thì cũng bị ảnh hưởng nặng nề, thu nhập quốc dân tăng lên do kinh tế phát triển sẽ bị hạn chế và suy giảm bởi những chi phí đè nặng để xử lý những hậu quả trên nhiều lĩnh vực thiên nhiênvà xã hội Phải phát triển đến một trình độ nàođó mới xem xét giải quyết vấn đề môi trường là “một sự nhân đôi sai lầm”, là quanđiểm không còn phù hợp với tình hình phát triển KT – XH và thực trạng môi trường hiện nay

Việc chạy theo những chỉ tiêu về tốc độ thường kéo theo đầu tưtràn lan, tạo ra tình trạng thiếu hiệu quả, thiên nhiên bị tàn phá,… dẫn đến mất cân đối trong phát triển, đến một mức nào đó khi khủng hoảng xảy ra sẽ làm “tiêutan rất nhanh chóng những gì đã đạt được” Vào đầu những năm 70 của thế kỷ

XX, cácquốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển, thi nhau khai thác TNTN, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và tìm kiếm thị trường đểlàm giàu Điều

đó không chỉ nhìn thấy được ở các mô hình kinh tế của các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây, mà có cả trong mô hình kinh tế các nướctrong phe

xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô (cũ) Cơ chế kế hoạch hoá tậptrung đã làm nảy sinh một kiểu làm việc “càng chi phí nhiều càng có lợi” đã triệt tiêu cácđộng lực ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ để giảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng, cho dù trên thực tế đã phát động nhiều phong trào thi đua với nhiều khẩu hiệu về tiết kiệm và hiệu quả Chẳng hạn, chi phí sản xuất càng cao, tổng sản phẩm càng lớn Tổng sản phẩm lớn mới có quỹ tiền lương nhiều và trích thưởng lớn (vì được quy định tỷ lệ thuận vớitổng sản phẩm)

Bởi vậy, phát triển kinh tế thị trường ngày nay không thể không có bàn tay can thiệp của con người với ý thức, trách nhiệm cao trong việc bảo đảm

Trang 19

lợi ích cho cả trước mắt và lâu dài Từ những bài học thực tiễn đó, con người

đã cảnh giác và tìm chiến lược phát triển mới: coi các vấn đề tăng trưởng kinh

tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là ba yếu tố cấu thành của phát triển xã hội Sự phát triển lâu dài và ổn định chỉ có thể đạt được dựa trên một

sự cân bằng nhất định của ba mặt: Kinh tế – Xã hội – Môi trường Trong một thời kỳ cụ thể, người ta có thể ưu tiên phát triển một mặt nào đó, song mức độ

và thời hạn của sự ưu tiên đó chỉ có giới hạn và phải được lồng ghép với các vấn đề khác Cần thống nhất quan điểm từ các phía “bảo vệ môi trường phải

vì phát triển, thúc đẩy phát triển”, và ngược lại phải khắc phục tư tưởng “chỉ chú trọngphát triển kinh tế mà ít quan tâm hoặc coi nhẹ vấn đề tài nguyên môi trường và xã hội”

Đối với Việt Nam, khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ, cơ sở hạ tầng KT –

XH chưa phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp,… thì các điều kiện ban đầu cho PTBV là phải tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và hoàn thiện dần chất lượng của sự phát triển để củng cố sức mạnh quốc gia, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Chỉ khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, thì mới có thể xoá đói giảm nghèo, đời sống nhân dân mới được cải thiện và mới có được những điều ki ện và nguồn lực cho PTBV

Qua gần hai mươi năm thực hiện đổi mới, Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng đã đạt được những kết quả to lớn trong phát triển KT –

XH và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong kế hoạch phát triển KT – XH của đất nước, của các ngành và địa phương, tính bền vững của sự phát triển vẫn chưa được quan tâm đúng mức

và vẫn còn một số tồn tại lớn Là nước nghèo với GDP bình quân đầu người còn thấp và đang trong quá trình CNH, HĐH, phát triển KT – XH ở nước ta trong những năm qua vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác TNTN; năng suất

Trang 20

lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạnxã hội chưa được ngăn chặn triệt để,… đang là những vấn đề bức xúc Nhiều nguồn TNTN bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơibị phá hoại nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động Phương thức khai thác và sử dụng kém hiệu quả tài nguyên như hiện nay sẽ là mối đe dọa lớn tới khả năng sử dụng lâu dài các TNTN Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật chưa đồng bộ để kết hợp một cách có hiệu quả giữa 03 mặt của sự phát triển: KT, XH và bảo vệ môi trường.Trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT– XH của đất nước cũng như các ngành và địa phương, 03 mặt quan trọng trên của sự phát triển chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau

- Sản xuất bền vững [5]

Sản xuất bền vững bao gồm việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới, sáng tạo trong thiết kế và cải tiến sản phẩm, cũng như chú trọng đến các quá trình sản xuất như khuyến khích áp dụng sinh thái công nghiệp, các tiếp cận vòng đời sản phẩm, sản xuất sạch hơn, sản xuất xanh

- Phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững[5]

Phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu khai thác và nuôi trồng thủy sản ở hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai

1.1.2 Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản[16]

- NTTS là một ngành phát triển trên phạm vi cả nước và có đối tượng phức tạp so với các ngành sản xuất khác

- Trong NTTS thì đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế

Trang 21

Ngoài ra, NTTS Việt Nam còn có những đặc điểm riêng:

- Ngành NTTS Việt Nam còn nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu là thủ công, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và quản lý của cán bộ còn yếu kém và tâm lý của người sản xuất còn lạc hậu

- Trong NTTS, đất đai, diện tích mặt nước phân bố không đều giữa các vùng cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý NTTS

- Nghề NTTS Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm có pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới

1.1.3 Vai trò ngành nuôi trồng thủy sản [17]

1.1.3.1 Ngành nuôi trồng thuỷ sản có vai trò quan trọng trong việc duy trì, tái tạo các nguồn lợi thuỷ sản

Các nguồn lơ ̣i thủy sản là nguồn lơ ̣i tự nhiên với tính chất có ha ̣n, khan hiếm khi khai thác đánh bắt mô ̣t cách tràn lan không có kế hoa ̣ch thì nguồn

lợi này la ̣i càng trở nên khan hiếm, thâ ̣m chí mô ̣t số loài gần như tuyê ̣t chủng Chính vì vâ ̣y, để đảm bảo nguồn lơ ̣i này đươ ̣c duy trì và tiếp tu ̣c mang la ̣i lơ ̣i ích cho con người thì cần có những kế hoa ̣ch khai thác hợp lý, khai thác kết

hợp với viê ̣c bảo vê ̣, bổ sung tái ta ̣o mô ̣t cách thường xuyên thông qua hoa ̣t

đô ̣ng đánh bắt và NTTS là 2 bô ̣ phâ ̣n cấu thành nên ngành thuỷ sản nhưng mang 2 sắ c thái hoàn toàn khác nhau, bổ sung lẫn nhau ta ̣o nên sự phát triển chung củ a toàn ngành

Trang 22

1.1.3.2 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản và thương mại quốc tế thuỷ sản

Nuôi trồng thuỷ sản là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số ngành nghề sản xuất nông nghiệp khác, sản phẩm không chỉ tiêu dùng nội địa

mà một số đối tượng thuỷ sản nuôi trồng còn là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu

Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước Ngành Thuỷ sản Việt Nam là ngành đứng thứ 6 trong 10 nước xuất khẩu thuỷ sản mạnh có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD trên thế giới

Tính chung năm năm 2001 - 2005, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt trên 11 tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước

Năm 2000, Việt Nam xuất khẩu thủy sản vượt ngưỡng 1 tỉ USD và đến năm 2002 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã đạt hơn 2 tỉ USD Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 2,7 tỷ USD Với con số này, Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu thủy sản lớn trong khu vực Đông Nam á Có được kết quả này là nhờ trong những năm qua, ngành Thủy sản đã tích cực đẩy mạnh công tác nuôi trồng, chế biến thủy sản

Trong những năm qua, sản lượng NTTS liên tục tăng năm 2002 là 976.100 tấn, trong đó khoảng 40% dành cho công nghiệp chế biến xuất khẩu Đến năm 2005, nhu cầu nguyên liệu cho chế biến thủy sản là 2.030.000 tấn và năm 2010 là 2.650.000 tấn Để đáp ứng đủ nhu cầu, ngành Thủy sản phải chủ động được nguồn nguyên liệu Bởi nguyên liệu là khâu rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh thủy sản Có một nguồn nguyên liệu ổn định, giá cả có sức cạnh tranh thì ngành công nghiệp chế biến thủy sản mới có

cơ hội phát triển

Trang 23

Trong xu thế ngày càng ha ̣n chế khai thác thủy sản nhằm bảo vê ̣ môi trường như hiê ̣n nay thì NTTS đóng vai trò chủ đa ̣o trong viê ̣c cung cấp nguyên liê ̣u cho chế biến xuất khẩu Viê ̣c cung cấp từ NTTS cũng đảm bảo ổn

đi ̣nh và phù hợp với nhu cầu của thế giới nhờ thực hiê ̣n tốt công tác khuyến ngư và phát triển giống mới

Nuôi trồng thủy sản đã tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến, nhất là chế biến xuất khẩu và đã đóng góp phần quan trọng vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam, tôm chiếm tỉ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu là 43,7% (năm 2001), 46,9% (năm 2002), trong đó tôm nuôi chiếm phần lớn

1.1.3.3 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập

NTTS là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001 đến năm 2004, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ Nghề NTTS ở sông Cửu Long được

duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở ven sông

Đến năm 2005 do chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần đưa số lao động nuôi trồng thuỷ sản là 2.550.000 lao động (bao gồm cả lao động thời vụ)

Bên cạnh đó, do hiê ̣u quả của NTSS cao hơn nhiều so với các lĩnh vực nông nghiê ̣p khác, nên cùng với viê ̣c thực hiê ̣n chuyển đổi kỹ thuâ ̣t sản xuất,

Trang 24

chuyển đổi diện tích từ trồng lúa sang NTTS đã ta ̣o ra nguồn thu nhâ ̣p lớn góp phần nâng cao mứ c số ng cho người dân

1.1.3.4 Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa

Cùng với mức sống của người dân dần được cải thiện, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao, giàu protein ngày một tăng thì ngành NTTS ngày càng trở thành nguồn cung cấp nguyên liê ̣u quan tro ̣ng cho thị trường nội địa Ngành NTTS là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói Ngành NTTS đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân

1.1.3.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiê ̣p

Ngày nay, xu hướng chuyển đổi diê ̣n tích trồng kém hiê ̣u quả như trồng

lú a ruộng trũng 1 vụ bấp bênh, năng suất thấp, đất trồng cói, làm muối kém hiệu quả và đất cát, đất hoang hoá sang sử du ̣ng có hiê ̣u quả hơn cho ngành NTTS Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ nhất vào các năm 2000-2002: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản Ttuy nhiên, từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha Có thể nói NTTS đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước

Trang 25

góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân

Hơn nữa, NTTS cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiê ̣p liên doanh, doanh nghiê ̣p TNHH, doanh nghiệp cổ phần NTSS phát triển cũng kép theo sự phát triển

củ a các ngành Di ̣ch vu ̣ – Công nghiê ̣p Vì vâ ̣y, phát triển NTSS đã góp phần đưa nền kinh tế VN ngày càng phát triển nhanh và bền vững

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản[17]

Trang 26

1.1.4.2 Khí hậu – nguồn nước

có nhiều loài có giá trị kinh tế cao

Những tai biến thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão…gây thiệt hại nghiêm trọng cho nuôi trồng thuỷ sản Chính vì vậy ngành nuôi trồng thuỷ sản có tính bấp bênh, không ổn định

Lũ lụt, nước biển dâng sẽ tác động mạnh đến hệ thống ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, làm tăng những điều kiện bất lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, làm tăng bất lợi cho việc nuôi tôm, cua, cá nước lợ do bờ đê, đập bị phá vỡ

Đối với nuôi trồng thuỷ sản, có nhiều nhân tố như: gió, nhiệt độ, không khí, môi trường nước, chế độ mưa, độ mặn…đã ảnh hưởng đến điều kiện sống, khả năng sinh sản và di trú của đàn cá

- Nguồn nước:

Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản yêu cầu về chất lượng khá nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ôxi tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc trong nước thấp hoặc không có ( Thuốc bảo vệ thực vật, H2S…) Để sử dụng nguồn nước mặt cho nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững phải chú ý giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng…

Trang 27

làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước

1.1.4.3 Nhân tố kinh tế - xã hội

a Hình thức nuôi

Nuôi trồng thuỷ sản trong có những hình thức nuôi là: nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến Nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến là hình thức nuôi ở trình độ kỹ thuật đơn giản, ít có tác động của con người đến quá trình sinh trưởng, phát triển của đối tượng nuôi Hình thức nuôi này chưa theo một quy trình nhất định nào Nuôi bán thâm canh và thâm canh là hình thức nuôi ở trình độ kỹ thuật cao, tuân thủ theo quy tắc chặt chẽ, có tác động mạnh của con người vào quá trình sinh trưởng và phát triển của đối tượng nuôi Việc chọn giống theo tiêu chuẩn kỹ thuật: kích

b Khoa học công nghệ

- Công nghệ giống: Công nghệ giống có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của sản phẩm nuôi trồng thủy sản, công nghệ giống thủy sản của ngành tốt, kịp thời ứng dụng những thành tựu khoa học như lai giống, nhân giống mới, tạo ra sản phẩm có năng suất và chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, giúp cho sản phẩm thủy sản ngày càng được ưa chuộng và tiêu thụ thì ngành nuôi trồng thủy sản theo đó cũng

Trang 28

được phát triển hơn Ngược lại, giống thủy sản không tốt bị thoái hóa bệnh tật thì năng suất tháp, gây thiệt hại, chi phí cao cho người nuôi trồng mà việc đáp ứng nhu cầu thị trươngd cũng không đáp thực hiện được cho những sản phẩm không đáp ứng chất lượng

- Công nghệ sau thu họach: Chất lượng của sản phẩm không những phụ thuộc và công nghệ giống mà còn phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ sau thu hoạch, công nghệ sau thu hoạch còn là công nghệ bảo quản, chế biến và vận chuyển sản phẩm Đây là công đoạn vô cùng quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường Trình độ và quy

mô công nghệ sau thu hoạch lớn, tạo ra giá trị gia tăng cao cho sản phẩm nuôi trồng thủy sản Ngược lại, khi trình độ và quy mô của công nghiệp sau thu hoạch kém hoặc lạc hậu thì sản lượng thủy sản thu được sẽ ít hơn, gây lãng phí, đồng thời chất lượng sẽ không tốt vì sản phẩm nuôi trồng thủy sản là sản phẩm tươi sống, nhanh ươn thối, công nghệ lạc hậu rất dễ làm giảm chất lượng sản phẩm nuôi trồng thủy sản Do đó, bên cạnh việc đầu tư vốn vào giống, quy trình chăm sóc cần có kế hoạch đầu tư hợp lý và công nghệ sau thu hoạch để nhu cầu chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường

c Nhân tố giống loài

Trong nông nghiệp, nhân tố giống luôn là một trong những nhân tố được quan tâm và được xem xét nhiều nhất, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả NTTS

Ngày nay, số lượng giống loài phục vụ cho NTTS không chỉ bó hẹp ở các giống nuôi truyền thống mà còn được nghiên cứu, lai tạo và phát triển ra nhiều loại thủy sản phục vụ NTTS thu được những kết quả khả khả quan và tận dung được nguồn thức ăn từ thủy vực

Với sự phát triển của NTTS như ngày nay, bên cạnh vấn đề về số lượng con giống thì người ta quan tâm nhiều hơn đến chất lương con giống Số

Trang 29

lượng và chất lượng con giống tốt, đạt chuẩn kĩ thuật phục vụ cho NTTS sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao

Vì vậy, nhân tố giống loài đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng, chủng loại sẽ là nhân tố nòng cốt của phát triển NTTS

d Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội Nó là tiền đề là nền tảng cho sự phát triển đặc biệt là đối với ngành thủy sản và đặc biệt là ngành NTTS Khác với các ngành khác, ngành NTTS hoạt động lấy thủy vực làm môi trường sản xuất và đối tượng của ngành là các thủy sinh vật vì vậy nên yêu cầu cơ sở hạ tầng như hệ thống ao nuôi, hệ thống kênh mương dẫn nước tưới tiêu, hệ thống đường điện, trang trại phục vụ cho NTTS là vô cùng cần thiết để đảm bảo cho các đối tượng nuôi được sinh trưởng một cách bình thường và tránh được các tác nhân xấu từ môi trường đồng thời giảm thiểu được những tác động xấu của NTTS ra môi trường xung quanh Nó là một yếu tố có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả NTTS xét trên cả chất lượng, sản lượng sản phẩm cũng như vấn đề bảo vệ môi trường

e Công tác chỉ đạo và quản lý của Nhà nước

Do đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản là phân tán, manh mún và nhỏ lẻ nên ngoài việc tăng cường vốn đầu tư để phát triển nguồn giống, xác định trang trại nuôi trồng quy mô, đầu tư kĩ thuật và đào tao nguồn nhân lực… thì vai trò của nhà nước trong việc thực hiện quản lý, chỉ đạo là vô cùng cần thiết để nguồn đầu tư đó chỉ nam trong công tác quy hoạch để khắc phục những vấn đề mang tính còn tồn tại và yếu kém trong quá trình hoạt động và phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản như: Nạn ô nhiễm môi trường, bệnh dịch đang có nguy cơ bùng nổ, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ còn thấp, nhà nước cần có nhữung chính sách và thiết chế tổ chức có hiệu quả để khắc phục tình trạng còn tồn tại trên

Trang 30

1.1.5 Các tiêu chí nuôi trồng thủy sản bền vững [2,16]

- Một ngành nuôi trồng thủy sản biết giữ gìn, phát triển, bồi dưỡng và

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên về nuôi trồng thủy sản, đặc biệt

là đất đai diện tích mặt nước và nguồn nước dùng cho nuôi trồng thủy sản

- Một ngành nuôi trồng thủy sản có trình độ thâm canh cao, biết kết hợp một cách hài hòa giữa việc sử dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, nhất

là công nghệ sinh học với kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của người ngư dân để tạo ra ngày một nhiều sản phẩm nuôi trồng thủy sản có chất lượng cao

- Một ngành nuôi trồng thủy sản sạch, biết hạn chế một cách tối đa việc

sử dụng các chất hóa học có hại đến môi sinh, môi trường và sức khỏe con người Kết hợp hài hòa việc phát triển sản xuất với bảo vệ và tôn tạo môi trường Các sản phẩm do nuôi trồng thủy sản làm ra và cung cấp cho nhu cầu người tiêu dùng phải là những sản phẩm sạch, có tác dụng tăng cường nhanh sức khỏe cho con người

- Một ngành nuôi trồng thủy sản có cơ cấu các đối tượng nuôi hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của mỗi vùng, đảm bảo cho nuôi trồng thủy sản khai thác được tối đa lợi thế so sánh, đảm bảo nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh, mạnh và vững chắc

1.2 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở một số nước trên thế giới

và thực tiễn phát triển NTTS ở Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc[11]

Hiện nay, Trung Quốc là nhà cung cấp thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 35% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu Trung Quốc cũng là nước duy nhất trên thế giới có sản lượng nuôi trồng vượt quá sản lượng khai thác Năm 2004, tổng sản lượng thủy sản của Trung Quốc đạt 49 triệu tấn,

Trang 31

trong đó 64% là thủy sản nuôi Thủy sản nước mặn chiếm 56% tổng thủy sản nuôi, trong đó phần lớn là thủy sản có vỏ; thủy sản nước ngọt chiếm 44%, chủ yếu là họ cá chép

Dự báo, tiêu thụ thủy sản bình quân trong nước của Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, từ 25 kg/người năm 2004 lên 36 kg/người vào năm

2020

Việc Trung Quốc đầu tư mạnh vào sản xuất cá rô phi cũng góp phần phát triển ngành thủy sản trong nước, đưa Trung Quốc trở thành nhà sản xuất

cá rô phi hàng đầu thế giới

Sự phát triển nhanh của ngành thuỷ sản không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường và cải thiện đời sống dân cư, mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và góp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Từ năm 1979 – 1996, ngành thủy sản đã tạo thêm khoảng 9 triệu việc làm cho người lao động Năm 1999, số lao động tham gia sản xuất thuỷ sản là 12,57 triệu người, trong đó lao động nuôi trồng thuỷ sản chiếm tới 70% Đời sống của ngư dân cũng được cải thiện rõ rệt, thu nhập của lao động nghề cá từ

126 RMB năm 1979, tăng lên 4.474 RMB năm 1999, nghĩa là gấp 35 lần sau

20 năm Mức thu nhập của lao động thuỷ sản gấp gần 2 lần so với thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn Đồng thời ngành thuỷ sản cũng tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như chế biến, vận chuyển, thương mại, v.v…

Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển cho đến nay, ngành thuỷ sản phải thường xuyên đối mặt với những vấn đề ngày càng lớn lên, như suy giảm nguồn lợi tự nhiên, suy thoái môi trường, dư thừa lao động…

Bên cạnh những ưu đãi về điều kiện tự nhiên để phát triển ngành NTTS, Chính phủ Trung Quốc còn có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển NTTS và tăng cường mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế tham gia

Trang 32

hoạt động thuỷ sản (ngư dân, nông dân, hợp tác xã, công ty) Các biện pháp này góp phần quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành thuỷ sản Trung Quốc trong tương lai Vì vậy đã tạo nên một sức mạnh mới cho ngành NTTS Trung quốc phát triển mạnh mẽ sau này Các biện pháp quan trọng có thể kể đến là:

- Tăng cường cung cấp các dịch vụ tiền sản xuất và hỗ trợ sau thu hoạch thông qua việc đầu tư xây dựng nhiều trại sản xuất giống, các trạm kiểm soát dịch bệnh thuỷ sản, phổ biến kỹ thuật cho ngư dân Bên cạnh đó chính phủ còn đề ra các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế và tín dụng cho các

hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản ở nông thôn

- Ưu tiên thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ thuỷ sản, chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Thông qua các chính sách ưu đãi của chính phủ, nhiều nhà khoa học được khuyến khích làm việc cùng ngư dân và người nuôi thuỷ sản Ước tính đóng góp của khoa học và công nghệ trong giá trị gia tăng của sản suất thuỷ sản đã tăng từ 30% vào đầu những năm 1980 lên 47% năm 1996 Ví dụ, nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, năng suất nuôi cá thương phẩm trong ao từ mức bình quân 724kg/ha năm

1979, đã tăng 4,7 lần, đạt 4.097kg/ha năm 1996 Sự phát triển của công nghệ nuôi lồng và nuôi rào chắn đã giúp tăng diện tích mặt nước có thể sử dụng để nuôi thuỷ sản Sự thành công của công nghệ nuôi và sản xuất giống nhân tạo các loài có giá trị cao như tôm, bào ngư, điệp, hải sâm, cá rô mo thân cao, cua đồng, đã làm tăng thu nhập cho người nuôi và mở rộng thị trường xuất khẩu

- Tăng cường hiệu lực hệ thống pháp luật thuỷ sản và quản lý nguồn lợi thuỷ sản: Để bảo vệ và sử dụng nguồn lợi thuỷ sản hợp lý, chính phủ Trung Quốc đã chú trọng đến việc xây dựng Luật Thuỷ sản Ngay từ năm 1979, Hội đồng Nhà nước đã thông qua “Quy định về bảo vệ và nhân giống nguồn lợi thuỷ sản”

Trang 33

- Mở rộng hợp tác quốc tế: đến năm 1996, Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động hợp tác thuỷ sản với hơn 60 quốc gia và các tổ chức quốc tế Những hoạt động này đã mang đến cho Trung Quốc một triển vọng mới trong nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tạo ra một môi trường đầu

tư tốt để thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản của nước này

1.2.1.2 Kinh nghiệm NTTS của Thái Lan[11]

Nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan đã góp một phần lớn vào sự gia tăng sản xuất của nước này Một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ dự báo rằng nuôi trồng thủy sản sẽ đóng góp được gần một nửa tổng sản lượng sản xuất của đất nước này vào năm 2010, so với chỉ một vài phần trăm vào năm 1990

Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ 19 Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưng nghề nuôi thủy sản nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây Trong năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khỏang 1.064 triệu tấn và đạt giá trị 1.46 tỉ USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản Sự họat động của nghành nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan có thể được chia thành hai nhóm: thủy sản nước ngọt và nước mặn

Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chủ yếu là trong các ao, hồ và trên cánh đồng lúa, đã tồn tại ở Thái Lan trên 80 năm Sự phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt bắt đầu vào năm 1922 sau khi sự nhập khẩu cá chép Trung Quốc để làm cá nuôi lan rộng toàn Bangkok Năm 1951, bộ thủy sản đã thiết lập một chương trình quảng bá nghề nuôi trồng thủy sản Hiện nay, có hơn 50 loài thủy sản nước ngọt đã và đang được nuôi trồng Có 5 loài quan trọng, nuôi hàng năm thu sản phẩm có giá trị cao: cá rô sông Nile, cá trê lai, cá ngạch bạc, tôm càng xanh, cá rô phi

Trang 34

Gần gây, nghề nuôi trồng thủy sản ven biển bắt đầu được phổ biến với

kỹ thuật thâm canh và bây giờ đã trở nên rất thành công cho những vụ nuôi

Nó cũng được khuyến khích bởi vì nó hạn chế sự khai thác quá mức nguồn lợi ven biển và sự ô nhiễm môi trường Một trong những loài thủy sản nước mặn quan trọng là: cá vược, cá mú, tôm he, nghêu, sò, cua, ghẹ Nó bao gồm hai

hệ thống nuôi cá giống từ cá bột ở biển và những con đang thành thục mắc trong bẫy nhưng là trường hợp của loài cua bùn Nghề nuôi trồng nghêu, sò và tôm mang lại hiệu quả cao nhất

Thái Lan tiếp tục triển khai Dự án “Phát triển nuôi trồng hải sản và đánh giá nguồn lợi thủy sản tại biển Andaman, Thái Lan nhằm giúp người Thái có thể tự nuôi thuỷ sản theo kỹ thuật hiện đại Viện Nghiên cứu Biển (IMR) là nhà tư vấn chính của dự án Dự án này bao gồm hai phần “Phát triển nuôi trồng hải sản ” và “Đánh giá nguồn lợi thuỷ sản ở biển Andaman” Hai phần dự án sẽ đuợc thực hiện cho đến hết năm 2009 IMR và Bộ Nghề cá Thái Lan (DOF) cùng tham gia thực hiện dự án này

Theo mong muốn của các nhà chức trách Thái, trọng tâm của dự án là phát triển cơ sở “nuôi lồng thử nghiệm” Mục tiêu của IMR là truyền đạt cho người nuôi kiến thức về nuôi trồng thuỷ sản và việc áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động nuôi

Cá giò là loài mà DOF chọn để thí điểm Đây là loại cá biển sống ở vùng nước ấm nhiệt đới, thịt ngon và lớn rất nhanh, rất quen thuộc với ngư dân Loài cá này cũng đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển những loài nuôi mới ở Đài Loan, Việt Nam và các nước Mỹ La tinh

Dự án cũng tập trung vào điều chỉnh kích cỡ lồng nuôi Thái Lan đã ưu tiên thành lập một trung tâm nuôi trồng thuỷ sản tại Phuket để sản xuất con giống hàng loạt Ba lồng nuôi ở Phuket là các lồng nuôi lớn lần đầu tiên được

sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản tại Thái Lan Sự kiện này đã thu hút được

Trang 35

rất nhiều mối quan tâm từ ngành thuỷ sản và nhiều đối tượng khác Một hội thảo khác được tổ chức tại Songkhla, Thái Lan tập trung thảo luận các loại bệnh và kí sinh trùng thường thấy ở cá giò, những biện pháp phòng và trị bệnh tại các lồng nuôi lớn

Dự án nuôi cá lồng sẽ được tiếp tục cho đến hết năm 2009 Sản lượng

và kết quả dự án nuôi hải sản và trại sản xuất giống sẽ là nền tảng để xây dụng kế hoạch chiến lược cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2009-

2013

1.2.2 Tại Việt Nam

1.2.2.1 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của Hải Phòng[17,11]

Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, có cấu trúc địa hình dọc theo chiều dài 125 km bờ biển với nhiều cửa sông lớn được được phân bố khá dài và hàng trăm đảo lớn như đã được Bộ thuỷ sản xác định là một trong bốn ngư trường lớn của toàn quốc, là vùng trọng điểm phát triển kinh tế thuỷ sản của Việt Nam Nhiều ngư trường tập trung ở hai huyện đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ Hải Phòng có nhiều tài nguyên biển vô cùng phong phú mà hiếm ngư trường nào có được, đặc biệt là tầng cá đáy và cá nổi là nơi lý tưởng cho việc xây dựng các trọng điểm hậu cần chế biến - dịch vụ thương mại nghề cá; nuôi cá lồng bè và các hải sản quý hiếm như tu hài, bào ngư… Hải Phòng còn là nơi có diện tích nuôi trồng thuỷ sản khá lớn, trên 40.000 ha gồm mặt nước: mặn, lợ, ngọt với những đối tượng nuôi trồng phong phú có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, rau câu… Nghề cá Hải Phòng có từ lâu đời, có giai đoạn nhiều năm liền đứng đầu miền Bắc về sản lượng đánh bắt thuỷ sản, nhất

là nghề cá khơi Thực hiện phương châm của toàn ngành thuỷ sản “lấy khai thác thuỷ sản làm chiến lược lâu dài, lấy nuôi trồng thuỷ sản làm trọng tâm và lấy chế biến thuỷ sản làm mũi nhọn”

Bên cạnh nghề đánh bắt vốn là nghề truyền thống của nhân dân miền

Trang 36

biển , nuôi trồng thuỷ sản được xác định là có tiềm năng thế mạnh và được coi là hướng phát triển trọng yếu của dịa phương, vì thế trong thời gian qua

Sở thuỷ sản Hải Phòng đã không ngừng nỗ lực chỉ đạo, vận động các hộ nuôi trồng tập trung vào một số loại giống mang lại hiệu quả kinh tế cao như tôm

sú, tôm rảo, tôm he chân trắng, tôm càng xanh Cá rô phi đỏ, cá chim trắng, cá song, cá giò… Tiềm năng vùng biển Hải Phòng bắt đầu được khai thác khi một số hộ nông dân hưởng ứng nuôi cá lồng bè trên biển Cát Bà do Sở thuỷ sản khởi xướng từ cuối những năm 90 Nguồn nuôi thả chủ yếu là các lọai cá song, cá hồng kết hợp thả một số loại giáp xác, nhuyễn thể như bề bề, tu hài, vẹm xanh, sò… Sản lượng hàng năm tăng khoảng 50 - 60% Nuôi cá lồng bè trên biển đã tạo ra bước đột phá trong nghề nuôi thuỷ sản Hải Phòng, trở thành nghề mới của cuả dân ven biển, góp phần thúc đẩy loại hình dịch vụ du lịch phát triển, tạo nguồn hàng thuỷ sản xuất khẩu tại chỗ thông qua các loại hình dịch vụ du lịch

1.2.2.2 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của Quảng Ngãi[17,11]

Nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Ngãi chiếm một vị trí không nhỏ trong kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi (30% GDP ngành nông nghiệp) Với 130 km bờ biển, 6 cửa lạch, 5 huyện có biển và một huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

có đủ tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế thuỷ sản Nghị quyết 04/NQ -

TU ngày 14/01/2002 của Tỉnh xác định, đây là ngành kinh tế mũi nhọn Dọc theo ven biển có khoảng 4000 ha đất đai, mặt nước, là điều kiện lý tưởng để phát triển nghề nuôi tôm Trong nội địa có gần 2000 ao hồ, thuận lợi cho nuôi nước ngọt

Theo thống kê Sở thuỷ sản Quảng Ngãi toàn tỉnh có khoảng 725 ha nuôi tôm trong đó có nuôi tôm vùng triều 549 ha, nuôi tôm trên cát 176 ha Sản lượng thu hoạch ngày càng tăng, nếu như năm 2001 là 902 tấn, năm 2005

là 3000 tấn thì đến năm 2007 đạt 4.500 tấn Nuôi trồng thuỷ sản phát triển góp

Trang 37

phần giải quyết việc làm cho 5000 lao động Nuôi cá nước ngọt tiếp tục được duy trì và phát triển với nhiều hình thức đa dạng cả đồng bằng và miền núi Đến nay diện tích thả nuôi toàn tỉnh là 690 ha, năm 2007 sản lượng đạt 1.000 tấn (104% kế hoạch) Xuất hiện nhiều mô hình nuôi thuỷ sản nước ngọt như nuôi cá trong ruộng lúa, cá rô phi trong lồng, cá lóc, cá chình, ếch góp phần cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho nhiều gia đình Đây cũng là thành công trong công tác chỉ đạo về hoạt động nuôi trồng của toàn Tỉnh

Tuy nhiên bên cạnh những thành công đạt được phải thẳng thắn nhìn nhận rằng ngành thuỷ sản Quảng Ngãi phát triển chưa bền vững Đây là một hạn chế không phải chỉ riêng của ngành thuỷ sản Quảng Ngãi mà còn là hạn chế chung của toàn ngành thuỷ sản Việt Nam Đó là việc nuôi trồng thuỷ sản thiếu đồng bộ, gây nên tình trạng phá rừng phòng hộ ven biển tác động xấu đến cân bằng sinh thái, môi trường bị ô nhiễm, kéo theo dịch bệnh thường xuyên xảy ra Nuôi trồng thuỷ sản mới phát triển ở quy mô nhỏ chưa phát triển thành sản xuất hàng hoá Việc ứng dụng tiến bộ khoa học còn hạn chế, đặc biệt là vấn đề con giống Các dự án đầu tư nuôi trồng thuỷ sản tốc độ xây dựng chậm, kết quả không như mong muốn

Vì vậy, để phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản, một bài học kinh nghiệm rút ra cho ngành thuỷ sản là phải làm tốt công tác quy hoạch, đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng - kỹ thuật vùng nuôi, tăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn vệ sinh thuỷ sản từ khâu nuôi trồng, khai thác đến bảo quản, chế biến, giảm dần yếu tố tự phát, làm tốt công tác xúc tiến thương mại

1.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Bùi Khắc Bằng (2007), Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Nội dung đề đề tài này đề cập đến thực trạng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua được nhìn nhận ở giác

độ phát triển bền vững, nhận dạng những nguyên nhân và đề xuất một giải

Trang 38

pháp nhằm đưa nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh phát triển theo hướng bền vững.[2]

- Đinh Thiện Đức (2009), Hướng phát triển bền vững trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới Đề tài đã phân tích những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam và những giải pháp hướng tới sự phát triển bền vững và chống khủng hoảng.[10]

- Lâm Văn Mẫn (2006), Phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản đồng bằng sông Cửu Long Nội dung đề tài này đề cập đến những mâu thuẫn

cụ thể giữa phát triển kinh tế thủy sản với bảo vệ tài nguyên môi trường và sinh thái; nhận diện những vấn đề nảy sinh trong phát triển nghề cá ở đồng bằng sông Cửu Long [5]

- Trần Thị Tình (2011), Phát triển nuôi trồng thủy sản ở huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa Đề tài này đề cập đến thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản ở huyện Ninh Hòa, xác định các điều kiện cần có để phát triển nuôi trồng thủy sản.[16]

Trang 39

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN VÂN ĐỒN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên [19,20]

Vân Đồn là một huyện đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, được hợp thành từ 02 quần đảo Cái Bầu và Vân Hải Phía Bắc giáp với vùng biển thuộc hai huyện Tiên Yên và Quảng Hà Phía Tây giáp thành phố Cẩm Phả, ngăn cách nhau bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn Phía Đông giáp với vùng biển thuộc huyện Cô Tô và phía Nam giáp với vịnh Hạ Long, vùng biển Cát Bà - Hải Phòng Huyện Vân Đồn nằm trong khung tọa độ địa lý:

200 40’ - 210 16’ vĩ độ Bắc 107015’ - 108000’ kinh độ Đông Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên phần đất nổi là 55.130 ha, chiếm 9,34% diện tích đất tự nhiên tỉnh Quảng Ninh Toàn huyện có 11 xã và 01 thị trấn, trong đó có 5 xã đảo Các xã cách trung tâm huyện theo đường chim bay gần nhất là 20 km, xa nhất là 50 km Thị trấn Cái Rồng là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của huyện Đảo lớn nhất là đảo Cái Bầu, nằm tiếp giáp với thành phố Cẩm Phả, rộng 17.212 ha, bao gồm 01 thị trấn và 06 xã 05 xã đảo còn lại thuộc quần đảo Vân Hải có diện tích 24.192 ha, chiếm 43,87% diện tích đất tự nhiên của huyện

Trên vùng biển huyện Vân Đồn có trên 600 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó

có 20 đảo đất lớn, số đảo còn lại là núi đá và cồn rạn, nhiều đảo được bao phủ

hệ thực vật Do có nhiều đảo xen kẽ tạo nên những áng, tùng, vụng ít chịu ảnh

Trang 40

hưởng của sóng gió Biển có độ sâu trung bình từ 7 - 15 m Vùng biển Vân Đồn có nguồn lợi hải sản phát triển đa dạng và phong phú về giống loài

Huyện Vân Đồn có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc: cách Thủ đô Hà Nội khoảng 175km, thành phố Hải Phòng 80km, thành phố Hạ Long 50km và thành phố Móng Cái 100km; tiếp giáp Vịnh Hạ Long - Di sản Thiên nhiên Thế giới và Vườn quốc gia Cát Bà – khu dự trữ sinh quyển thế giới Khu kinh tế Vân Đồn được quy hoạch trở thành đặc khu kinh tế, một đầu mối giao thương kinh tế quan trọng của vùng Đông Bắc Việt Nam

Địa hình

Hình thái chủ yếu của địa hình khu vực huyện Vân Đồn là đồi núi thấp

và đảo đá với diện tích khoảng 41.530 ha, chiếm 70% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Một phần nhỏ diện tích là đồng bằng ven biển, chiếm 1,5% tổng diện tích đất toàn huyện Như vậy, địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích trên các xã đảo và ven bờ, địa hình đồng bằng chỉ là những dải nhỏ hẹp ven bờ biển trải dài từ bến phà Tài Xá tới xã Hạ Long

Địa hình đáy biển tương đối đơn giản và bằng phẳng Khu vực đáy biển giữa đảo Ba Mùn và đảo Cái Bầu do quá trình mài mòn, tích tụ xảy ra làm cho bề mặt có độ bằng phẳng nhất định Vật liệu tích tụ chủ yếu là cát bột, sỏi sạn và một phần vụn vỏ sinh vật Một số vùng nước sâu, cửa biển đáy tồn tại các rạn đá

Do địa hình là quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, nhiều đảo là núi đá vôi, nên trong toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất không lớn, chủ yếu

là diện tích mặt biển, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển Trên các đảo không có sông ngòi lớn, chỉ có vài con suối trên những đảo lớn Người dân địa phương thường gọi các eo biển giữa các đảo với nhau và với đất liền là sông như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu với đất liền, sông Mang ở đảo Quan Lạn Trên địa bàn huyện có hai hồ nhỏ là hồ Vồng Tre và hồ Mắt Rồng

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chi cục thống kê huyện Vân Đồn (2012), Số liệu thống kê ngành thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012, tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê ngành thủy sản huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 – 2012
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Vân Đồn
Năm: 2012
4. Nguyễn Đức Kiên (2003), Con người và vấn đề phát triển bền vững, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và vấn đề phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Đức Kiên
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2003
6. Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn (2009), Tổng kết đánh giá kết quả 2 năm nuôi nhuyễn thể trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2007 – 2009, tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết đánh giá kết quả 2 năm nuôi nhuyễn thể trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2007 – 2009
Tác giả: Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn
Năm: 2009
7. Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn (2010), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch năm 2010, tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch năm 2010
Tác giả: Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn
Năm: 2010
8. Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn (2011), Tình hình kinh tế xã hội tại các xã Hạ Long, Minh Châu, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Thắng Lợi huyện Vân Đồn giai đoạn 2009-2011, tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế xã hội tại các xã Hạ Long, Minh Châu, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Thắng Lợi huyện Vân Đồn giai đoạn 2009-2011
Tác giả: Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn
Năm: 2011
10. Nguyễn Đình Thắng (2006), Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Thắng
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Thường (2005), Tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Những rào cản phải vượt qua, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Những rào cản phải vượt qua
Tác giả: Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2005
13. Nguyễn Văn Thường (2006), Kinh tế Việt Nam năm 2005 trước ngưỡng cửa WTO, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam năm 2005 trước ngưỡng cửa WTO
Tác giả: Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2006
16. Trần Thị Tình (2011), Phát triển nuôi trồng thủy sản ở huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Tình (2011)
Tác giả: Trần Thị Tình
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Tuyết (2009), Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Tuyết (2009)
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết
Năm: 2009
19. UBND huyện Vân Đồn (2011), Xây dựng nông thôn mới huyện Vân Đồn giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020, tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới huyện Vân Đồn giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: UBND huyện Vân Đồn
Năm: 2011
20. UBND tỉnh Quảng Ninh (2006), Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Quảng Ninh (2006)
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2006
21. UBND tỉnh Quảng Ninh (2009), Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Quảng Ninh (2009)
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2009
25. Website Bộ Tài nguyên và Môi trường http://www.monre.gov.vn/ Link
27. Website Tổng cục Thống kê http://www.gso.gov.vn/ Link
28. Website Bộ kế hoạch và Đầu tư http://www.mpi.gov.vn/ Link
29. Website Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônhttp://www.agroviet.gov.vn/ Link
31. Website Đại Học kinh tế Hồ Chí Minh http://www.fde.ueh.edu.vn 32. Website Đại Học Lâm Nghiệp Hà Nội http://www.vfu.edu.vn/ Link
33. Website Đại học Nông Nghiệp Hà Nội http://www.hua.edu.vn/ Link
34. Website Tạp chí phát triển kinh tế http://tcptkt.ueh.edu.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w