1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp kiểm soát nâng cao chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty c p việt nam

161 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP (12)
    • 1.1. Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm (12)
      • 1.1.1. Chất lượng sản phẩm và những đặc điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm (12)
      • 1.1.2. Khái niệm về kiểm soát nâng cao chất lượng sản phẩm (15)
    • 1.2. Lựa chọn để áp dụng phương thức kiểm soát chất lượng sản phẩm (17)
      • 1.2.1. Giới thiệu một số phương thức quản lý kiểm soát chất lượng sản phẩm 9 1.2.2. Lựa chọn phương thức kiểm soát chất lượng sản phẩm thích hợp (17)
      • 1.2.3. Nguyên lý xây dựng, vận hành kiểm soát chất lượng sản phẩm (24)
    • 1.3. Đánh giá chất lượng sản phẩm (30)
      • 1.3.1. Các công cụ để đánh giá chất lượng sản phẩm (30)
      • 1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm (32)
    • 1.4. Chi phí chất lượng (32)
      • 1.4.1. Khái niệm (32)
      • 1.4.2. Phân loại chi phí chất lượng (33)
    • 1.5. Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất (35)
      • 1.5.1. Kiểm soát chất lượng sản phẩm ở một số nước trên thế giới (35)
      • 1.5.2. Kiểm soát chất lượng sản phẩm ở việt nam (37)
    • 1.6 Tổng quan những tài liệu nghiên cứu về quản lý chất lượng sản phẩm (38)
    • 1.7 Bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn (39)
  • Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
    • 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (42)
      • 2.1.1. Khái quát cơ cấu tổ chức của công ty C.P Việt Nam (42)
      • 2.1.2. Đặc điểm thị trường của công ty C.P Việt Nam (51)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (53)
      • 2.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu (54)
      • 2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu (56)
      • 2.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích (60)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (62)
    • 3.1. Thực trạng kiểm soát chất lượng sản phẩm tại công ty C.P việt nam (62)
      • 3.1.1. Các sản phẩm chủ yếu của công ty C.P việt nam (62)
      • 3.1.2. Hệ thống tổ chức kiểm soát chất lượng sản phẩm của công ty C.P Việt (64)
      • 3.1.3. Hệ thống văn bản liên quan để kiểm soát chất lượng sản phẩm của công (65)
      • 3.1.4. Các điều kiện cần thiết đảm bảo kiểm soát chất lượng sản phẩm (71)
      • 3.1.5 Tổ chức thực hiện kiểm soát chất lượng sản phẩm tại công ty (73)
    • 3.2. Định hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng sản phẩm tại công ty cổ phần chăn nuôi C.P việt nam (99)
      • 3.2.1. Định hướng (99)
      • 3.2.2. Những giải pháp (101)
  • PHỤ LỤC (117)

Nội dung

Trong quá trình tìm hiểu và khảo sát thực tế tại công ty cổ phần chăn nuôi C.P việt nam tôi đã nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần sớm hoàn thiện vì vậy tôi chọn làm nội dung nghiên cứ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm

1.1.1 Chất lượng sản phẩm và những đặc điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm

1.1.1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm (CLSP) là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu, được sử dụng phổ biến và rất thông dụng trong cuộc sống Khái niệm “ Chất lượng sản phẩm “ là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế, xã hội

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế đứng trên góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng

Theo Nguyễn Đình Phan hiện có 3 quan niệm về chất lượng:

Quan niệm siêu việt cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của sản phẩm quan niệm này mang tính triết học, trìu tượng, chất lượng không thể xác định một cách chính xác nên nó chỉ có ý nghĩa đơn thuần trong nghiên cứu

Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Quan điểm này đã đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm với các thuộc tính hữu ích của sản phẩm

Tuy nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng đánh giá cao

Quan điểm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được xác định trước Tuy nhiên, quan niệm chất lượng này chỉ phản ánh mối quan tâm của người sản xuất đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra

Trên cơ sở nhiều quan điểm về quản lý kiểm soát chất lượng, Nguyễn Đình Phan đã kết luận rằng: “Trong nền kinh tế thị trường, người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm Những khái niệm chất lượng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả…Có thể gọi chúng dưới một nhóm chung là quan niệm “Chất lượng theo hướng thị trường”

Những chuyên gia hàng đầu về quản lý kiểm soát chất lượng được biết đến đi theo quan điểm này có thể kể ra ở đây như: W.Edwards Deming và Joseph Juran ở nhật bản, Philip Crosby ở mỹ….” theo quan niệm này có thể tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau:

- Nếu xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng

- Nếu xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt được lợi ích đó

- Nếu xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm thì chất lượng cung cấp những thuộc tính mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sản phẩm cùng loại trên thị trường

Ngày nay, người ta thường nói dến chất lượng tổng hợp bao gồm chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán sản phẩm và chi phí bỏ ra để đạt được mức chất lượng đó Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực

Gần đây rất nhiều quan điểm mới đưa ra khái niệm chung về chất lượng: Theo Phó Đức Trù, Phạm Hồng thì chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có

Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: “chất lượng là những gì mà khách hàng muốn sao thì nó như vậy”

Theo Nguyễn Văn Nghiến thì chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những yêu cầu nêu ra hoặc tiềm ẩn Nếu căn cứ vào quan điểm này có thể hiểu ngay rằng chất lượng sản phẩm là tổng hợp những dấu hiệu và những tính chất xác định sự phù hợp của sản phẩm với những đòi hỏi của khách hàng

Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng Đây chính là định nghĩa bao hàm, chính xác và được phổ biến nhất hiện nay

1.1.1.2 Đặc điểm của phạm trù chất lượng sản phẩm

Theo Nguyễn Đình Phan ”chất lượng sản phẩm là một khái niệm phức tạp và tổng hợp cần được xem xét đánh giá một cách đầy đủ thận trọng” khi đề cập đến phạm trù này cần phải căn cứ vào một số đặc điểm cơ bản sau đây:

- Chất lượng sản phẩm được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu vì thế cho dù trình độ công nghệ để chế tạo sản phẩm đó có tiên tiến, hiện đại đến mức nào; nhưng nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là chất lượng kém

Lựa chọn để áp dụng phương thức kiểm soát chất lượng sản phẩm

1.2.1 Giới thiệu một số phương thức quản lý kiểm soát chất lượng sản phẩm

1.2.1.1 Về ISO, ISO 9000 Đây là phương thức quản lý kiểm soát chất lượng thông qua hệ thống các tiêu chuẩn được quy định chung

Trong tài liệu đã giới thiệu khái quát về ISO 9000 như sau: hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000 lần đầu tiên xuất hiện năm 1979 dưới dạng hệ thống tiêu chuẩn anh BS5750 do viện tiêu chuẩn anh quốc giới thiệu sau đó BS5750 được tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ban hành với một số điều chỉnh không đáng kể kể từ năm 1987 ISO 9000 được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, phiên bản năm 1987( viết là ISO 9000: 1987) là hệ thống tiêu chuẩn nhằm đảm bảo chất lượng của một tổ chức chất lượng quản lý của một doanh nghiệp là cơ sở nền tảng để hình thành chất lượng của sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp đây là quan điểm được nhiều quốc gia đồng thuận và áp dụng đầu tiên bộ tiêu chuẩn này được áp dụng tại các quốc gia như ÂU, Mỹ, Canada, Nhật bản sau đó được phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới năm 1994, tổ chức ISO đã ban hành bộ tiêu chuẩn (ISO 9000: 1994)được phân định 3 mô hình riêng biệt:

Tháng 12 năm 2000 tổ chức ISO ban hành bộ tiêu chuẩn (ISO 9000: 2000) bao gồm 3 tiêu chuẩn:

ISO 9000: 2000 hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và từ vựng

ISO 9001: 2000 hệ thống quản lý chất lượng - các yêu cầu

ISO 9004: 2000 hệ thống quản lý chất lượng – Hướng dẫn cải tiến

Như vậy đối với phiên bản ấn hành năm 2000, các doanh nghiệp chỉ áp dụng mô hình ISO 9001, sẽ không có mô hình ISO 9002 và ISO 9003

Theo ý nghĩa chung trong kinh doanh, ISO 9001: 2000 chính là việc thực hiện tốt và kiểm soát chặt chẽ một hệ thống quản lý kiểm soát chất lượng được thành lập thành văn bản Để được chứng nhận tiêu chuẩn này, doanh nghiệp cần phải có một hệ thống quản lý thành văn (trong ISO 9001: 2000, “thành văn” bao hàm ý nghĩa là phải thiết lập, viết thành văn bản, thực hiện và duy trì) để biến các yếu tố đầu vào thành kết quả mong muốn nói một cách đơn giản doanh nghiệp phải:

- Viết ra những gì cần làm

- Làm đúng những gì đã viết ra

- Lưu giữ các hồ sơ về những gì đã làm, nhất là khi có sự không phù hợp giữa viết và làm

ISO 9001: 2000 là một hệ thống tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp, nhưng không phải là duy nhất bên cạnh ISO 9001: 2000, tùy theo từng nghành nghề sản xuất kinh doanh và điều kiện doanh nghiệp có thể áp dụng thêm các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng khác, chẳng hạn như hệ thống tiêu chẩn quản lý môi trường(ISO 14000), tiêu chuẩn an toàn thực phẩm(HACCP), tiêu chuẩn an sinh xã hội (SA 8000),….Nhưng dù áp dụng tiêu chuẩn nào, phương thức quản lý chất lượng tại mỗi doanh nghiệp đều phải dựa trên những nguyên tắc tiêu chuẩn cơ bản nhằm đồng bộ đến các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng

Cũng giới thiệu về ISO 9000 Nguyễn Đình Phan đã hướng dẫn kiểm soát quản lý chất lượng phải tuân thủ những nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: định hướng bởi khách hàng

Chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng, chính vì vậy việc kiểm soát chất lượng phải đáp ứng mục tiêu đó Kiểm soát chất lượng không ngừng tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và xây dựng nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó một cách tốt nhất

Nguyên tắc 2: vai trò lãnh đạo

Lãnh đạo doanh nghiệp thống nhất mục đích, định hướng môi trường nội bộ của doanh nghiệp, huy động toàn bộ nguồn lực để đạt mục tiêu của doanh nghiệp

Nguyên tắc 3: sự tham gia của mọi người

Con người là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển việc huy động con người một cách đầy đủ sẽ tạo ra cho họ kiến thức và kinh nghiệm thực hiện công việc, đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp

Nguyên tắc 4: phương pháp quá trình

Hoạt động sẽ hiệu quả hơn nếu các nguồn lực và hoạt động có liên quan được kiểm soát như một quá trình

Nguyên tắc 5: quản lý theo phương pháp hệ thống

Việc quản lý một cách có hệ thống sẽ làm tăng hiệu quả và hiệu lực hoạt động của doanh nghiệp

Nguyên tắc 6: cải tiến liên tục

Cải tiến liên tục là mục tiêu của mọi doanh nghiệp và điều này trở lên đặc biệt quan trọng trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh như hiện nay

Nguyên tắc 7: quyết định dựa trên thực tế

Các quyết định và hành động có hiệu lực dựa trên sự phân tích dữ liệu và thông tin

Nguyên tắc 8: quan hệ cùng có lợi với bên cung cấp

Thiết lập mối quan hệ có lợi với bên cung ứng sẽ nâng cao khả năng tạo ra giá trị của hai bên

Về TQM hiện nay đang được áp dụng phát triển rộng rãi bởi vì quản lý chất lượng toàn diện là một giai đoạn phát triển của khoa học quản lý chất lượng đó còn là một hệ thống quản lý kiểm soát chất lượng tiến bộ được áp dụng khá phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển

Theo hittoshi Kume thì có thể khái niệm về quản lý chất lượng toàn diện như sau: TQM là một biện pháp quản trị kiểm soát đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của tổ chức (một doanh nghiệp) thông qua việc huy động hết tất cả tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng

Qua đó có thể thấy TQM đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bộ phận từ thiết kế đến sản xuất, tiêu thụ… Nó dựa vào sự phát triển phân tích truy tìm nguồn gốc của những nguyên nhân gây ra sai sót trong toàn bộ quá trình hoạt động của công ty, để từ đó đề ra các giải pháp đảm bảo cải tiến chất lượng

Cũng nghiên cứu về TQM nhiều tác giả cùng có chung khẳng định TQM là cách thức quản lý kiểm soát mới trong tương lai TQM không chỉ nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà còn có ý nghĩa rộng rãi hơn nhiều đó là cách quản lý toàn bộ một công cuộc quản lý kinh doanh hoặc một tổ chức nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của khách hàng ở mọi công đoạn bên trong cũng như bên ngoài

Theo Nguyễn Đình Phan thì để TQM phát huy tối đa hiệu quả cũng cần tuân thủ một số quy tắc sau:

Nguyên tắc 1: Thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng (gồm cả khách hàng nội bộ của mình và khách hàng ngoài doanh nghiệp)

Tức là phải đảm bảo thích ứng về 3 mặt: giá, hiệu năng, thời điểm cung ứng

Nguyên tắc 2: Liên tục cải tiến chất lượng bằng cách áp dụng vòng tròn Deming

Trong đó: P(Plan): kế hoạch, thiết kế

D: do thực hiện C(check): kiểm tra A(action): hoạt động

Hoạch định chất lượng (P) là giai đoạn đầu của kiểm soát chất lượng và được coi là chức năng ưu tiên hàng đầu

Tổ chức thực hiện (D) là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp thông qua các hoạt động , những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng những yêu cầu của kế hoạch đặt ra

Kiểm tra(C ) là phát hiện những trục trặc khuyết tật, ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi quá trình tìm kiếm những nguyên nhân gây ra trục trặc khuyết tật đó để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời

Hoạt động điều chỉnh và cải tiến (A) làm cho các hoạt động của hệ thống doanh nghiệp, có khả năng thực hiện được những tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là hoạt động đưa ra chất lượng sản phẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm dần khoảng cách giữa những mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở mức độ cao hơn

Trên đây là những nguyên tắc cần phải thực hiện khi áp dụng TQM, những nguyên tắc này không quá khó để thực hiện nhưng lại rất cần một sự nghiêm túc thực hiện, chuyên nghiệp trong quá trình thực hiện

1.2.2 Lựa chọn phương thức kiểm soát chất lượng sản phẩm thích hợp

Đánh giá chất lượng sản phẩm

1.3.1 Các công cụ để đánh giá chất lượng sản phẩm

Hiện nay, để đánh giá chất lượng có 5 công cụ cơ bản: Sơ đồ lưu trình,

Sơ đồ nhân quả(sơ đồ xương cá), Phiếu kiểm tra chất lượng, Biểu đồ phân bố mật độ, Biểu đồ Pareto

Tuy nhiên trong 5 loại công cụ này thì “ Sơ đồ nhân quả “là công cụ được sử dụng phổ biến nhất Bởi yinhs ưu việt của nó so với các công cụ còn lại Sử dụng công cụ này công tác đánh giá đảm bảo tính khách quan do có sự tham gia của nhiều người trong quá trình đánh giá Đồng thời thông qua việc thiết lập được sơ đồ sẽ phân tích được cụ thể từng yếu tố tác động đến chất lượng sản phẩm

Hình 1.3 :Sơ đồ nhân quả( Sơ đồ xương cá)

Trong sơ đồ này có 5 nhóm yếu tố, còn được gọi là 5M trong đó:

- Men : Nhóm yếu tố về nhân lực

- Materials : Nhóm yếu tố về nguyên vật liệu

- Machines : Nhóm yếu tố về máy móc

- Method : Nhóm yếu tố về phương pháp và công nghệ

- Measurement : Nhóm yếu tố về chỉ tiêu và đo lường Để đánh giá chất lượng một cách tổng thể và đầy đủ, cần phải căn cứ vào một số chỉ tiêu có tác giả đã đưa ra 5 chỉ tiêu cụ thể như sau:

Hệ thống chất lượng của doanh nghiệp phù hợp với những yêu cầu đặt ra ở mức độ nào?

Những hướng dẫn cụ thể có được thực hiện không? Nếu thực hiện thì ở mức nào?

Những thủ tục đã được thông qua có được thực hiện hay không?

Một hệ thống chất lượng có thể được cải tiến như thế nào?

Các chính sách chất lượng của doanh nghiệp đang được triển khai tốt như thế nào?

Từ việc đánh giá những chỉ tiêu trên sẽ phản ánh những nét cơ bản trong quá trình kiểm soát nâng cao chất lượng trong doanh nghiệp, đem những kết quả đó so sánh với mục tiêu mà kiểm soát chất lượng đề ra sẽ cho chúng ta kết quả cuối cùng của công tác đánh giá quản lý kiểm soát chất lượng mà doanh nghiệp đã áp dụng và triển khai thực hiện

Thực chất những chỉ tiêu này là thước đo chính xác nhất mức độ hoàn thành công việc của kiểm soát chất lượng trong doanh nghiệp vì vậy nó vô cùng quan trọng trong việc đưa ra những quyết định điều chỉnh để công tác kiểm soát chất lượng đạt được hiệu quả hoạt động như mong đợi

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm Để đánh giá chất lượng một cách tổng thể và đầy đủ, cần phải căn cứ vào một số chỉ tiêu Có tác giả đã đưa ra 5 chỉ tiêu cụ thể như sau:

Hệ thống chất lượng của doanh nghiệp phù hợ với yêu cầu đặt ra ở mức độ nào?

Các chính sách của doanh nghiệp đang được triển khai tốt như thế nào? Một hệ thống chất lượng có thể được cải tiến như thế nào?

Những thủ tục đã thông qua có được thực hiện hay không?

Những hướng dẫn cụ thể có thể được thực hiện không?

Từ việc đánh giá những chỉ tiêu trên sẽ phản ánh những nét cơ bản trong quá trình kiểm soát chất lượng trong doanh nghiệp đem những kết quả đó so sánh với mục tiêu về kiểm soát chất lượng đề ra sẽ cho chúng ta kết quả cuối cùng của công tác đánh giá kiểm soát chất lượng mà doanh nghiệp đã áp dụng và triển khai thực hiện

Thực chất chỉ tiêu này là thước đo chính xác nhất, mức độ hoàn thành công việc của kiểm soát chất lượng trong doanh nghiệp vì thế nó vô cùng quan trọng trong việc đưa ra những quyết định điều chỉnh để công tác kiểm soát chất lượng đạt được hiệu quả hoạt động như mong đợi.

Chi phí chất lượng

Cho tới nay, vẫn có rất nhiều quan điểm về chi phí chất lượng tuy nhiên tất cả đều thống nhất về sự tồn tại tất yếu của chi phí chất lượng trong quá trình quản lý, kiểm soát chất lượng hay nói theo cách khác nó là khoản chi phí cần thiết để có được chất lượng mà doanh nghiệp muốn đạt được Nguyễn Đình Phan nêu ra hai quan điểm:

Theo quan điểm truyền thống: “ chi phí chất lượng là tất cả các chi phí có liên quan đến việc đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất ra phù hợp với cá tiêu chuẩn quy cách đã được xác định trước hoặc là các chi phí liên quan đến các sản phẩm không phù hợp với các tiêu chuẩn đã được xác định trước”

Theo quan điểm hiện đại: ”chi phí chất lượng là tất cả cá chi phí có liên quan đến việc đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất ra được cung ứng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hoặc là các chi phí liên quan đến các sản phẩm không phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

1.4.2 Phân loại chi phí chất lượng

Chi phí được phân thành hai loại: Chi phí phù hợp và chi phí không phù hợp Tổng hai loại chi phí trên cho chúng ta số liệu cụ thể về tổng chi phí chất lượng Tuy nhiên, mỗi loại chi phí trên lại được cấu thành từ các loại chi phí cụ thể khác Tất cả các thành phần chi phí đó tồn tại trong quá trình kiểm soát chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, chúng tồn tại một cách tất yếu nếu như chúng ta không có biện pháp hữu hiệu để hạn chế chúng khi doanh nghiệp muốn đạt được chất lượng sản phẩm theo yêu cầu Trong tài liệu tác giả đã xây dựng mô hình về chi phí chất lượng như hình dưới đây

Hình 1.3: Mô hình chi phí chất lượng sản phẩm của DN

Chi phí đánh giá Chi phí sai hỏng bên ngoài

Chi phí sai hỏng bên trong

Chi phí không phù hợp

Tổng chi phí chất lượng

Theo Nguyễn Đình Phan đã đưa ra một số quan điểm về chi phí như sau:

- “Chi phí phù hợp là các chi phí phát sinh để đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất ra hoặc các dịch vụ được cung ứng phù hợp với các tiêu chuẩn quy cách đã được xác định trước”

Chi phí phù hợp sẽ bao gồm hai loại chi phí là: chi phí phòng ngừa và chi phí đánh giá

+ chi phí phòng ngừa: là tất cả các chi phí cho các hoạt động phòng ngừa lỗi của sản phẩm

+ chi phí đánh giá: “là tất cả các chi phí phục vụ cho việc đo và đánh giá chất lượng của các sản phẩm để đảm bảo sự phù hợp bao gồm các chi phí như: chi phí kiểm nghiệm, chi phí kiểm tra hàng mua vào…Các chi phí trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động kiểm tra, kiểm nghiệm, nhằm xác định mức độ phù hợp”

1.4.2.2 Chi phí không phù hợp

Về chi phí không phù hợp Nguyễn Đình Phan cũng cho rằng:

“Chi phí không phù hợp là các chi phí của các sản phẩm đã được sản xuất ra không phù hợp với yêu cầu của khách hàng”

Chi phí không phù hợp hay còn gọi là chi phí sai hỏng bao gồm: Chi phí sai hỏng bao gồm chi phí sai hỏng bên trong và chi phí sai hỏng bên ngoài

- Chi phí sai hỏng bên trong bao gồm: “ chi phí hao hụt vật tư, chi phí của phế phẩm, chi phí của hàng thứ phẩm, giảm cấp, chi phí làm lại, lãng phí, chi phí phân tích sai, chi phí kiểm tra kiểm nghiệm lại, chi phí đình trệ sản xuất do trục trặc về chất lượng…….”

-Chi phí sai hỏng bên ngoài: “ là chi phí liên quan đến các sản phẩm bị lỗi được phát hiện sau khi hàng hóa được sản xuất ra hoặc giao cho khách xong mới phát hiện ra Chi phí sai hỏng bên ngoài bao gồm các chi phí: “Chi phí bảo hành, chi phí giải quyết khiếu lại khách hàng, chi phí hàng bị trả lại, chi phí đổi hàng, chi phí bồi thường tổn thất do mất uy tín”

Ngoài ra các chi phí sai hỏng bên ngoài cũng có thể là các chi phí gián tiếp hoặc chi phí trực tiếp (chi phí phân công hay chi phí đi lại để phục vụ cho công tác điều tra, chi phí kiểm tra điều kiện bảo hành…)

Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất

1.5.1 Kiểm soát chất lượng sản phẩm ở một số nước trên thế giới

Khi nói về hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm tại các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới chúng ta xem xét hai đối tượng cụ thể:

Tại các nước phát triển : Phần lớn các nước này là các nước công nghiệp, do đó mô hình sản xuất của các doanh nghiệp tại các nước này có trình độ chuyên môn hóa cao Các sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sử dụng tại chỗ mà chủ yếu hướng tới tiêu thụ tại nơi khác xuấ khẩu đồng thời, việc sớm áp dụng mô hình kinh tế trị trường đã góp phần thúc đẩy tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lên rất cao Mọi doanh nghiệp sau khi ra nhập thị trường giường như ngay lập tức phải xác định yếu tố để chiếm lĩnh thị trường, thị phần yếu tố đó ở đây chính là chất lượng sản phẩm do vậy hoạt động kiểm soát chặt chẽ chất lượng không chỉ là chao lưu mà thực sự đi vào đời sống sản xuất của mọi doanh nghiệp Họ tự xây dựng được hệ thống chất lượng cho riêng mình hướng tới thỏa mãn yêu cầu tối đa của khách hàng và phát triển thành những hệ thống tiêu chuẩn của doanh nghiệp và những tiêu chuẩn chung cho quốc gia Rồi từ đó dần dần được quốc tế công nhận và lấy đó làm căn cứ cơ bản cho công tác kiểm soát chất lượng như tiêu chuẩn công nghiệp nhật bản JIS; tại anh là BS 5750 đặc biệt những bộ tiêu chuẩn này ra đời rất sớm chẳng hạn BS 5750 ra đời năm 1979 Qua đó có thể thấy vị trí, tầm ảnh hưởng và mức độ phát triển của kiểm soát chất lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp ở những nước phát triển như thế nào

Tại những nước đang phát triển: do đặc thù đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội, về chính trị, hoàn cảnh lịch sử nên xuất phát điểm kinh tế của các nước này thấp hơn rất nhiều so với các nước thuộc khối phát triển đây cũng là yếu tố khá quan trọng liên quan đến quan điểm và quá trình thực hiện kiểm soát chất lượng trong các doanh nghiệp tại các nước này ở nhóm các nước này đã xuất hiện một số quan điểm sai lầm một cách phổ biến gây ra những hạn chế trong phong trào làm chất lượng như:

+ Việc nâng cao chất lượng, cải tiến phát triển hệ thống kiểm soát chất lượng đòi hỏi chi phí

+ Việc nhấn mạnh vào chất lượng sẽ làm giảm năng xuất

+ Quy lỗi về chất lượng kém cho người lao động

+ Kiểm soát chất lượng xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng đòi hổi đầu tư

+Chất lượng đảm bảo do kiểm tra chặt chẽ

Những điều này khá tương đồng với việt nam dẫn đến hậu quả trong một thời gian dài là kiểm soát chất lượng sản phẩm ít được quan tâm Tuy nhiên trong số những nhóm này có một số nước sớm nhận thức được sai lầm kể trên và khác phục điều đó đã giúp các quốc gia này bứt tốp và đạt được những thành tựu đáng kể như nhóm các nước đang phát triển tại châu Á Được mệnh danh là những con rồng kinh tế chính công tác kiểm soát chất lượng của các doanh nghiệp tại các quốc gia này là một trong nững yếu tố chính giúp họ gặt hái được thành công

Trong những doanh nghiệp kinh tế tại hàn quốc và đài loan, công tác kiểm soát chất lượng được xem như khâu then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kiểm soát chất lượng sản phẩm được xây dựng thành một hệ thống thống nhất và đồng bộ, mức độ kiểm soát chất lượng chặt chẽ đến từng người lao động, từng đơn vị sản phẩm từ đó giúp họ duy trì ổn định chất lượng của mỗi sản phẩm ở mức cao

Có thể nói nhìn chung hoạt động kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp ở nhiều nước trên thế giới luôn là hoạt động rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Công tác kiểm soát chất lượng luôn được quan tâm, thường xuyên cải tiến để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Họ mạnh dạn áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế mới, có yêu cầu cao hơn để khẳng định vị thế chất lượng sản phẩm của mình trên thị trường thế giới tên tuổi chất lượng của họ gần như gắn trên tên quốc gia ví dụ như Đức, nhật, Mỹ… chẳng hạn ngay khi bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ra đời hầu hết các doanh nghiệp tại nhiều quốc gia khác nhau hưởng ứng mạnh mẽ mặc dù bộ tiêu chuẩn này đòi hỏi khá cao đối với sản phẩm gây không ít khó khăn cho daonh nghiệp khi thực hiện nhưng theo thống kê, đến năm 2001 đã có khoảng 450

000 doanh nghiệp thuộc 150 quốc gia khác nhau được chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO 9000 Bên cạnh đó có các bộ tiêu chuẩn khác như TQM; Q-base… cũng được áp dụng khá phổ biến Mục tiêu hướng đến chất lượng luôn là chủ đề quan trọng trong việc phát triển chiến lược kinh doanh của họ trong đó, kiểm soát giám sát nâng cao chất lượng sản phẩm luôn được liệt vào số những hoạt động trọng yếu trong số những hoạt động quan trọng khác của doanh nghiệp

1.5.2 Kiểm soát chất lượng sản phẩm ở việt nam

Sau khi áp dụng nền kinh tế thị trường tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng cao hơn Cùng với việc mở cửa hội nhập tính cạnh tranh không chỉ dừng lại giữa các doanh nghệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Trong quá trình cạnh tranh đã giúp doanh nghiệp nhận thức đúng đắn vai trò của công tác chất lượng sản phẩm, giúp họ hiểu được vấn đề chất lượng sản phẩm là yếu tố sống còn đối với sự tồn tại doanh nghiệp từ đó công tác kiểm soát chất lượng dần được đề cao tại các doanh nghiệp việt nam Nhiều doanh nghiệp đã tiến những bước tiến lớn trong hoạt động kiểm soát chất lượng việc doanh nghiệp việt nam áp dụng mô hình quản lý chất lượng quốc tế đã không còn trở nên xa lạ trong đó phổ biến nhất là bộ tiêu chuẩn ISO 9000., 9001…

Hiện nay việt nam là thành viên của hiệp hội như ASIAN, tổ chức thương mại quốc tế WTO Nên hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều đã nhìn nhận đúng đắn được tầm quan trọng của chất lượng trong chiến lược sản xuất kinh doanh và phát triển của mình Công tác kiểm soát chất lượng luôn được coi là những hoạt động đóng vai trò quan trọng, quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tại mỗi doanh nghiệp Trừ một số doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn về kinh phí hoạt động nên còn tồn tại những hạn chế trong chiến lược và thực hiện công tác kiểm soát chất lượng những doanh nghiệp còn lại đều cơ bản xây dựng cho mình một lộ trình sản xuất kinh doanh định hướng chất lượng trong đó chỉ rõ mục tiêu và định hướng kiểm soát chất lượng tại từng giai đoạn cụ thể Đây là những nét chung khái quát trong kiểm soát chất lượng sản phẩm tại các doanh nghiệp Việt nam thời gian qua.

Tổng quan những tài liệu nghiên cứu về quản lý chất lượng sản phẩm

Vấn đề kiểm soát nâng cao chất lượng nói chung trong nông nghiệp nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:

Trần Văn Tài (1998), nghiên cứu áp dụng ISO 900 vào công ty hóa chất, luận văn Thạc sĩ, Hà Nội

Trần Văn Chiến (1998) hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000 luận văn Thạc sĩ, Hà Nội

Bùi Nguyên Hùng (1998), Mô hình xác định mẫu trong quản lý chất lượng, Luận án Tiến Sĩ, Hà Nội

GS Vũ Duy Giảng, Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn công nghiệp

Nguyễn Hữu Khỏa (1995), Phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp hàng công nghệp, luận án Tiến Sĩ, Hà Nội

GS Vũ Duy Giảng, Kiểm soát nghiêm ngặt ”bột nạc” trong chăn nuôi- bài học từ trung quôc–báo NNVN

Phạm Xuân Hậu (1997) một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, luận văn Thạc sĩ, Hà Nội

Tổng quan chăn nuôi việt nam 2012 và dự đoán 2013- tác giả Trần bá nhân Các tác giả tuy viết các đề tài khác nhau, nhưng họ đều chung một quan điểm đó là khẳng định vai trò của chất lượng đối với mục tiêu hướng phát triển của doanh nghiệp Điều mà các tác giả của những nghiên cứu trên đạt được cụ thể hóa hướng để đạt được chất lượng sản phẩm dịch vụ một cách tối ưu Qua đó nhận biết được những vấn đề quan trọng, cần quan tâm trong quá trình hoàn thiện kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn

Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho thấy chất lượng sản phẩm có vai trò vô cùng quan trong với mỗi doanh nghiệp việc đảm bảo hàng hóa không đơn thuần là giảm chi phí, tăng năng suất mà quan trọng nhất là giúp cho doanh nghiệp mở rộng được khách hàng mới và duy trì lượng khách hàng truyền thông Điều đó đồng nghĩa với việc giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững đây cũng là mục tiêu mà bất kì doanh nghiệp nào cũng hướng tới và muốn đạt được bởi nó không những giúp cho doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô mà còn duy trì lâu dài những lợi thế đã có trên thị trường tuy nhiên muốn đảm bảo chất lượng tốt thì công tác kiểm soát nâng cao chất lượng cần phải tiến hành một cách khoa học, đồng bộ để đem lại hiệu quả cao nhất.Sự khoa học và đồng bộ trong kiểm soát chất lượng sản phẩm phản ánh thông qua công tác tổ chức hợp lý và sử dụng phù hợp nhất các nguồn lực Muốn vậy cần phải có cách phân công chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong hệ thống một cách đồng bộ và có kết cấu chặt chẽ để hệ thống có thể phát huy được sức mạnh tổng thể trong quá trình vận hành công tác kiểm soát chất lượng, bên cạnh đó không thể phủ nhận vai trò của việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác kiểm soát chất lượng, kết hợp với sử dụng đúng mục đích đúng đối tượng với các phương tiện máy móc và con người

Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Theo M.E Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua 2 chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động của quy luật cạnh tranh Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng phải đạt được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội về mọi mặt một cách kinh tế nhất (sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ) Với chính sách mở cửa, tự do thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản phẩm, dịch vụ của họ phải có tính cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt

Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đối với công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi C.P việt nam cũng không phải ngoại lệ, việc nâng cao chất lượng trong các hoạt động kểm soát chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu tốt nhất của khách hàng, đây là việc làm hết sức cần thiết Chất lượng sẽ gắn liền uy tín, sức mạnh công ty, hiệu quả Kinh tế.

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Khái quát cơ cấu tổ chức của công ty C.P Việt Nam

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Tên công ty: Công ty cổ phần chăn nuôi C.P việt nam Địa chỉ: Thị Trấn Xuân Mai – Huyện Chương Mỹ- TP Hà Nội

Website: WWW//:CP.com.vn

Vốn kinh doanh 150.368.000.000 nghìn đồng

Giấy phép đăng kí kinh doanh số: 3600224423060 do sở kế hoạch đầu tư TP

Công ty cổ phần chăn nuôi C.P việt nam tiền thân là công ty TNHH CHAROEN POKPHAND việt nam được thành lập năm 1993 Là một thành viên của tập Đoàn CP Group Thái Lan kinh doanh đa nghành nghề Đến 01 tháng 01 năm 2011 công ty đổi tên như hiện nay là công ty cổ phần chăn nuôi C.P việt nam Công ty đã có thời gian hoạt động 20 năm ở việt nam Việc đổi tên là do nhu cầu phát triển mở rộng quy mô sau khi thành phố Hà Nội hợp nhất giữa Hà Nội cũ và tỉnh Hà Tây

Trong năm 2010 và 2011 công ty tiến hành xây dựng thêm hệ thống dây truyền sản xuất mới hiện đại hơn Bên cạnh đó vẫn duy trì hệ thống dây truyền sản xuất cũ do vậy đã tăng công xuất từ 20 000 tấn/tháng lên đến 60

000 tấn/tháng Đến năm 2012 công ty cũng tiến hành xây dựng thêm hệ thống trang trại tại huyện Ba Vì và tại huyện Chương Mỹ Thành Phố Hà Nội Cũng trong năm 2012 công ty tiến hành xây dựng thêm nhà máy giết mổ gia súc, gia cầm và chế biến thực phẩm tại khu Công nghiệp Phú Nghĩa Huyện Chương Mỹ Thành phố Hà Nội ước tính sản lượng giết mổ đạt công xuất 25

600 con gia cẩm/ngày, 1500 con lợn/ngày

Hiện tại công ty có một hệ thống sản xuất kinh doanh tương đối hoàn chỉnh: đầu tư vùng nguyên liệu, sản xuất thức ăn, chăn nuôi, giết mổ, chế biến Các sản phẩm của công ty tương đối đa dạng trên thị trường như cám thức ăn chăn nuôi, trứng sạch, gà sạch, các sản phẩm đông lạnh như thịt hộp, xúc xích, bò gà viên….đã có mặt trong hầu hết các hệ thống siêu thị lớn, các đại lí, cửa hàng của công ty

Lĩnh vực kinh doanh của công ty:

Sản xuất thức ăn chăn nuôi đây là nghành nghề chính

Kinh doanh các mặt hàng nguyên liệu có liên quan đến thức ăn chăn nuôi Mua bán , chất phụ gia, nguyên vật liệu trong chăn nuôi, ký gửi hàng hóa Buôn bán nguyên liệu, nhiên liệu cho nghành nông nghiệp

Sản xuất buôn bán thức ăn gia cầm, thủy cầm, vật tư thiết bị trong chăn nuôi Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm, thủy sản

Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh

Kinh doanh thương mại: Nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại… Nhập khẩu thiết bị, máy móc, nhiên liệu phục vụ sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy cầm

Sản xuất và in ấn bao bì

Hiện nay công ty có đơn vị thành viên:

Nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi cao cấp C.P xuân Mai

Nhà máy ấp trứng C.P Xuân Mai

Nhà máy giết mổ, chế biến thực phẩm C.P Phú nghĩa

Trung tâm chẩn đoán thú y C.P Ba Vì

Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi chi nhánh Hải Dương

Trung tâm chăn nuôi C.P Bê Tông

Ngoài ra còn có các hệ thống trang trại gia công trên địa bàn các tỉnh thuộc miền bắc

Khi mới đi vào hoạt động công ty gặp rất nhiều khó khăn, tuy vậy công ty đã khắc phục các nhược điểm để từ đó phát triển vững mạnh như ngày nay, góp phần đáng kể giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế vùng số nhân sự của công ty hiện nay 1600 người Năm 2011doanh thu hàng năm ước đạt 14600 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế ước đạt

2650 tỷ đồng nộp thuế vào ngân sách khoảng 1650 tỷ Chính sự lớn mạnh không ngừng do đó công ty có điều kiện thuận lợi để phát triển sang các nghành nghề kinh doanh khác Hiện nay trên thị trường công ty là một trong những công ty lớn kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiêp, Có thị phần lớn công ty tham gia nhiều hoạt động xã hội như phong trào hiến máu nhân đạo hàng năm Tiến hành các hoạt động từ thiện tại các tỉnh vùng sâu vùng xa như Sơn La, Cao Bằng, Thanh Hóa, Đặc biệt thường xuyên tham gia hoạt động từ thiện trên thành phố Hà Nội như các trại mồ côi, người khuyết tật…

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty a sơ đồ cơ cấu quản lý

Công ty C.P việt nam được tổ chức bao gồm:

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý tại công ty CP việt nam b, Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận trong công ty

Tổng giám đốc: là người quản lý cao nhất của công ty,

Là người phụ trách chung chỉ đạo quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, là người điều hành hoạt động của công ty theo chế độ thủ trưởng là chủ tài khoản Tổng giám đốc có quyền ký và thực hiện các hợp đồng Thực hiện các cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan cấp

Xuất (phân xưởng sản xuất)

KCS kiểm tra chất lượng

Phòng phân tích+thí nghiệm

Phòng kế toán tài chính

Phòng kinh doanh + bán hàng

Phòng dụng cụ, cơ khí Phòng thu mua trên về mọi vấn đề hoạt động của công ty, về tài sản và vốn được giao Bên dưới là giám đốc sản xuất và các phòng ban độc lập như Phòng thu mua, Phòng kế toán tài chính, Phòng dụng cụ cơ khí, phòng nhân sự, Phòng kinh doanh bán hàng

Giám Đốc sản xuất: là người phụ trách về sản xuất có nhiệm vụ đưa ra các kế hoạch sản xuất của công ty đồng thời phụ trách các phòng ban như: Phòng sản xuất, phòng kho nguyên liệu, Phòng kcs, Phòng phân tích thí nghiệm công ty còn bố trí một Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật : chuyên phụ trách các vấn đề trực tiếp trên dây truyền sản xuất liên quan đến chất lượng sản phẩm Đứng đầu các Phòng ban là các trưởng phòng có trách nhiệm quản lý trực tiếp các nhân viên, chịu trách nhiệm trước cấp trên

Phòng kinh doanh và bán hàng:

Có nhiệm vụ định hướng, tìm kiếm mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm, tư vấn hỗ trợ khách hàng, và các dịch vụ hậu mãi, chịu trách nhiệm về doanh số bán ra thị trường tại miền bắc và bắc trung bộ các vùng kinh doanh bán hàng được phân ra thành 3 vùng kinh doanh như sau:

+ phía bắc Sông Hồng : bao gồm các tỉnh thành như Quảng Ninh, Bắc Giang, Cao Bằng Lạng sơn, Nắc ninh, Hải Phòng, Hải Dương…

+ phía nam Sông Hồng như: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện biên,

+ Bắc trung bộ như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

Chịu trách nhiệm về mặt tài chính, nguồn vốn hoạt động kinh daonh sản xuất của công ty, lập kế hoạch quản lý nguồn vốn tài chính Phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời, trung thực về tình hình tài chính của công ty Đồng thời lập các báo cáo tài chính phục vụ tốt yêu cầu quản trị của ban lãnh đạo công ty và các cơ quan chức năng của nhà nước

+ Lập phiếu thu, chi hàng ngày của khách hàng gồm khách hàng bán nguyên liệu vào công ty và khách hàng mua sản phẩm của công ty

+ Theo dõi công nợ: phải thu, phải trả

+ Có kế hoạch kinh phí chi trả công nợ, tiền lương cho công nhân viên

Có trách nhiệm tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào cho quá trình hoạt đông sản xuất nghiên cứu, cập nhật giá cả các loại mặt hàng nguyên liệu, tiến hành thỏa thuận mua nguyên liệu của khách hàng ở mức giá cả hợp lý nhất

Có trách nhiệm phối hợp với các phòng ban có liên quan trong quá trình nhập nguyên liệu vào công ty Giải quyết khó khăn, thắc mắc cho khách hàng

Phương pháp nghiên cứu

* Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu

*Phương pháp thống kê kinh tế: được sử dụng để hệ thống hóa các số liệu đã thu thập được theo một trình tự logic, phân tích để đưa ra kết luận

*Phương pháp chuyên khảo: Được sử dụng để thu thập ý kiến của những đối tượng lao động trực tiếp nhằm nắm bắt được một cách chính xác về thực trạng và đề ra những giải pháp có tính thực tiễn cao

*Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh những chỉ tiêu có liên quan để hoàn thiện kiểm soát chất lượng của sản phẩm (giữa thực trạng và yêu cầu các yếu tố tác động đến kiểm soát chất lượng sản phẩm để từ đó định hướng và đề ra giải pháp cho việc hoàn thiện)

*Phương pháp hoạch toán kinh tế: Được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt động của phương án đầu tư hoàn thiện kiểm soát chất lượng tại công ty

*Phương pháp chuyên gia: Được sử dụng để tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn thuộc lĩnh vực cần nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập tất cả những tài liệu, số liệu về kiểm soát chất lượng sản phẩm đã được công bố rộng rãi:

Với những số liệu trong nước và quốc tế nhằm phục vụ cho phần cơ sở lý luận của đề tài và tham khảo đưa ra kết luận, kiến nghị dựa trên cơ sở học hỏi và chắt lọc kinh nghiệm

Với những số liệu thực tế của công ty nằm trong phạm vi nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc phân tích để thấy được tình hình thực trạng đang diễn ra và đề xuất những giải pháp kịp thời, hợp lý dựa trên nền tảng khoa học đã được đúc rút trong quá trình nghiên cứu cơ sở lý luân

Các thông tin từ mạng internet, và sách báo, các thông tin về chất lượng sản phẩm và các thông tin chủ yếu về sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thi trường trong và ngoài nước

Các đề tài nghiên cứu khác có liên quan nhằm mục đích củng cố thêm kiến thức về vấn đề kiểm soát nâng cao chất lượng sản phẩm

2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

+ Nguồn tài liệu này thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp và dùng phiếu trả lời câu hỏi với đại lý, hộ nông dân có dùng sản phẩm của công ty ý kiến về sản phẩm công ty được thể hiện qua bảng

Bảng 2.3: Thu thập ý kiến Đối tượng điều tra

Huyện Chương mỹ Quốc oai Thạch thất Mỹ đức Đại lý 20 5 5 5 5

Có 2 nhóm khách hàng được phỏng vấn trực tiếp:

Nhóm thứ 1 là các đại lý bán lẻ có 20 đại lý được phỏng vấn trực tiếp Nhóm thứ hai là khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng chính là các hộ chăn nuôi trực tiếp sản phẩm Tiến hành phỏng vấn 80 hộ chăn nuôi trên địa bàn 4 huyện có số hộ chăn nuôi và đại lý tập trung là: Chương mỹ, Quốc oai, Thạch thất, Mỹ đức

2.2.1.3 Phương pháp xử lý tài liệu

Sau khi hoàn thành việc thu thập tài liệu: Đối với tài liệu thứ cấp tôi tiến hành tổng hợp, chọn lọc và sắp xếp theo trình tự của nội dung nghiên cứu làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài Đối với tài liệu sơ cấp tôi tiến hành tổng hợp, hệ thống hóa và sử lý bằng máy tính cá nhân, những số liệu sơ cấp sau khi đã được sử lý sẽ được dùng làm dẫn chứng chứng minh những luận điểm đã nêu ra trong đề tài

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

2.2.2.1 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế

Từ tài liệu thu thập được chúng tôi tiến hành mô tả sơ lược về công ty để biết tình hình cơ bản, tổng quan về công ty, mô tả quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh về chất lượng sản phẩm của công ty

Sử dụng các số liệu tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển, so sánh để phân tích, tính toán các chỉ tiêu công ty Qua đó làm rõ tình hình về chất lượng sản phẩm của công ty Đánh giá mức độ biến động giữa các hiện tượng

Từ các số liệu thu thập được chúng tôi tiến hành phân tích và thường so sánh để làm rõ các vấn đề: tình hình biến động của các hiện tượng qua các giai đoạn thời gian; mức độ của hiện tượng, từ đó chúng tôi đưa ra các kết luận có căn cứ khoa hoc

2.2.2.2 Phương pháp thống kê so sánh

Phương pháp này dùng để so sánh các chỉ tiêu về giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, các chính sách khuyến mại nhằm tiêu thụ sản phẩm của công ty với các doanh nghiệp khác để thấy rõ chất lượng sản phẩm của công ty so với chất lượng sản phẩm của công ty khác Để thấy rõ hơn năng lực cạnh tranh về sản phẩm của công ty

2.2.2.3 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo

Là phương pháp tham khảo ý kiến chuyên môn của các bộ phận quản lí, người tiêu thụ hàng hóa với quy mô lớn, người tiêu dùng cuối cùng về sản phẩm của chi nhánh, từ đó tìm ra ưu điểm và nhược điểm của sản phẩm để sản phẩm bán ra gần với thị trường đây là những thông tin vừa mang tính chủ quan và khách quan

2.2.2.4 Phương pháp phân tích ma trận SWOT

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quốc Bình (2003), Quản lý chất lượng toàn diện, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng toàn diện
Tác giả: Vũ Quốc Bình
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
2. Nguyễn Văn Chiến (2001), Quản lý sản xuất, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sản xuất
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
3. Trần Văn Chiến(1998), Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO-9000, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO-9000
Tác giả: Trần Văn Chiến
Năm: 1998
4. Đỗ Kim Chung (2003), Giáo trình dự án phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dự án phát triển nông thôn
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Phạm Xuân Hậu (1997), Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Thương Mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng
Tác giả: Phạm Xuân Hậu
Năm: 1997
6. Bùi Nguyên Hùng (1998), Mô hình xác định mẫu trong quản lý chất lượng, Luận án Tiến sĩ kinh tế Trường Đại Học Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình xác định mẫu trong quản lý chất lượng
Tác giả: Bùi Nguyên Hùng
Năm: 1998
7. Quách Thu Nguyệt (2003), Tìm hiểu chất lượng có như bạn nghĩ không?, NXB trẻ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chất lượng có như bạn nghĩ không
Tác giả: Quách Thu Nguyệt
Nhà XB: NXB trẻ Hồ Chí Minh
Năm: 2003
8. Quách Thu Nguyệt (2003), Đạt chất lượng bằng các phương pháp và công cụ nào?, NXB trẻ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạt chất lượng bằng các phương pháp và công cụ nào
Tác giả: Quách Thu Nguyệt
Nhà XB: NXB trẻ Hồ Chí Minh
Năm: 2003
9. Nguyễn Đình Phan (2002), Giáo trình quản lý chất lượng trong các tổ chức, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý chất lượng trong các tổ chức
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2002
10. Trần Văn Tài (1998), Nghiên cứu áp dụng ISO-9000 vào công ty hóa chất, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng ISO-9000 vào công ty hóa chất, luận văn thạc sĩ kinh tế
Tác giả: Trần Văn Tài
Năm: 1998
11. Hoàng Mạnh Tuấn(2001), Quản lý chất lượng thích hợp trong daonh nghiệp Việt Nam, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng thích hợp trong daonh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Hoàng Mạnh Tuấn
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2001
12. Hittoshi Kume(1995), Management by quality, 3A CORPORATION Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w