1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện chương mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã thụy hương

158 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu (3)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (4)
  • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (4)
  • 4. Nội dung nghiên cứu (4)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (6)
    • 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông thôn (6)
      • 1.1.1 Khái niệm và vai trò của nông thôn (6)
        • 1.1.1.1 Khái niệm nông thôn (6)
        • 1.1.1.2 Vai trò của nông thôn (7)
      • 1.1.2 Đặc điểm nông thôn Việt Nam (9)
      • 1.1.3 Phát triển nông thôn (10)
        • 1.1.3.1 Khái niệm phát triển nông thôn (10)
        • 1.1.3.2 Các nguyên tắc phát triển nông thôn (11)
        • 1.1.3.3 Các mô hình phát triển nông thôn (12)
      • 1.1.4 Vấn đề phát triển nông thôn ở Việt Nam (16)
        • 1.1.4.2 Chủ trương về phát triển nông thôn mới ở Việt Nam (16)
        • 1.1.4.3 Bộ tiêu chí quốc gia về phát triển nông thôn ở Việt Nam (19)
    • 1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông thôn (22)
      • 1.2.1 Trên Thế Giới (22)
      • 1.2.2 Ở Việt Nam (32)
  • Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu (38)
      • 2.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ (38)
        • 2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên (38)
        • 2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Chương Mỹ (40)
      • 2.1.2 Đặc điểm cơ bản xã Thuỵ Hương (46)
        • 2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên (46)
        • 2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội (48)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (51)
      • 2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu (51)
      • 2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu (52)
      • 2.2.3 Phương pháp chuyên gia (52)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (53)
    • 3.1 Đề án thí điểm xây dựng nông thôn mới xã Thụy Hương (53)
      • 3.1.1 Lịch sử hình thành đề án (53)
      • 3.1.2 Mục tiêu của đề án (54)
      • 3.1.3 Nội dung chủ yếu của đề án (55)
        • 3.1.3.1 Các hoạt động và chỉ tiêu đặt ra của đề án (55)
        • 3.1.3.2 Tổng hợp kinh phí thực hiện đề án (65)
        • 3.1.3.3 Tổ chức quản lý thực hiện đề án (66)
    • 3.2 Kết quả thực hiện đề án thí điểm xây dựng NTM tại xã Thụy Hương (68)
      • 3.2.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ quy hoạch nông thôn mới (68)
      • 3.2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (70)
      • 3.2.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất (75)
        • 3.2.3.1 Các kết quả đã được triển khai (75)
        • 3.2.3.2 Các kết quả đã đạt được (79)
      • 3.2.4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ về văn hóa - xã hội - môi trường (88)
      • 3.2.5 Kết quả đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới (93)
      • 3.2.6. Mức độ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới của xã (94)
        • 3.2.6.1 Mức độ thực hiện tiêu chí quy hoạch nông thôn mới tại xã (94)
        • 3.2.6.2 Mức độ thực hiện các tiêu chí về phát triển hạ tầng KTXH tại xã (95)
        • 3.2.6.3 Mức độ thực hiện các tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất tại xã (98)
        • 3.2.6.4 Mức độ thực hiện các tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường tại xã (100)
        • 3.2.6.5 Mức độ thực hiện các tiêu chí về hệ thống chính trị và an ninh (102)
      • 3.2.6. Đánh giá của người dân về chất lượng các tiêu chí (0)
    • 3.3 Công tác tổ chức thực hiện chương trình xây dựng NTM tại xã 104 (105)
      • 3.3.1 Tổ chức và hoạt động của ban chỉ đạo xã (105)
      • 3.3.2 Công tác tuyên truyền vận động (107)
      • 3.3.3 Thực trạng huy động các nguồn lực cho CT xây dựng NTM tại xã 107 (108)
        • 3.3.3.1 Huy động vốn đầu tư (108)
        • 3.3.3.2 Thực trạng sự tham gia của người dân vào chương trình (110)
    • 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn lòng tham gia đóng góp cho chương trình xây dựng nông thôn mới của người dân (111)
    • 3.5 Những thành công, tồn tại của chương trình (115)
      • 3.5.1 Những thành công (115)
      • 3.5.2 Những tồn tại (117)
      • 3.5.3 Những nguyên nhân (118)
      • 3.5.4 Bài học kinh nghiệm (119)
    • 3.6 Một số giải pháp đề xuất góp phần thực hiện CT XDNTM trên địa bàn huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy Hương 120 (121)
      • 3.6.1 Quan điểm chung về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyệ n (121)
      • 3.6.2 Một số giải pháp chủ yếu (122)
    • 1. Kết luận (126)
    • 2. Khuyến nghị (127)

Nội dung

Ðối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị

Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Nông thôn là một kiểu tổ chức xã hội đặc thù nơi có trên 70% dân số Việt Nam sinh sống Nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt trong chiến lược và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã được khẳng định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta Để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đảng ta đã chủ trương cần giải quyết đồng bộ cả ba vấn đề là

“Nông nghiệp, nông thôn, nông dân” Xuất phát từ chủ trương đó Đảng và

Nhà nước ta đã đưa ra nghị quyết số 26 Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành

TW khóa X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” (năm 2008) đã chỉ ra đường lối, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020

Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong nhiều phương pháp thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Quyết định 491/QĐ-TTg năm 2009 về Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới do Thủ tướng chính phủ ban hành đã chỉ ra những chỉ tiêu nhằm mục đích hướng chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt Xây dựng nông thôn mới đã được triển khai thí điểm ở 11 xã trọng điểm, làm cơ sở và kinh nghiệm cho việc triển khai trên diện rộng

Thụy Hương là một trong số các xã được chọn làm thí điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của Trung ương

Mô hình đã khơi dậy được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Nói chung mô hình đã thúc đẩy được sự tăng trưởng khá mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn ở Thụy Hương Tuy nhiên, mô hình thí điểm xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới còn nhiều khó khăn và bất cập

Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy Hương”.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu kết quả thực hiện chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới tại xã Thuỵ Hương, sẽ đề ra một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện Chương

Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thuỵ Hương

+ Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

+ Đánh giá được thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Thuỵ Hương - Chương Mỹ - Hà Nội

+ Rút ra được bài học kinh nghiệm qua mô hình thí điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Thụy Hương

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình XDNTM trên địa bàn Huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thuỵ Hương.

Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

- Thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Hương

- Bài học kinh nghiệm từ xã thí điểm Thụy Hương

- Một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn Huyện Chương Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy Hương.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Cơ sở lý luận về phát triển nông thôn

1.1.1 Khái niệm và vai trò của nông thôn

Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị

Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Ðối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển

Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hợp Quốc đã đề cập đến một khái niệm - CONTINIUM nông thôn - đô thị Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẽ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung Trong CONTINIUM nông thôn - đô thị, các hoạt động nông nghiệp được gắn với công nghiệp và các ngành dịch vụ, có tác dụng chuyển dịch nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá

Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, khái ni ệm về nông thôn có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [6, tr.11]

1.1.1.2 Vai trò của nông thôn

Nông nghiệp nông thôn Việt Nam tập trung vào ba ngành quan trọng gồm: Chăn nuôi, thủy sản và gạo Trong đó, gạo và chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân Ngành thủy sản hiện đóng vai trò đầu tàu trong xuất khẩu nông lâm thủy sản nói riêng và xuất khẩu của cả nước nói chung

Nông thôn ở nước ta bao gồm những vai trò sau:

- Thứ nhất, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia

- Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị Sự thâm nhập của lao động vào thành thị cũng như sự gia tăng dân số đều đặn ở các vùng thành thị là không đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc gia Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị hạn chế thì sự tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng và việc phát triển kinh tế sẽ phiến diện Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế của quốc gia

- Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội Năm 2010, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt hơn 19 tỷ USD Và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với hơn 20% GDP và 28% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong năm 2010 [15]

- Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau Mỗi sự biến động dù tích cực hay tiêu cực đều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước

- Thứ năm, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển, nên sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước

Với những vai trò quan trọng nêu trên, nông thôn là phần cơ bản và đòi hỏi tất yếu cần phát triển nông thôn trong quá trình phát triển quốc gia

1.1.2 Đặc điểm nông thôn Việt Nam

Nông thôn Việt Nam là nơi có khoảng 70% dân cư sinh sống, tạo nên nét riêng biệt với những đặc điểm sau:

- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông Đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theo đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ

- Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và cả do con người tạo ra

- Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Ở nông thôn, có nhiều gia đình trong một dòng họ cùng sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền

- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quốc gia như các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh Ðây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người

1.1.3.1 Khái niệm phát triển nông thôn

Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam

 Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”

Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước, nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa

Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp

Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá

Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn

Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm

1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại, thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình [14]

 Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”

Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào

“Mỗi làng một sản phẩm”

Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [14]

 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Báo cáo về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trung Quốc” của GS.TS Phạm Vân Đình, CN Nguyễn Thanh Phong trong công cuộc cải cách dân chủ mới ở nông thôn mang đậm màu sắc chủ nghĩa xã hội Trung Quốc là bài học quý đối với Việt Nam

Qua mười năm thực hiện chính sách cải cách mở cửa, đời sống nông dân đã thay đổi đáng kể, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết Nông thôn Trung Quốc hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm: Trong xã hội, địa vị của nông dân và thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp, khoảng cách so với thành thị ngày càng lớn, diện mạo của nông thôn còn lạc hậu, còn khoảng cách khá xa so với thành thị trên nhiều phương diện, nông nghiệp phát triển còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề nổi bật là thu nhập ở nông thôn còn thấp, tăng chậm, trong khi đó ở thành thị thu nhập tăng rất nhanh Chẳng hạn, năm 1978 chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là 2,9 lần, sau 10 năm là 3,31 lần và có xu hướng ngày càng gia tăng Trước tình hình đó Trung Quốc đã đưa ra chính sách “tam nông” nhằm thay đổi bộ mặt của nông thôn Mục đích của chính sách “tam nông” là xây dựng xã hội nông thôn Trung Quốc ngày càng hiện đại, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp phần đưa đất nước phát triển

Quá trình cải cách khu vực nông nghiệp nông thôn Trung Quốc diễn ra từng giai đoạn Năm 1955, cải cách về dịch vụ, thị trường nông thôn Từ năm

1998, Chính phủ đầu tư vào nông thôn tương đối lớn nhưng hiệu quả còn hạn chế, được tập trung cho hệ thống đường giao thông, trường học, hệ thống điện và cơ sở khám chữa bệnh ở nông thôn Năm 2002, Chính phủ đưa ra 16 vấn đề lớn với các chính sách tổng hợp phát triển thành thị - nông thôn nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị

Chính phủ Trung Quốc đã xác định được vấn đề quan trọng là đã đến lúc yêu cầu thành thị và công nghiệp tác động hỗ trợ lại cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, đã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới và liên tiếp trong 5 năm gần đây, năm nào BCH TW Đảng cộng sản Trung Quốc cũng cho ra Văn kiện số 1 về “tam nông”, năm nào Chính phủ cũng tặng quà cho nông dân một món quà như miễn đóng học phí đối với học sinh học đến hết lớp 9, hỗ trợ cho lao động nông thôn hết tuổi lao động 50 NDT/người/tháng, bảo hiểm y tế miễn phí

Những yêu cầu về phát triển nông thôn bao gồm:

- Một là, tăng sản lượng lương thực và thực phẩm

- Hai là, tăng phát triển nông thôn

- Ba là, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng

- Bốn là, tăng phát triển phi nông nghiệp

- Năm là, xây dựng môi trường nông thôn xanh sạch đẹp, chăm lo đời sống tinh thần và xây dựng diện mạo mới cho nông thôn

- Sáu là, quy hoạch cho nông thôn và khuyến khích vấn đề tự quản lý ở nông thôn Đứng trước những vấn đề khó khăn như trên, Trung Quốc đã có các chính sách về “tam nông” như: Tăng cường đầu tư, giảm đóng góp cho nông thôn, lấy trọng điểm đầu tư vào nông nghiệp, xây dựng các điểm nông thôn mới, đưa vào chương trình, chính sách quốc gia, hỗ trợ cho người dân lãi suất ưu đãi, thời hạn trả nợ kéo dài, lao động nông thôn ra thành thị, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ mua máy móc để cơ giới hóa, hỗ trợ giống 50NDT/mẫu, miễn thuế đất nông nghiệp từ năm 2006, trợ giá nông sản đối với một số loại chủ lực và đầu tư vào một số lĩnh vực trọng yếu như đường, điện thoại, khí đốt và nước sạch

Vì vậy, Trung Quốc đã có chủ trương mỗi huyện lựa chọn bốn thôn để xây dựng mô hình nông thôn mới Có ba điểm về sự mới trong phát triển nông thôn ở Trung Quốc:

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w