Nhưng vấn đề ổn định đời sống cho những hộ dân bị di dời để xây dựng khu công nghiệp đang là bài toán khó với các nhà quản lý và cho chính các doanh nghiệp tại khu công nghiệp này Xuất p
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư
Nghiên cứu di dân trên thế giới mới chỉ bắt đầu dưới thời kỳ phát triển
Tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, xã hội học, thống kê, toán học,…)
Các lý thuyết về di dân gồm: Lý thuyết quá độ di dân; lý thuyết kinh tế về di dân; lý thuyết của Ravenstein; lý thuyết đô thị hóa quá mức; lý thuyết
Lý thuyết quá độ di dân đã chỉ ra tầm quan trọng tương đối của các hình thái di chuyển khác nhau tương ứng với trình độ phát triển của xã hội
Từ hướng tiếp cận của kinh tế học, lý thuyết kinh tế về di dân còn xem xét quá trình di dân từ hai phía là cung và cầu về lao động - việc làm Lý thuyết đô thị hóa quá mức ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hóa và thu nhập bình quân Lý thuyết “hút - đẩy” đã xây dựng trên cơ sở tóm tắt các quy luật di dân và phân loại các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di chuyển Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của các yếu tố cá nhân mang tính đặc thù của người di cư Thực tế cho thấy con người di cư vì nhiều lý do khác nhau và những lý do có thể hình thành và gây ảnh hưởng ở nơi đi hay nơi đến Một trong những lý do dẫn đến sự di dân bắt buộc là do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời nhằm mục đích lấy mặt bằng xây dựng đường xá, các công trình công cộng, các dự án phát triển và dân sinh [4, tr 42 - 47]
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di động dân cư
Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Định nghĩa này được Liên Hợp Quốc sử dụng nhằm khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định qua một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú [5, tr 137]
Sự vận động và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với các cuộc di chuyển dân cư Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, do sự phân bố dân cư không đồng đều nên Chính phủ mỗi nước đều có những biện pháp khác nhau để phân bố lại dân cư nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có Tại Việt Nam, trong suốt 4.000 năm lịch sử, trải qua các triều đại khác nhau, đặc biệt là triều đại nhà Nguyễn, đã tổ chức nhiều cuộc di dân về phía Nam để phát triển kinh tế, xã hội và củng cố Nhà nước của mình Từ sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chú ý đặc biệt đến vấn đề phân bố lại lao động và dân cư để phát triển kinh tế - xã hội Do vậy trong bốn thập kỷ qua, di dân đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội quan trọng với quy mô và thành phần ngày càng phức tạp [7, tr 4]
Như vậy, có thể khái quát rằng di dân là sự di chuyển cư dân từ địa điểm này sang địa điểm khác, đó là một hiện tượng xã hội xảy ra trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nhân loại dưới tác động của những nguyên nhân kinh tế, xã hội khác nhau qua các thời kỳ Trong các nguyên nhân đó thì nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân quyết định
Di dân sẽ gây ra những tác động lớn đến các vấn đề dân số, kinh tế - xã hội Trên phạm vi toàn thế giới, di dân không làm ảnh hưởng đến số lượng dân số nói chung, nhưng đối với từng nước, từng khu vực lại có ảnh hưởng không nhỏ Di dân có tác động trực tiếp đến quy mô dân số Sự ra đi của một bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô dân số và sức ép dân số tại nơi đó giảm và ngược lại Di dân có ảnh hưởng lớn trong việc phân bố lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế Mỗi nhóm cư dân, mỗi cộng đồng đều có đời sống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, nên khi chuyển đến địa điểm mới dễ gây ra sự xáo trộn, xung đột, phân biệt đối xử trong cộng đồng nơi đến
Trên thực tế có nhiều cách phân loại di dân dựa trên các góc độ khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu Theo tính chất di dân, sẽ có hai loại là di dân tự nguyện và di dân không tự nguyện (ép buộc) Di dân tự nguyện là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng của mình Trong khi đó, di dân ép buộc diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân Theo đặc trưng di dân, được chia thành 2 loại là di dân có tổ chức và di dân tự phát Di dân có tổ chức là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình, dự án do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Di dân tự phát là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền [4, tr 39 - 41] Đối với nước ta, công tác di dân luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, củng cố an ninh quốc phòng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đề cập đến hình thức di dân có tổ chức, cụ thể là di dân để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện, phục vụ mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng Di dân có tổ chức gắn liền với quá trình tái định cư không tự nguyện (hay tái định cư bắt buộc)
Vấn đề thu hồi đất, tái định cư là vấn đề chung của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Đây là hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Nước ta cũng không nằm ngoài quy luật chung đó khi mà ngày càng có nhiều dự án đầu tư được triển khai trên các lĩnh vực phải trưng thu đất đai như: dự án xây dựng các công trình giao thông, bến cảng, các khu công nghiệp, du lịch, và đặc biệt là các dự án xây dựng các công trình thủy điện,… Điều này kéo theo vấn đề phải tái định cư cho hàng trăm ngàn người và làm thay đổi cuộc sống của họ vốn đã được ổn định nhiều đời
Tái định cư được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không Tái định cư theo nghĩa hẹp chỉ sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới [11, tr 13]
1.1.3 Chính sách tái định cư
1.1.3.1 Chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (WB)
Chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới [6, tr 32] gồm các mục tiêu chính: i) Đảm bảo các hộ bị ảnh hưởng do dự án phải được hưởng lợi từ dự án và ít nhất cũng khôi phục hoặc cải thiện được cuộc sống, đặc biệt là đối với những nhóm người dễ bị tổn thương Đây phải được xem như là kế hoạch phát triển Kế hoạch tái định cư không tự nguyện là một phần của dự án; ii) Cần tránh hoặc giảm thiểu tối đa tái định cư không tự nguyện/bắt buộc khi có thể; và iii) Khi không thể tránh được việc di dời, cần phải: cung cấp đầy đủ nguồn đầu tư và cơ hội chia sẻ lợi ích của dự án cho các hộ bị ảnh hưởng
Chính sách có những điều khoản chủ yếu được tóm tắt như dưới đây:
- Đền bù đầy đủ theo giá thay thế trước khi trước khi trưng dụng đất
- Giúp đỡ các hộ bị ảnh hưởng trong thời gian chuyển tiếp ở nơi định cư mới
- Giúp đỡ hộ bị ảnh hưởng phục hồi mức sống, tạo thu nhập, tăng cường năng lực sản xuất hay ít nhất cũng hồi phục lại mức sống của họ như trước khi có dự án
- Đặc biệt chú ý đến nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương nhất
- Có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch tái định cư
- Những người tái định cư cần phải được hoà nhập về mặt kinh tế-xã hội với cộng đồng tiếp nhận Cần tham vấn với cộng đồng tiếp nhận
Kinh nghiệm về tổ chức và thực hiện công tác tái định cư trên thế giới
2.1 Các đặc điểm cơ bản của huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
2.1.1 Các đặc điểm về tự nhiên
Huyện Lương Sơn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hoà Bình, cửa ngõ phía Tây Hà Nội
- Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và Thạch Thất,
- Phía Đông giáp huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ (Hà Nội),
- Phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hoà Bình)
Trung tâm huyện là thị trấn Lương Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km
Trên địa bàn Lương Sơn có đường Quốc lộ 6 (QL6) chạy qua theo hướng Đông – Tây, cắt ngang qua huyện từ khu Năm Lu đến Dốc Kẽm, đi qua thị trấn trung tâm huyện, nối Hà Nội với Thành phố Hoà Bình, đi lên các tỉnh phía Tây bắc; Quốc lộ 21A (nay là đường Hồ Chí Minh) chạy qua rìa một số xã phía Đông Nam huyện
Xét về mặt vị trí, Lương Sơn được gọi là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô
Hà Nội, là điểm cầu nối, giao thoa giữa Hoà Bình với các tỉnh vùng Tây Bắc và Thành phố Hà Nội, lan toả ra toàn vùng Hà Nội rồi tới các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Vị trí này tạo ra những lợi thế đặc biệt cho huyện trong phát triển kinh tế, nhất là thương mại dịch vụ, giao thông vận tải, hậu cần, khoa học công nghệ, du lịch, giáo dục, giao lưu hàng hoá đa dạng, phong phú.