Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tại trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, theo chương trình đào tạo Cao học, lớp Cao học Kinh tế nông nghiệp t«i đã nghiên
cứu đề tài: “Một số giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Gia Điền”
Nh©n dÞp nµy, t«i xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho t«i trong suốt quá trình học tập tại trường; cảm ơn các Thầy, Cô giáo, cán bộ viên chức trong khoa §ào tạo sau Đại học và thầy, cô trong hoa Kinh tÕ vµ Qu¶n trÞ kinh doanh Đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Tiễn sỹ Trần Hữu Dào đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện đề tài tại xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các cơ quan, đơn vị chuyên môn của huyện H¹ Hßa; xin cản ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Gia §iÒn vµ bà con nhân dân trong x· Gia §iÒn đã giúp đỡ, cộng tác để tôi thực hiện hoàn thành Đề tài theo kế hoạch
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân t«i cũng đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Song sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong được các Thầy, Cô Giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến chỉ bảo để b¶n th©n t«i có thêm cơ hội tiếp thu nâng cao kiến thức chuyên môn
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, xuất xứ./
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2013
Nguyễn Ngọc Tiến
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bỡa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục cỏc từ viết tắt v
Danh mục cỏc bảng vi
Danh mục cỏc hỡnh vii
đặt vấn đề 1
Chương 1 CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NễNG THễN VÀ XÂY DỰNG NễNG THễN MỚI 4
1.1 Cơ sở lý luận về phỏt triển nụng thụn 4
1.1.1 Khỏi niệm và vai trũ của nụng thụn 4
1.2.1 Trờn thế giới 10
1.2.2 Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới ở Việt Nam 18
1.2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan 21
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM XÃ GIA ĐIỀN, HUYỆN HẠ HềA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 23
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiờn cứu 23
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Hạ Hũa 23
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của xó Gia Điền, huyện Hạ Hũa 30
2.2 Phương phỏp nghiờn cứu 35
2.2.1 Phương phỏp chọn điểm nghiên cứu 35
2.2.2 Phương phỏp thu thập số liệu, tài liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIấN CỨU 37
Trang 33.1 Đề án thí điểm xây dựng nông thôn mới xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa,
tỉnh Phú Thọ 37
3.1.1 Lịch sử hình thành đề án 37
3.1.2 Mục tiêu của đề án 38
3.1.3 Nội dung chủ yếu của đề án 39
3.2 Kết quả thực hiện Đề án thí điểm xây dựng nông thôn mới tại xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa 52
3.2.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ quy hoạch nông thôn mới 52
3.2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội 53
3.2.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất 59
3.2.4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ về văn hóa - xã hội - môi trường 72
3.2.5 Kết quả thực hiện nhiệm vụ về xây dựng hệ thống chính trị 76
3.2.6 Kết quả đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới 77
3.2.7 §¸nh gi¸ mức độ thực hiện các nội dung chi tiÕt trong tiêu chí nông thôn mới của xã Gia Điền 78
3.2.8 Đánh giá của nhân dân về chất lượng các tiêu chí 87
3.3 Công tác tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM tại xã Gia Điền 90 3.3.1 Tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo xã 90
3.3.2 Công tác tuyên truyền vận động 92
3.3.3 Thực trạng huy động các nguồn lực cho Chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã 93
3.5.Những thành công, tồn tại của Chương trình XDNTM tại xã Gia Điền 98
3.5.1 Những thành công 98
3.5.2 Những tồn tại hạn chế 101
3.5.3 Những nguyên nhân 102
3.5.4 Bài học kinh nghiệm 104
Trang 43.6 Một số giải phỏp đề xuất gúp phần thực hiện ch-ơng trình xõy dựng nụng thụn mới trờn địa bàn huyện Hạ Hũa từ kinh nghiệm thớ điểm tại xó
Gia Điền 106
3.6.4 Vận động nhõn dõn hiến đất để xõy dựng nụng thụn mới 111
3.6.5 Phát triển văn hoá xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ng-ời dân nông thôn 112
3.6.6 Xõy dựng và phỏt triển cỏc tổ chức chớnh trị xó hội ở nụng thụn vững mạnh 113
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 120
1 Kết luận 116
2 Kiến nghị 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
Trang 54 CN- TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
5 CNH- HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
25 VH- XH-MT Văn hóa- xã hội- môi trường
26 VH- TT- DL Văn hóa- thể thao- du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.5 Bình quân năng xuất sản xuất nông nghiệp đạt được trước khi thực
hiện XDNTM và hiện nay
63
¸n (2012)
66
3.10 Thống kê số lượng hộ nghèo của xã thời điểm trước XDNTM và
hiện nay
70
3.18 Kết quả huy động các nguồn vốn cho chương trình tại xã (đến hết
năm 2012)
94
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8đặt vấn đề
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nụng nghiệp, nụng thụn luụn là vấn đề cú vị trớ quan trọng đặc biệt trong chiến lược và đường lối phỏt triển kinh tế xó hội của Việt Nam Phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại húa đó được khẳng định trong chiến lược phỏt triển kinh tế xó hội ở nước ta
Để phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn, theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa Đảng ta đó chủ trương cần giải quyết đồng bộ cả ba vấn đề là “Nụng nghiệp, nụng thụn, nụng dõn” Xuất phỏt từ chủ trương đú, ngày 5/8/2008
Hội nghị lần thứ 7 - Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khúa X) đó ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Nụng nghiệp, nụng dõn, nụng thụn”; Nghị
quyết đó chỉ ra đường lối, quan điểm, nhiệm vụ và giải phỏp lớn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nụng nghiệp, nụng thụn đến năm 2020
Chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới là một trong nhiều phương phỏp thỳc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nụng nghiệp, nụng thụn Quyết định số: 491/QĐ- TTg ngày 16 thỏng 4 năm 2009 về Bộ tiờu chớ quốc gia xõy dựng nụng thụn mới do Thủ tướng Chớnh phủ ban hành đó chỉ ra những chỉ tiờu nhằm mục đớch hướng Chương trỡnh xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt Xõy dựng nụng thụn mới đó được triển khai thớ điểm ở 3 xó trong tỉnh Phỳ Thọ, làm cơ sở và kinh nghiệm cho việc chỉ đạo triển khai diện rộng Gia Điền là xó được chọn làm thớ điểm thực hiện chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới của huyện Hạ Hũa, tỉnh Phỳ Thọ
Sau hơn 3 năm triển khai mụ hỡnh điểm, đó khơi dậy niềm tin của nhõn dõn vào sự lónh đạo của Đảng và Nhà nước, đó gúp phần thỳc đẩy được sự tăng trưởng mạnh mẽ kinh tế - xó hội nụng thụn ở Gia Điền Tuy nhiờn, mụ hỡnh thớ điểm xõy dựng nụng thụn mới theo phương phỏp tiếp cận mới cũng
Trang 9cũn những khú khăn, hạn chế và bất cập, một số tiêu chí về kết cấu cơ sở hạ tầng còn chậm triển khai do thiếu nguồn vốn; vấn đề khai thác và sử dụng nguồn tài chính cho ch-ơng trình ch-a cụ thể, rõ ràng
Xuất phỏt từ những vấn đề trờn tụi tiến hành nghiờn cứu đề tài “Một số
giải phỏp đẩy mạnh việc thực hiện Chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới trờn địa bàn huyện Hạ Hũa, tỉnh Phỳ Thọ từ kinh nghiệm thớ điểm tại xó Gia Điền”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiờu tổng quỏt
Trờn cơ sở nghiờn cứu về cơ sở lý luận, kết quả thực hiện chương trỡnh thớ điểm xõy dựng nụng thụn mới tại xó Gia Điền, đề ra một số giải phỏp gúp phần thực hiện chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới trờn địa bàn huyện Hạ Hũa từ kinh nghiệm thớ điểm tại xó Gia Điền
3 đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiờn cứu
Đối tượng nghiờn cứu của Luận văn là quỏ trỡnh và kết quả thực hiện thớ điểm Chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới tại xó Gia Điền, huyện Hạ
Hũa, tỉnh Phỳ Thọ
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện Chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới và kết quả thực hiện thí điểm tại xã Gia Điền theo các tiêu chí quy định trong bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới
4 Néi dung nghiªn cøu
- Cơ sở lý luận về vấn đề: Xây dựng nông thôn mới;
- Nghiên cứu thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm xây dựng n«ng th«n míi tại xã Gia Điền;
- c¸c bµi học kinh nghiệm qua thực hiện thí điểm xây dựng n«ng th«n míi tại xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa;
- Giải pháp đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng n«ng th«n míi trên địa bàn huyện Hạ Hòa từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Gia Điền
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông thôn
1.1.1 Khái niệm và vai trò của nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn
Hiện nay trên thế giới chưa có định nghĩa chính xác về nông thôn, còn
có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này,
vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị
Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là
từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những điểm khác so với khái niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị
tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển
Trang 12Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề nghị đến một khái niệm: CONTINIUM - Nông thôn đô thị Có thể hiểu nông thôn đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen
kẽ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như nhu cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn và vừa hoặc các khu công nghiệp tập trung Trong nông thôn đô thị, các hoạt động nông nghiệp được gắn liền vớ công nghiệp hóa đô thị hóa
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, khái niệm về nông thôn có
thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông thôn Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [7]
1.1.1.2 Vai trò của nông thôn
Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam tập trung vào ba ngành quan trọng gồm: Chăn nuôi, thủy sản và gạo Trong đó, gạo và chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia và tạo sinh kế cho hàng triệu người dân Ngành thủy sản hiện đóng vai trò đầu tàu trong sản xuất nông,
lâm, thủy sản nói riêng và xuất khẩu của cả nước nói chung
Nông thôn ở nước ta bao gồm những vai trò sau:
- Thứ nhất, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực
phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng
đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội Vì vậy, sự phát triển bền vững nông
Trang 13thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn
xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia
- Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực
nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị Sự thâm nhập của lao động vào thành thị đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc gia Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị hạn chế thì sự tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng và việc phát triển kinh tế sẽ phiến diện Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm
ổn định kinh tế quốc gia
- Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của
khu vực thành thị hiện đại Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của nông nghiệp Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành, không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp
và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội Năm 2012, xuất khẩu nông, lâm và thủy sản của Việt Nam đạt 27,5 triệu USD tăng 9,7% so với năm
2011 và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế chiếm 24,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong năm
2012 [6]
- Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm
nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau Mỗi sự biến động tích cực hay tiêu cực đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước
Trang 14- Thứ năm, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai,
khoáng sản, động thực vật, rừng, biển, nên sự phát triển bền vững nông thôn
có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn, bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước
Từ những vai trò quan trọng trên đây, phát triển nông thôn là tất yếu và
là phần cơ bản của quá trình đổi mới, phát triển đất nước
1.1.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới của Chính Phủ
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp; cơ
sở vật chất về trường học, trạm y tế, hệ thống truyền thanh chưa đáp ứng yêu cầu, nhà văn hoá khu dân cư và điểm vui chơi thể dục, thể thao còn thiếu Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn
Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
Do thu nhập của nông dân nhìn chung còn thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỉ lệ lao động nông nghiệp
Trang 15còn cao, cơ hội có việc làm mới tại khu vực nông thôn không nhiều, tỉ lệ lao động nông, lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỉ lệ hộ nghèo còn cao
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục ); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm Kinh tế và tổ chức sản xuất ở nông thôn còn có tính tự phát, chưa theo quy hoạch
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ba yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật có vai trò rất quan trọng Thực hiện xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai các công việc theo quy hoạch, lộ trình, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn vẫn còn lạc hậu, nông dân nghèo khó Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới diễn ra ở nông thôn và người dân là người hưởng thành quả; trước hết đó là nhiệm vụ của người dân nông thôn; người dân là chủ thể trong công cuộc xây dựng NTM
Xây dựng NTM liên quan đến toàn bộ các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội, môi trường đồng thời thực hiện 19 tiêu chí chính là nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành nên phải huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc
* Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, Chương trình xây dựng nông thôn mới được coi là một chương trình mục tiêu quốc gia, được chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới địa phương Mục tiêu của Chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta là: “
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
Trang 16triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tốc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”
Về mục tiêu cụ thể, phấn đấu đến năm 2015 đạt 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 100% số
xã có quy hoạch nông thôn mới được duyệt; 100% cán bộ cơ sở được đào tạo, tập huấn về kiến thức xây dựng nông thôn mới; thu nhập bình quân đầu người của cư dân nôn thôn bằng 2,5 lần so với hiện nay; tỷ lệ hộ nghèo dưới 3%
* Nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nội dung được xác định là: (1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; (2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; (3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; (4) Giảm nghèo và an sinh xã hội; (5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; (6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; (7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; (8) Xây dựng đời sống văn hóa thông tin và truyền thông nông thôn; (9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường; (10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; (11) Giữ vững an ninh trật tự xã hội nông thôn
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 Bộ tiêu chí là căn cứ
để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời là cơ sở để kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB), Đồng bằng sông Hồng
Trang 17(ĐBSH), Tây Nguyên (TN), Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng Bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí, được nhóm thành 5 nhóm:
Mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới [1]
1.2 Kinh nghiệm thực tiÔn về phát triển nông thôn
1.2.1 Trên thế giới
Phát triển nông thôn để xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ các góc cạch khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam
Mỹ:
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước Mỹ có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng trong cả nước, nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Trang 18Bên cạch đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp
Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng cũng rất thuận lợi: Máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học
và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí theo các nhà môi trường học là sử dụng quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu những sản phẩm thực phẩm mới và phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như chế tạo các ao hồ nhân tạo để nuôi cá
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “Kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến một
tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy
mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại ở Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra
ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn rất nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm
1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng
Trang 1967 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong giai đoạn này,
số lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 2,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người cuối thập niên 90 của thế kỷ trước dù cho dân số Mỹ tăng gấp đôi Và gần 60% số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian bên trang trại, thời gian còn lại họ làm các việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình [1]
Nhật Bản:
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (Miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được nhiều thành công nhất định trong phát triển nông thôn ở các nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [1]
Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Qua mười năm thực hiện chính sách mở cửa, đời sống nông dân đã thay đổi đáng kể, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết Nông thôn Trung Quốc hiện nay còn tồn tại những vấn đề nổi cộm: Trong xã
Trang 20hội, địa vị của nông dân và thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp, khoảng cách khá xa so với thành thị trên nhiều phương diện, nông nghiệp phát triển thấp, tăng chậm, trong khi đó ở thành thị thu nhập tăng rất nhanh Chẳng hạn, năm 1978 chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là 2,9 lần, sau 10 năm là 3,31 lần và có xu hướng ngày càng gia tăng Trước tình hình đó, Trung Quốc đã đưa ra chính sách “Tam nông” nhằm thay đổi bộ mặt của nông thôn, góp phần đưa đất nước phát triển
Chính phủ Trung Quốc đã xác định được vấn đề quan trọng là đã đến lúc yêu cầu thành thị và công nghiệp tác động hỗ trợ lại cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, đã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới và liên tiếp trong 5 năm gần đây, hàng năm Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng cho ra Văn kiện số 1 về “Tam nông”, Chính phủ giành kinh phí tặng quà cho nông dân, như miễn đóng học phí đối với học sinh đến hết lớp 9, hỗ trợ cho lao động nông thôn hết tuổi lao động 50 nhân dân tệ(NDT)/người/tháng, bảo hiểm y tế miễn phí
Những yêu cầu về phát triển nông thôn bao gồm:
- Một là, tăng sản lượng lương thực và thực phẩm
- Hai là, tăng phát triển nông thôn
- Ba là, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng
- Bốn là, tăng phát triển phi nông nghiệp
- Năm là, xây dựng môi trường nông thôn xanh, sạch đẹp, chăm lo đời sống tinh thần và xây dựng diện mạo mới cho nông thôn
- Sáu là, quy hoạch cho nông thôn và khuyến khích vấn đề tự quản lý ở nông thôn
Đứng trước những vấn đề khó khăn như trên, Trung Quốc đã có các chính sách về “Tam nông” như: Tăng cường đầu tư, giảm đóng góp cho nông thôn, lấy trọng điểm đầu tư vào nông nghiệp, xây dựng các điểm nông thôn
Trang 21mới, đưa vào chương trình, chính sách quốc gia, hỗ trợ cho người dân lãi suất
ưu đãi, thời hạn trả nợ kéo dài, lao động nông thôn ra thành thị, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ mua máy móc để cơ giới hóa, hỗ trợ giống 50NDT/mẫu, miễn thuế đất nông nghiệp từ năm 2006, trợ giá nông sản đối với một số loại chủ lực và đầu tư vào một lĩnh vực trọng yếu như đường, điện thoại, khí đốt và nước sạch
Vì vậy, Trung Quốc đã có chủ trương mỗi huyện lựa chọn bốn thôn để xây dựng mô hình nông thôn mới
Có ba điểm về sự mới trong phát triển nông thôn ở Trung Quốc:
- Thứ nhất, nông thôn đang được phát triển trong bối cảnh mới, cần đầu tư thêm nhân lực mới cho giải quyết tình hình mới, tài chính cần được tăng cường
- Thứ hai, nông thôn Trung Quốc phát triển ở giai đoạn mới chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang giai đoạn phát triển hàng hóa, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm
Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 17 đã chỉ rõ: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc là lấy công nghiệp nuôi nông nghiệp, lấy thành thị dẫn dắt nông thôn, thành thị và nông thôn phát triển hài hòa Kết quả của trương trình phát triển nông thôn mới mà Trung Quốc đang thực hiện là nông thôn phát triển [1]
Kinh nghiệm của Hàn Quốc:
Tại Hàn Quốc, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962 – 1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào làm mới (Saemaul Undong) Mục tiêu của phong trào này là “Nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn
cũ thành cộng đồng nông thôn mới, mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn” Để xây dựng thành công nông thôn mới, Hàn Quốc đã áp dụng, những giải pháp chính sau đây:
Trang 22- Đoàn kết nhân dân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân
để xây dựng nông thôn mới: Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, phong trào Saemaul Undong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “Sự cần
cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực giúp con người tự quyết định số phận của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực
vì mục tiêu chung Chính vì vậy, ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến
và một quốc gia thịnh vượng
- Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực: Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, chính phủ Hàn Quốc không có nhiều kinh phí Do đó, chính phủ đã khéo léo sử dụng chính sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân Chính phủ chỉ hỗ trợ một phần nguyên vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Kết quả là sau 8 năm (1971-1978), nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến đổi to lớn Cuối những năm 80, nông thôn Hàn Quốc đã có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa
- Phát triển kinh tế hộ và các loại hình kinh tế có sức mạnh cạnh tranh cao như:
+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ Ông Lee Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết: “Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp, vì lý do ngại
lợi nhuận các công ty nước ngoài hưởng, còn nông dân suốt đời làm thuê”
Chính vì vây, chính phủ Hàn Quốc chủ trương hỗ trợ để nông dân tự mình đứng lên trở thành người làm chủ đích thực
Trang 23+ Thành lập các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm như: nấm, thuốc lá, rau sạch quanh năm đem lại lợi nhuận cao cho người dân + Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều đặn Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế
- Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân: Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề cho nông dân, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, các loại giống mới như nấm, cây thuốc lá vào sản xuất Các làng, xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác Khi đất nước đã giàu có, Chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn Như thành lập các trung tâm chuyên về nông nghiệp nhằm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, giúp người nông dân tiếp cận nhanh với các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và marketing Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á [1]
Trang 24Đối với các sản phẩm nông nghiệp, nhà nước hỗ trợ tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội trợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị, phân bố khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học
và hợp lý, từ đó ngăn chặn được tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết các mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bố đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà nước
có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu [1]
Qua nghiên cứu chính sách và một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở các nước trên cho thấy: Những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của Nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp, tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 251.2.2 Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia
về nông thôn mới đã trở thành phòng trào của cả nước, các nhiệm vụ vè xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền
Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương tới địa phương Đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 84,7% số huyện và 52% số xã trên toàn quốc thành lập được Ban chỉ đạo Các bộ, ngành đã ban hành được 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngày 6 tháng 6 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Dự toán hàng năm trình Quốc Hội bảo đảm chi ngân sách nhà nước cho khu vực nông nghiệp, nông thôn có tốc độ tăng cao hơn chi chung của cả nước Riêng năm 2011 cao gấp 2,21 lần so với năm 2008 Tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn trong 3 năm (2009 – 2011) chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ của cả nước, trong đó đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 37% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Vốn tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được ưu đãi Doanh nghiệp đầu
tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 26Riêng năm 2011, Nhà nước đã bố trí 1.600 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương cho chương trình để tập trung vào 5 nội dung, gồm quy hoạch, đào tạo, tuyên truyền, phát triển sản xuất và xây dựng một số hạng mục kết cấu hạ tầng thiết yếu Nhiều địa phương như Phú Thọ, Hà Tĩnh, Lào Cai, Vĩnh Long, Nam Định, Thái Bình, Sóc Chăn còn bổ sung kinh phí lên tới 5.664,8 tỷ đồng từ nguồn ngân sách địa phương cho các xã để triển khai chương trình ngay trong năm 2011 Đã có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự túc ngân sách để triển khai thực hiện giai đoạn 2011 – 2015
Với sự vào cuộc tích cực, khẩn trương của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương và bản thân người dân nông thôn, trong hơn 3 năm qua nặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nông nghiệp, nông thôn đã vững vàng vượt qua khó khăn, duy trì được tăng trưởng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước
Xin nêu một vài dẫn chứng và thống kê số liệu như sau: Năm 2010, nông nghiệp nước ta đạt mức tăng GDP là 2,78%, sản lượng lúa tăng thêm 1,17 triệu tấn, đạt 39,9 triệu tấn; sản lượng thịt các loại tăng 725 ngàn tấn, đạt 4,02 triệu tấn; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản tăng 990 ngàn tấn, đạt 5,12 triệu tấn; sản lượng muối tăng 340 ngàn tấn, đạt 1,18 triệu tấn; tỷ lệ che phủ rừng tăng 1,2%, đạt 39,5% diện tích Tổng kim ngạch xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản đạt 19,53 tỷ USD (tăng 3,46 tỷ USD so với năm 2008)
Giao thông nông thôn được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng nông thôn; trong 2 năm 2009 – 2010 đã huy động được gần 33 ngàn tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp khoảng 11,2% và trên 24 triệu ngày công lao động; các nguồn khác chiếm 14,4%; ngân sách nhà nước hỗ trợ 74,4% mở mới và nâng cấp hơn 40 nghìn ki - lô - mét đường; xây dựng khoảng 4.200 cầu bê tông, cầu liên hợp, cầu dầm sắt, cầu treo, cầu gỗ và gần 50 nghìn cống
Hạ tầng thương mại ở nông thôn mở rộng, tăng nhịp độ và tần xuất giao thương Nâng cấp và mở rộng hệ thống điện, nâng tỷ lệ số xã lên 97,8% với
Trang 2795,4% số hộ đân được sử dụng điện Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đã phát triển đến các xã vùng sâu, vùng xã Khoảng 70% số xã có điểm truy cập in-tơ-nét công cộng và 97% số xã có điện thoại công cộng
Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển dịch tích cực; công nghiệp, tiểu thut công nghiệp và dịch vụ đã chiếm xấp xỉ 60% cơ cấu kinh tế nông thôn Trên 40 tỉnh hoàn thành quy hoạch xây dựng phát triển làng nghề nông thôn Số lượng làng nghề tăng lên, hiện có 2.971 làng nghề theo tiêu chí của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Có thể khảng định, Nghị quyết số 26-NQ/TW 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là Nghị quyết mang tính toàn diện và đầy đủ nhất để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta từ trước đến nay Vì vậy, được nhân dân cả nước, nhất là cư dân nông thôn tích cực đón nhận; các địa phương ở các vùng miền cả nước đã và đang thực hiện đưa Nghị quyết vào đời sống của người dân, và được cụ thể thông qua thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo nội dung Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Đây cũng là một cuộc vận động cách mạng to lớn và quan trọng nhằm tập trung xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về các hình thức tổ chức sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, có hiệu quả ở nông thôn; mối quan hệ giữa đô thị - nông thôn, công nghiệp – nông nghiệp và giữa trí thức – nông dân để đảm bảo phát triển bền vững Với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, các thành phần kinh tế và sự đón nhận tích cực của
cư dân nông thôn, kỳ vọng về một thời kỳ mới của đất nước với tương lai phát triển mạnh và bền vững
1.1.3 Một số chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Phú Thọ về xây dựng nông thôn mới
Trang 28- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 thỏng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khúa X về “Nụng nghiệp - Nụng dõn - Nụng thụn”
- Nghị quyết 24/2008/NQ-CP về chương trỡnh hành động của Chớnh phủ
- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chớnh phủ ban hành Bộ tiờu chớ Quốc gia NTM
- Ban Bớ thư Trung ương Đảng cú thụng bỏo 238-TB/TW thỏng 4 -
2009 về việc xõy dựng thớ điểm mụ hỡnh NTM
- Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chớnh phủ Phờ duyệt “Chương trỡnh mục tiờu quốc gia xõy dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020”
- Quyết định số 1013/QĐ-TTg ngày 01 thỏng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chớnh phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương chương trỡnh mục tiờu quốc gia về xõy dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020
- Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chớnh phủ Sửa đổi một số tiờu chớ của Bộ tiờu chớ quốc gia về nụng thụn mới
- Nghị quyết 28 - NQ/TU ngày 20/11/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phỏt triển NTM tỉnh Phỳ Thọ đến năm 2020
- Nghị quyết số 196/2009/NQ-HĐND, ngày 16/12/2009 của HĐND tỉnh Phỳ Thọ về Quy hoạch phỏt triển NTM tỉnh Phỳ Thọ đến năm 2020
- Kế hoạch số 3359/KH-UBND, ngày 28/9/2010 của UBND tỉnh Phỳ Thọ về triển khai thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chớnh phủ phờ duyệt “Chương trỡnh mục tiờu Quốc gia về xõy dựng nụng thụn mới giai đoạn 2010-2020”
1.2.4 Một số công trình nghiên cứu liên quan
1.2.3.1 Nguyễn Thị Huyền (2012) “Một số giải pháp góp phần thực hiện ch-ơng trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ch-ơng Mỹ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Thụy H-ơng”, Luận văn thạc sỹ kinh tế nông
nghiệp, Đại học Lâm Nghiệp Đề tài giúp em nắm đ-ợc ph-ơng pháp nghiên cứu, nhận ra đ-ợc những vấn đề tồn tại, khó khăn chung và những đặc điểm,
Trang 29điều kiện thuận lợi riêng của mỗi địa ph-ơng trong thực hiện thí điểm ch-ơng trình xây dựng nông thôn mới Từ đó để đ-a ra giải pháp thực hiện ch-ơng trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với điều kiện của huyện Hạ Hòa
1.2.3.2 Nguyễn Ngọc Hướng (2012) “Giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hạ Hòa theo h-ớng sản xuất hàng hóa”, Luận văn thạc sỹ kinh tế nông
nghiệp, Đại học Thái Nguyên Đề tài giúp em hiểu rõ và sâu hơn về điều kiện kinh tế, xã hội và những lợi thế trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ để đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí phát triển kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
1.2.3.3 Hoàng Mạnh Thắng (2012) “ Nghiên cứu sử dụng thân cây sắn trong khẩu phần ăn để nuôi bò vũ béo tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”, Luận
văn thạc sỹ chăn nuôi, Đại học Thái Nguyên Đề tài giúp em hiểu sâu hơn về
điều kiện thổ nh-ỡng, đất đai và sự phù hợp trồng, phát triển cây sắn trên địa bàn huyện Hạ Hòa ngoài việc thu hoạch củ còn sử dụng thân cây sắn làm thức
1.2.3.4 Luận văn Ths Nguyễn Thị Thanh Thúy (2012) “ Một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện Ch-ơng trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Mỹ Khánh”, Luận văn chuyên ngành kinh tế nông nghiệp, Đại học Lâm nghiệp
Đề tài giúp em hiểu sâu hơn nữa về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở một số địa ph-ơng, nhất là những vấn đề thuận lợi, khó khăn giữa các vùng miền, địa ph-ơng trong cả n-ớc Từ đó, tác giả lựa chọn đ-a ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới phù hợp với điều kiện ở địa bàn nghiên cứu.
Trang 30Chương 2 ĐẶC ĐIỂM XÃ GIA ĐIỀN, HUYỆN HẠ HÒA
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Hạ Hòa
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý
Hạ Hoà là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ; có tổng diện tích tự nhiên 34.014,51ha, với 33 đơn vị hành chính (32 xã, 1 thị trấn) Địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái;
- Phía Tây Nam giáp huyện Yên Lập;
- Phía Nam giáp huyện Cẩm Khê;
- Phía Đông giáp huyện Đoan Hùng và huyện Thanh Ba
Trung tâm huyện Hạ Hòa, cách thành phố Việt Trì khoảng 70km Nằm ở vị trí tiếp giáp với các tỉnh vùng Tây Bắc có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế; huyện Hạ Hoà có nhiều lợi thế để trở thành trung tâm kinh
tế - xã hội tiểu vùng Tây bắc tỉnh Phú Thọ
* Địa hình, địa mạo Địa hình chung thấp đần theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, vùng giữa huyện dọc theo Sông Hồng có độ cao thấp hơn được bao bọc bởi hai vùng đồi núi cao phía Tây Bắc giáp (giáp huyện Yên Lập) và Đông Bắc giáp (huyện Đoan Hùng) Các triền Núi Ông, Núi Văn, Núi Tiêu Phong, Núi Kìm, Núi Chưa ở phía Tây, hướng dốc đổ dồn về phía hữu ngạn Sông Hồng Các dãy Núi Gò Ngang, Núi Buộm, Núi Sơn Nhiễu, Núi Vua ở phía Đông Bắc, sườn núi thấp dần
về phía Tây Nam, hướng dốc đổ dồn về phía Tả ngạn Sông Hồng Đặc điểm của kiến tạo tự nhiên hình thành nên 3 tiểu vùng khác nhau:
Trang 31- Tiểu vùng núi thấp, đồi cao: Nằm ở phía Tây bắc huyện nơi giáp ranh với huyện Yên Lập và phía Đông Bắc huyện giáp huyện Đoan Hùng và tỉnh Yên Bái
Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200m-600m, độ dốc trung bình 250-
300 , đồi chạy thành từng dải ngắn, có những nếp đứt gãy bởi các thung lũng hẹp Kiểu địa hình tập trung ở các xã: Quân Khê, Xuân Áng, Vô Tranh, Đại Phạm, Phụ Khánh, Hà Lương
- Tiểu vùng đồi thấp: Nằm phía Nam của huyện tiếp giáp với huyện Thanh
Ba và huyện Đoan Hùng Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 - 200m, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 50- 100, tập trung ở các xã: Chuế Lưu, Bằng Giã, Văn Lang, Gia Điền, Phương Viên, Cáo Điền, Yên Kỳ, Êm Hạ, Hương
Xạ, Minh Côi …
- Tiểu vùng đồng bằng ven Sông Hồng: Phân bố dọc theo 2 bờ Sông Hồng,
là vùng đất phù sa được bồi và không được bồi hàng năm Vùng này tương đối bằng phẳng, có nhiều đầm hồ, tập trung các xã: Vụ Cầu, Mai Tùng, Vĩnh Chân, Lang Sơn, Minh Hạc, Liên Phương, thị trấn Hạ Hoà …
Nhìn chung huyện Hạ Hoà có địa hình đặc trưng miền núi thấp xen lẫn vùng đất ven sông; đất dốc nhiều; địa hình bị chia cắt
* Khí hậu
Theo phân vùng khí hậu của tỉnh Phú Thọ, huyện Hạ Hoà nằm trong tiểu vùng khí hậu phía Bắc (Tiểu vùng 1) với đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Lượng mưa trung bình (R): 1367,1mm/năm
- Tổng tích nhiệt bình quân trong năm (Q): 8000 - 82000C
- Nhiệt độ trung bình (T) 23,40c
- Độ ẩm trung bình 85,6%
Nhìn chung, khí hậu huyện Hạ Hoà phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của nhiều cây trồng, vật nuôi, nhất là cây lâu năm, cây nguyên liệu giấy và gia súc Tuy nhiên, do lượng mưa nhiều lại tập chủ yếu vào mùa hạ (70%) nên hàng năm thường xảy ra lũ, úng cục bộ gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, gìn giữ cảnh quan môi trường và đời sống của nhân dân
Trang 32* Thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn trên địa bàn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông, ngòi, suối, ao hồ, đầm được phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện, trong đó đáng kể nhất là Sông Hồng và các chi lưu của nó
- Sông Hồng chảy qua địa phận huyện theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với chiều dài 32Km, chiều rộng trung bình khoảng 500m, dòng sông chia cắt địa bàn huyện thành 2 bên bờ Tả, Hữu sông Thao ( bên Tả có 23 đơn vị, bên Hữu có
10 đơn vị hành chính xã), lưu vực rộng, lưu lượng nước ở mùa mưa rất lớn
- Ngòi Lao: Bắt nguồn từ Núi Banh thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái qua huyện Yên Lập rồi đến địa phận huyện Hạ Hoà thuộc 2 xã Vô Tranh và Bằng Giã với chiều dài 17Km, lưu lượng dòng nước tương đối lớn, độ dốc cao, chảy xiết
- Ngòi Vần: Bắt nguồn từ khu vực Núi Hàm, Núi Bông, Núi Nả thuộc tỉnh Yên Bái chảy qua xã Hiền Lương 2,0Km, hiện tại Ngòi Vần được chặn lại, tạo thành một hồ nước lớn rộng khoảng 300ha
- Ngòi Mỹ: Bắt nguồn từ Đầm Nang xã Quân Khê, đổ ra Sông Hồng, chiều dài 3,7Km, có lưu vực rộng, độ dốc dòng chảy thấp rất dễ gây úng lụt vào mùa mưa
- Ngòi Lửa Việt: Bắt nguồn từ Núi Buộm, được đắp chặn thành Đầm Ao Châu, có lưu vực rộng (gần 200ha), cung cấp nước tưới cho khu vực rộng khoảng 1200ha và có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái
Các Hồ, Đầm có diện tích khoảng 2000ha, trong đó một số đầm Lớn như: Đầm Chính Công, Đầm Ao Châu, Đầm Phai, Đầm Móng, Đầm Đào, Đầm Láng Thượng, Đầm Nang, Hồ Hàm Kỳ, Đầm Chì, Đầm Móng Hội, Đầm Thanh Ba…
là những nơi dự trữ, cung cấp nước tưới và kết hợp phát triển nuôi trồng thuỷ sản,
là tiềm năng phát triển du lich sinh thái
Trang 33Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hạ Hòa năm 2012
(ha)
Tỷ lệ (%)
Trang 342.1.1.2 Dân số, lao động, nguồn nhân lực:
Dân số toàn huyện Hạ Hoà là 104.230 người chiếm 7,94% dân số toàn tỉnh; dân số thuộc khu vực đô thị có 7.800 người chiếm 7,48%, dân số thuộc khu vực nông thôn là 96.430 người chiếm 92,52% dân số toàn huyện, mật độ bình quân dân số là 306 người/km2
Số người trong độ tuổi lao động có 72.962 người, chiếm tỉ lệ là 70% tổng dân số Nguồn lao động của huyện khá dồi dào, nhưng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 80%, lao động có tay nghề, đã qua đào tạo chỉ chiếm tỷ lệ thấp 15% Tuy nhiên lực lượng lao động của huyện còn trẻ, trình độ học vấn hiện nay của dân cư vào loại khá vì huyện có hệ thống giáo dục tương đối phát triển, học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hàng năm đạt kết quả khá cao, vì vậy có điều kiện cải thiện chất lượng lao động, tạo cơ hội chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ
Nhân dân Hạ Hoà có bề dày lịch sử phát triển lâu đời, truyền thống anh dũng kiên cường trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (Đảng bộ và nhân dân huyện Hạ Hòa được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân), người dân hiền hoà, cần cù, sáng tạo trong lao động, học tập, đoàn kết thương yêu nhau, giữ được những nét văn hoá đặc trưng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Hạ Hòa năm 2012
( Người)
Lao động (Người)
Số hộ ( Hộ)
Trang 35TT Tên xã, thị trấn Dân số
( Người)
Lao động (Người)
Số hộ ( Hộ)
Trang 362.1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, nền kinh tế của huyện luôn đạt mức tăng trưởng khá Giai đoạn từ 2001-2005, tốc độ tăng trưởng của huyện là 11,0%, giai đoạn
2006 - 2010 tốc độ tăng 11,7%
- Năm 2012: Tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 11,45%, trong đó:
+ Công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 12%/năm;
+ Dịch vụ thương mại và du lịch tăng bình quân 15,9 %
Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn năm 2012 đạt 2.151.310 triệu đồng, tăng 9,8 % so với cùng kỳ, trong đó:
+ Nông lâm nghiệp, ngư nghiệp đạt 914.819 triệu đồng tăng 5,2% so với cùng kỳ;
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đạt 706.632 triệu đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ;
+ Dịch vụ thương mại và du lịch đạt 529.859 triệu đồng tăng 15,6 % so với cùng kỳ
Bình quân giá trị giá trị gia tăng trên đầu người năm 2012 đạt 14,9 triệu đồng/ người/năm
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 đạt 40.998 tấn, bình quân lương thực đạt 380kg/người, an ninh lương thực chung của huyện được giữ vững
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể và đúng hướng; tỷ trọng sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ tăng dần Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi đôi với phát triển các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho người sản xuất, kinh doanh phát huy tính năng động, sáng tạo, giúp hiệu quả kinh tế đạt cao, kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh Phát triển sản xuất và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế góp phần phân công lại lao động, giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo
Trang 37Bảng 2.3 Giỏ trị sản xuất cỏc ngành kinh tế huyện Hạ Hũa năm 2012
TT Chỉ tiờu ( Triệu Giỏ trị
II Cụng nghiệp- tiểu thủ cụng nghiệp 706.632 32,85
( Nguồn: UBND huyện Hạ Hũa)
Năm 2010, huyện Hạ Hũa được tỉnh Phỳ Thọ lựa chọn làm địa bàn chỉ đạo mụ hỡnh xõy dựng huyện nụng thụn mới để đến năm 2015 cơ bản trở thành huyện nụng thụn mới với 75% số xó đạt xó nụng thụn mới (24/32 xó)
Tuy nhiờn, qua hơn 2 năm chỉ đạo triển khai thực hiện cũn gặp khụng ớt khú khăn về mọi mặt, đặc biệt là nguồn lực để đầu tư xõy dựng cỏc cụng trỡnh kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật khụng đỏp ứng đảm bảo được theo bộ tiờu chớ nụng thụn mới của tỉnh Phỳ Thọ và Chớnh phủ đề ra Do vậy, cuối năm 2012, tỉnh đó xỏc định điều chỉnh lại mục tiờu: Đến 2015 Hạ Hòa có 8-10 xã đạt tiêu chí xã nông thôn mới, xõy dựng huyện Hạ Hũa đạt huyện nụng thụn mới vào năm 2020
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của xó Gia Điền, huyện Hạ Hũa
2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiờn
* Vị trớ địa lý
Gia Điền nằm về phớa Bắc của huyện Hạ Hoà, cỏch trung tõm huyện lỵ khoảng 7 km Tổng diện tớch tự nhiờn là 1227,34 ha, trong đú: Đất nụng
Trang 38nghiệp 1.093,19 ha, đất phi nông nghiệp 84,37 ha, đất chưa sử dụng 49,78 ha Địa giới hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Minh Lương và xã Bằng Doãn, huyện Đoan Hùng
- Phía Nam giáp xã Ấm Hạ
- Phía Đông giáp xã Phương Viên (huyện Hạ Hoà) và xã Phúc Lai (huyện Đoan Hùng)
- Phía Tây giáp xã Phụ Khánh và xã Hà Lương
Trên địa bàn xã có 01 tuyến giao thông chính là tuyến đường tỉnh 314 chạy qua, hệ thống đường liên xã gồm 07 tuyến, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa của nhân dân
* Địa hình
Gia Điền mang những yếu tố đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc Địa hình tương đối phức tạp, độ cao không đồng đều giữa các khu vực, có các đồi gò, khu vực thấp trũng, vùng đồng bằng và ao hồ xen kẽ
- Địa hình đồi núi thấp: khu vực này chiếm khoảng 80% tổng diện tích
tự nhiên, phần lớn gồm những núi, đồi thấp phân bố đều trong toàn xã Độ dốc trung bình từ 8 - 150 chiếm 20%, 15 - 250 chiếm 35%, > 250 chiếm 45% Cao độ địa hình dao động từ 90-100m, thấp nhất là 55m và cao nhất là 185m Dạng địa hình này thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây nguyên liệu giấy như keo, bạch đàn, tre, luồng, …
- Địa hình vùng đồng bằng, ruộng dộc: Diện tích chủ yếu là những chân ruộng bậc thang, ruộng dộc, lòng chảo nằm xen giữa các núi, đồi, chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên Dạng địa hình này có độ dốc < 30 chiếm 35%, 3 - 80 chiếm 65%, thích hợp cho việc trồng lúa nước và các cây màu ngắn ngày như lạc, đậu, đỗ, rau…
Với những đặc điểm của địa hình như trên đã gây ảnh hưởng tới việc bố trí sản xuất, phát triển giao thông trên địa bàn cũng như quy hoạch xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế, xã hội của địa phương
* Khí hậu
Trang 39Theo phân vùng khí hậu của tỉnh Phú Thọ thì Gia Điền là xã nằm trong vùng II theo phân vùng khí hậu tỉnh Phú Thọ và chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng trung du miền núi phía Bắc với những đặc trưng chủ yếu sau:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-240C, nhiệt độ trong ngày cao nhất là 400C và thấp nhất là 30C Tổng tích nhiệt hàng năm vào khoảng từ 8400-85000C
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1450-1500mm, năm mưa nhiều
có tới 6 tháng mưa lớn, năm mưa ít có 1-2 tháng Tổng lượng mưa năm nhiều nhất tới 2600mm, năm mưa ít từ 1000-1100mm
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%, thấp nhất là 24%, cao nhất là 92% Lượng bốc hơi nước mặt từ 45-50%
- Chế độ gió thổi theo 2 mùa rõ rệt:
+ Gió mùa đông Bắc thổi vào mùa lạnh, kéo dài từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 3 năm sau, gió lạnh kèm theo mưa phùn gây ra hiện tượng băng giá, xương muối nhưng ít xảy ra
+ Gió mùa đông Nam thổi vào mùa nóng, kéo dài từ tháng 5 đến hết tháng 9 trong năm
Tuy nhiên cũng còn một số khó khăn do khí hậu gây ra, như lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào một số tháng mùa mưa gây ra úng lụt, tạo dòng chảy lớn gây xói mòn đất Nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông, thiếu ánh sáng, ẩm ướt gây khó khăn cho phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân
* Thuỷ văn
Toàn xã có 10,09ha diện tích các hồ đập lớn, nhỏ và hệ thống suối Do
đó, chế độ thuỷ văn chủ yếu chịu ảnh hưởng của hệ thống hồ, đầm và suối trên địa bàn Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp, điều hòa khí hậu Song, trữ lượng nước hạn chế, thường khô cạn vào mùa khô, khả năng tích nước chủ yếu vào mùa mưa Vì vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu chủ động cho sản xuất nông nghiệp
Trang 40* Nhận xét đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên
- Lợi thế: Đất đai màu nàu mỡ, có khả năng thâm canh cho năng xuất
cao, rất thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp, phát triển kinh tế theo mô hình kết hợp vườn, đồi Khí hậu và lượng mưa thích hợp cho phát triển đa dạng các loại cây trồng Có vị trí địa lý thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, buôn bán trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận
- Hạn chế: Đất canh tác trồng cây hàng năm chủ yếu là ruộng bậc thang,
phân bố manh mún Địa hình tương đối dốc, do vậy vào mùa mưa còn xảy ra
lũ quét, sạt lở đất, gây úng ngập cục bộ làm ảnh hưởng sản xuất
Bảng 2.4: Tình hình sử dụng đất đai xã Gia Điền huyện Hạ Hòa năm 2012
( Nguồn: UBND xã Gia Điền)