1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự khác biệt về cảm nhận thông điệp từ báo cáo kiểm toán giữa kiểm toán viên

123 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt cảm nhận thông điệp của BCKT giữa KTV và người sử dụng BCKT về: trách nhiệm của KTV và Ban giám đốc đơn vị Best và cộng sự, 2001; Gold và cộng s

Trang 1

TRẦN THỊ KIM DUNG

NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ CẢM NHẬN THÔNG ĐIỆP TỪ BÁO CÁO KIỂM TOÁN GIỮA KIỂM TOÁN VIÊN, NGƯỜI SỬ DỤNG BÁO CÁO KIỂM TOÁN VÀ ĐƠN

VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

TRẦN THỊ KIM DUNG

NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ CẢM NHẬN THÔNG ĐIỆP TỪ BÁO CÁO KIỂM TOÁN GIỮA KIỂM TOÁN VIÊN, NGƯỜI SỬ DỤNG BÁO CÁO KIỂM TOÁN VÀ ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

Trang 3

toán và đơn vị được kiểm toán tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi

Những thông tin sử dụng được ghi rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của luận văn

TP.HCM, ngày….tháng…năm 2018

Tác giả

Trần Thị Kim Dung

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương phápnghiên cứu 4

6 Phương pháp phân tích dữ liệu 5

7 Đóng góp của đề tài 6

8 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán và sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT 8

1.1.1 Tổng quát các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán 8 1.1.2 Tổng quát các nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT 10

1.1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 11

1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 15

Trang 5

1.1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 22

2.1 Khái quát về BCKT và chuẩn mực về BCKT 22

2.1.1 Khái quát về BCKT 22

2.1.1.1 Sự ra đời của BCKT 22

2.1.1.1 Các giai đoạn phát triển của BCKT 23

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của chuẩn mực kiểm toán quốc tế về BCKT theo IAS 700 26

2.2 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán và lý thuyết có liên quan 28

2.2.1 Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán 28

2.2.2 Khoảng cách thông tin trên BCKT 31

2.2.3 Lý thuyết hồi ứng của người đọc 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 35

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 36

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Phương pháp luận 38

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 39

3.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 43

3.2.2.3 Kích thước mẫu 44

3.2.2.4 Thực hiện khảo sát 45

Trang 6

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

4.1 Thống kê mô tả kết quả nghiên cứu 49

4.2 Kết quả nghiên cứu sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT tại Việt Nam 49

4.2.1 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán 50

4.2.2 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến mức độ tin tưởng của BCKT 54 4.2.3 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến vai trò của BCKT 56

4.2.4 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến khả năng KTV có thể phát hiện gian lận 58

4.2.5 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến ý nghĩa của các thuật ngữ dùng trong BCKT 59

4.2.6 Sự khác biệt cảm nhận liên quan đến mức trọng yếu trong BCKT 63

4.3 Kết luận về thực trạng sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT tại Việt Nam 64

4.3.1 Điểm thống nhất 64

4.3.2 Điểm khác biệt 65

4.3.2.1 Về trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc 65

4.3.2.2 Về mức độ tin tưởng của BCKT 65

4.3.2.3 Về vai trò của BCKT 66

4.3.2.4 Về khả năng KTV có thể phát hiện gian lận trên BCTC 66

4.3.2.5 Về ý nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trong BCKT 66

4.3.2.6 Về mức trọng yếu được sử dụng trong BCKT 67

Trang 7

5.2 Các kiến nghị nhằm giảm thiểu sự khác biệt cảm nhận thông điệptừ

BCKT tại Việt Nam 70

5.2.1 Các kiến nghị đối với việc nâng cao nhận thức của người sử dụng BCKT về hoạt động kiểm toán 70

5.2.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp và chuẩn mực kiểm toán 71

5.2.3 Nâng cao năng lực của KTV và công ty kiểm toán 72

5.2.4 Giải thích các thuật ngữ sử dụng trên BCKT 73

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 74

5.3.1 Hạn chế của đề tài 74

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 76

KẾT LUẬN 77

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

VSA: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

CMKiT: Chuẩn mực kiểm toán

ISA: Chuẩn mực kiểm toán thế giới

VACPA Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam AICPA Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Kết quả tỷ lệ phản hồi theo từng nhóm đối tượng 41

Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu khảo sát 43 Bảng 4.2: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc đơn vị đươc kiểm toán 44 Bảng 4.3: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm về trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán 45 Bảng 4.4: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán 46 Bảng 4.5: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về mức độ tin tưởng của BCKT 48 Bảng 4.6: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm về mức độ tin tưởng của BCKT 49 Bảng 4.7: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về mức độ tin tưởng của BCKT .49 Bảng 4.8: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về vai trò của BCKT 50 Bảng 4.9: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm về vai trò của BCKT 51 Bảng 4.10: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về vai trò của BCKT 51 Bảng 4.11: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về khả năng KTV có thể phát hiện gian lận 52 Bảng 4.12: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm

về khả năng KTV có thể phát hiện gian lận 52 Bảng 4.13: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về khả năng KTV có thể phát hiện gian lận 53

Trang 10

Bảng 4.14: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về ý nghĩa của các thuật ngữ dùng

trong BCKT 54

Bảng 4.15: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm

về ý nghĩa của các thuật ngữ dùng trong BCKT 55

Bảng 4.16: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về ý nghĩa

của các thuật ngữ dùng trong BCKT 56

Bảng 4.17: Trình bày thống kê mô tả cảm nhận về mức trọng yếu trong BCKT 57

Bảng 4.18: Trình bày phân tích ANOVA về sự khác biệt cảm nhận giữa các nhóm

về mức trọng yếu trong BCKT 57

Bảng 4.19: Trình bày phân tích post – hoc LSD sự khác biệt cảm nhận về mức trọng

yếu trong BCKT 58

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993) 27 Hình 2.2: Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của Al-Alimi & Katdare (2013) 28 Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu 33

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập quốc tế ngày một cao đòi hỏi Việt Nam cần có sự minh bạch thông tin tài chính của các cơ sở kinh tế, mà chủ yếu là các doanh nghiệp Đây là điều kiện để hoạt động kiểm toán độc lập ngày càng thể hiện rõ vai trò lớn mạnh của mình Hoạt động này cung cấp cho người sử dụng kết quả kiểm toán những hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp thông qua BCKT Hay nói cách khác giá trị của BCKT không chỉ dừng lại ở những con số có tính tương đối chính xác của doanh nghiệp mà một vai trò quan trọng là xây dựng được lòng tin cho người sử dụng BCKT, trong khi không phải những ngành nghề khác có thể làm được Có thể nói BCKT là cầu nối giữa doanh nghiệp và những người có lợi ích liên quan đến việc sử dụng BCKT trong việc ra quyết định đầu tư hoặc cho vay BCKT giúp cho thông tin tài chính trở nên minh bạch hơn, đảm bảo tính trung thực và hợp lý hơn từ đó tạo dựng được niềm tin của công chúng hơn

Trên thế giới, BCKT là phương tiện nhằm truyền tải những phát hiện mà KTV thực hiện được trong suốt quá trình hoạt động kiểm toán đơn vị KTV có nhiệm vụ giúp cho người sử dụng hiểu được một cuộc kiểm toán đã được tiến hành như thế nào và kết quả của nó phục vụ cho việc ra quyết định thông qua hình thức là BCKT Những thông tin được trình bày trên BCKT luôn chứa đựng những ý nghĩa để thể hiện kết quả công việc của KTV Những thông tin đó mang lại những thông tin hữu ích và được coi là những thông điệp của BCKT Tuy nhiên, một BCKT phục vụ cho nhiều người sử dụng cùng với sự ngắn gọn, theo một khuôn mẫu và có nhiều thuật ngữmang tính kỹ thuật của chuyên ngành kiểm toán, đã khiếncông chúng đặt ra câu hỏi là liệu rằng KTV và những người sử dụng BCKT có cùng một cách hiểu về những thông điệp truyền tải qua BCKT hay không (Vũ Hữu Đức, 2012) Đây là nguyên nhân chính của việc tồn tại khoảng cách thông tin (communication gap) hay

Trang 13

sự khác biệt về cảm nhận những thông điệp từ BCKT giữa người sử dụng thông tin

và người cung cấp thông tin là các KTV

Sự khác biệt về cảm nhận thông điệp từ BCKT hay nói cách khác là khoảng cách thông tin trên BCKT là một thành phần cấu tạo của khoảng cách kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán nói chung cũng như sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT nói riêng Từ những phát hiện đầu tiên về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT: những thông điệp của kiểm toán muốn truyền tải thông qua BCKT có thể sẽ không được nhận thức đầy đủ bởi người sử dụng BCKT Ngoài ra, họ tin rằng càng nhận thức không đầy đủ thì việc ra quyết định của người sử dụng cũng khác từ những thông điệp được nhận thức đầy đủ hơn (Libby, 1979, p.99), hay khái niệm về khoảng cách thông tin trên BCKT là sự khác biệt giữa những gì người sử dụng mong muốn và hiểu so với những gì được truyền đạt bởi KTV trên BCKT (Mock và cộng sự, 2013) Sau đó các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT được ra đời gắn liền với sự phát triển của BCKT trên thế giới Các nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt cảm nhận thông điệp của BCKT giữa KTV và người sử dụng BCKT về: trách nhiệm của KTV và Ban giám đốc đơn

vị (Best và cộng sự, 2001; Gold và cộng sự, 2009…), sự khác nhau về vai trò và mức độ tin tưởng của BCKT (Asare và cộng sự, 2009), sự khác nhau về việc giải thích các thuật ngữ được sử dụng trên BCKT (Asare và cộng sự, 2009; Muylder và cộng sự, 2012)

Suốt nhiều thập kỷ qua trên thế giới đã xảy ra nhiều sự kiện lớn liên quan đến tài chính,kiểm toán như vụ Enron, Worldcom…Ở Việt Nam gần đây điển hình là trường hợp của Bông Bạch Tuyết cho thấy thông tin giữa KTV và người sử dụng đã không ngăn chặn được các vụ kiện này Tuy nhiên, các nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT hay khoảng cách thông tin trên BCKT chưa nhiều tại Việt Nam Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào khoảng cách trách nhiệm của KTV ( Nguyễn Quốc Kịp, 2015; Ngô Thị Thúy Quỳnh, 2015; Nguyễn Ngọc Khánh Dung, 2016) Nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Tạ Duy Khánh (2015) kế thừa từ

Trang 14

nghiên cứu của Asare và cộng sự (2009) đã chứng minh có tồn tại sự khác biệt cảm nhận về các thông điệp trên BCKT giữa KTV và người sử dụng BCKT ở một số nội dung như: trách nhiệm KTV và nhà quản lý; vai trò của BCKT; khả năng KTV phát hiện gian lận; ý nghĩa các thuật ngữ sử dụng trong BCKT Tuy nhiên, tác giả nhận thấy sự khác biệt này chưa được kiểm chứng ở đối tượng là đơn vị được kiểm toán tại Việt Nam Ngoài ra, việc hiểu và sử dụng thông tin của hoạt động kiểm toán cần

rõ ràng và hiệu quả hơn sẽ giúp đơn vị được kiểm toán, các nhà đầu tư và đối tượng

sử dụng BCKT về BCTC khác sẽ có nhiều thông tin hơn để quyết định, tránh được những sai lầm, hạn chế tổn thất lợi ích Việc hiểu sai lệch các thông tin trên BCKT

về BCTC có thể dẫn đến sự đầu tư không như dự kiến, phân phối nguồn lực không hợp lý làm mất niềm tin vào chức năng kiểm toán Vì vậy tác giả đã chọn đề tài

“Nghiên cứu sự khác biệt về cảm nhận thông điệp từ Báo cáo kiểm toán giữa kiểm toán viên, người sử dụng Báo cáo kiểm toán và đơn vị được kiểm toán tại Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng đến mục tiêu kiểm định sự tồn tại khác biệt đến cảm nhận về thông điệp từ BCKT và các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt này trong hoạt động kiểm toán BCTC tại Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:

 Có tồn tại sự khác biệt cảm nhận thông điệptừ BCKT trong hoạt động kiểm toán BCTC tại Việt Nam giữa KTV, người sử dụng BCKT và đơn vị được kiểm toán hay không?

 Các yếu tố nào tác động đến sự khác biệt cảm nhận thông điệptừ BCKT trong hoạt động kiểm toán BCTC tại Việt Nam giữa KTV, người sử dụng BCKT và đơn vị được kiểm toán?

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là những cảm nhận về thông điệp được truyền tải từ BCKT của KTV, người sử dụng BCKT và đơn vị được kiểm toán

Phạm vi nghiên cứu

 Luận văn tập trung vào kiểm toán độc lập kiểm toán BCTC

 Không gian: Bảng khảo sát thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số doanh nghiệp hoạt động kiểm toán và các doanh nghiệp được kiểm toán tại tỉnh Bình Dương

 Thời gian: Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 06/2017 đến tháng 10/2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận:Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận định lượng, theo phương pháp luận nghiên cứu kiểm định lý thuyết từ nghiên cứu của Asare và cộng sự (2009) để xác định nội dung và cách thức đo lường sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT, từ đó tiến hành khảo sát và đo lường thực trạng tại Việt Nam

Phương pháp thu thập dữ liệu: Thực hiện thông qua khảo sát KTV, người sử dụng BCKT và đơn vị được kiểm toán thông qua việc phỏng vấn trực tiếp qua bảng câu hỏi khảo sát và gửi phiếu khảo sát qua mail

Bảng câu hỏi khảo sát được kế thừa từ nghiên cứu của Best và cộng sự (2001); Gold

và cộng sự (2009); Muylder và cộng sự (2012); Porter (2012); Asare và cộng sự (2009), các nghiên cứu trên đều được thực hiện tại những nước có nền kinh tế phát triển mạnh, cùng với hoạt động kiểm toán đã có mặt từ lâu nên bảng câu hỏi sự điều chỉnh cho phù hợp với nền kinh tế cũng như hoạt động ngành kiểm toán đang phát triển tại Việt Nam

Đối tượng khảo sát gồm ba nhóm chính:Nhóm thứ nhất là những người có kiến thức chuyên môn về kiểm toán và là người trực tiếp thực hiện trong cuộc kiểm toán như: KTV chính, chuyên viên kiểm toán và trợ lý kiểm toán;nhóm thứ hai là những

Trang 16

người sử dụng BCTC đã được kiểm toán có lợi ích liên quan như đánh giá thông tin tài chính mục đích cho vay, đánh giá tình hình hoạt động để tham gia đầu tư hoặc dựa trên BCKT có sự đảm bảo của công ty kiểm toán khu vực tài chính công như

cơ quan thuế có thể xác định nghĩa vụ thuế của đơn vị được kiểm toán hoặc đánh giá tình hình hoạt động qua từng năm của doanh nghiệp để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế Những đối tượng thuộc nhóm khảo sát trên đều là những người

có hiểu qua về kiến thức kế toán hoặc thường xuyên đọc BCKT nên có kiến thức nhất định trong việc hiểu các ý nghĩa trên BCKT vì thế có thể đảm bảo độ tin cậy của kết quả khảo sát, các đối tượng có thể như các nhân viên ngân hàng, các nhân viên làm việc ở các Công ty Chứng khoán, nhân viên cơ quan Thuế; nhóm thức ba

là những người thuộc đơn vị được kiểm toán,đây là những đơn vị mà KTV đã thực hiện hoạt động kiểm toán độc lập tại đơn vị, có kiến thức về kế toán và là người chuẩn bị BCTC để KTV kiểm toán như kế toán, ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán,… Các đối tượng được tác giả lựa chọn trong việc khảo sát có mục đích sử dụng BCKT khác nhau nhưng các đối tượng đều là những người có kiến thức về kế toán kiểm toán, là những người tiếp xúc nhiều với BCKT và hiểu được công việc kiểm toán nên các đối tượng có sự suy xét và hiểu các ý nghĩa trên BCKT nhất định, tuy nhiên bản thân mỗi đối tượng đã có mục đích sử dụng BCKT khác nhau vì thế đây là cơ sở để tác giả khảo sát với từng nhóm khác nhau như trên, cách cảm nhận thông điệp trên BCKT liệu rằng có khác nhau không và khác ở những vấn đề nào Phương pháp chọn mẫu phi xác suất

6 Phương pháp phân tích dữ liệu

Về mô tả mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm mô tả tổng quát đặc trưng mẫu khảo sát về thông tin liên quan đến thông tin nhân khẩu học, bao gồm: thông tin cá nhân về nghề nghiệp, đơn vị công tác và số năm kinh nghiệm

Về kiểm định tổng thể: Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được tiến hành xử lý và phân tích bằng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố ANOVA để xác định

có sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT ở các nhóm khảo sát và sau đó từ sự

Trang 17

khác biệt đó tác giả tiếp tục sử dụng phân tích sâu post – hoc LSD để xác định sự

khác biệt giữa các nhóm với nhau

7 Đóng góp của đề tài

Về mặt lý thuyết: Các nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT

được thực hiện chủ yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển như các nước phương Tây và các nước Mỹ, Anh, Úc,… Do đó, nghiên cứu về vấn đề này ở các nước châu

Á đang phát triển như Việt Nam là hữu ích Đây là nghiên cứu lặp lại, dựa trên mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu có trước vì thế nghiên cứu này bổ sung bằng chứng thực nghiệm chứng minh có tồn tại sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT Tuy nhiên nghiên cứu này được mở rộng hơn so với các nghiên cứu khác vì

có thêm đối tượng khảo sát là nhóm đối tượng đơn vị được kiểm toán

Về mặt thực tiễn: Các nghiên cứu trong nước về chủ đề sự khác biệt cảm nhận

thông điệp từ BCKT còn khá ít, đặc biệt là sau khi CMKiT mới 2014 ra đời Vì vậy, thông qua nghiên cứu này tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực hiện nghiên cứu để đưa ra kết luận tồn tại sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT và các nhân tố ảnh hưởng đến nó từ đó đề ra các kiến nghị nhằm giảm thiểu sự khác biệt này, có ý nghĩa quan trọng với nhóm người sử dụng BCTC đã được kiểm toán nhằm đưa vai trò của BCKT và hoạt động kiểm toán về đúng vị trí của nó, làm gia tăng niềm tin và sự hiểu biết của công chúng về nghề nghiệp kiểm toán

8 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu theo 5 chương

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trang 18

Chương 5: Kiến nghị và kết luận

Trang 19

Chương 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương này sẽ trình bày tổng quan bức tranh tổng thể về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán cũng như lý thuyết liên quan đến cảm nhận thông điệp từ BCKT Sau đó tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước Vì hạn chế về thời gian và kiến thức, tác giả sẽ trình bày một cách tương đối các nghiên cứu gần nhất và từ đó kết luận chung về vấn đề cần nghiên cứu

1.1 Tổng quan nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán và sự

khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT

1.1.1 Tổng quát các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán

BCKT cung cấp cho người sử dụng những thông tin đáng tin cậy và là công cụ hỗ trợ cho việc ra quyết định của nhà đầu tư Một BCKT chuẩn và hoạt động kiểm toán chuyên nghiệp rõ ràng có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo rằng không có bất kỳ khoảng cách kỳ vọng nào được tạo ra bởi KTV và những gì được hiểu của người sử dụng BCKT, vì khoảng cách này có thể làm giảm đi sự tin cậy vào hoạt động kiểm toán, dẫn tới các quyết định sai lầm hoặc gây ra những vụ kiện tụng không đáng có Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán điển hình như: Liggio (1974); Cohen (1978);Guy và Sullivan (1988); AICPA (1993); Monroe & Woodliff (1993); Porter và cộng sự (1993, 2012) Theo Liggio (1974) nghiên cứu được coi là khái niệm đầu tiên về

“khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán”, thể hiện sự khác biệt giữa hai mức độ kỳ vọng về hiệu quả công việc kiểm toán giữa KTV và người sử dụng BCTC Ủy ban Cohen (1978) đưa ra khái niệm là sự kỳ vọng hoặc yêu cầu của công chúng về những gì KTV có thể hoàn thành một cách hợp lý và phù hợp.Guy và Sullivan (1988) cho rằng khoảng cách kỳ vọng là sự khác biệt những gì công chúng và người

sử dụng BCTC tin rằng kế toán và KTV phải chịu trách nhiệm những gì mà bản thân họ phải chịu trách nhiệm.Hiệp hội Kế toán viên công chứng Mỹ - AICPA (1993) đề cập đến khái niệm dựa trên sự khác biệt những gì công chúng và người sử dụng BCTC tin vào trách nhiệm của KTV và bản thân KTV tin vào trách nhiệm của

Trang 20

họ.Porter (1993) định nghĩa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là khoảng cách giữa sự

kỳ vọng của xã hội về KTV và hoạt động thực tế của KTV.Monroe và Woodliff (1994) cho rằng khái niệm liên quan đến niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ, trách nhiệm của KTV đối với gian lận, sai sót và những thông tin trong BCTC Các nghiên cứu chưa có sự thống nhất về khái niệm của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Tuy nhiên các nghiên cứu đều thống nhất nhận định rằng khoảng cách kỳ vọng có tồn tại trong lĩnh vực kiểm toán, thể hiện ở sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán và kết quả công việc mà KTV thực hiện Khoảng cách này tồn tại liên quan đến rất nhiều vấn đề như vai trò và trách nhiệm của KTV, mục tiêu, chức năng kiểm toán, mức độ tin cậy, tính hữu ích

của BCKT và thông điệp truyền tải trên BCKT

Từ việc xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán các nghiên cứu cũng có chung mục tiêu cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Lee (1970), Humphrey và cộng sự (1993) khẳng định khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán có liên quan đến vai trò, chức năng và mục tiêu kiểm toán tại Anh Monroe & Woodliff (1994), Best (2001), Schelluch & Gay (2006) khẳng định khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán tồn tại liên quan đến mức độ đảm bảo, tin cậy của hoạt động kiểm toán và mức độ hữu ích của BCKT hay liên quan đến trách nhiệm của KTV qua các nghiên cứu Sidani và cộng sự (2007), Porter và cộng sự (2012)

Cho đến hiện tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đã được rất nhiều nghiên cứu tập trung thực hiện trên nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả nước phát triển

và đang phát triển Các nghiên cứu sau này có sự kế thừa của những nghiên cứu trước cũng như có sự phát hiện các nhân tố mới ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Các nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung khung lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán cũng như có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động kiểm toán

Trang 21

1.1.2 Tổng quát các nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ

BCKT

Các nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT chủ yếu được các tác giả gọi chung là khoảng cách thông tin và được coi là một thành phần của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Thực tế cung cấp bằng chứng chứng minh có sự tồn tại khoảng cách thông tin và điều này được coi là một trong những nguyên nhân tạo ra khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán (AICPA/IAASB 2007) Khoảng cách thông tin được hiểu như là sự khác biệt về cảm nhận thông điệp được truyền tải trên BCKT giữa KTV và người sử dụng BCKT Cùng với những nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng khái niệm, chứng minh sự tồn tại của khoảng cách

kỳ vọng trong kiểm toán, các nghiên cứu đầu tiên về khoảng cách thông tin trên BCKT cũng đã hình thành nhiều trên thế giới Tuy chưa có định nghĩa rõ ràng về khoảng cách thông tin nhưng có thể hiểu các nghiên cứu đều nhận thấy sự tồn tại khác biệt về suy nghĩ và cảm nhận của các nhóm đối tượng đối với những thông tin trên BCKT Có thể kể đến nghiên cứu củaAICPA chỉ định Ủy ban Cohen xem xét

có tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Hoa Kỳ hay không (Commission

on Auditors Responsibilities [CAR], 1978) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong BCKT dạng ngắn BCKT dạng ngắn đã tạo

ra sự hiểu lầm về trách nhiệm của KTV và nhà quản lý do không quy định rõ được mục tiêu và hạn chế của hoạt động kiểm toán và việc sử dụng các thuật ngữ dễ bị hiểu sai Nghiên cứu này cũng đề xuất sự thay đổi hoặc xóa bỏ những thuật ngữ khó hiểu này Libby (1979) dựa trên mười mẫu BCKT khác nhau trong nghiên cứu để so sánh giữa những KTV và các nhân viên tín dụng ngân hàng và nhận ra sự lo ngại khi không tiếp nhận được các thông tin truyền thông giữa KTV và người dùng một cách đầy đủ và điều này là chưa thể lý giải được Bailey và cộng sự (1983) kiểm tra

sự khác biệt trong nhận thức về các thông điệp truyền tải trên BCKT khi thay đổi từ ngữ diễn giải trên BCKT và mức độ hiểu khác nhau của người sử dụng Kết quả cho thấy sự thay đổi trong từ ngữ diễn giải trên BCKT đã tạo nên nhận thức khác nhau

về các thông điệp truyền tải từ BCKT Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức

Trang 22

độ hiểu biết của người dùng càng nhiều thì khoảng cách về trách nhiệm với KTV càng ít hơn Monroe và Woodliff (1993) nghiên cứu về sự tác động của giáo dục lên

sự tin tưởng về các thông điệp được truyền tải từ BCKT Đối tượng khảo sát là các sinh viên kế toán chưa tốt nghiệp đại học, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giáo dục có ý nghĩa tác động đến sự tin tưởng của những sinh viên và đó là nguyên nhân của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Vào năm 1994, hai nhà nghiên cứu trên cũng tìm ra được rằng sự thay đổi báo cáo dạng dài có ý nghĩa tác động đến sự tin tưởng

và giảm thiểu khoảng cách ở một số khía cạnh Tuy nhiên, xuất hiện một số sự khác nhau về nhận thức rõ ràng giữa các đối tượng khảo sát

Có thể khẳng định các nghiên cứu về cảm nhận thông điệp từ BCKT đã được hình thành từ giai đoạn khi mới bắt đầu xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Tuy ban đầu là những nghiên cứu cơ bản được lồng ghép trong những nghiên cứu xác định sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán nhưng đây

là những bước đi đầu tiên và làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này Tiếp theo tác giả sẽ tổng hợp những nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt cảm nhận thông điệp

từ BCKT gần đây nhất trong và ngoài nước mà đề tài có sự tham khảo và kế thừa từ những nghiên cứu này

1.1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Best và cộng sự (2001) thực hiện nghiên cứu để kiểm tra sự tồn tại khoảng cách

thông tin ở BCKT dạng ngắn tại Singapore bằng việc xem xét sự khác biệt trong kỳ vọng của người sử dụng BCKT và nhận thức của KTV về vai trò của kiểm toán Đối tượng khảo sát là 35 KTV, 26 nhân viên ngân hàng và 36 nhà đầu tư Kết quả cho thấy khoảng cách thông tin có tồn tại và có liên quan đến trách nhiệm của KTV

về các vấn đề: KTV chịu trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận; KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán; KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận; KTV thực hiện đánh giá trong việc lựa chọn thủ tục kiểm toán; KTV chịu trách nhiệm về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; KTV đồng

ý với các chính sách kế toán được sử dụng trong BCTC; BCTC phản ánh trung thực

Trang 23

và hợp lý; đơn vị được kiểm toán không có gian lận; BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn vị Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách thông tin tồn tại ở BCKT dạng ngắn, nguyên nhân được hình thành là

do sự khác biệt trong nhận thức giữa KTV và người sử dụng BCKT về các thuật ngữ được sử dụng trên BCKT Đề nghị của nhóm nghiên cứu nhằm làm giảm khoảng cách thông tin trên BCKT là việc chuyển sang sử dụng BCKT dạng dài, hạn chế sử dụng các thuật ngữ gây khó hiểu và bổ sung đoạn mô tả đầy đủ hơn về bản chất, vai trò và chức năng của kiểm toán

Gold và cộng sự (2009) nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu nhận thức của người

sử dụng BCTC về các vấn đề như trách nhiệm của nhà quản lý, trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán Mục đích chính của nghiên cứu là tìm ra giải pháp có thể rút ngắn khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán dưới dạng BCKT theo quy định của ISA 700 được sửa đổi Khảo sát được thực hiện trên các đối tượng là các KTV có kinh nghiệm được chọn từ các công ty kiểm toán Big4 và các công ty không thuộc nhóm Big4, các nhà phân tích tài chính được chọn ngẫu nhiên từ dữ liệu Bloomberg và các sinh viên được chọn từ đại học Erasmus Khảo sát được thực hiện hai lần: lần một là đối với các đối tượng là người Hà Lan, lần hai được thực hiện đối với các đối tượng là người Đức Mẫu bao gồm 205 KTV người Đức và 58 người Hà Lan, 62 nhà phân tích người Đức và 20 người Hà Lan, 109 sinh viên người Đức và 46 sinh viên người Hà Lan Khảo sát được thực hiện dưới hình thức Web – based Người tham gia sẽ được yêu cầu đọc một mô tả ngắn về thông tin của công ty, tóm tắt các BCTC của công ty và một BCKT Một trong số các nhóm nhận được BCKT đầy đủ theo ISA 700 sửa đổi, trong khi các nhóm khác chỉ nhận phần “ý kiến kiểm toán” của BCKT Sau đó người tham gia được yêu cầu trả lời một loạt các câu hỏi liên quan đến hai vấn đề sau: Trách nhiệm của KTV và trách nhiệm nhà quản lý công ty trong việc lập BCTC, việc phát hiện và ngăn ngừa gian lận, và trách nhiệm liên quan đến hoạt động kiểm soát nội bộ của công ty; những gian lận, nhầm lẫn và độ tin cậy của BCTC Nghiên cứu nhận thấy rằng người sử dụng BCTC đã quy trách nhiệm lớn hơn về cho KTV Mặc dù những từ

Trang 24

ngữ được sử dụng trong BCKT theo ISA 700 được sửa đổi và các giải thích chi tiết của nó về trách nhiệm của KTV, công việc và phạm vi của cuộc kiểm toán, các tác giả đã không tìm thấy giải pháp để rút ngắn khoảng cách kỳ vọng Kết luận của tác giả về các giải thích liên quan đến trách nhiệm của Ban giám đốc, các công việc, phạm vi kiểm toán trên BCKT theo ISA 700 được sửa đổi thì không có hiệu quả trong việc rút ngắn khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Tác giả cũng đề nghị những giải thích cần được trình bày rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn và đầy đủ hơn để tránh những cách hiểu khác nhau giữa các đối tượng sử dụng

Asare và cộng sự (2009) đánh giá sự hiểu biết thông điệp từ BCKT giữa hai nhóm

là KTV và người sử dụng BCKT Nghiên cứu được tiến hành khảo sát trên hai nhóm đối tượng là 78 KTV và người sử dụng BCKT là 33 nhân viên tín dụng ngân hàng và 43 nhà đầu tư liên quan đến các thông điệp được truyền tải trên BCKT theo SAS 58 và hiểu biết về việc giải thích các thuật ngữ sử dụng trong BCKT Các đối tượng được hỏi về những câu hỏi liên quan đến mức độ quan trọng, mức độ đáng tin cậy hay khả năng phát hiện gian lận của BCKT, cụ thể như: Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc ra quyết định đầu tư/cho vay; mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc đánh giá BCTC không có gian lận trọng yếu; mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty được quản lý tốt; mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo về khả năng đầu tư vào công ty là tốt; mức độ đáng tin cậy

mà BCKT chuẩn đảm bảo việc công ty đạt được các chiến lược của công ty; khả năng KTV phát hiện được ra các gian lận trọng yếu trên BCTC Nghiên cứu cũng thu thập ý kiến của người đọc về sự nhận thức của họ về ý nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trên BCKT như: “sai sót trọng yếu”, “đảm bảo hợp lý”, “thử nghiệm

cơ bản”, “cơ sở chọn mẫu”, “trình bày hợp lý” Kết quả nghiên cứu cho thấy người

sử dụng coi BCKT có tầm quan trọng trong việc đánh giá rủi ro gian lận được tìm thấy trong BCTC của đơn vị Ngoài ra BCKT giúp người sử dụng có được một sự tin tưởng cao hơn trong hoạt động quản lý công ty, tính hợp lý các khoản đầu tư và hoàn thành các mục tiêu chiến lược hơn KTV Kết quả cũng cho thấy có sự bất đồng về việc giải thích các thuật ngữ trong BCKT giữa các nhóm khảo sát

Trang 25

Muylder và cộng sự (2012) kiểm tra tính hiệu quả của BCKT theo ISA 700 và một

khóa học kiểm toán đối với 159 sinh viên kinh tế trường Đại học Tự do Brussel (Bỉ) Các sinh viên được chia thành 3 nhóm nhằm tìm ra giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Tất cả các sinh viên đều hoàn thành một khóa học về

kế toán nhưng chỉ một số người trong nhóm được đào tạo về kiểm toán Các nhóm được chia gồm: Nhóm thứ nhất: gồm 42 sinh viên đã hoàn thành khóa học kế toán được yêu cầu nhận một BCKT theo ISA 700 Nhóm thứ hai: gồm 43 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán và được yêu cầu nhận một BCKT theo ISA 700 nhưng có giải thích rõ các thuật ngữ như “đảm bảo hợp lý”, “gian lận”, “hoạt động liên tục” Nhóm thứ ba: gồm 74 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán và kiểm toán và không được yêu cầu phải đọc bất kỳ loại báo cáo nào Các đối tượng tham gia được yêu cầu trả lời các câu hỏi có liên quan đến nhận thức của họ về: Trách nhiệm của KTV; mức độ đảm bảo mà KTV cung cấp; trách nhiệm của KTV đối với gian lận và vấn đề hoạt động liên tục; cơ sở chọn mẫu kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giải thích kỹ hơn các thuật ngữ trong BCKT dường như không phải là một cách hiệu quả để truyền đạt trách nhiệm của KTV và những hạn chế vốn có của kiểm toán Tuy nhiên, nó là giải pháp giúp cải thiện sự hiểu biết của người sử dụng về một số khái niệm như phát hiện gian lận, đảm bảo hợp lý và cơ sở chọn mẫu kiểm toán Những người có kiến thức về kiểm toán có những hiểu biết đúng nhất về chức năng và trách nhiệm của KTV Những người tham gia được đào tạo về kiểm toán cũng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của sự đảm bảo hợp lý và kết quả của thủ tục lấy mẫu kiểm toán

Porter và cộng sự (2012) đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán có thực sự tồn tại ở Anh và New Zealand hay không Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu nhận thức của người sử dụng BCTC

về các nội dung trên BCKT Porter và cộng sự(2009, 187) nhận thấy rằng nội dung của BCKT đã không tạo nên sự khác biệt của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của Ban giám đốc, trách nhiệm của KTV và bản chất của quy trình kiểm toán Một phần của nghiên cứu người trả lời đươc yêu cầu để xác định các mục quan trọng

Trang 26

nhất trên BCKT gồm những mục: Ý kiến “trung thực và hợp lý” của KTV; báo cáo của Ban giám đốc và trách nhiệm của KTV đối với BCTC; nhận dạng công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán; ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần và lý do Dựa trên kết quả nghiên cứu, Porter và cộng sự cũng đề xuất một số ý kiến nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng làm cho BCKT có giá trị hơn cho người sử dụng Tác giả đề xuất đoạn văn diễn tả ý kiến của KTV sẽ bắt đầu cho BCKT để tăng sự tập trung của người đọc vào ý kiến kiểm toán Tác giả đề nghị BCKT phải đảm bảo các

từ ngữ được sử dụng trong báo cáo phải rõ ràng, đơn giản thuận tiện cho người đọc Tác giả cũng đề nghị một vài đoạn giải thích cho các từ ngữ mang tính chất tiêu chuẩn, chuyên ngành cần được tham chiếu để người sử dụng có thể tham khảo khi cần

1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Sự phát triển kinh tế Việt Nam những năm gần đây đặt ra một điều kiện kéo theo sự phát triển BCKT nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Tuy nhiên, Việt Nam không nằm ngoài khó khăn khi gặp phải những hạn chế của hoạt động kiểm toán biểu hiện bằng những vụ kiện liên quan đến kiểm toán Vì vậy việc nâng cao chất lượng thông tin trên BCKT có ý nghĩa rất quan trọng và được quan tâm ở Việt Nam Cùng với những nghiên cứu trên thế giới, những nghiên cứu trong nước về đề tài sự cảm nhận thông điệp từ BCKT hay khoảng cách thông tin trên BCKT cũng được ưu tiên tuy nhiên số lượng vẫn chưa nhiều so với yêu cầu của công chúng

Võ Thị Như Nguyệt (2010) với mục tiêu đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

về báo cáo kiểm toán và khoảng cách thông tin trên BCKT Tác giả tiến hành khảo sát trên 91 đối tượng khảo sát bằng các bảng câu hỏi kế thừa từ nghiên cứu của Asare (2012), bao gồm: 32 nhân viên ngân hàng, 41 nhà đầu tư chứng khoán và 18 KTV Trong nghiên cứu tác giả đã trình bày quá trình hình thành và phát triển chuẩn mực về BCKT trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đánh giá thực tế hiểu và

sử dụng BCKT ở Việt Nam của các đối tượng có liên quan đến BCKT để phân tích mức độ cần thiết phải cải thiện của CMKiT Việt Nam về BCKT Nghiên cứu cũng

Trang 27

tập trung về câu hỏi liệu có tồn tại khoảng cách thông tin trên BCKT hay không, liên quan đến ý nghĩa của BCKT và ý nghĩa của các thuật ngữ sử dụng trên BCKT Bằng việc phân tích dữ liệu theo phương pháp ANOVA và phân tích sâu Post – hoc LSD, tác giả đã chứng minh được có tồn tại khoảng cách thông tin trên BCKT Từ

đó đề xuất các kiến nghị của tác giả đưa ra để xem xét như: quy định pháp lý về xử phạt các vi phạm chuẩn mực, tách biệt trách nhiệm của Ban giám đốc và KTV, chỉnh sửa đoạn phạm vi kiểm toán, giải thích các thuật ngữ “đảm bảo hợp lý” trên VSA 700 và các quy định cụ thể cần hoàn thiện với từng loại ý kiến của KTV trên BCKT

Vũ Hữu Đức và Võ Thị Như Nguyệt (2012) với bài viết chủ đề nghiên cứu thực nghiệm khoảng cách thông tin tại Việt Nam đăng trên tạp chí khoa học Đại học Mở Tp.HCM Nghiên cứu đã cho thấy có sự tồn tại khoảng cách thông tin giữa xã hội

và thực tế kiểm toán trên hai vấn đề là: mục đích, hạn chế của kiểm toán và các khái niệm thuật ngữ được sử dụng trên 66 đối tượng bao gồm: 27 nhân viên tín dụng, 23 nhà đầu tư chứng khoán, 16 KTV Trong vấn đề hiểu biết về mục đích, hạn chế của kiểm toán, các khác biệt chủ yếu liên quan đến sự đánh giá mức độ hữu ích của BCKT đối với rủi ro kinh doanh, đặc biệt là các nhân viên tín dụng có khuynh hướng dựa nhiều vào BCKT cho việc đánh giá về vấn đề này, trong khi bản chất của BCKT là phục vụ cho việc đánh giá rủi ro thông tin Phát hiện này cho thấy nhu cầu đào tạo cho nhân viên tín dụng kiến thức kiểm toán Bên cạnh đó, các kết quả thực nghiệm cho thấy nhà đầu tư đánh giá thấp hơn so với KTV thể hiện sự suy giảm niềm tin vào kết quả kiểm toán Điều này gợi ý rằng ở Việt Nam, vấn đề bên cạnh việc tăng cường giải thích về mục đích của kiểm toán là cần phải lấy lại niềm tin của nhà đầu tư vào KTV sau các vụ tai tiếng về kế toán, kiểm toán vừa qua Trong vấn đề hiểu biết về các khái niệm và thuật ngữ chuyên môn sử dụng trên BCKT, kết quả thực nghiệm cho thấy tồn tại khác biệt đáng kể giữa KTV và cả hai nhóm đối tượng sử dụng (ngân hàng và nhà đầu tư) chung quanh khái niệm đảm bảo hợp lý, chọn mẫu và mức trọng yếu Những người sử dụng đánh giá thấp hơn

về mức đảm bảo hợp lý so với KTV thường chọn và tỷ lệ chọn mẫu mà họ cho rằng

Trang 28

nên làm cũng thấp hơn mức KTV đề xuất Trong vận dụng mức trọng yếu, các đối tượng dự kiến KTV áp dụng một mức trọng yếu cao hơn nhiều so với mức đề xuất của KTV Các kết quả trên gợi ý rằng cần giải thích rộng rãi hơn về các khái niệm

và thuật ngữ trên BCKT Nó cũng cho thấy vai trò quan trọng việc đào tạo cho những đối tượng sử dụng thông tin tài chính công ty

Phan Thanh Trúc (2013) đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam Nghiên cứu đã hệ thống hóa các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán so với khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán độc lập nhằm làm rõ các nội dung: chất lượng kiểm toán, khoảng cách mong đợi và mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán với khoảng cách mong đợi trong kiểm toán Tác giả khảo sát qua phần mềm Survey Monkey và gửi qua thư điện tử đối với 15 KTV, 10 kế toán và nhà quản lý, 10 nhân viên tín dụng ngân hàng và 60 sinh viên Kết quả của nghiên cứu cũng khẳng định

có sự tồn tại khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam về các mặt: trách nhiệm chung của KTV trong kiểm toán BCTC; định nghĩa về gian lận và trách nhiệm của KTV đối với các phát hiện và công bố gian lận; mục đích, ý nghĩa của BCKT; thuật ngữ thể hiện trên BCKT; ý nghĩa ý kiến của KTV trên BCKT Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu khoảng cách mong đợi và hoàn thiện chất lượng kiểm toán tại Việt Nam

Trịnh Thanh Thanh (2013) luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Nghiên cứu đã hệ thống hóa các đặc tính chất lượng của thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết Nghiên cứu được thực hiện khảo sát trên 60 đối tượng gồm 14 chuyên viên tín dụng, 16 chuyên viên phân tích và 30 cổ đông cá nhân Thông qua việc thực hiện phân tích, đánh giá dữ liệu khảo sát tác giả nhận định có nhiều yếu tố ảnh hưởng làm giảm thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam trong thời gian qua, tuy nhiên BCKT vẫn là nguồn thông tin góp phần

Trang 29

tăng mức độ tin cậy của BCTC của các doanh nghiệp niêm yết, tạo niềm tin cho nhà đầu tư để ra quyết định Do đó việc tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC là rất cần thiết Các giải pháp được đưa ra dựa trên phân tích các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT để đưa ra các giải pháp toàn diện

Tạ Duy Khánh (2015) thực hiện luận văn thạc sĩ về khoảng cách tin trên báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam Luận văn nghiên cứu về khoảng cách tin trên BCKT sau khi CMKiT 2014 của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực Tác giả đã tổng hợp các lý thuyết về BCKT, khoảng cách thông tin trên BCKT và các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước Thông qua việc lập bảng câu hỏi khảo sát, khảo sát trên 149 đối tượng bao gồm 40 KTV, 57 nhân viên tín dụng ngân hàng và 52 nhân viên môi giới chứng khoán, kết quả thu được sẽ được phân tích bằng phương pháp

mô tả thống kê và phân tích ANOVA, phân tích post – hoc (LSD) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT vẫn còn tồn tại ở bốn vấn

đề sau: trách nhiệm của KTV và nhà quản lý, vai trò của BCKT, khả năng KTV phát hiện gian lận và việc giải thích các thuật ngữ trên BCKT Không có sự khác biệt nhận thức của các nhóm đối tượng khảo sát về mức độ tin tưởng của BCKT Từ

đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm thu hẹp sự khác biệt cảm nhận thông điệp

từ BCKT tại Việt Nam như: thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền kiến thức về kiểm toán đối với người sử dụng BCKT, giúp họ hiểu rõ hơn về bản chất công việc kiểm toán và những thông tin trên BCKT; giải thích rõ trách nhiệm của Ban giám đốc và KTV trên BCKT; nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nhằm nâng cao niềm tin của người sử dụng vào KTV và nghề nghiệp kiểm toán; cuối cùng cần giải thích rõ các thuật ngữ trên BCKT

1.1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu

Sau khi tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước tác giả tổng kết các nội dung chính của các nghiên cứu và từ đó xác định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu trước

Trang 30

Theo thời gian và sự phát triển kinh tế của toàn thế giới các nghiên cứu về đề tài ngày càng được hoàn thiện và bổ sung nội dung, mang lại kết quả ý nghĩa cho người đọc Các nghiên cứu đều có cơ sở lý thuyết đầy đủ và sự cơ sở chứng minh cho kết quả nghiên cứu Những nội dung tập trung chủ yếu của các nghiên cứu trước đây như sau:

 Các nghiên cứu gắn liền với nền phát triển kinh tế tại những thời điểm khác nhau, khi nhu cầu sử dụng thông điệp trên BCKT mỗi thời điểm có phần khác nhau gắn liền với sự phát triển của nghề nghiệp kiểm toán, có ý nghĩa ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán

 Các nghiên cứu tập trung áp dụng lý thuyết khoảng cách thông tin trên BCKT để vận dụng vào đề tài Ban đầu các nghiên cứu không phân nhóm những yếu tố tác động đến khoảng cách thông tin trên BCKT mà chỉ khẳng định có sự tồn tại khoảng cách thông tin Các nghiên cứu sau đã khắc phục được hạn chế này và phân nhóm thành các yếu tố tác động đến đề tài nghiên cứu để có kết luận chính xác hơn

 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước hầu hết đều khẳng định có sự tồn tại

về sự khác biệt cảm nhận của các đối tượng về việc cảm nhận các thông điệp trên BCKT Các nghiên cứu sau kế thừa các nghiên cứu trước có tính mới hơn và có bằng chứng thuyết phục hơn

 Riêng các nghiên cứu trong nước chưa tập trung nhiều về đề tài sự khác biệt cảm nhận thông điệp trên BCKT, tập trung chủ yếu là việc xác định khoảng cách kỳ vọng về mặt trách nhiệm giữa KTV và đối tượng sử dụng BCKT Các tác giả tập trung chủ yếu trong việc tìm hiểu tình trạng chất lượng thông tin trên BCKT từ đó

đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin trên BCKT Các nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát trên các đối tượng là KTV và người sử dụng BCKT mà chưa tập trung khảo sát trên nhóm đối tượng là đơn vị được kiểm toán Rất ít các nghiên cứu được nghiên cứu sau khi CMKiT mới ban hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2014 vì vậy kết quả nghiên cứu chưa phù hợp với tình hình phát triển giai đoạn hiện nay

Trang 31

1.1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu

Sau khi xem xét các nội dung của các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, tác giả nhận định các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển Các nghiên cứu về đề tài này áp dụng vào các nền kinh tế đang phát triển là ít, đặc biệt

là Việt Nam sau khi có sự ban hành CMKiT mới Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào sự khác biệt cảm nhận của các đối tượng chủ yếu là trách nhiệm của KTV và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán Các nghiên cứu gần đây có sự đổi mới về nội dung nghiên cứu nhưng chưa tập trung vào một mô hình cụ thể có thể bao quát các nội dung về sự khác biệt cảm nhận thông điệp trên BCKT Đặc biệt sự khác biệt trong cảm nhận thông điệp về các thuật ngữ sử dụng trên BCKT chưa được nghiên cứu về nội dung ý nghĩa về ý kiến của KTV trên BCKT Mặt khác, đối tượng khảo sát chưa tập trung vào đơn vị được kiểm toán tại Việt Nam Đây là những khe hổng

mà tác giả xác định được và sẽ làm cơ sở để hoàn thiện trong bài nghiên cứu xác định có tồn tại sự khác biệt cảm nhận thông điệp trên BCKT hay không

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có rất nhiều nghiên cứu về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT thực hiện trên toàn thế giới với khái niệm chung là khoảng cách thông tin trên BCKT, mặc dù khác nhau về quan điểm do các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực và thời gian khác nhau nhưng tất cả chúng đều khẳng định có sự tồn tại khác biệt cảm nhận thông điệp trên BCKT hay khoảng cách thông tin trên BCKT

Trong chương này tác giả đã trình bày tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến BCKT và khoảng cách thông tin trên BCKT Đồng thời với mỗi nghiên cứu tác giả

đã khái quát hóa các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và Việt Nam về khoảng cách thông tin trên BCKT Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới đều gắn liền với nền kinh tế phát triển, sự phát triển của CMKiT và BCKT, mang tính lịch sử xuyên suốt từ quá khứ cho tới hiện tại Các nghiên cứu về sau càng mở rộng hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách thông tin trên BCKT Tuy nhiên các nghiên cứu có kết quả khác nhau, thậm chí kết quả mâu thuẫn lẫn nhau Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin trên BCKT tại Việt Nam chưa nhiều, tập trung vào chất lượng thông tin trên BCKT hoặc nghiên cứu kỳ vọng trong kiểm toán Nhược điểm tồn tại ở các nghiên cứu trước là chưa áp dụng một mô hình nghiên cứu cụ thể nào bao quát đầy đủ các vấn đề liên quan đến thông điệp trên BCKT Ngoài ra các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tập trung khảo sát sự khác biệt cảm nhận thông điệp

từ phía đơn vị được kiểm toán Từ những ưu và nhược điểm của các nghiên cứu trên, tác giả sẽ kế thừa của những nghiên cứu trước, cân nhắc xem xét vận dụng trong môi trường ở Việt Nam với nền kinh tế đang phát triển có đặc điểm và văn hóa khác biệt với các nước để hiệu chỉnh và xây dựng mô hình và cách thức nghiên cứu phù hợp

Trang 33

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này sẽ trình bày tổng quát về BCKT và sự tiến hóa của BCKT qua từng giai đoạn Tiếp đến, trình bày lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán, lý thuyết liên quan về sự khác biệt cảm nhận thông điệp từ BCKT

2.1.1 Khái quát về BCKT

Phần này tác giả sẽ khái quát hóa sự ra đời của BCKT và các giai đoạn phát triển của BCKT Từ đó, thấy được yêu cầu phải thay đổi BCKT theo từng giai đoạn đáp ứng với nhu cầu phát triển thế giới cũng như nhằm giảm thiểu sự khác biệt cảm nhận giữa người lập và người sử dụng BCKT

Sau khi có sự xuất hiện dư thừa của cải, yêu cầu của ngành kế toán càng được mở rộng và phức tạp hơn, vì thế công việc của kiểm toán phải kiểm tra lại các số liệu của kế toán càng ngày được quan tâm hơn Từ thế kỷ thứ XVI, việc xuất hiện công việc ghi nhận kế toán kép do nhà toán học người Ý Luca Paciola sáng tạo ra đã đặt một bước ngoặt cho ngành kế toán hơn hẳn ngành kiểm toán Trong khi đó, kiểm toán chỉ dừng ở mức độ đọc những số liệu cho bên độc lập chứng thực, BCKT chưa

ra đời Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp bùng nổ ở Châu Âu, việc xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là loại hình công ty cổ phần đã đặt ra yêu cầu người chủ sở hữu muốn kiểm soát lại những hoạt động của nhà quản lý và nhân viên của mình, vì thế họ cần một bên độc lập chính là những KTV

Trang 34

Năm 1844 ở Anh, Luật các Công ty Cổ phần yêu cầu kiểm toán là công việc bắt buộc và vào năm 1856, BCKT bắt buộc lần đầu được giới thiệu ở Bắc Mỹ BCKT

ra đời đã đánh dấu một bước phát triển của ngành nghề kiểm toán nhằm theo kịp sự phát triển nhanh chóng của kế toán BCKT đầu tiên được quy định về nội dung và ý kiến kiểm toán đối với KTV như sau: “KTV phải đưa ra một báo cáo cho các cổ đông về Bảng cân đối kế toán và các tài khoản, và trong mỗi báo cáo như vậy, KTV phải nêu rõ ý kiến của mình, liệu Bảng cân đối kế toán có là một Bảng cân đối kế toán đầy đủ và hợp lý theo quy định, và được soạn thảo đúng đắn để trình bày một cái nhìn đúng và chính xác về tình trạng của công ty, Ban Giám đốc có cung cấp các giải trình và thông tin bổ sung cho KTV khi được yêu cầu không và KTV có thỏa mãn với các giải trình này không.” (Murphy, 1988) Qua những giai đoạn phát triển

ý nghĩa của BCKT càng ngày được hoàn thiện Theo CMKiT Việt Nam số 700 định nghĩa: “ BCKT về BCTC là loại báo cáo bằng văn bản do KTV và công ty kiểm toán lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị

đã được kiểm toán” Lập BCKT là khâu cuối cùng của hoạt động kiểm toán nhằm thông báo về kết quả của cuộc kiểm toán, dựa trên những bằng chứng thu thập được, KTV sẽ soát xét, đánh giá những kết luận rút ra từ những bằng chứng về sự phù hợp của những thông tin định lượng trên BCTC cũng như sự tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành khi lập BCTC

2.1.1.1 Các giai đoạn phát triển của BCKT

Sự hình thành và phát triển của BCKT gần như cùng lúc với sự hình thành của hoạt động kiểm toán độc lập BCKT được cho xuất hiện lần đầu vào năm 1856, tuy nhiên

để trở nên như hiện nay, BCKT đã trải qua một quá trình tiến hóa hàng trăm năm và hiện nay vẫn tiếp tục biến đổi nhằm hoàn thiện với nhu cầu ngày càng cao của xã hội và ngành kế toán kiểm toán Sự phát triển này được trải qua các thời kỳ như sau:

a Thời kỳ sơ khai

Từ năm 1844, yêu cầu kiểm toán đối với BCTC đối với BCTC của các công ty được

đề xuất Hoạt động kiểm toán độc lập cũng đã được thực hiện tại nhiều quốc gia

Trang 35

như Hoa Kỳ, Canada…lúc này Trong thời kỳ này BCKT dưới dạng cực ngắn, rất đơn giản, gồm hai đoạn là ý kiến của KTV và thông tin khác BCTC chỉ gồm bảng cân đối kế toán nên nhiệm vụ chính của KTV là kiểm tra số liệu của sổ sách kế toán, phát hiện gian lận và miêu tả đúng khả năng trả nợ của doanh nghiệp trên BCKT

Sau đó một số luật được ban hành yêu cầu hoạt động kiểm toán là bắt buộc và nhiệm vụ của KTV tương tự như các quy định đã ban hành vào năm 1856 và 1897 như: Luật các công ty Anh năm 1900, Luật các công ty Ontario năm 1907, Luật Canada 1917.Tuy nhiên ngoài việc quy định đủ về kiểm toán thì nhiệm vụ của KTV chưa có luật nào đề cập đến quy định về những nội dung và hình thức của BCKT,

do đó dẫn đến hệ quả mỗi KTV hoặc mỗi công ty kiểm toán dùng ngôn ngữ riêng của mình thể hiện kết quả cuộc kiểm toán trên BCKT (Võ Thị Như Nguyệt, 2010) Ngoài ra, trong giai đoạn này cũng chưa ban hành hệ thống CMKiT nên chưa có mẫu BCKT chuẩn,các KTV và công ty kiểm toán tự tạo riêng BCKT.Vì thế, BCKT liên tục thay đổi vào những năm 1900, có khi những kết luận chỉ ngắn gọn như “đã kiểm toán và thấy chính xác” hoặc “đã kiểm tra và thấy chính xác” , “được lập chính xác”, “trình bày trung thực và chính xác”, “ghi nhận chính xác các điều kiện”

và “trình bày trung thực tình hình tài chính” KTV sẽ sử dụng những từ ngữ có lợi cho bản thân họ, hoặc những từ ngữ có ý nghĩa mơ hồ và dễ hiểu theo nhiều cách khác nhau như ở trên Tuy nhiên, cũng có trường hợp KTV chỉ cần ký tên lên Bảng cân đối kế toán để xác nhận hoàn thành nghĩa vụ của cuộc kiểm toán (Lee, 1970)

b Thời kỳ hình thành BCKT chuẩn hai đoạn

Những năm 1930 thế kỷ XX, thế giới chứng kiến những vụ kiện nổi bật liên quan đến kiểm toán BCTC tại một nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ Các vụ kiện này đã ảnh hưởng rất lớn đến nghề nghiệp kiểm toán lúc bấy giờ Một ví dụ điển hình là vụ kiện của Công ty Ultramares Corporation kiện công ty kiểm toán Touche, Niven & Company Ultramares cho rằng các KTV của Touche, Niven & Company đã có sự chểnh mảng khi thực hiện kiểm toán cho công ty Fred Stern & Company Chính

Trang 36

điều này khi Fred phá sản đã làm cho Ultramares không thể thu hồi được các khoản

nợ đã cho Fred vay và sau đó đã kiện Touche vì đã ký BCKT để thu hồi lại khoản cho vay này Trong khi trước đó, KTV không có bất kỳ nghĩa vụ gì với bên thứ ba,

vì thế kết quả của vụ kiện không chỉ ảnh hưởng ở Mỹ mà còn lan rộng ra các nước Anh, Canada và các nước khác khi kết luận của vụ kiện Ultramares được đưa ra làm

ý kiến tham chiếu (Tạ Duy Khánh, 2015) Vụ kiện này đã ảnh hưởng không ít đến nghề nghiệp kiểm toán khi việc lập BCKT đặc biệt là các từ ngữ, nội dung và hình thức cần được chú ý trong BCKT để quy định rõ ràng trách nhiệm của KTV và công

ty kiểm toán đối với bên thứ ba Lúc này khủng hoảng kinh tế năm 1929 diễn ra tại

Mỹ đã dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán của Hoa Kỳ Đây được coi là giai đoạn xuất hiện nhiều vụ kiện liên quan đến trách nhiệm pháp lý của KTV khiến cho họ phải nâng cao chất lượng kiểm toán,đồng thời phải thay đổi BCKT để tự bảo

vệ mình Việc thiếu một BCKT chuẩn đã gây khó khăn và nhầm lẫn cho người sử dụng Một báo cáo được chuẩn hóa có thể giúp người đọc dễ dàng nhận dạng những điểm bất thường hơn Hơn nữa, việc chuẩn hóa BCKT còn giúp hoàn thiện các từ ngữ trên báo cáo và quy định chặt chẽ về ý kiến của KTV Để khôi phục lại niềm tin của công chúng về nghề nghiệp kiểm toán, năm 1933 Quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật chứng khoán và năm 1934, BCKT chuẩn đã được ban hành dựa trên sự thống nhất giữa Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) và Sở Giao dịch chứng khoán New York Trong giai đoạn này yêu cầu bổ sung kiểm toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhưng vẫn chú trọng vào Bảng cân đối kế toán đã được kiểm toán

c Thời kỳ hình thành báo cáo chuẩn ba đoạn

Năm 1978, Ủy ban trách nhiệm KTV (thường được gọi là Ủy ban Cohen) của Hoa

Kỳ kết luận rằng có sự tồn tại khoảng cách giữa kỳ vọng hay mong đợi của công chúng và thực tế công việc của KTV Cũng theo Ủy ban này, rất nhiều người đọc đã hiểu không đúng về vai trò và trách nhiệm của KTV Trên cở sở đó, Ủy ban Cohen

đã đưa ra một số kiến nghị thay đổi trong BCKT để thu hẹp khoảng cách nói trên

Trang 37

Cùng lúc này các nghiên cứu chỉ ra rằng BCKT được hiểu khác nhau giữa người lập

và người đọc hay người đọc hiểu sai chức năng kiểm toán và trách nhiệm giữa KTV

và Ban Giám đốc (Lee, 1970) Người sử dụng không quan tâm nội dung bên trong BCKT mà chỉ quan tâm dấu phê chuẩn và họ coi BCKT là dấu hiệu đảm bảo các kết quả chính xác trên BCTC Kết quả của các kiến nghị từ các nghiên cứu này là cơ sở cho sự ra đời của BCKT chuẩn mới, ban hành theo Công bố về chuẩn mực kiểm toán số 58 (SAS 58) – “Reporting on Audited Financial Statements” (Báo cáo về BCTC đã được kiểm toán) của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ năm

1989 Chuẩn mực này đã giải thích rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của KTV cũng như bản chất và những hạn chế tiềm tàng của kiểm toán

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của chuẩn mực kiểm toán quốc tế về

BCKT theo IAS 700

Sự ra đời của CMKiT số 58 (SAS 58) được coi là bước phát triển trong lịch sử phát triển của BCKT Tuy nhiên, chuẩn mực này chỉ có hiệu lực tại Mỹ Vì thế để có một chuẩn mực chung quy định cho phạm vi toàn thế giới, năm 1983, Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) đã ban hành Hướng dẫn kiểm toán quốc tế (International Auditing Guidelines – IAG) số 13 về BCKT Mặc dù không đưa ra một báo cáo chuẩn, nhưng IAG 13 cung cấp biểu mẫu tham khảo về BCKT:

“Chúng tôi đã kiểm toán các BCTC nằm từ trang … đến trang … phù hợp với các Hướng dẫn kiểm toán quốc tế

Theo ý kiến chúng tôi, các BCTC được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, đã trình bày trung thực và hợp lý (hoặc hợp lý, trên mọi phương diện trọng yếu) tình trạng của công ty ngày 31.12.XX, tình hình lợi nhuận và lưu chuyển tiền

tệ của năm kết thúc ngày trên.”

Năm 1994, IFAC đã ban hành các CMKiT quốc tế (ISA) thay thế cho các IAG CMKiT quốc tế về BCKT (ISA 700) đã đề xuất một biểu mẫu tương tự như SAS 58 của Hoa Kỳ Như vậy, IAG 13 chỉ mang tính hướng dẫn cho đến ISA 700 đã đem tính bắt buộc áp dụng vào các quy định này cho thấy tầm quan trọng của BCKT đã

Trang 38

được nâng cao một cách đáng kể Về cơ bản, BCKT theo ISA 700 năm 1994 tương

tự như SAS 58, chỉ quy định cụ thể hơn về các yếu tố trên BCKT ngoài ba đoạn chính của SAS 58, như tiêu đề, người nhận, ngày BCKT, địa chỉ và chữ ký của KTV Ngoài ra khi so sánh ISA 700 có những điểm khác biệt với SAS 58 như: không có từ “độc lập” trong tiêu đề của BCKT hoặc không thể hiện công việc kiểm toán được tiến hành có phù hợp với CMKiT hay không

Năm 2005, ISA 700 được sửa đổi nhằm tương thích với sự thay đổi của các CMKiTnhư ISA 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC”, ISA 200 “Hợp đồng kiểm toán”, ISA 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ

kế toán lập BCTC”, ISA 701 “Các trường hợp điều chỉnh báo cáo của kiểm toán viên độc lập”, và ISA 800 “BCKT về những công việc kiểm toán đặc biệt” Sau khi sửa đổi CMKiT về BCKT được chia thành hai chuẩn mực riêng biệt là ISA 700 (sửa đổi) “Báo cáo của kiểm toán viên độc lập về toàn bộ BCTC cho mục đích chung” chỉ đề cập đến ý kiến chấp nhận toàn phần và ISA 701 “ Các trường hợp điều chỉnh báo cáo của KTV độc lập” đề cập đến các loại ý kiến khác (ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh, ý kiến chấp nhận từng phần, ý kiến không chấp nhận, ý kiến từ chối)

ISA 700 mới đưa ra những bổ sung cho BCKT cho phù hợp và làm rõ trách nhiệm xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ, vấn đề đạo đức nghề nghiệp, … của KTV Tuy nhiên đến năm 2009, sau khi nhận được phản hồi cho ISA 700 và 701 theo năm

2005 từ các bộ phận thành viên của IFAC, các tổ chức nghề nghiệp và các nhà làm luật, cũng như để đáp ứng sự thay đổi của ISA 800 “BCKT về những công việc kiểm toán đặc biệt” lúc bấy giờ, IFAC tiếp tục ban hành chuẩn mực ISA 700 (chỉnh sửa), ISA 705 và ISA 706 để thay thế cho ISA 700 và ISA 701 năm 2005 Các chuẩn mực mới ra đời với sự thay đổi đáng kể trong tiêu đề của chuẩn mực như: ISA 700 “Ý kiến và báo cáo về BCTC”, ISA 701 “ Ý kiến chỉnh sửa trong báo cáo của kiểm toán viên độc lập” và ISA 706 “Đoạn về vấn đề nhấn mạnh và vấn đề khác trên BCKT viên độc lập” nhằm giúp cho các tiêu đề thể hiện được nội dung

Trang 39

chủ yếu của các chuẩn mực Việc tách biệt ra thành ba chuẩn mực khác nhau nhằm hướng dẫn rõ ràng và cụ thể cho từng loại ý kiến: ISA 700 – ý kiến chấp nhận toàn phần, ISA 705 – ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần và ISA 706 – ý kiến chấp nhận toàn phần nhưng có thêm đoạn nhấn mạnh

2.2 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán và lý thuyết có liên

quan

2.2.1 Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán

Sự xuất hiện ngày một nhiều những vụ kiện liên quan đến hoạt động kiểm toán gần đây đã đặt ra những câu hỏi về khả năng đáp ứng yêu cầu của xã hội về chất lượng

mà BCKT mang lại cho người sử dụng Đó cũng là nguyên nhân mà có nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về khái niệm mà được đặt tên là “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán”, cùng với đó nhiều quan niệm về khái niệm này đã được ra đời như sau:

Liggio (1974) đưa ra khái niệm được coi là khái niệm đầu tiên về “khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán”, thể hiện sự khác biệt giữa hai mức độ kỳ vọng về hiệu quả công việc kiểm toán giữa KTV và người sử dụng BCTC

Ủy ban Cohen (1978) định nghĩa khoảng cách kỳ vọng là sự kỳ vọng hoặc yêu cầu của công chúng về những gì KTV có thể hoàn thành một cách hợp lý và phù hợp Guy và Sullivan (1988) cho rằng khoảng cách kỳ vọng là sự khác biệt những gì công chúng và người sử dụng BCTC tin rằng kế toán và KTV phải chịu trách nhiệm những gì mà bản thân họ phải chịu trác nhiệm

Hiệp hội Kế toán viên công chứng Mỹ - AICPA (1993) đề cập đến khái niệm dựa trên sự khác biệt những gì công chúng và người sử dụng BCTC tin vào trách nhiệm của KTV và bản thân KTV tin vào trách nhiệm của họ

Porter (1993) định nghĩa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của xã hội về KTV và hoạt động thực tế của KTV

Trang 40

Monroe và Woodliff (1994) cho rằng khái niệm liên quan đến niềm tin giữa KTV

và công chúng về nhiệm vụ, trách nhiệm của KTV đối với gian lận, sai sót và những thông tin trong BCTC

Như vậy dù là những nghiên cứu khác nhau của những tác giả khác nhau và khác thời gian nghiên cứu nhưng kết quả về khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đều là sự khác biệt về nhận thức về năng lực thực tế và năng lực được mong đợi của KTV; sự khác biệt về khả năng thực hiện của KTV với khả năng kỳ vọng của người sử dụng BCTC đối với việc phát hiện gian lận, thông tin trên BCTC Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán chứa đựng rất nhiều vấn đề cần phải tiếp tục tìm hiểu và khám phá

Có thể hiểu khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán là sự khác biệt về kỳ vọng của người sử dụng BCTC và nhận thức của KTV đối với trách nhiệm và nhiệm vụ của bản thân KTV Trên góc nhìn nghiên cứu trước, khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán có rất nhiều thành phần cấu thành nên, vì thế bên cạnh việc xây dựng lý thuyết

về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán còn có rất nhiều mô hình cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Có thể kể đến hai mô hình cấu trúc khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán dưới đây:

Mô hình cấu trúc khái niệm khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán của Porter (1993) xác định các thành phần cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Bà đưa ra kết luận khoảng cách kỳ vọng có thể được chia thành hai thành phần chính là: khoảng cách về kết quả và khoảng cách về tính hợp lý Trong đó khoảng cách kết quả bao gồm khoảng cách về kết quả đạt được và chuẩn mực chưa đạt được Khoảng cách hợp lý được định nghĩa như là sự khác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng BCKT đối với trách nhiệm của KTV và kỳ vọng của người sử dụng BCKT đối với các công việc KTV phải làm hoặc có khả năng làm Như vậy khoảng cách này

sẽ bao gồm khoảng cách hợp lý hoặc khoảng cách bất hợp lý Một khi công chúng

có những yêu cầu không hợp lý sẽ tạo ra những khoảng cách bất hợp lý gây ra những hiểu lầm dẫn đến hiểu sai mục đích và kết quả của hoạt động kiểm toán Còn

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm