Từ khi ra đời Nghị định này đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho nông nghiệp nông thôn, hệ thống khuyến nông không ngừng lớn mạnh kể cả về số lượng và chất lượng, với mạng lưới ngày càn
Trang 1-
PHẠM LAN PHƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN LÂM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG – TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Xuân Hương
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của tôi là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo thạc sỹ kinh tế nông nghiệp
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo; các cán bộ công nhân viên Trường Đại học Lâm nghiệp, nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Xuân Hương – người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian thực hiện bản luận văn tốt nghiệp cao học này
Xin chân thành cám ơn các cán bộ Khoa Đào tạo Sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Tác giả xin cám ơn UBND Huyện Cao Phong Tỉnh Hòa Bình và các phòng ban chức năng, Trạm khuyến nông huyện Cao Phong Tỉnh Hòa Bình, UBND và nhân dân các xã Tân Phong, Yên lập, Thung Nai đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp phục
vụ cho báo cáo
Cuối cùng tác giả xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2013
Tác giả
Phạm Lan Phương
Trang 4MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan………i
Lời cảm ơn……….……….ii
Mục lục……… ………iii
Danh mục các từ viết tắt……… …….vii
Danh mục các bảng……… ……….viii
Danh mục các hình……… …… ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 4
KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN LÂM 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khuyến nông, khuyến lâm 4
1.1.2 Mục tiêu, vai trò và các nguyên tắc hoạt động khuyến nông, khuyến lâm 5
1.1.2.1 Mục tiêu của khuyến nông, khuyến lâm 5
1.1.2.2 Vai trò của khuyến nông, khuyến lâm 6
1.1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của khuyến nông, khuyến lâm 8
1.1.3 Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến lâm 9
1.1.3.1.Thông tin tuyên truyền 9
1.1.3.2 Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo 10
1.1.3.3 Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ 10
1.1.3.4 Tư vấn và dịch vụ 10
1.1.3.5 Hợp tác quốc tế 11
1.1.4 Các phương pháp khuyến nông 11
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả hoạt động khuyến nông 14
1.2 Kinh nghiệm về công tác khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.2.1 Khuyến nông trên thế giới 15
1.2.1.1 Khuyến nông ở Mỹ 16
Trang 51.2.1.2 Khuyến nông ở Ấn Độ 16
1.2.1.3.Khuyến nông ở Trung Quốc 17
1.2.1.3 Khuyến nông ở Thái Lan 18
1.2.2 Khuyến nông ở Việt Nam 18
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác khuyến nông, khuyến lâm ở Việt Nam 22 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨUVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đặc điểm cơ bản huyện Cao Phong- tỉnh Hoà Bình 24
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 24
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong 27
2.1.2.1 Dân số và lao động 27
2.1.2.2.Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Cao Phong 30
2.2 Lịch sử hình thành và tổ chức của trạm khuyến nông huyện Cao Phong 32
2.2.1 Lịch sử hình thành 32
2.2.2 Tổ chức quản lý trạm Khuyến nông huyện Cao Phong 33
2.2.3 Cơ cấu nhân sự của trạm khuyến nông huyện Cao Phong 34
2.2.4.Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Cao Phong 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 39
2.3.2.1 Tài liệu thứ cấp 39
2.3.2.2 Tài liệu sơ cấp 39
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 40
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu trong nghiên cứu đề tài 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Tình hình thực hiện các hoạt động Khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện từ năm 2010 – 2012 44
Trang 63.1.1 Số lượng các chương trình Khuyến nông, khuyến lâm phân theo lĩnh vực 44
3.1.2 Số lượng các chương trình Khuyến nông, khuyến lâm phân theo nguồn vốn 44
3.1.3 Kinh phí đầu tư cho các hoạt động Khuyến nông, khuyến lâm 45
3.2 Kết quả thực hiện các hoạt động Khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong 47
3.2.1 Kết quả đào tạo, tập huấn 47
3.2.2 Kết quả đào tạo phân theo nội dung 49
3.2.3 Kết quả thực hiện các mô hình trình diễn 50
3.2.4 Công tác thông tin tuyên truyền 54
3.2.5 Công tác tư vấn, dịch vụ khuyến nông 55
3.3 Hiệu quả các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong 55
3.3.1 Hiệu quả kinh tế 55
3.3.1.1 Sản xuất nông nghiệp 55
3.3.1.2 Sản xuất lâm nghiệp 57
3.3.1.3 Chăn nuôi 58
3.3.2 Hiệu quả xã hội 59
3.3.2.1 Tình hình sử dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất của người dân 59
3.3.2.2 Nâng cao trình độ cho người dân 60
3.3.2.3 Tạo công ăn việc làm 61
3.3.3 Hiệu quả môi trường 61
3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong 61
3.4.1.Yếu tố con người 61
3.4.2.Chính sách của nhà nước 62
3.4.3 Kinh phí hoạt động khuyến nông 63
3.4.4.Yếu tố điều kiện tự nhiên, KTXH 63
3.5 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân với các chương trình KNKL 63
Trang 73.5.1 Kết qủa đánh giá chung về sự phù hợp của các chương trình khuyến nông,
khuyến lâm 64
3.5.2 Kết quả phân tích mô hình nhân tố khám phá 64
3.5.2.1 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo 64
3.5.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 65
3.6 Đánh giá chung kết quả thực hiện hoạt động Khuyến nông, khuyến lâm của huyện Cao Phong 3.7 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động Khuyến nông, khuyến lâm trong thời gian tới 73
3.7.1 Phương hướng, mục tiêu hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Cao Phong trong thời gian tới 74
3.7.2.Các giải pháp tăng cường hiệu quả các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong- Hoà Bình 76
3.7.2.1 Giải pháp về công tác đào tạo, tập huấn 76
3.7.2.2.Về công tác thông tin tuyên truyền 77
3.7.2.3 Giải pháp về vốn 79
3.7.2.4 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 80
3.7.2.5 Xã hội hóa công tác khuyến nông – khuyến lâm 80
3.7.2.6 Giải pháp trong hoạt động xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Số lượng các chương trình KNKL trên địa bàn huyện Cao Phong (2010-2012) 44
3.3 Tình hình thực hiện kinh phí các hoạt động KNKL ở huyện Cao Phong
3.4 Kết qủa đào tạo, tập huấn KNKL trên địa bàn huyện Cao Phong- Hoà Bình
3.7 Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng chính trên địa bàn huyện Cao
3.10 Tình hình sử dụng giống mới, áp dụng tiến bộ KHKT mới vào sản xuất nông
Trang 103.13 KMO and Bartlett's Test 65
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Biểu đồ sự tham gia của người dân vào các mô hình trình diễn 60
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội của đất nước Hiện nay có tới 75% tổng dân số cả nước sống ở nông thôn Sau khi thực hiện chính sách đổi mới nền nông nghiệp Việt Nam đã có những những tiến bộ mạnh mẽ và vững chắc.Tuy đã đạt dược mục tiêu cơ bản về an ninh lương thực nông nghiệp Việt Nam vẫn đang đứng trước các thách thức lớn trong hội nhập và phát triển
Khuyến nông được hình thành và phát triển gắn liền với sản xuất nông nghiệp nhằm mục đích xã hội hóa nền sản xuất nông nghiệp Khuyến nông thực chất là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và trợ giúp những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc của chính mình nhằm nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho gia đình và cộng đồng
Ở Việt Nam ngày 02/03/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về
"Quy định công tác khuyến nông', ngày 02/08/1993 đã ban hành thông tư liên
bộ số 02/LB/TT hướng dẫn thi hành nghị định 13/CP Từ khi ra đời Nghị định này đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho nông nghiệp nông thôn, hệ thống khuyến nông không ngừng lớn mạnh kể cả về số lượng và chất lượng, với mạng lưới ngày càng hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.Trong những năm qua công tác khuyến nông đã có những đóng góp quan trọng vào việc khuyến khích nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất, tạo nhiều hàng hoá nông sản có chất lượng, tăng thu nhập và mức sống cho người dân thông qua các hoạt động như: truyền thông thông tin, đào tạo tập huấn, xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật, cho bà con nông dân
Trang 13Cao Phong là một huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình, trình độ dân trí không đồng đều, giao thông các xã vùng cao đi lại khó khăn, diện tích canh tác manh mún, khả năng áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào thực tế sản xuất còn nhiều hạn chế vì vậy việc thực hiện các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm còn gặp nhiều khó khăn Để đánh giá hoạt động khuyến nông, khuyến lâm của huyện trong những năm qua trên cơ sở các kết quả đạt được chỉ ra những mặt còn hạn chế cần khắc phục đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác khuyến nông, khuyến lâm của huyện trong những năm tới là thật sự cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài" Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn Huyện Cao Phong - Tỉnh Hòa Bình" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
*Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động này
*Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về khuyến nông, khuyến lâm
- Đánh giá thực trạng các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, kết quả các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm được thực hiện trên địa bàn huyện Cao Phong trong thời gian từ năm 2010 – 2012
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tình hình tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, kết quả của các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn Huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
- Về không gian: Những hoạt động khuyến nông, khuyến lâm được triển khai trên địa bàn huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2010 – 2012
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động khuyến nông, khuyến lâm
- Thực trạng tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, kết quả của các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn Huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN LÂM 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khuyến nông, khuyến lâm
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khuyến nông, khuyến lâm dưới đây là một số định nghĩa về khuyến nông, khuyến lâm[15]
- "Khuyến nông, khuyến lâm là các hoạt động nhân rộng các kết quả nghiên cứu và tư vấn cho nông dân trong các hoạt động nông, lâm nghiệp để nâng cao năng lực phân tích và giao tiếp cho họ"
- Khuyến nông, khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn
- Khuyến nông được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến thức bản địa với kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại Các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải
- Khuyến nông là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu
cầu và giúp họ tự quyết định giải quyết vấn đề của chính họ
- Khuyến nông là một tiến trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên cứu, các nhà
quản lý và các nhà lãnh đạo
Trong điều kiện Việt Nam, khái niệm sau đây được nhiều tổ chức chấp nhận "Khuyến nông là một quá trình trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, truyền bá kiến thức đào tạo kỹ năng và trợ giúp những điều kiện cần thiết trong sản xuất nông nghiệp, để nông dân có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc
Trang 16của chính mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho gia đình và cộng đồng"[15]
Như vậy có thể thấy tầm quan trọng của khuyến nông, nó là cầu nối giữa người bên trong và bên ngoài cộng đồng, giúp chuyển giao những kiến thức, tiến bộ khoa học kỹ thuật Thông qua các hoạt động khuyến nông, họ có thể dễ dàng chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, từ đó họ cùng nhau tính toán những thay đổi trong các hoạt động sản xuất, làm sao để đem lại lợi ích cao nhất cho
người nông dân
1.1.2 Mục tiêu, vai trò và các nguyên tắc hoạt động khuyến nông, khuyến lâm
1.1.2.1 Mục tiêu của khuyến nông, khuyến lâm
Mục tiêu của khuyến nông, khuyến lâm là làm thay đổi cách đánh giá, nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống, giúp họ có cái nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề, có được năng lực tự quyết định biện pháp vượt qua những khó khăn Khuyến nông, khuyến lâm không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn
Trong giai đoạn hiện nay mục tiêu tổng quát của khuyến nông Việt Nam là thúc đẩy và hỗ trợ sản xuất, nâng cao đời sống người dân nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu của quốc gia và địa phương trong phát triển nông nghiệp, đồng thời bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Để đạt mục tiêu này, các hoạt động khuyến nông cần hướng đến:
- Chia sẻ kiến thức bản địa với các tiến bộ kỹ thuật
- Thúc đẩy sự kết nối và chia sẻ giữa các cá nhân và cộng đồng
- Thúc đẩy việc xây dựng năng lực của các cá nhân và các nhóm thông qua giáo dục bán chính thức
Trang 17- Thúc đẩy sự phát triển các tổ chức phục vụ cho việc quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, rừng và tiếp cận thị trường
- Kết nối việc lập kế hoạch, thực thi, theo dõi và đánh giá của các cộng đồng nhằm vào hoạt động độc lập của họ
- Giải quyết các vấn đề và quản lý các mâu thuẫn để đi đến việc thống nhất các quyết định Có các phương pháp khuyến nông thích hợp cho mỗi tình trạng và nhóm sở thích
1.1.2.2 Vai trò của khuyến nông, khuyến lâm
- Vai trò của khuyến nông, khuyến lâm với phát triển nông nghiệp và
nông thôn
+ Nông dân luôn gắn liền với nông nghiệp, là bộ phận cốt lõi và cũng
là chủ thể trong quá trình phát triển nông thôn.Thông qua hoạt động khuyến nông, khuyến lâm người dân và những người bên ngoài cộng đồng có cơ hội trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm lẫn nhau để phát triển sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội Đặc biệt khuyến nông, khuyến lâm còn tạo
ra cơ hội cho nông dân trong cộng đồng cùng chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, truyền bá thông tin kiến thức và giúp hỗ trợ nhau cùng phát triển cộng đồng của họ
Trang 18
Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tố trong phát triển nông thôn
- Vai trò của khuyến nông, khuyến lâm trong quá trình phát triển nông nghiệp
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả của các cơ quan nghiên cứu khoa học Những tiến bộ này cần được nông dân chọn lựa, áp dụng vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng thường có một khâu trung gian để chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được Ngược lại những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như những nhận xét, đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng cần được phản hồi đến các nhà khoa học để họ giải
Phát triển nông thôn
Trang 19quyết cho sát thực tế hơn Trong những trường hợp này, vai trò của khuyến nông chính là chiếc cầu nối giữa khoa học với nông dân
- Vai trò của khuyến nông, khuyến lâm đối với nhà nước
+ Khuyến nông, khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện chính sách, chiến lược về phát triển nông nghiệp, nông thôn
+ Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp
+ Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến để có được các chính sách phù hợp
1.1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của khuyến nông, khuyến lâm
Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:
(i)Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn: Nhiệm vụ của khuyến nông là tìm hiểu những yêu cầu,
nguyện vọng của nông dân trong sản xuất nông nghiệp, đưa ra những kỹ thuật
mới sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn
(ii) Bảo đảm là cầu nối và thông tin hai chiều giữa người làm công tác khuyến nông, nhà quản lý, nhà khoa học với nông dân và nông dân với nông dân: Giữa nông dân với các tổ chức và các cơ quan khác luôn có mối quan hệ,
khuyến nông, khuyến lâm phải phản ánh trung thực những ý kiến tiếp thu, phản hồi của nông dân về những vấn đề chưa phù hợp cần sửa đổi, khắc phục
với các nhà quản lý, khoa học
(iii)Dân chủ, công khai, có sự tham gia tự nguyện của nông dân, hỗ trợ và hướng dẫn dân làm, không làm thay cho dân:
Trang 20 Khuyến nông, khuyến lâm phải quan tâm tạo điều kiện để mọi thành viên, mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người nghèo để họ phát triển sản xuất, vươn lên cải thiện đời sống và hòa nhập cộng đồng
Khuyến nông, khuyến lâm chỉ hỗ trợ nông dân những khó khăn ban đầu
về kỹ thuật, giống,vốn Không nên bao cấp toàn bộ, tránh trường hợp nông dân không tự phát huy được năng lực và trách nhiệm của mình
Khuyến nông, khuyến lâm giúp đỡ, hướng dẫn nông dân về kỹ thuật, phương pháp để họ mắt thấy tai nghe, sau đó mời họ làm thử, không làm thay cho dân
(iv)Xã hội hóa công tác khuyến nông hoạt động khuyến nông, khuyến lâm phải phối hợp với các chương trình, dự án và các hoạt động phát triển nông nghiệp và nông thôn khác
Khuyến nông, khuyến lâm phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phát
triển nông thôn khác, phối hợp với các trường, cơ quan nghiên cứu khoa học, các hội, đoàn thể, các tổ chức trong nước và quốc tế để đẩy mạnh hoạt động
khuyến nông
1.1.3 Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến lâm
Nghị định 56/2005/NĐ-CP của chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công tác khuyến nông nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến nông bao gồm:
1.1.3.1.Thông tin tuyên truyền
- Tuyên truyền chủ trương , đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, thông tin thị trường giá cả, phổ biến điển hình tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp
- Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằng các phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm và các hình thức thông tin tuyên truyền khác
Trang 211.1.3.2 Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo
- Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người sản xuất, quản lý kinh tế trong nông nghiệp
- Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người hoạt động khuyến nông
- Tổ chức tham quan khảo sát học tập trong và ngoài nước
1.1.3.3 Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ
- Xây dựng các mô hình trinh diễn về tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất
- Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các mô hình trình diễn ra diện rộng
1.1.3.4 Tư vấn và dịch vụ
- Tư vấn, hỗ trợ chính sách, pháp luật về đất đai, nông - lâm nghiệp, thị trường, khoa học công nghệ, áp dụng kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất,
quản lý, kinh doanh phát triển nông - lâm - ngư nghiệp
- Dịch vụ trong các lĩnh vực: Pháp luật, tập huấn, đào tạo, cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, thị trường giá cả, đầu tư, tín dụng, xây dựng dự án, cung ứng vật tư kĩ thuật, thiết bị và các hoạt
động khác có liên quan đến nông nghiệp, thủy sản theo quy định của pháp luật
- Tư vấn, hỗ trợ, khởi sự doanh nghiệp vừa và nhỏ, lập dự án đầu tư phát
triển nông lâm nghiệp, thủy sản và các ngành nghề nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyển dụng, đào tạo lao động, huy động vốn, ưu đãi đầu tư và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản và các ngành nghề nông thôn theo
vùng, lãnh thổ và địa phương
- Tư vấn và hỗ trợ phát triển ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông lâm thủy sản, nghề muối
Trang 22- Tư vấn, hỗ trợ quản lý, sử dụng nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn
- Tư vấn, hỗ trợ đổi mới tổ chức, cải tiến quản lý, hợp lý hóa sản xuất, hạ
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, của tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn
1.1.3.5 Hợp tác quốc tế
- Tham gia các hoạt động về khuyến nông, khuyến lâm trong các chương
trình hợp tác quốc tế
- Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông, khuyến lâm với các tổ chức, cá nhân
nước ngoài và các tổ chức quốc tế
- Nâng cao năng lực, trình đô ̣ ngoa ̣i ngữ cho người làm công tác khuyến nông thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học
tập khảo sát trong và ngoài nước
1.1.4 Các phương pháp khuyến nông
Hiện nay dựa vào phương thức tác động, phương pháp khuyến nông được chia thành 3 nhóm là phương pháp cá nhân, phương pháp nhóm, phương pháp thông tin đại chúng:
Phương pháp nhóm: Phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong
công tác khuyến nông, ưu thế hơn hẳn các phương pháp khác, bởi vì khi tập huấn
kỹ thuật thì một cán bộ khuyến nông có thể gặp được nhiều nông dân hơn Phương pháp này dựa trên nền tảng của công việc khuyến nông
Phương pháp nhóm có hiệu quả đặc biệt để thuyết phục người nông dân vì nêu được ý kiến, quyết định của nhóm có giá trị hơn hẳn quyết định của từng cá nhân riêng rẽ Phương pháp này dựa trên nền tảng của công việc khuyến nông Phương pháp nhóm được phổ biến rộng rãi nhất trong công tác khuyến nông và nó được thể hiện dưới những hình thức sau:
Trang 23o Họp nhóm
o Đào tạo tập huấn
o Hội thảo đầu bờ
o Xây dựng mô hình trình diễn
o Tham quan
o Cuộc thi nhà nông đua tài, tôn vinh người làm ăn giỏi
- Ưu điểm: mang lại hiệu quả cao do cùng một lúc tiếp xúc với nhiều hộ dân
nông dân, tạo ra môi trường học tập sinh động có tác dụng tác động tương hỗ đến từng hộ nông dân và củng cổ lòng tin cho hộ nông dân về tiến bộ kỹ thuật mới, mang tính cộng đồng cao, mọi người trong nhóm cùng làm một việc mà từng cá nhân không làm nổi
- Hạn chế : chi phí cao do phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện như loa đài, hội
trường, chi phí đi lại…; chi giải quyết những vấn đề chung của nhóm, chưa đi sâu vào từng vấn đề của cá nhân, đôi khi đi đến nhất trí của nhóm gặp khó khăn do có nhiều quan điểm khác nhau; tốn nhiều thời gian hơn tiếp xúc cá nhân
o Cán bộ khuyến nông đến thăm hộ nông dân
o Nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông
o Gửi thư riêng
o Gọi điện thoại
Trang 24Trong điều kiện nước ta việc gọi điện thoại, gửi thư riêng còn chưa phổ biến, chủ yếu là khuyến nông viên đến thăm hộ nông dân và ngược lại cơ quan khuyến nông mời nông dân đến trao đổi
- Ưu điểm:
-Những cuộc gặp gỡ của cán bộ khuyến nông và hộ nông dân thường rất thoải mái Nó thể hiện sự quan tâm của khuyến nông đối với từng hộ nông dân, trên
cơ sở đó củng cố niềm tin và tình cảm của người nông dân với khuyến nông cơ sở
- Do được tiếp xúc với từng hộ nên cán bộ khuyến nông có thể nắm bắt nhu cầu của người dân, từ đó đưa ra các lời khuyên cần thiết, sát thực tế
- Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian và đòi hỏi cán bộ khuyến nông phải có chuyên môn vững vàng, cập nhật thông tin thường xuyên mới có thể đưa ra lời khuyên thỏa đáng cho nhu cầu thông tin phong phú của người dân;
- Cần nhiều cán bộ khuyến nông mới có thể thăm hỏi hết cộng đồng trong thôn, bản;
- Quá trình phổ biến thông tin chậm
Phương pháp thông tin đại chúng:
Phương pháp sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như: Đài phát thanh, ti vi, báo chí, tờ rơi, tờ gấp, lịch, tài liệu tập huấn kỹ thuật, bản tin khuyến nông…để khuyến cáo, tuyên truyền cho các hộ nông dân So với phương pháp nhóm và tiếp xúc cá nhân, phương pháp này phổ biến nhanh, kịp thời hơn những TBKT mới Nó cũng thu hút được được đông đảo nông dân hơn do được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Ưu điểm:
- Các chủ trương, biện pháp kỹ thuật được thông tin hai chiều và phổ biến nhanh;
- Phạm vi phổ biến rộng đến nhiều người;
- Mức độ thông tin tương đối thấp;
Trang 25- Thiếu sự giám sát hỗ trợ giữa những người đưa tin và những người nhận tin;
- Người nhận tin ít có khả năng kiểm soát trực tiếp tin mình nhận được
- Nhược điểm:
-Không thể thay thế công việc của khuyến nông viên;
- Không dạy được kỹ năng thực hành và không trả lời được câu hỏi mà nông dân yêu cầu trả lời ngay
Người ta sử dụng phương pháp thông tin đại chúng trong những trường hợp:
- Cung cấp cho nông dân những kiến thức mới và tạo ra sự chú ý của họ
về một kỹ thuật tiến bộ nào đó Thông tin kịp thời về một bệnh dịch và cung cấp những biện pháp phòng ngừa
- Chia sẻ những kinh nghiệm cho những người nông dân giỏi với những nông dân khác trong cộng đồng
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả hoạt động khuyến nông
Điều kiện tự nhiên: Là các yếu tố chính ảnh hưởng cây trồng, vật nuôi
Do vậy, khi thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyến lâm cần chú ý điều kiện của từng địa phương để lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp Ngoài ra, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sản xuất từng khu vực, do vậy mà ảnh hưởng đến hiệu quả chương trình khuyến nông
Điều kiện kinh tế – xã hội: Sản xuất các loại cây trồng chịu tác động
của các yếu tố đầu vào, quy mô sản xuất, các nguồn lực đất đai, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kinh nghiệm sản xuất, tiến bộ KH-KT, ngoài ra còn chịu sự chi phối của các quy luật như quy luật cung cầu, các chính sách của nhà nước
Yếu tố về con người: Con người là nhân tố quyết định đến sản xuất, họ sẽ
quyết định đến việc có tiếp thu hay không tiếp thu những tiến bộ KH- KT áp dụng vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như hiệu quả xã hội cao nhất
Nhóm yếu tố kỹ thuật
Trang 26- Giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
sản xuất Những giống cây trồng có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai và có khả năng chống chịu sâu bệnh sẽ cho năng suất cao, chất
lượng sản phẩm tốt
- Thời vụ gieo trồng: Các loại cây trồng nông lâm nghiệp đều có đặc điểm sinh trưởng và quy luật phát triển riêng Để nâng cao hiệu quả mô hình khuyến nông người nông dân không chỉ biết có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp
- Kỹ thuật chăm sóc: Kỹ thuật chăm sóc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng vì vậy người sản xuất phải tuân thủ quy trình kỹ thuật
1.2 Kinh nghiệm về công tác khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước Các hoạt động khuyến nông gắn liền với sự ra đời và phát triển của nông nghiệp và lâm nghiệp
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với hành” vào giảng dạy Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò
tiếp xúc với sản xuất và tự nhiên Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống cây và giống con[13]) Đến năm 1777, giáo sư người Thụy Sĩ là Heirich Dastalozzi thấy rằng muốn mở mang nhanh nền nông lâm nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được cuộc sống thì phải đào tạo chính con em họ có trình
độ và nắm bắt được kỹ thuật tiến bộ, biết làm thành thạo một số công việc như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa
Tuy nhiên, phải đến năm 1843 hoạt động khuyến nông lâm mới có tính phổ rộng và biểu hiện rõ rệt Đó là hoạt động của Ủy ban nông nghiệp của hội đồng thành phố NewYork (Mỹ) Ủy ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy
Trang 27ở các trường đại học nông nghiệp và các viện nghiên cứu thường xuyên xuống
cơ sở để hướng dẫn giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp [13])
1.2.1.1 Khuyến nông ở Mỹ
Theo Alfred Charles True (1928) [22] viết trong cuốn Lịch sử khuyến nông nước Mỹ thì hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nước Mỹ được hình thành từ năm 1843 Khởi đầu tại New York nhà nước cấp kinh phí cho Hội đồng bang thuê những nhà khoa học nông nghiệp có kỹ năng thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông lâm nghiệp cho nông dân
Năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường trên 39 bang đào tạo khuyến nông, khuyến lâm và có bộ môn, khoa khuyến nông - khuyến lâm [13]) Năm 1845 tại Ohio, N.S Townshned Chủ nhiệm khoa khuyến nông, khuyến lâm đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện Những câu lạc bộ này sinh hoạt định kỳ hàng tháng, nghe giảng về những chủ đề khoa học kỹ thuật về nông lâm nghiệp, nghe báo cáo đi tham quan thực tế tại những trang trại Đây là tiền thân của giáo dục sơ đẳng về khuyến nông, khuyến lâm tại Mỹ
Năm 1891Bang New York dành 10.000 đô la cho khuyến nông, khuyến lâm đại học Năm 1892 Trường Đại học Chicago, Trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương trình khuyến nông, khuyến lâm học đại học Năm 1907, 42 Trường đại học trong 39 bang đã thực hiện công tác khuyến nông, khuyến lâm Năm 1910, 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông, khuyến lâm Năm 1914 Tổ chức khuyến nông, khuyến lâm được hình thành chính thức ở
Mỹ, có 1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên.Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp nơi trên đất nước Mỹ
1.2.1.2 Khuyến nông ở Ấn Độ
Hội khuyến nông Ấn Độ được thành lập năm 1820 (William Carey
Trang 28khởi sướng) và đề xuất cải tiến ngành Nông nghiệp Cục Lâm nghiệp Hoàng gia được thành lập ở Ấn Độ vào năm 1864 Lâm luật được thông qua năm
1865, lúc đó Luật này chỉ đơn giản là thiết lập ranh giới chủ rừng, đến 1878
nó được bổ sung và hoàn thiện Hệ thống khuyến nông lâm Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm 1960 Trong những năm 1970, Ấn Độ tuyên bố chiến lược dài hạn cho phát triển lâm nghiệp với mục tiêu: giảm xói mòn đất
và lũ lụt, cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm ngành công nghiệp gỗ trong nước và cung cấp các nhu cầu chất đốt của dân cư nông thôn,
gỗ nhỏ, rừng sản xuất Ủy ban Quốc gia về Lâm nghiệp được thành lập năm
1976, các sở lâm nghiệp được tổ chức lại Thành lập ủy ban lâm nghiệp xã hội, với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp truyền thống và phát triển rừng cộng đồng thông qua các hoạt động của cơ quan lâm nghiệp cộng đồng chịu trách nhiệm các trang trại lâm nghiệp, quản lý gỗ, khuyến lâm, trồng rừng
Trong những năm 1980, lâm nghiệp xã hội được khuyến khích bởi các cơ quan lâm nghiệp cộng đồng Chính sách lâm nghiệp quốc gia được phê duyệt năm 1988 một trong những chính sách đó là Chương trình quản lý rừng, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô rừng cụ thể Đặc biệt, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của người dân Đến năm 1992, mười bảy tiểu bang của Ấn Độ tham gia vào quản lý rừng Năm 2006, Luật chủ rừng được ban hành[21])
1.2.1.3.Khuyến nông ở Trung Quốc
Khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu, nhưng đến năm 1933 ở Trường đại học nông nghiệp Kim Lăng có khoa Khuyến nông Đến năm 1970 tại Trung Quốc mới chính thức có tổ chức khuyến nông Tại Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khoá VIII năm 1991:
“Tăng cường công tác nông nghiệp và nông thôn” có mục tiêu thứ 4 nêu
“phải nắm vững chiến lược khoa học công nghệ và khuyến nông” Cần đưa
Trang 29ngay các sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở Chú trọng đào tạo các nhân viên khuyến nông Kế hoạch 5 lần thứ 7 về phát triển nông nghiệp, Trung Quốc tập huấn 1,2 triệu lượt người về công tác khuyến nông và bồi dưỡng được 150 triệu nông dân về kiến thức khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Đến nay Trung Quốc đã đạt được những thành công nhất định trong các công tác khuyến nông và tiến bộ kỹ thuật mới Trung Quốc rất tự hào là đang dẫn đầu thế giới về 3 lĩnh vực: lúa lai, chẩn đoán thú y và nuôi trồng thuỷ sản [9]
1.2.1.3 Khuyến nông ở Thái Lan
Khuyến nông ở Thái Lan được hình thành chậm, mãi đến năm 1967 mới có Tuy nhiên được Chính phủ quan tâm, đầu tư cán bộ và kinh phí hoạt động, tính đến năm 1992 Thái Lan đã có khoảng 15.196 cán bộ khuyến nông (trong đó 11.933 người là cán bộ biên chế và 3.263 người cán bộ hợp đồng) Thái lan có 3 tổ chức hoạt động có liên quan đến khuyến nông- khuyến lâm là cục lâm nghiệp Hoàng Gia, hội nông dân và hội phát triển cộng đồng Cục lâm nghiệp Hoàng Gia hoạt động khuyến nông – Khuyến lâm trên các lĩnh vực như: Bảo vệ rừng, sử dụng đất và trồng cây Hoạt động này được chỉ đạo bởi các phòng lâm nghiệp quốc gia bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh[14]
1.2.2 Khuyến nông ở Việt Nam
Hệ thống Khuyến nông Việt Nam ra đời từ rất sớm nhưng cho đến ngày 02/3/1993, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 13/CP-NĐ về khuyến nông
và khuyến nông Việt Nam mới chính thức được thành lập Để đáp ứng những yêu cầu của người dân và cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện nền nông nghiệp nước ta bước vào hội nhập với thế giới, ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ - CP về công tác Khuyến nông, Khuyến ngư nhằm thay thế Nghị định 13/CP[6] Và đến ngày 08/01/2010 Chính phủ đã ban hành Nghi ̣ đi ̣nh số 02/2010/NĐ-CP về công tác khuyến nông nhằm thay thế Nghị định 56/2005/NĐ-CP [7]
Theo Nghi ̣ đi ̣nh số 02/2010/NĐ-CP hệ thống tổ chức khuyến nông đã được hình thành từ trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở Tính đến cuối năm
Trang 302011, 63 tỉnh thành trong cả nước đã có Trung tâm Khuyến nông tỉnh, có trên
400 trạm khuyến nông huyện.Toàn quốc có 25.228 cán bộ khuyến nông và khuyến nông viên, trong đó cấp trung ương có 43 người, cấp tỉnh 1.414 người, cấp huyện 3.176 người và cấp xã 20.595 người Bình quân khoảng 530
hộ nông dân có một khuyến nông viên Tỷ lệ này đã được cải thiện so với những năm trước tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt tại những nơi địa hình phức tạp, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Trung tâm KNQG
Trung tâm KNKL Tỉnh, Thành phố
Trạm Khuyến nông
Huyện
KNV cơ sở
Các hội, đoàn thể, câu lạc bộ khuyến
Trang 31* Hệ thống khuyến nông Việt Nam
+ Tổ chức khuyến nông nhà nước
Qua hình 1.2 ta thấy: Tổ chức khuyến nông nhà nước gồm 4 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố, cấp huyện, thị, cấp xã và thôn bản Các chương trình khuyến nông được thực hiện dưới sự giám sát của các cơ quan khuyến nông, ở các cấp cơ sở khuyến nông có thể trực tiếp làm công tác sản xuất, hướng dẫn nông dân làm theo Kinh phí của công tác khuyến nông được nhà nước cung cấp để hoạt động
-Tổ chức khuyến nông tự nguyện
Ngoài khuyến nông nhà nước còn có các tổ chức khuyến nông tự nguyện,
tổ chức quốc tế, phi chính phủ cũng góp phần lớn trong hoạt động khuyến nông nước ta Họ hoạt động từ các nguồn kinh phí tự tạo, từ các hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khuyến nông hoặc từ các nguồn tài trợ của các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, Các tổ chức này được tham gia vào các chương trình dự án khuyến nông của nhà nước, hoặc tham gia vào các chương trình đào tạo chuyên môn thông qua các hợp đồng đối với các tổ chức khuyến nông nhà nước
* Kết quả đạt được và những hạn chế của khuyến nông Việt Nam
- Kết quả đạt được:
Hệ thống tổ chức khuyến nông từ Trung ương đến cơ sở đã được củng
cố và ngày càng hoàn thiện Hoạt động của hệ thống khuyến nông đã thay đổi theo từng thời kỳ nhưng hiện nay đã và đang từng bước ổn định, kiện toàn theo hướng thống nhất theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông và được các cấp, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm, ủng hộ
+ Hoạt động khuyến nông đã bám sát các chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chuyển giao thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật mới, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu
Trang 32trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, đảm bảo hiệu quả cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
+ Khuyến nông đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật
và kỹ năng tổ chức quản lý sản xuất để tăng thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân và góp phần quan trọng trong công cuộc"xoá đói giảm nghèo", nhất là bà con dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao
+ Phổ biến kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sản xuất nông nghiệp và khuyến nông đến với nông dân, người sản xuất, từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành hàng và thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của Bộ
+ Bước đầu tạo ra mối liên kết giữa hệ thống khuyến nông nhà nước và các tổ chức khuyến nông khác, tạo mối liên kết 4 nhà, thúc đẩy quá trình xã hội hoá công tác khuyến nông, tổ chức nhiều hoạt động khuyến nông phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của nông dân và thực tiễn sản xuất
+ Nhạy bén trước sự thay đổi và phát triển kinh tế xã hội để đáp ứng kịp thời, chủ động nhu cầu phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
* Hạn chế:
+ Nguồn nhân lực khuyến nông còn thiếu và hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ Hệ thống tổ chức khuyến nông nhà nước tuy được coi trọng nhưng mới thành lập được 20 năm nên còn thiếu bề dày kinh nghiệm trong việc hoạch định chiến lược và triển khai các hoạt động khuyến nông
+ Hoạt động khuyến nông chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng nông dân khác nhau Hoạt động khuyến nông mới tập trung vào xây dựng mô hình để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, chưa có nhiều mô hình tổng hợp, liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm, tổ chức quản lý sản xuất, xúc tiến thị trường…
Trang 33+ Chính sách khuyến nông chưa được bổ sung, chỉnh sửa thường xuyên
và kịp thời để phù hợp với nhu cầu của sản xuất và xu hướng hội nhập toàn cầu Khung pháp lý hỗ trợ công tác khuyến nông chưa thực sự hợp lý và phù hợp với xu hướng phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn Đồng thời chưa có chính sách đầu tư trọng điểm cho công tác khuyến nông xóa đói giảm nghèo ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo
+ Hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông chưa phát triển và chưa có cơ chế chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích cán bộ khuyến nông tổ chức thực hiện các hoạt động tư vấn, dịch vụ phù hợp và hiệu quả đáp ứng nhu cầu đa dạng của nông dân
+ Liên kết giữa hệ thống khuyến nông Nhà nước và các tổ chức khuyến nông ngoài nhà nước chưa mạnh, sự phối hợp giữa hệ thống khuyến nông với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chưa chặt chẽ
+ Quản lý nhà nước về khuyến nông ở cấp Trung ương còn chồng chéo; các cơ quan quản lý chưa chủ động đề xuất chương trình khuyến nông trọng điểm dài hạn và kế hoạch khuyến nông hàng năm, chủ yếu do cơ quan khuyến nông trung ương đề xuất
+ Hệ thống giám sát và đánh giá tác động của các hoạt động khuyến nông còn thiếu và chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác khuyến nông, khuyến lâm ở Việt Nam
+ Tăng cường sự chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên của cấp uỷ đảng, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, ngành, đoàn thể chính trị xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác khuyến nông
Trang 34+ Xác định rõ vai trò và chức năng, nhiệm vụ ở các cấp khác nhau trong hệ thống khuyến nông là thực sự cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân cấp công tác khuyến nông
+ Xây dựng được đội ngũ cán bộ khuyến nông từ Trung ương xuống địa phương có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật, có năng lực tổ chức, quản lý
và điều hành các hoạt động khuyến nông Đặc biệt cần đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở để họ toàn tâm, toàn ý với công việc và gắn bó với sự nghiệp khuyến nông
+ Tùy theo nhóm đối tượng nông dân và lĩnh vực sản xuất để tổ chức các hoạt động khuyến nông phù hợp và có hiệu quả Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ dân trí của nông dân để
họ thực sự tham gia chủ động và hiệu quả vào công tác khuyến nông, bảo vệ quyền lợi người nông dân Thường xuyên nắm bắt nhu cầu và nguyện vọng của nông dân, có phương pháp tiếp cận phù hợp để xây dựng và triển khai có hiệu quả các hoạt động khuyến nông
+ Quan tâm nhiều hơn đến phát triển nguồn nhân lực để phù hợp với
yêu cầu phát triển của ngành và đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội
Trang 35Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản huyện Cao Phong- tỉnh Hoà Bình
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý
Cao Phong là một huyện miền núi nằm ở trung tâm của tỉnh Hòa Bình,
là huyện duy nhất trong tỉnh không tiếp giáp với các tỉnh khác Phía đông giáp huyện Kim Bôi, phía tây giáp huyện Tân Lạc, phía bắc giáp huyện Đà Bắc và thành phố Hòa Bình, phía nam giáp với huyện Lạc Sơn, Tân Lạc Huyện có diện tích tự nhiên là 25.527,8 ha gồm 12 xã và 01 thị trấn Địa bàn huyện nằm dọc quốc lộ 6 và đường 12B, có hệ thống cảng thủy nội địa trên sông Đà thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và tăng cường liên kết với các địa phương khác
Huyện có điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi, khí hậu mát mẻ phù hợp với việc phát triển chăn nuôi đại gia súc và các loại cây công nghiệp, cây ăn quả
có múi Huyện còn nằm tiếp giáp với hồ Hòa Bình nên có điều kiện để phát triển thủy sản và đẩy mạnh các hoạt động khai thác cảnh quan lòng hồ phục
vụ du lịch
Với vị trí nằm cách địa phận thủ đô Hà Nội (Theo ranh giới hành chính sát nhập Hà Nội và Hà Tây) 90 km theo đường quốc lộ 6, đây được xem là một thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản lớn nhưng cũng sẽ ngày càng trở lên khắt khe Ngoài ra huyện còn nằm tiếp giáp với thành phố Hòa Bình là điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng đô thị, du lịch
Trang 36* Địa hình
Cao Phong có địa hình tương đối phức tạp độ cao tuyệt đối trên 300 m, song huyện lại có ít núi cao Địa hình có cấu trúc thoai thoải, độ dốc của đồi núi khoảng 10 -15 độ, hình thành nhiều đồi dạng bát úp, thấp dần từ đông nam xuống tây bắc về phía hạ lưu sông Đà
Về mặt địa hình, huyện Cao Phong chia làm 3 vùng chính: Vùng núi cao( hai xã Yên Thượng, Yên Lập), vùng giữa 08 xã và Thị trấn Cao Phong)
và vùng ven Sông Đà( hai xã Bình Thanh và Thung Nai)
Với nhiều kiểu địa hình như trên, Cao Phong có điều kiện thuận lợi thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; tuy nhiên, do địa hình đa dạng và phức tạp sẽ gây khó khăn trong việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả
sử dụng của các công trình thủy lợi Ngoài ra, do địa hình huyện Cao Phong
bị Kastơ lớn nên ảnh hưởng nhiều đến phát triển kinh tế
* Khí hậu thủy văn
Khí hậu của huyện Cao Phong thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng
và ẩm, có mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ trung bình hàng năm cao, khoảng 22-24 độ C Lượng mưa trung bình hàng năm cũng khá cao, khoảng 1.800 – 2.200 mm Điều kiện khí hậu trên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều mô hình canh tác, chăn nuôi khác nhau
Tuy nhiên, yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất nông nghiệp là vào mùa khô cây trồng thiếu nước Về mùa đông bên cạnh khô hạn, nhiệt độ xuống thấp, sương muối và âm u, thiếu ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự phát triển cây trồng, vật nuôi và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển
Cao Phong có vùng lòng hồ sông Đà và nhiều con suối lớn nhỏ chạy qua, có điều kiện thuận lợi cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, vào mùa mưa, nước sông lên cao gây lụt vùng bãi thuộc địa phận các xã Thung Nai, Bình Thanh
Trang 37* Tài nguyên thiên nhiên
- Về tài nguyên đất: Cao Phong có nhiều loại đất khác nhau Vùng đồi núi có các loại đất nâu vàng, đất đỏ vàng, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng Vùng đất thấp
có các loại đất phù sa, đất dốc tụ Đất của huyện có độ phì nhiêu cao và đa dạng, có thể bố trí nhiều loại cây trồng nhất là cây công nghiệp và cây ăn quả
và phát triển chăn nuôi
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 25.527,83 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 69,2%, đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 17,4%, diện tích đất chưa khai thác sử dụng 13,4% (trong đó 0,2% khoảng 45 ha diện tích đất bằng chưa sử dụng)
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Phong
Chỉ tiêu
Số lượng (ha)
Tỷ trọng (%)
Số lượng (ha)
Tỷ trọng (%)
3.2.Đất đồi núi chưa sử dụng 6490,41 25,5 2769,9 10,9
3.3.Núi đá không có rừng cây 811,5 3,2 612,79 2,4
Nguồn: Phòng tài nguyên & môi trường huyện Cao Phong
Trang 38-Tài nguyên nước
+ Về nước mặt: Trên địa bàn huyện có Sông Đà và hàng chục con suối lớn nhỏ chảy qua.Tuy nhiên do địa chất của Cao Phong nằm trong miền kastơ cộng với tình trạng phá rừng đầu nguồn, nên vào mùa khô nhiều suối có lưu lượng ít hoặc bị cạn, gây nên thiếu nước tưới
+ Về nước ngầm: Theo những số liệu đánh giá chung về nguồn nước vùng Tây bắc cho thấy tiềm năng nước của huyện tương đối dồi dào, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân Hiện nay các giếng ở các bản làng đang khai thác ở độ sâu trên dưới 20 m
- Tài nguyên rừng
Rừng ở Cao Phong có thảm thực vật khá đa dạng bao gồm các loại
gỗ, tre nứa và gần đây trồng thêm các loại cây ăn quả, keo lá tràm…Năm
2010, trên địa bàn huyện có khoảng13,6 nghìn ha đất lâm nghiệp trong đó diện tích đất có rừng là 7.774,03 ha chiếm khoảng 30,4% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó đất có rừng tự nhiên là 3.394,6 ha tập trung nhiều
ở các xã ven hồ sông Đà (Thung Nai, Bình Thanh) và các xã vùng cao(Yên Lập, Yên Thượng); Đất có rừng trồng là 4.379,4 ha
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong
2.1.2.1 Dân số và lao động
- Dân số: Đến năm 2009, dân số toàn huyện là 41.920 người (chiếm 5,34% so với tỉnh, đứng thứ 10/11 trong các huyện, thành phố thuộc tỉnh), năm 2010 là 42.394 người.Trong giai đoạn 2002 – 2005 tốc độ tăng dân
số toàn huyện là 1,31% nhưng đến giai đoạn 2006 –2010 giảm còn 0,66%
Dân số đô thị của huyện (thị trấn Cao Phong) năm 2010 là 4.796 người.Tỷ lệ đô thị hóa của huyện năm 2009 đạt khoảng 11,2%, năm 2010 đạt 11,3% thấp hơn rất nhiều so với tỉnh(18,4%) Tốc độ đô thị hóa chậm,
xu thế diễn ra không bền vững, giai đoạn 2006 -2010 chỉ đạt 1,54%/năm
Trang 39Nhìn chung, mức độ đô thị hóa thấp, tỷ lệ tập trung dân cư đô thị chưa cao, quá trình hình thành các điểm đô thị có tính chất động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện diễn ra chậm Số việc làm trong các trong các ngành dịch vụ, công nghiệp tại khu vực đô thị tăng không đáng kể trong giai đoạn vừa qua dẫn đến sức hấp dẫn của khu vực đô thị chưa cao
- Thành phần dân cư : Thành phần dân cư trên địa bàn tương đối đa dạng trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với 72,38%, dân tộc Kinh chiếm 26%, dân tộc Dao chiếm 2,77%
Mật độ dân số huyện đến năm 2010 tương đối thấp khoảng 166 người/km2 (đứng thứ 7/11 so với các huyện trong tỉnh), thấp hơn mật độ dân số chung toàn tỉnh (173 người/km2) Dân cư phân bố không đều, tập trung cao nhất tại thị trấn Cao Phong (409 người/km2) gấp 2,4 lần toàn huyện Các xã còn lại (trừ Thị trấn Cao Phong) mật độ trung bình khoảng
148 người/km2; xã có mật độ cao nhất là Dũng Phong (329 người/km2); Tân Phong (293 người/km2) có địa hình tương đối bằng phẳng và nằm gần quốc lộ 6 Khu vực có mật độ dân số thấp là các xã vùng cao Yên Lập (91 người/km2); Yên Thượng (140 người/km2); Xuân Phong (113 người/km2); Bình Thanh(97người/km2)
Trang 40Bảng 2.2 Phân bố dân cư theo xã trên địa bàn huyện
TT Các đơn vị hành
chính
Diện tích (ha)
Dân số năm 2010
Mật độ (người/km 2 )
Nguồn Phòng Thống kê huyện Cao Phong
Phân bố dân cư trên địa bàn huyện chia thành 3 khu vực theo mức độ tập trung khác nhau đó là khu vực đông dân cư là thị trấn và các xã nằm 2 bên quốc lộ 6, khu vực thưa thớt là các xã ven hồ Hòa bình và các xã vùng cao Yên Thượng, Yên Lập Việc phân bố dân cư không đều giữa các khu vực đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện, đặc biệt trên các lĩnh vực: đầu tư cho sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển y tế, giáo dục, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng cho vùng núi sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn