1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện ý yên tỉnh nam định

121 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, kiểm soát thuế GTGT là hoạt động nhằm kiểm tra, soát xét lại những quy định, quá trình chấp hành Luật Thuế GTGT của NNT cũng như của cơ quan Thuế, được thể hiện bằng những tác n

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm Nghiệp đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, chuyên sâu, kỹ năng nghiên cứu để áp dụng trong thực tế công tác, hoạt động tại cơ quan

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Văn Viện đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cho tới khi luận văn được hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục thuế Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, đồng chí Hà Đức Lợi - Huyện uỷ viên, Bí thư Đảng bộ Chi cục trưởng Chi cục thuế Huyện Ý Yên cùng các đồng nghiệp và gia đình tôi

đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Đình Thắng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP 5

1.1 Cơ sở lý luận về thuế GTGT 5

1.1.1 Những vấn đề chung về thuế GTGT 5

1.1.2 Lý luận chung về kiểm soát thuế GTGT 17

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp 33

1.2 Cơ sở thực tiễn kiểm soát thuế GTGT trong các doanh nghiệp ở các nước và Việt Nam 37

1.2.1 Ở các nước trên thế giới 37

1.2.2 Ở Việt Nam 41

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Đặc điểm địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 44

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 44

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 44

2.1.3 Đặc điểm Chi cục thuế huyện Ý Yên 45

2.1.4 Đặc điểm các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên 53

2.2 Phương pháp nghiên cứu 57

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 57

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 58

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 58

Trang 3

2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 59

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Huyện Ý Yên 60

3.1.1 Quản lý đối tượng nộp thuế 60

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên 74

3.3 Những thành công, tồn tại trong công tác kiểm soát thuế GTGT ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam định 78

3.3.1 Những kết quả đạt được 78

3.3.2 Những tồn tại 81

3.4 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế GTGT trên địa bàn huyện Ý Yên 88

3.4.1 Định hướng hoàn thiện kiểm soát thuế GTGT trong thời gian tới 88

3.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế GTGT trên địa bàn huyện Ý Yên 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

1 Kết luận 105

2 Kiến nghị 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

5 KK- KTTDT& TH Kê khai- Kế toán thuế dự toán và tin học

16 UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu công chức Chi cục Thuế huyện Ý Yên 49 Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp phân chia theo ngành kinh tế cuối năm 2012 54 Bảng 3.1: Tình hình cấp mã số thuế các doanh nghiệp, Chi cục Thuế huyện Ý Yên đã nhận mã tin qua các năm 61 Bảng 3.2 Kết quả lệnh thu ngân sách của Chi cục thuế huyện Ý Yên 64 Bảng 3.3 Bảng 3.3: Theo dõi nợ đọng thuế GTGT ở các DN ………… …65 Bảng 3.4: Tỷ lệ nợ đọng thuế GTGT 66 Bảng 3.5 Tình hình hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp 68 Bảng 3.6: Kết quả thanh tra, kiểm tra qua các năm 73

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ công việc của quy trình nghiệp vụ về thuế GTGT đối với doanh nghiệp 31 Hình 1.2: Sơ đồ kiểm soát thuế GTGT 32 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục Thuế huyện Ý Yên 46 Hình 2.2.: Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy của các đội thuế tại Chi cục Thuế theo địa bàn 48 Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức đội thuế theo chức năng ……… 48 Hình 2.4: Sơ đồ quy trình kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Ý Yên 56 Hình 3.1: Sơ đồ quy trình thanh tra, kiểm tra thuế GTGT 98 Hình 3.2: Chuyển từ thanh tra tất cả các đối tượng sang thanh tra theo mức độ

vi phạm 99 Hình 3.3: Chuyển từ thanh tra, kiểm tra toàn diện sang thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề 100 Hình 3.4: Chuyển từ thanh tra, kiểm tra chủ yếu tại trụ sở NNT sang thanh tra, kiểm tra tại cơ quan thuế 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích sản xuất phát triển Với vai trò quan trọng của thuế, mọi quốc gia đều rất coi trọng chính sách thuế và các biện pháp quản lý thuế

Quản lý thuế là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước, được thực hiện bởi hệ thống thu thuế Nhà nước Quản lý nhà nước về thuế dựa trên hệ thống chính sách thuế, đảm bảo cho Nhà nước

có một nguồn thu ổn định, đáp ứng được yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh, phát triển của nền kinh tế thị trường Hoạt động quản lý Nhà nước về thuế còn giúp kịp thời tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh trong điều kiện mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

Tuy nhiên, để công tác quản lý thuế thực sự có hiệu quả thì hoạt động kiểm tra, kiểm soát phải luôn được hoàn thiện, tăng cường Hoạt động kiểm tra, kiểm soát không những giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước đảm bảo được mục tiêu đã đề ra mà còn giúp Nhà nước có những điều chỉnh kịp thời trong việc ban hành các chính sách, chế độ về thuế

Ở nước ta từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX đã tiến hành cải cách hệ thống chính sách thuế và tổ chức lại ngành Thuế cho phù hợp với cơ chế quản lý mới Một trong những những cải cách thuế đó là áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT)

Luật Thuế GTGT được Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 (từ ngày 2/4/1997 đến ngày

Trang 8

10/5/1997); được áp dụng ở Việt Nam từ ngày 01/01/1999 Đây là luật thuế mới, phương pháp tính thuế tiên tiến, phù hợp với hoạt động của kinh tế thị trường, khắc phục tình trạng thuế đánh chồng lên thuế, đảm bảo công bằng trong đánh thuế và có tác dụng khuyến khích đầu tư phát triển Qua 14 năm thực hiện, Luật Thuế GTGT đã phát huy tốt những ưu điểm cơ bản của mình

và đã được xã hội thừa nhận

Trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT đến nay đã có thêm Luật Quản lý thuế Số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 do Quốc hội Khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua (có hiệu lực từ ngày 01/7/2007) nhưng công tác quản lý nhà nước về thuế cũng như bản thân Luật Thuế GTGT đã bộc lộ những hạn chế như: Luật Thuế GTGT từ khi được áp dụng đến nay đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Luật nhưng vẫn còn có những quy định không rõ ràng, những hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT còn chậm trễ, gây khó khăn cho quá trình thực hiện, tạo kẽ hở trong quản lý thuế; Tổ chức, bộ máy thu thuế còn hạn chế về nhiều mặt, trình độ của cán bộ thuế còn chưa đáp ứng được các yêu cầu quản lý trong thực tiễn; Công tác thanh tra, kiểm tra còn hạn chế… Những hạn chế này làm cho Luật Thuế GTGT dù đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vẫn chưa được thực hiện nghiêm ngặt từ đó làm ảnh hưởng đến số thu NSNN

Cùng với những ưu việt của Luật Thuế GTGT, quá trình thực hiện một luật thuế mới và việc tổ chức quản lý thu thuế cũng bộc lộ rất nhiều vấn đề liên quan đến cả chính sách thuế và đối tượng nộp thuế Đặc biệt là đã xuất hiện tình trạng quản lý thuế chưa tốt, gian lận thuế GTGT tương đối nhiều, gây thất thu NSNN và bất bình trong dư luận xã hội Đây là vấn đề bức xúc trong quản lý thu thuế GTGT, đòi hỏi hoàn thiện công tác kiểm soát thuế GTGT là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý thuế nói riêng và

Trang 9

công tác quản lý nhà nước nói chung để thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh mẽ hơn

Chi cục Thuế Huyện Ý Yên là cơ quan chuyên môn nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước, được giao nhiệm vụ quản lý thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện Ý Yên , tỉnh Nam Định Là một huyện có số thu ngân sách đứng thứ hai của tỉnh Nam Định, có 31 xã và 01 thị trấn là huyện

có số lượng doanh nghiệp đóng trên trên địa bàn tỉnh chỉ xếp sau Thành phố Nam Định, hàng năm luôn có số lượng doanh nghiệp thành lập mới năm sau cao hơn năm trước Với số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn cả về số lượng

và quy mô, số thuế phát sinh, tiêu biểu là thuế GTGT, ngày càng lớn, trong khi lực lượng cán bộ quản lý thuế chỉ có giới hạn, do đó, việc hoàn thiện quản

lý về thuế, đặc biệt đối với hoạt động kiểm soát thuế GTGT đang là vấn đề cấp thiết Kiểm soát tốt được thuế GTGT cũng đồng nghĩa với việc thực hiện Luật Thuế Gia trị gia tăng được tốt hơn và tăng thu NSNN

Xuất phát từ vai trò quan trọng trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát thuế Giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu thực trạng công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên những năm gần đây, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát nguồn thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên những năm tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm soát thuế GTGT trong các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Trang 10

Đánh giá thực trạng trong công tác kiểm soát thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát thuế GTGT đối với các doang nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên

Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kiểm soát thuế Giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

4 Nội dung nghiên cứu

Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

Phân tích thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT do Chi cục thuế huyện Ý Yên thực hiện

Kiểm soát thuế GTGT tại cơ sở và đề xuất giải pháp hoàn thiện

Kiến nghị hoàn thiện các chính sách về quản lý thuế

Trang 11

1.1.1.1 Khái niệm thuế GTGT

Thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước, bởi thuế là nguồn lực vật chất bảo đảm cho Nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Ph Awngghen đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế ” Việc huy động để tập trung của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, nhưng thuế là quan hệ thu nộp thông qua biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội Việc ban hành các loại, thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế của Nhà nước là một trong những dấu hiệu cơ bản của Nhà nước, cùng với các dấu hiệu khác khiến cho Nhà nước khác với các tổ chức tiền Nhà nước cũng như các tổ chức tồn tại song hành cùng Nhà nước trong hệ thống chính trị của một nước

Dưới góc độ kinh tế - tài chính, thuế được hiểu là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích thực hiện các chức năng của Nhà nước

Dưới góc độ pháp lý, các chuyên gia về luật thuế nhận định thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản

Trang 12

thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành

do luật thuế quy định

Trước một thực tế là Nhà nước vừa muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời, vừa muốn thúc đẩy sản xuất phát triển để nuôi dưỡng nguồn thu cho giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã liên tục sửa đổi, bổ sung cho thuế doanh thu ngày càng hoàn thiện Trên cơ sở đánh thuế doanh thu một lần trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông, vào đầu những năm năm mươi, một người Đức tên

là Carl Friendrich Von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế này ra đời đánh dấu một hướng tư duy mới và đã khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu đã nói ở trên

Mặc dù được khai sinh ra ở Đức, nhưng vào thời điểm này những lý luận của Carl Friendrich Von Simens đưa ra đã không đủ sức thuyết phục được Chính phủ, nên thuế GTGT không được thực hiện đầu tiên ở nước Đức

Thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng đầu tiên tại Cộng hòa Pháp ngày 01/7/1954 vì Pháp là một trong những nước có nền công nghiệp rất phát triển, mặt khác Pháp cũng là nước rất quan tâm đến lĩnh vực tài chính mà trọng tâm đổi mới là thuế gián thu Ban đầu thuế GTGT ở Pháp ra đời chỉ nhằm vào một số ngành cá biệt, mãi tới năm 1968 thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi ngành nghề và trong mọi lĩnh vực

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã chứng minh được

sự thành công của việc điều tiết nền kinh tế bằng phương pháp gián tiếp là chủ yếu Trong bối cảnh đó, với những ưu điểm đặc biệt của thuế GTGT nên

đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng rộng rãi Riêng tại Châu Á có thể thấy rằng, thuế GTGT ngày càng trở thành một sắc thuế phổ biến trong khu

Trang 13

vực này Khởi đầu tại Hàn Quốc (1977) và ngay sau đó nhiều nước đã áp dụng như Inddonexsia (1984), Đài Loan (1986), Philippin (1988),

Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nước chuyển sang áp dụng thuế GTGT để hợp nhất và hiện đại hóa chính sách thuế khóa của mình Các nước thành viên của liên minh Châu Âu đã chọn thuế GTGT như một giải pháp tốt nhất để thống nhất việc đánh thuế, khuyến khích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng năng suất lao động Khi được đưa vào hệ thống luật thuế, nguồn thu từ thuế GTGT đã trở thành một phần quyết định trong tổng thu đối với các nước sử dụng nó

Thuật ngữ “thuế GTGT”, tiếng anh là Value Added Tax, thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà người bán nộp cho nhà nước lại do người mua hàng hóa, dịch vụ trả

1.1.1.2 Đặc điểm của GTGT

Dựa vào các đặc điểm của thuế Gia trị gia tăng, chúng ta có thể nhận diện thuế GTGT với các loại thuế khác

Một là, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá, dịch

vụ mà người tiêu dùng phải chịu

Dưới giác độ kinh tế - tài chính, thuế gián thu là thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh vào một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ Dưới góc độ pháp lý, thuế gián thu được hiểu là loại thuế mà người gánh chịu thuế là khách hàng, nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu Nói cách khác, thuế gián thu

là việc người tiêu dùng (người chịu thuế) chuyển một phần tài sản thuộc

Trang 14

quyền sở hữu của mình vào NSNN thông qua một người thứ ba – người sản xuất, kinh doanh (người nộp thuế)

Xét trong mối quan hệ tay ba: Nhà nước, người chịu thuế và người nộp thuế thì người nộp thuế đóng vai trò trung gian thu thuế hộ Nhà nước rồi nộp vào NSNN

Đối với thuế GTGT, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện thu thuế GTGT khi bán các hàng hóa, dịch vụ Tiền thuế GTGT được tính trên cơ sở giá bán hàng hóa, dịch vụ và người mua phải trả trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ Sau khi bán được hàng hóa, dịch vụ các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp vào NSNN

Do người nộp thuế GTGT và người chịu thuế GTGT không đồng nhất, thuế GTGT được coi là loại thuế gián thu

Hai là, thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ

phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Thuế GTGT chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất, lưu thông và đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp, dịch vụ Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không đánh thuế đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng

Ba là, Thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng

Thuế GTGT áp dụng mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng hàng hóa, dịch

vụ thông qua việc mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ

Trang 15

Suy cho cùng, đối tượng điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc thuế GTGT chỉ đánh vào khâu tiêu dùng cuối cùng, không đánh vào khâu sản xuất kinh doanh, nên chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng hóa, dịch vụ cuối cùng là đủ Song trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng, đâu

là tiêu dùng trung gian nên cứ có hành vi chuyển giao tài sản hoặc cung cấp dịch vụ là phải tính thuế GTGT Nếu đó là tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng cho người mua ở giai đoạn sau

Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT Người tiêu dùng cuối cùng là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không vì mục đích tạo ra hàng hóa, dịch vụ khác và làm cho hàng hóa, dịch vụ đó thoát ra khỏi chu trình lưu thông Phạm vi người chịu thuế GTGT rất rộng Mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, cho dù là tổ chức hay cá nhân, người có thu nhập thấp hay cao, làm gì và ở đâu, khi mua hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT để tiêu dùng đều phải thanh toán cho người bán hàng hóa, dịch vụ một khoản thuế GTGT kèm theo giá bán của hàng hóa, dịch vụ đã mua Ngay bản thân các nhà kinh doanh, nếu khi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế Gía trị gia tăng nhưng không nhằm phục vụ cho việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ khác là người chịu thuế GTGT Bởi lúc này các nhà kinh doanh với tư cách là người tiêu dùng cuối cùng đối với hàng hóa, dịch vụ phải chịu thuế GTGT Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội

Chính vì thuế GTGT thuộc loại thuế tiêu dùng đánh ở bình diện rộng nên thuế GTGT có vai trò hết sức quan trọng trong công việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN

Trang 16

Bốn là, thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao

Tính trung lập được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thứ hai, Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, bất kể số giai đoạn nhiều hay ít

Năm là, thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập

Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó Thuế GTGT mang tính chất lũy thoái

vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hóa, dịch vụ Như vậy, khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn so với người có thu nhập thấp

Việc xem xét nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của thuế GTGT có ý nghĩa to lớn trong việc xác định một cơ chế điều chỉnh thích hợp đối với thuế Gía trị gia tăng

1.1.1.3 Đối tượng chịu thuế GTGT và thời điểm phát sinh thuế

- Đối tượng chịu thuế GTGT

Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài) trừ các đối tượng không chịu thuế theo quy định hiện hành Như vậy, phạm vi đối tượng chịu thuế GTGT ở Việt Nam là rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc

Trang 17

hàng hoá nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nước Hoạt động tiêu dùng trong nước có thể là tiêu dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân

- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế là thời điểm mà tại đó đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế khi có sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa

vụ thuế xảy ra Hay nói cách khác, là thời điểm mà tại đó coi những nghĩa vụ thuế đã phát sinh, tại thời điểm này Nhà nước có quyền đòi thuế, đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tính và nộp thuế

Trong thực tế, các chủ thể kinh doanh tiến hành các giao dịch cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông qua hợp đồng kinh tế theo qui trình: ký kết hợp đồng kinh tế, đặt cọc, tạm ứng tiền hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng (nếu có); giao hàng, cung cấp dịch vụ; phát hành hóa đơn; thanh toán tiền hàng; giải quyết tranh chấp, thanh lý hợp đồng Trong các công đoạn đó, khi nào thì phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT?

Để xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối thỏa đáng và hợp lý, có ba phương án sau:

Thời điểm chuyển giao hàng hóa, cung cấp dịch vụ

Thời điểm giao hàng, cung cấp dịch vụ là thời điểm mà tại đó hàng hóa được giao, dịch vụ được cung cấp đến khách hàng

Hàng hóa được giao là hàng hóa trên thực tế không còn nằm dưới dự kiểm soát của bên giao hàng (bên bán) tức quyền quản lý, nắm giữ, sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao cho bên mua hàng

Việc chuyển giao hàng hóa có thể gắn hoặc không gắn với việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, như trong những trường hợp sau:

Giao hàng trong trường hợp cho thuê tài sản: ở đây có sự chuyển giao tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, song việc chuyển giao này chỉ nhằm

Trang 18

mục đích sử dụng, khai thác công dụng tài sản trong một thời gian xác định nghĩa là chỉ chuyển giao quyền sử dụng tài sản trong một thời gian nhất định chứ không nhằm mục đích sử hữu

Giao tài sản trong trường hợp gia công hàng hóa, được chia ra ba trường hợp: 1 Bên đặt gia công chuyển giao nguyên vật liệu cho bên nhận gia công; 2 Chuyển giao tài sản từ bên nhận gia công cho bên đặt gia công sau khi sản phẩm gia công đã hoàn thành; 3 Bên nhận gia công chuyển giao nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công

Chuyển giao tài sản trong trường hợp gửi giữ tài sản: việc chuyển giao tài sản từ bên gửi sang bên nhận giữ chỉ trong một khoảng thời gian xác định, bên nhận giữ chỉ có quyền chiếm giữ, trông coi tài sản mà không có bất kỳ quyền nào đối với tài sản

Hàng hóa được giao trong trường hợp cầm cố, đặt cọc, thế chấp, bảo lãnh:

sự chuyển giao tài sản trong trường hợp này cũng không nhằm mục đích sở hữu mà chỉ nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

Chuyển giao tài sản trong trường hợp vận chuyển tài sản: sự chuyển giao này thực chất chỉ là tạm thời chuyển quyền chiếm hữu tài sản cho bên vận chuyển trong thời gian bên vận chuyển làm nghĩa vụ chuyển dịch tài sản đó tới địa điểm đã định theo thỏa thuận

Những trường hợp này không có sự chuyển giao quyền sở hữu về tài sản mặc dù đều có hành vi giao tài sản và những hoạt động chuyển giao này không được coi là hoạt động chuyển giao tài sản thuộc diện chịu thuế GTGT

mà xác định nghĩa vụ thuế Gía trị gia tăng theo hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ

Trong các trường hợp việc giao dịch gắn với việc chuyển quyền sử hữu hàng hóa, so sánh thời điểm giao hàng và thời điểm chuyển quyền sở hữu thì

sẽ nảy sinh các khả năng sau:

Trang 19

Quyền sở hữu được chuyển giao cùng thời điểm giao hàng: đối với hoạt động mua bán, trao đổi tài sản thì thời điểm bên mua và các bên trao đổi nhận được tài sản là thời điểm chuyển quyền sở hữu nếu không có sự thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có qui định khác Bộ Luật Dân sự nước ta xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu như sau:

Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử hữu, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

Quyền sở hữu được chuyển giao sau thời điểm giao hàng: bên mua đã nhận được tài sản và trên thực tế đang thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với tài sản nhưng chưa được chuyển quyền sở hữu, như trong các trường hợp sau:

Thuê mua tài sản: quyền sở hữu thuộc về tài sản được coi là chuyển giao kể

từ khi trả xong số tiền thuê cuối cùng của thời hạn trả tiền cuối cùng

Mua bán tài sản theo hợp đồng mà trong hợp đồng có đưa ra điều kiện giữ lại tài sản cho đến khi thanh toán xong nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm thanh toán xong

Mua trả góp hay còn gọi là bán theo thể thức thanh toán chậm thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu được xác định kể từ khi bên mua thanh toán xong kể cả tiền lãi

Quyền sở hữu được chuyển giao trước thời điểm giao hàng: là trường hợp bên được cung cấp hàng hóa chưa nhận được tài sản nhưng đã có quyền sở hữu tài sản đó, như bên góp vốn hoặc trong trường hợp bên bán chưa giao tài sản cho bên mua nhưng bên mua đã đăng ký quyền sở hữu tài sản đó

Trang 20

Dịch vụ được cung cấp là nội dung công việc được thỏa thuận trong hợp đồng đang được thực hiện

Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ nếu lấy thời điểm cung cấp dịch vụ

để xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT thì sẽ rất khó xác định

và không chính xác Bởi vì rằng dịch vụ không mang hình thái vật thể và dịch

vụ được tiêu dùng ngay trong thời điểm cung cấp, nghĩa là thời gian cung cấp dịch vụ và thời gian tiêu dùng dịch vụ trùng hợp nhau

Tại thời điểm giao hàng, cung cấp dịch vụ, bên bán hàng hóa, dịch vụ

có thể chưa nhận được tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ, tức tại thời điểm này người cung cấp hàng hóa, dịch vụ chưa có thu nhập Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, trường hợp này giá trị hàng hóa, dịch vụ đã được thỏa thuận trước, tức giá trị trao đổi đã được xác định, hoạt động chuyển giao hàng hóa, cung cấp dịch vụ thể hiện giao dịch thực phát sinh và như vậy hàng hóa, dịch vụ đó đã có sự tăng thêm thì nghĩa vụ thuế GTGT đã phát sinh

Mặc dù vậy, cũng phải thấy rằng, nếu xác định nghĩa vụ thuế GTGT phát sinh tại thời điểm giao hàng thì có khả năng động viên trước một phần thu nhập quốc dân từ khâu sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nhưng rõ ràng gánh nặng thuế GTGT đáng lẽ do người tiêu dùng chịu nay được chuyển toàn bộ sang cho người sản xuất kinh doanh Điều này không còn phản ánh đúng bản chất của thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng

- Thời điểm xuất hóa đơn

Thời điểm xuất hóa đơn là thời điểm phát hành hóa đơn GTGT cho người mua, kể từ thời điểm này người cung cấp hàng hóa, dịch vụ có quyền đòi thanh toán, tức có sự thừa nhận giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ

Do đó, coi như thu nhập của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ đã được xác định Vì vậy, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ có khả năng về tài chính để

Trang 21

thực hiện nghĩa vụ nộp thuế - đặc biệt thuế gián thu nhằm động viên trước một phần thu nhập quốc dân để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Tất nhiên cách xác định này cũng gặp phải những vướng mắc, như trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ chưa được cung cấp nhưng đã xuất hóa đơn hoặc đã thanh toán tiền trước nhưng chưa xuất hóa đơn Đặc biệt trong trường hợp hàng hóa chưa được giao đã xuất hóa đơn dẫn đến việc mua bán hóa đơn lòng vòng với nhau khi không có hoạt động chuyển giao hàng hóa chịu thuế thực tế xảy ra để chiếm dụng vốn NSNN thông qua chính sách khấu trừ thuế đầu vào hoặc hoàn thuế GTGT (khấu trừ, hoàn thuế khống)

- Thời điểm thanh toán (thời điểm thu tiền)

Thời điểm thanh toán là thời điểm mà tại đó người nhận cung cấp hàng hóa, dịch vụ trả cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ một khoản tiền theo thỏa thuận

Việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT phát sinh tại thời điểm thanh toán hoàn toàn phù hợp với bản chất của thuế Bởi thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội cho Nhà nước mà khoản thu nhập được biểu hiện cụ thể ở hành vi thu tiền sau khi thực hiện các nghiệp vụ chịu thuế Song sẽ hạn chế ở chỗ không động viên trước một phần thu nhập quốc dân vào NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và chính điều này lại không phản ánh được bản chất của thuế gián thu Mặt khác, trong một

số trường hợp đặc biệt thì việc xác định thời điểm thanh toán cũng rất khó khăn, như khi việc thanh toán được thực hiện dần dần hoặc trả tiền trước; tạm ứng một phần; trả chậm thì thời điểm thu tiền được xác định vào thời điểm nào?

Theo quan điểm của chúng tôi, việc xác định thời điểm phát sinh nghĩa

vụ thuế GTGT trước hết phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của các hoạt động chịu thuế GTGT (sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT) Cụ thể:

Trang 22

Đối với hoạt động chuyển giao hàng hóa là thời điểm xuất hóa đơn yêu cầu thanh toán, bởi hàng hóa bao giờ cũng được thể hiện dưới dạng những vật thể

cụ thể, không phụ thuộc vào thời điểm thanh toán, nghĩa là không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đã thu được tiền hay chưa thu được tiền và đã nhập vào quỹ hay chưa Miễn là khi giao hàng hóa, người bán đã xuất hóa đơn hợp pháp thì nghĩa vụ thuế GTGT coi như đã phát sinh Kể từ thời điểm đó đối tượng nộp thuế có trách nhiệm thu và nộp thuế GTGT đã phát sinh vào Kho bạc nhà nước đồng thời Nhà nước có quyền yêu cầu đối tượng nộp thuế phải thanh toán tiền thuế GTGT cho Nhà nước

Hành động phát sinh nghĩa vụ thuế là hành động mà qua đó cấu thành những điều kiện cần thiết để xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế Hay nói cách khác là hành động mà qua đó các điều kiện phát sinh nghĩa vụ thuế được thực hiện, tức hoạt động chuyển giao hàng hóa đã được thực hiện, quyền

sở hữu đối với tài sản hoặc quyền nắm giữ tài sản đã được chuyển giao Tất nhiên, nguyên tắc này chỉ áp dụng cho những vật chắc chắn tức vật cân, đong,

đo đếm được và nó chỉ diễn ra tại thời điểm các vật này được cân, đong, đo, đếm thực tế và đã được chuyển giao

- Đối với hoạt động cung cấp, dịch vụ

Thời điểm xác định thuế GTGT đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay có những hình thức cung ứng không thể xác định được đó là cung ứng hàng hóa hay cung ứng dịch vụ như cung ứng phần mềm về một thông tin thương mại nào đó, đặc biệt với sự hiện diện của các hoạt động cung ứng thương mại hiện đại như thương mại điện tử thì ranh giới giữa hàng hóa và dịch vụ rất khó phân định Vì vậy, có quan điểm cho rằng không nên đưa ra định nghĩa phân biệt hàng hóa, dịch vụ mà nên đưa

ra định nghĩa về một hình thức cung ứng chịu thuế nói chung, theo đó thời

Trang 23

điểm phát sinh nghĩa vụ thuế được xác định vào thời điểm hoặc xuất hóa đơn hoặc thanh toán tùy thuộc sự kiện nào xảy ra trước

1.1.2 Lý luận chung về kiểm soát thuế GTGT

1.1.2.1 Khái niệm kiểm soát

Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm soát

là kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định Theo Từ điển Luật học, kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn ngừa kịp thời việc làm sai trái với thoả thuận, với quy định

Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch Quy trình này bao gồm 3 bước khác nhau: đo lường thành quả hoạt động, so sánh thành quả thực tế với một chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn mực không phù hợp Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của

tổ chức

Theo định nghĩa này, kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một khâu của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý Vì vậy có thể hiểu kiểm soát là một chức năng của quản lý Tuy nhiên, chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hóa cũng như những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời

kỳ lịch sử cụ thể

Vậy, kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những quy định, những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ (những thao tác cụ thể) nhằm nắm bắt và điều hành được những nghiệp vụ đó

Trang 24

Như vậy, kiểm soát thuế GTGT là hoạt động nhằm kiểm tra, soát xét lại

những quy định, quá trình chấp hành Luật Thuế GTGT của NNT cũng như của cơ quan Thuế, được thể hiện bằng những tác nghiệp cụ thể như thanh tra, kiểm tra… Hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi cơ quan Thuế

Kiểm soát bao gồm cả hoạt động kiểm tra (nghĩa là kiểm soát rộng hơn kiểm tra, kiểm tra là một trong những hoạt động của kiểm soát)

1.1.2.2 Phân loại hoạt động kiểm soát

Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại hoạt động kiểm soát

Thứ nhất: Theo phạm vi kiểm soát, kiểm soát được phân thành kiểm

soát hành chính (kiểm soát quản lý) và kiểm soát kế toán

Theo các chuẩn mực đã hệ thống hoá của Hội đồng kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), phần thực hành kiểm toán thì:

Kiểm soát quản lý (trong doanh nghiệp được cụ thể hoá là kiểm soát

quản trị - Administrative) bao gồm (nhưng không hạn chế) kế hoạch tổ chức

và các trình tự, hồ sơ cần cho quá trình ra quyết định để cho phép tiến hành các nghiệp vụ Kiểm soát quản lý gắn liền với trách nhiệm thực hiện các mục tiêu của tổ chức và là điểm xuất phát để thiết lập kiểm soát kế toán

Hoạt động kiểm soát hành chính tập trung vào các thể thức kiểm tra nhằm đảm bảo cho việc điều hành công tác ở đơn vị có nề nếp, nghiêm minh

và hiệu quả Các thao tác kiểm soát hành chính được thực hiện trên lĩnh vực

tổ chức và hành chính ở mọi cấp độ như: Tuyển chọn nhân viên, xây dựng tác phong, quy trình làm việc, tổ chức thực hiện công việc cùng với các thao tác kiểm soát quá trình chấp hành mệnh lệnh ở đơn vị

Kiểm soát kế toán (Accounting Control) bao gồm kế hoạch tổ chức các

trình tự, hồ sơ cần thiết cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ sách tài chính và do đó phải đảm bảo hợp lý rằng: Các nghiệp vụ được tiến hành theo

sự chỉ đạo chung hoặc cụ thể của quản lý; các nghiệp vụ được ghi sổ là cần

Trang 25

thiết để giúp chuẩn bị các báo cáo tài chính đúng theo nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận hoặc các tiêu chuẩn có thể áp dụng cho các báo cáo này và duy trì khả năng hạch toán của tài sản; chỉ khi được phép của nhà quản

lý mới động đến tài sản; các hoạt động đều được ghi nhận vào những thời điểm thích hợp giúp cho việc thiết lập thông tin kinh tế tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế toán và thể hiện chính xác toàn diện hiện trạng tài nguyên của đơn vị hoặc đơn vị có nhiệm vụ quản lý phải có sự điều chỉnh phù hợp khi có những chênh lệch; cung cấp căn cứ để đề ra quyết định xử lý các sai lệch, rủi ro có thể gặp phải

Như vậy, kiểm soát kế toán chỉ quan tâm đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp được phản ánh trên các tài liệu kế toán Trong khi đó, kiểm soát quản lý yêu cầu một phạm vi rộng hơn các đối tượng kiểm soát theo mục tiêu quản lý của toàn bộ tổ chức Tuy nhiên, kiểm soát kế toán lại có vai trò là cơ

sở cho kiểm soát quản lý Các chứng từ kế toán không chỉ là sự thông tin mà còn là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế Từ đó, kiểm soát kế toán có thể hình thành phương pháp tự kiểm soát

Thứ hai: Theo mục tiêu kiểm soát, kiểm soát bao gồm kiểm soát ngăn

ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh

Mục tiêu của hoạt động kiểm soát trong tác nghiệp là đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được thành công, đạt mục tiêu đề ra, ngăn ngừa và phát hiện các sai lầm, gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp, làm giảm thiểu các khả năng xảy ra các hiện tượng này và còn cung cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh

Kiểm soát ngăn ngừa: tập trung chủ yếu vào việc quản lý nhân sự, xây

dựng quy trình, quy phạm thực hiện các thao tác tác nghiệp

Kiểm soát phát hiện: tập trung vào việc phát hiện các gian lận, sai sót,

sai lầm và rủi ro trong quá trình tác nghiệp một cách nhanh chóng, nhằm giúp

Trang 26

các cấp lãnh đạo có những quyết định xử lý kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra

Kiểm soát điều chỉnh: hướng tới việc cung cấp những thông tin cần

thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh các sai sót được phát hiện

Thứ ba: Theo thời điểm thực hiện trong quá trình tác nghiệp, kiểm soát được chia thành kiểm soát cấp tin ra trước, kiểm soát hiện hành và kiểm soát cấp tin trở về

Kiểm soát cấp tin ra trước: hay còn gọi là kiểm soát lường trước, kiểm

soát hướng về tương lai, nhằm khắc phục độ trễ thời gian trong kiểm soát thực hiện Đó là sự tiên liệu những diễn biến có thể sảy ra trong quá trình tác nghiệp, đề phòng các rủi ro và khó khăn tiềm ẩn Đó là hoạt động kiểm soát đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, loại hoạt động kiểm soát này chưa phổ biến

về mặt kỹ thuật và còn rất nhiều hạn chế Sự tiên liệu trong các hoạt động này đòi hỏi phải được thực hiện do những người có trình độ và có nhiều kinh nghiệm thực tế, thông tin phải chính xác Do vậy, hiện nay sự tiên liệu này còn có khoảng cách khá xa so với thực tế, mặt khác, chi phí cho các hoạt động này khá tốn kém

Kiểm soát sau khi tác nghiệp: hay kiểm soát thông tin phản hồi (còn

gọi là kiểm soát thông tin trở về trước) là hoạt động kiểm soát thông dụng nhất hiện nay Mặc dù bị trễ về thời gian, song bù lại kiểm soát sau khi tác nghiệp lại có đầy đủ căn cứ để đánh giá, đo lường kết quả tác nghiệp

Trong kiểm soát nguồn thu thường sử dụng kiểm soát sau khi tác nghiệp Căn cứ vào báo cáo của người nộp thuế, Cơ quan Thuế tiến hành kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, từ đó có thể kiểm soát được nguồn thu cho NSNN

Kiểm soát trong khi tác nghiệp: hay kiểm soát nội bộ là hoạt động kiểm

soát được tiến hành ngay trong quá trình tác nghiệp nhằm ngăn ngừa, phát

Trang 27

hiện sai lầm, kiểm tra việc thi hành các quyết định trong khi thực hiện các thao tác tác nghiệp Như vậy nếu làm tốt công tác kiểm soát nội bộ thì mức độ rủi ro trong quá trình tác nghiệp sẽ giảm đi, đảm bảo được hiệu quả công việc

ở mức độ tốt nhất

Kiểm soát nội bộ: là một việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động

trong tất cả các khâu của quá trình quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động đúng pháp luật và đạt được các kế hoạch, mục tiêu đã đề ra với hiệu quả kinh tế cao nhất và đảm bảo sự tin cậy của các báo cáo tài chính

Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ với ba yếu tố chính cấu thành Cụ thể:

Thứ nhất: Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm toàn

bộ nhân tố bên trong đơn vị và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội

bộ

Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quan điểm, thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý trong doanh nghiệp Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản

lý tại doanh nghiệp

Đó là thái độ, khả năng, sự nhận biết và các hoạt động kiểm soát của người quản lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và giá trị đạo đức, cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự Môi trường kiểm soát là thành phần quan trọng nhất trong ba thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ Hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ luôn phụ thuộc vào quan điểm của người quản lý cao cấp

Trang 28

Môi trường kiểm soát gồm các hành động, các chế độ và các thể thức phản ánh thái độ chung của giám đốc và ban lãnh đạo của một tổ chức về quá trình kiểm soát và tầm quan trọng của nó đối với tổ chức đó

Một số nhân tố chủ yếu của môi trường kiểm soát bao gồm:

- Đặc thù về quản lý: đặc thù về quản lý nói lên quan điểm khác nhau

của người quản lý trong chỉ đạo và điều hành mọi hoạt động của đơn vị Cơ cấu về quyền lực trong một đơn vị cũng là một vấn đề tiêu biểu của đặc thù quản lý

- Cơ cấu tổ chức: Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho sự thông

suốt trong việc uỷ quyền và phân công trách nhiệm cơ cấu tổ chức sao cho có thể ngăn ngừa được sự vi phạm các chính sách, thủ tục, quy chế kiểm soát và loại bỏ được những hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến sai lầm và gian lận

Để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thiết lập được sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của đơn vị, không bỏ sót lĩnh vực nào đồng thời không có sự chồng chéo giữa các

bộ phận

Thực hiện sự phân chia 3 chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ và bảo quản tài sản

Bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận

- Chính sách nhân sự: Chính sách nhân sự bao gồm toàn bộ các

phương pháp quản lý nhân sự và các chế độ của đơn vị đối với việc tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật các nhân viên Một chính sách nhân sự đúng đắn là chính sách nhằm vào việc tuyển dụng, huấn luyện và sử dụng các cán bộ, nhân viên có năng lực và đạo đức

Trang 29

- Công tác kế hoạch: bao gồm các kế hoạch cụ thể để điều hành mọi

hoạt động cũng như phương án chiến lược của bộ phận quản lý cao nhất Chiến lược và các kế hoạch giúp cho đơn vị hoạt động đúng hướng và có hiệu quả Công tác kế hoạch được tiến hành nghiêm túc và khoa học cũng sẽ trở thành một công cụ kiểm soát hữu hiệu

- Bộ máy kiểm toán nội bộ: là một bộ phận độc lập được thiết lập trong

đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị

Là một trong những nhân tố cơ bản trong môi trường kiểm soát nói riêng và trong hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị nói chung, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho đơn vị có được những thông tin kịp thời, chính xác và trung thực về các hoạt động và các nội dung quan tâm, qua đó thể hiện chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả

- Các nhân tố bên ngoài: đó là các nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của

các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, cung cách của nhà quản lý và các quy chế, các thủ tục kiểm soát cụ thể Thuộc các nhân tố này là ảnh hưởng của các cơ quan chức năng của Nhà nước, yếu tố tâm lý, phong tục, tập quán của các tầng lớp dân cư …

Thứ hai: Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế

toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Đối với doanh nghiệp, yếu tố quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu là hệ thống kế toán, nhưng đối với ngành Thuế, hệ thống thông tin (cung cấp thông

Trang 30

tin về tình hình thu nộp thuế) được mô tả rộng hơn trong đó bao hàm cả hệ thống kế toán

Mục đích của hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu thập, phân loại, phân tích ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiết: tính có thực, sự phê chuẩn, tính đầy đủ, sự đánh giá, sự phân loại, tính đúng kỳ, quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác

Đối với ngành Thuế, đặc trưng của hệ thống thông tin kế toán không phải là kế toán nội bộ mà nó là hệ thống phản ánh các số liệu về tình hình kê khai, theo dõi thu nộp ngân sách của NNT, còn gọi là kế toán thuế

Kế toán thuế làm nhiệm vụ cập nhật, phản ánh một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác số tiền thuế đã nộp vào NSNN; tính thuế, theo dõi nợ đọng tiền thuế, tính phạt… theo quy định Số liệu kế toán thuế là cơ sở pháp lý để xác định kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế của các ngành và từng NNT, là căn cứ

để quyết toán thuế với người nộp thuế, quyết toán thu ngân sách hàng tháng, quý, năm…

Công việc này được thực hiện bởi Đội KK-KTTDT& TH Thực hiện nghiêm túc công tác kế toán đó chính là một trong những điều kiện phát huy được tác dụng tự kiểm tra của công tác kế toán

Thứ ba: Các thủ tục kiểm soát Các thủ tục kiểm soát là những chế độ

và thể thức do các nhà quản lý xây dựng để đảm bảo những hoạt động cần thiết sẽ được thiết lập và thực hiện nhằm đạt được các kế hoạch và mục tiêu

đã đề ra Những thủ tục kiểm soát được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản dưới đây:

- Nguyên tắc phân công phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, trách

nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và nhiều

Trang 31

người trong bộ phận Việc phân công phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thì dễ phát hiện

- Nguyên tắc bất kiêm bất nhiệm: Nguyên tắc này quy định sự cách ly

thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn

- Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Theo sự uỷ quyền của các nhà

quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Quá trình uỷ quyền được tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất đi tính tập trung

Bên cạnh đó, việc tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn Sự phê chuẩn đúng đắn được chia thành hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể Phê chuẩn chung được thể hiện qua việc xây dựng các chính sách chung về những mặt hoạt động cụ thể để cấp dưới tuân thủ Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế cụ thể

Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao gồm: việc quy định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, kiểm soát vật chất đối với tài sản

và sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện các hoạt động của đơn vị

1.1.2.3 Kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp

a Mục tiêu của việc kiểm soát thuế GTGT

Để đảm nhiệm được những vai trò nêu trên thì những mục tiêu cơ bản

đặt ra đối với kiểm soát thuế GTGT là:

Thứ nhất, Kiểm soát thuế GTGT giúp cho công tác quản lý nguồn thu

ngân sách được thực hiện một cách tốt nhất với mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản tiền thuế GTGT vào NSNN

Trang 32

Thứ hai, đề cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về thuế và tạo

điều kiện cho người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế

Thứ ba, nhằm điều chỉnh những bất hợp lý, những kẽ hở của chính sách

pháp luật trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT

Thứ tư, cải tiến các thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ

ràng, chuẩn hóa dần công tác quản lý thuế

Thứ năm, việc kiểm soát thuế GTGT phải góp phần phát huy tốt nhất

vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế

Kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp phải giúp cho công tác quản lý nguồn thu được thực hiện một cách tốt nhất nhằm tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu vào NSNN

Tăng cường ý thức chấp hành nghiêm chỉnh quy định của luật thuế và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật nói chung của các doanh nghiệp

Kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp phải góp phần phát huy tốt nhất vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế Đây không chỉ là mục tiêu chung của chính sách thuế mà còn là mục tiêu cụ thể của kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp Do chất lượng của kiểm soát thuế GTGT có cao thì mới cung cấp đầy đủ thông tin chính xác, kịp thời cho công tác quản lý thuế GTGT, từ đó có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn, giúp Luật Thuế GTGT thực sự được phát huy trong nền kinh tế

Nhằm đạt được những mục tiêu trên, kiểm soát thuế GTGT phải tuân thủ chặt chẽ các bước cơ bản của quá trình kiểm soát Đó là:

Bước một: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên cơ sở mục tiêu của

quản lý

Hệ thống tiêu chuẩn để kiểm soát thuế GTGT được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật Thuế GTGT, Luật Quản lý thuế và quy trình quản lý thu

Trang 33

thuế (Luật Quản lý thuế ra đời có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đã quy định toàn

bộ quy trình và thủ tục về lĩnh vực thuế)

Bước hai: Dựa trên quy định của Luật Quản lý thuế và quy trình quản

lý thu thuế để thực hiện quá trình kiểm soát Cung cấp những thông tin về NNT đối với việc chấp hành luật thuế, qua đó nắm bắt được một cách đầy đủ nhất nguồn thu phát sinh và số thuế còn tồn đọng để đôn đốc thu nợ đối với người nộp thuế

Bước ba: Dựa trên những thông tin thu được trong quá trình kiểm soát,

Nhà nước có thể nắm bắt và đưa ra những chính sách điều chỉnh kịp thời nhằm khắc phục những vướng mắc trong quá trình thực hiện luật thuế

Tuy nhiên, muốn thực hiện được đúng các bước của quá trình kiểm soát nêu trên, vấn đề đặt ra đối với kiểm soát thuế GTGT là:

Thứ nhất: Phải luôn lấy Luật Thuế GTGT và Luật Quản lý thuế làm

chuẩn mực cho hoạt động kiểm soát Trong quá trình kiểm soát, hệ thống luật pháp vừa là căn cứ để thực hiện kiểm tra, đối chiếu, vừa là công cụ trong việc điều chỉnh, xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp Do vậy, kiểm soát thuế GTGT phải bám sát vào các quy định của pháp luật và phải thực hiện đúng các quy định đó

Thứ hai: Kiểm soát thuế GTGT phải bao quát hết tất cả các nghiệp vụ

phát sinh của NNT Cụ thể là phải bao quát hết về số lượng doanh nghiệp, các loại hình hoạt động của doanh nghiệp trong diện điều tiết của thuế GTGT và phải đảm bảo tính công bằng giữa NNT

Thứ ba: Phải tuân thủ các quy định quy trình quản lý thu thuế Việc

quản lý nguồn thu thuế GTGT luôn được thực hiện theo các quy trình nghiệp

vụ cụ thể trên cơ sở các quy định của Luật Quản lý thuế

b Đặc điểm và vai trò kiểm soát thuế GTGT

Trang 34

Tính chất của nguồn thu thuế GTGT là nguồn thu phát sinh tại các DN

và phải chịu sự kiểm soát của CQT Hoạt động kiểm soát thuế GTGT vừa mang tính chất hoạt động KSNB, vừa mang tính chất hoạt động ngoại kiểm

Kiểm soát thuế GTGT là một trong những chức năng quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực thuế nhằm quản lý chặt chẽ nguồn thu này

Hoạt động kiểm soát thuế GTGT được thực hiện không chỉ bởi cơ quan Thuế mà còn được thực hiện bởi nhiều cơ quan hữu quan khác như: cơ quan Hải quan, Kiểm toán, Thanh tra… và được sự hỗ trợ từ nhiều cơ quan chức năng như: Kho bạc, Ngân hàng, Công an… Tuy nhiên, trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động kiểm soát trên giác độ chủ thể kiểm soát là cơ quan Thuế đối với nguồn thu thuế từ GTGT

Hoạt động kiểm soát nguồn thu thuế GTGT không chỉ được thực hiện tại cơ quan Thuế mà còn được tiến hành tại doanh nghiệp

Nguồn thu NSNN, trong đó có thuế GTGT - một nguồn thu quan trọng

và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số thu NSNN (từ 20 đến 30%) là nguồn tài chính duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước Ngoài ra, nguồn thu NSNN lại quyết định đến mức chi NSNN, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế, xã hội, quyết định sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Vì vậy, việc quản lý nguồn thu thuế GTGT đóng vai trò hết sức quan trọng Như đã đề cập ở trên, quản lý luôn tồn tại song hành cùng kiểm tra, kiểm soát Do đó, hoàn thiện công tác kiểm soát thuế nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với ngành Thuế

Kiểm soát thuế GTGT là hoạt động nhằm kiểm tra, soát xét lại những quy định, quá trình chấp hành Luật Thuế GTGT của NNT cũng như của cơ quan Thuế, được thể hiện bằng những tác nghiệp cụ thể như thanh tra, kiểm tra…Hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi cơ quan Thuế

Trang 35

Vai trò của kiểm soát thuế giá trị gia tăng được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, kiểm soát tốt được thuế GTGT sẽ góp phần quan trọng trong

việc động viên nguồn thu thường xuyên, ổn định cho NSNN vì nguồn thu thuế GTGT chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số thu NSNN Sau đó, kiểm soát thuế GTGT có vai trò vô cùng quan trọng trong điều kiện hiện nay, khi phương thức quản lý thuế được áp dụng là NNT tự khai - tự nộp về việc

kê khai, nộp thuế của mình Từ 01/7/2007 khi Luật Quản lý thuế có hiệu lực cũng là thời điểm ngành Thuế thực hiện mô hình quản lý thuế theo chức năng Theo đó, việc quản lý thuế không phải được thực hiện trực tiếp đối với NNT mà thay vào đó là việc NNT tự tính, tự kê khai và tự chịu trách nhiệm

về hành vi kê khai của mình, cơ quan Thuế sẽ tăng cường việc quản lý thuế thông qua việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát, thanh tra… đối với NNT Vì vậy, nếu không có kiểm soát thường xuyên của cơ quan Thuế thì việc thất thu thuế GTGT là không thể tránh khỏi

Hai là, kiểm soát thuế GTGT góp phần tạo môi trường kinh doanh ổn

định, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia vào nền kinh

tế Thực tế, ý thức chấp hành các luật thuế của NNT là rất khác nhau và vô cùng phức tạp Kiểm soát thuế GTGT thực chất là việc kiểm tra tình hình chấp hành Luật thuế GTGT của NNT, do vậy nếu việc kiểm soát nguồn thu thuế GTGT được thực hiện chặt chẽ thì buộc các doanh nghiệp phải thực hiện tốt hơn quy định của các luật thuế, đảm bảo sự công bằng giữa bộ phận NNT

Ba là, kiểm soát thuế GTGT tạo điều kiện hình thành thói quen tuân

thủ pháp luật của các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế Đối với các doanh nghiệp, chính sách thuế GTGT của Nhà nước luôn là mối quan tâm lớn nhất Hoạt động kiểm soát thuế GTGT nếu được thực hiện tốt sẽ giúp doanh

Trang 36

nghiệp và Nhà nước điều chỉnh kịp thời những sai lệch, từ đó tạo thói quen tuân thủ pháp luật thuế GTGT nói riêng và các pháp luật về thuế nói chung

Bốn là, thực tế vừa qua đã có nhiều trường hợp cán bộ thuế - những

người thực thi pháp luật thuế, chủ thể thực hiện việc quản lý thuế đã có những sai phạm, thông đồng với NNT để lách luật, trốn thuế, gây thất thu cho NSNN Do đó, việc kiểm soát thuế GTGT sẽ góp phần giảm thiểu những sai phạm, nâng cao ý thức tuân thủ quy định của pháp luật của cả cán bộ thuế cũng như NNT

c Nội dung kiểm soát thuế GTGT

Hệ thống kiểm tra nội bộ ngành thuế

Kiểm soát nội bộ trong phạm vi cơ quan thuế, đó là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu của quy trình quản lý như: đăng

ký thuế, kê khai kế toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế nhằm đảm bảo mọi hoạt động đúng pháp luật, đạt ñược mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chính trị thu NSNN

Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ngành thuế

+ Môi trường kiểm soát

+ Hệ thống thông tin kế toán

+ Các thủ tục kiểm soát

Kiểm soát thông qua quy trình nghiệp vụ về thuế GTGT

Việc kiểm soát thuế GTGT đòi hỏi phải tuân theo các qui trình nhiệp

vụ về thuế Nội dung mối quan hệ công việc của các quy trình nhiệp vụ về thuế GTGT đối với DN như hình 1.1

Kiểm soát thuế GTGT thông qua công tác thanh tra, kiểm tra

Để quá trình thanh tra, kiểm tra NNT được tiến hành theo quy trình thì phải đảm bảo các yếu tố sau: Xây dựng quy mô, phạm vi; kế hoạch chi tiết đến từng NNT; xác định nội dung, lực lượng kiểm tra; tiến hành kiểm tra; xử

Trang 37

lý kết quả kiểm tra và lưu hồ sơ

Trên cơ sở kiểm soát nội bộ ngành thuế, kiểm soát quy trình nghiệp vụ

về thuế GTGT và thực hiện kiểm tra NNT, sơ đồ kiểm soát thuế GTGT được thể hiện như hình 1.2

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ công việc của quy trình nghiệp vụ về thuế

GTGT đối với doanh nghiệp

Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng

Trang 38

Hình 1.2: Sơ đồ kiểm soát thuế GTGT

Tóm lại, kiểm soát thuế GTGT là sự cần thiết khách quan trong quản lý nhà nước Thực hiện kiểm soát tốt nguồn thu thuế GTGT đồng nghĩa với việc đảm bảo nguồn thu của NSNN để duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước

và đầu tư trở lại đối với nền kinh tế, xã hội thông qua các công trình công cộng, phúc lợi xã hội, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển

Do tính chất của nguồn thu thuế GTGT là nguồn thu phát sinh tại nơi NNT và phải chịu sự kiểm soát của cơ quan Thuế, do đó hoạt động kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp có những đặc điểm rất khác biệt với các hoạt động kiểm soát khác Việc kiểm soát này không chỉ được tiến hành tại cơ

- Theo đơn thư

- Theo yêu cầu của cấp trên

CƠ QUAN THUẾ

KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ

Hướng dẫn chính sách

Tiếp nhận hồ sơ thuế

Kê khai, kế toán thuế

Kiểm tra tại cơ quan thuế, tại trụ sở NNT

Kiểm tra công tác quản lý

Trang 39

quan Thuế (nơi có nhiệm vụ quản lý số thu ngân sách) mà kiểm soát còn được tiến hành tại trụ sở làm việc của NNT Vì vậy, hoạt động kiểm soát thuế GTGT vừa mang tính chất là hoạt động kiểm soát nội bộ, vừa mang tính chất ngoại kiểm Căn cứ vào hoạt động kiểm soát nguồn thu tại cơ quan Thuế thì đây là hoạt động kiểm soát nội bộ Nếu căn cứ theo đối tượng kiểm soát thì việc cơ quan Thuế kiểm soát đối với sổ sách, chứng từ của NNT là kiểm toán tuân thủ, đây là hoạt động kiểm soát của Nhà nước - hoạt động ngoại kiểm

Do đó, để đánh giá đúng thực trạng của hoạt động kiểm soát thuế GTGT thì khi xem xét vừa phải dựa trên việc đánh giá các yếu tố của kiểm soát nội bộ như: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát Khi tiến hành kiểm tra việc chấp hành luật thuế của NNT thì phải tuân thủ trình tự của quy trình kiểm toán như khi tiến hành một cuộc kiểm toán thông thường như: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, hoàn thành kiểm toán và sử dụng các phương pháp của kiểm toán

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế GTGT từ các doanh nghiệp

Kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp là một hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế Do vậy, nó mang ý nghĩa áp đặt tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị mà đại diện là nhà nước Ngược lại, doanh nghiệp lại có những mục tiêu hoạt động riêng, đó là lợi nhuận, sự an toàn để tồn tại và phát triển

Giải quyết mâu thuẫn giữa những mục tiêu khác nhau đó là một nội dung vô cùng quan trọng của kiểm soát nguồn thu thuế GTGT Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, kiểm soát nguồn thu thuế GTGT phải được thực hiện trong những điều kiện nhất định

1.1.3.1 Tác động của ý thức xã hội đối với việc chấp hành Luật pháp Nhà nước

Trang 40

Ý thức xã hội là một điều kiện rất quan trọng đối với việc thực thi pháp luật nói chung và với kiểm soát nguồn thu ngân sách nhà nước nói riêng Trong một xã hội có nhiều hiện tượng tiêu cực, pháp luật không có hiệu lực thì việc chấp hành các Luật thuế của Nhà nước không thể đầy đủ và nghiêm túc Ngược lại, khi công chúng tự giác chấp hành pháp luật thì các doanh nghiệp sẽ có ý thức hơn khi đóng góp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác cho Nhà nước Ý thức xã hội có tác động mạnh nhất đến tư tưởng cán

bộ công vụ thực hiện kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp,

đó chính là yếu tố con người Trong đó kiểm soát thu thuế là vấn đề rất nhạy cảm và không thể có vấn đề tuyệt đối hoá vấn đề con người trong công vụ ngay cả ở những nước phát triển Để khắc phục hiện tượng này, chỉ có tính chặt chẽ của hệ thống Luật pháp, một quy trình quản lý thu thuế hiện đại và

sự tiến bộ trong công nghệ thông tin mới có thể giải quyết được

1.1.3.2 Tác động của hệ thống Luật pháp

Trong kiểm soát nguồn thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp, tính chặt chẽ, hợp lý của hệ thống Luật pháp có vai trò vô cùng quan trọng Một hệ thống Luật lý tưởng là một hệ thống Luật bao quát mọi vấn đề, mọi quan hệ kinh tế phát sinh trong nền kinh tế, thực hiện các quy Luật kinh tế và bảo đảm để thực hiện Nếu không đáp ứng các yêu cầu trên sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cho cả người thực hiện công vụ Chính vì vậy, không những thực thi Luật pháp mà kiểm soát nguồn thu thuế GTGT còn phải cung cấp thông tin về thực trạng các doanh nghiệp để Nhà nước hoàn thiện hơn nữa hệ thống Luật thuế

1.1.3.3 Ảnh hưởng của hệ thống kiểm toán nội bộ

Theo khái niệm về kiểm toán nội bộ trong cuốn Kiểm toán nội bộ hiện

đại của V Brink và H.Witt thì :

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài chính (1998), Những điều cần biết về thuế giá trị gia tăng. NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về thuế giá trị gia tăng
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1998
8. Chi cục Thuế Huyện Ý Yên (2010), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2010, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2010
Tác giả: Chi cục Thuế Huyện Ý Yên
Năm: 2010
9. Chi cục Thuế Huyện Ý Yên (2011), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011
Tác giả: Chi cục Thuế Huyện Ý Yên
Năm: 2011
10. Chi cục Thuế Huyện Ý Yên (2012), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2012, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2012
Tác giả: Chi cục Thuế Huyện Ý Yên
Năm: 2012
1. Ph.Ăngghen (Friedrich Engels) (1991), Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: Ph.Ăngghen (Friedrich Engels)
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
11. GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2000), Kiểm toán tài chính, Bài giảng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán tài chính
Tác giả: GS.TS Nguyễn Quang Quynh
Năm: 2000
12. GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2001), Lý thuyết kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: GS.TS Nguyễn Quang Quynh
Năm: 2001
19. Tổng cục Thuế (2004), Chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế
Tác giả: Tổng cục Thuế
Năm: 2004
20. Tổng cục Thuế (2004), Hệ thống văn bản hướng dẫn 03 luật thuế mới và kế toán thuế năm 2004, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản hướng dẫn 03 luật thuế mới và kế toán thuế năm 2004
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng Khác
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng Khác
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng Khác
6. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng Khác
7. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Khác
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Quản lý thuế, Số 78/2006/QH11 Khác
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế, Số 21/2012/QH13 Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật Thuế giá trị gia tăng, Số 02/1997/QH9 Khác
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Thuế giá trị gia tăng, Số 07/2003/QH11 Khác
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Thuế giá trị gia tăng, Số 13/2008/QH12 Khác
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Thuế giá trị gia tăng, Số 31/2013/QH13 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w