Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình, giải quyết tốt mỗi quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn lực” Ở Cầ
SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Dân số là yếu tố tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, do đó cần có chính sách quản lý về dân số Chính sách dân số là các biện pháp chương trình được thiết kế, nhằm đóng góp vào việc đạt mục tiêu kinh tế xã hội, dân số, chính trị, các mục tiêu công cộng khác Dân số và kế hoạch hóa gia đình là một vấn đề đƣợc cả thế giới quan tâm Mọi thứ đều liên quan đến dân số, đến con người, đặc biệt là sự liên quan mật thiết giữa con người với ngành nông nghiệp Vì sự tồn tại của con người chủ yếu nhờ vào lương thực, thực phẩm từ ngành này
Trong quá trình tái sản xuất ra con người và sản xuất ra của cải vật chất thì con người là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội… trong xã hội khi của cải vật chất đƣợc sản xuất ra ngày càng nhiều và phân phối công bằng thì đời sống ngày càng được hạnh phúc và ngược lại Bên cạnh đó, nhà nước ta với bản chất là “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” luôn đặt con người ở vị trí trung tâm đã thể hiện sự coi trọng con người, trong đó có vấn đề dân số
Vì dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính, nên công tác dân số là bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển đất nước và là một nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước ở các địa phương Quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hóa, xã hội, góp phần quyết định sự phát triển bền vững của quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng
Hiện nay, quy mô dân số Việt Nam đã trên 93 triệu người, là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau
Indonesia và Philippin), tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhiều song quy mô dân số còn khá lớn, đồng thời là nước nằm trong nhóm các nước có mật độ dân số cao nhất thế giới Chất lƣợng dân số ở mức trung bình Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn: tốc độ già hóa dân số nhanh; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục tăng cao; chăm sóc sức khỏe sinh sản ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế, sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên rất đáng lo ngại; sự bất bình đẳng giới vẫn chƣa đƣợc giải quyết một cách triệt để… Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế sự phát triển về trí tuệ, văn hóa, giống nòi
Mặc dù tốc độ gia tăng dân số quá nhanh đã đƣợc kiềm chế, tổng tỷ suất sinh tiến tới mức sinh thay thế, song cơ cấu dân số đang chuyển dần sang cơ cấu dân số già, chất lƣợng dân số thấp và phân bố dân cƣ bất hợp lý Nhằm thế chế hoá đường lối, chủ trương chính sách dân số mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra “Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lƣợng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lƣợng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình, giải quyết tốt mỗi quan hệ giữa phân bố dân cƣ hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn lực” Ở Cần Thơ, việc thực hiện chính sách dân số là một trong những công việc được Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể quan tâm thường xuyên Trong những năm qua công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đã đạt đƣợc những thành tích đáng kể Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ sinh con thứ ba có chiều hướng gia tăng trở lại và không bền vững, có nguy cơ phá vỡ những thành tựu đã đạt đƣợc, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phong Điền là một huyện của thành phố Cần Thơ có 85% diện tích đất nông nghiệp, người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, làm vườn; ngoài trồng lúa và rau màu, huyện còn có rất nhiều vườn trái cây đặc sản như dâu
Hạ Châu, Sầu Riêng, Cam, bưởi… những năm gần đây phát triển mô hình du lịch sinh thái
Trong những năm qua, huyện Phong Điền đã tham gia tích cực vào việc thực hiện chính sách DS - KHHGĐ, kết quả công tác dân số và KHHGĐ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, có bước chuyển biến đáng kể trong tình hình mới, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên, góp phần vào việc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của Nhân dân
Tuy nhiên, công tác Dân số - kế hoạch hoá gia đình của huyện còn một số tồn tại hạn chế cần khắc phục nhƣ: từng lúc, từng nơi chƣa đƣợc sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, chính quyền; hiện tƣợng sinh con thứ ba trở lên tuy giảm nhưng chưa bền vững; nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, tư tưởng muốn sinh nhiều con nhiều cháu, trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại; đội ngũ cán bộ làm công tác dân số còn kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác của địa phương, trình độ còn chênh lệch, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu công tác quản lý; kinh phí đầu tư hoạt động từ ngân sách nhà nước cho các chương trình mục tiêu DS - KHHGĐ hạn chế Vì thế, s ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác DS - KHHGĐ, chất lƣợng cuộc sống của nhân dân chậm đƣợc cải thiện, làm chậm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về
DS - KHHGĐ đối với sự phát triển bền vững của địa phương, học viên thực hiện đề tài: "Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về Dân số - KHHGĐ trên địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ành hưởng tới kết quả hoạt động của công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ trên địa bàn, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác này địa bàn huyện Phong Điền
- Hệ thống hóa đƣợc cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ ở cấp huyện
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ tại huyện Phong Điền
- Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ của huyện Phong Điền.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là thực trạng công tác quản lý nhà nước về DS - KHH GĐ trên địa bàn huyện Phong Điền
+ Phạm vi về nội dung:
Thông tƣ số 05/2008/TT-BYT quy định nội dung công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ ở cấp huyện có rất nhiều nội dung khác nhau, tuy nhiên, với phạm vi luận văn này chỉ giới hạn nội dung nghiên cứu vào một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
- Công tác tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, chương trình, dự án về DS-KHH GĐ trên địa bàn
- Công tác truyền thông về DS - KHHGĐ và các mô hình
- Công tác tổ chức, xây dựng mạng lưới cộng tác viên DS - KHHGĐ
- Công tác kiểm tra, giám sát lĩnh vực DS - KHHGĐ
+ Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
+ Phạm vi về thời gian:
- Tài liệu, số liệu thứ cấp đƣợc thu thập và tổng hợp trong giai đoạn
- Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ tháng 01/2017 đến tháng 4/2017.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ
- Thực trạng quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ tại huyện Phong Điền
- Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ trên địa bàn nghiên cứu
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ tại huyện Phong Điền
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CỞ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DS - KHH GĐ
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên Thế giới về quản lý nhà nước về DS - KKHGĐ
Trên thế giới có nhiều tác giả, với nhiều công trình nghiên cứu về DS, chính sách DS - KHHGĐ, với các cách tiếp cận khác nhau đƣa ra những giải pháp phù hợp với tình hình mỗi nước Đối với Ấn Độ, đang là quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới Dự tính đến năm 2025, nước này s đứng vị trí thứ nhất Là một trong những nước đầu tiên trên thế giới ủng hộ và hưởng ứng chương trình KHHGĐ
Sau khi giành đƣợc độc lập (năm 1951), Chính phủ chính thức thực hiện chương trình kiểm soát dân số quốc gia từ năm 1952, nhấn mạnh việc giảm sinh, coi đó là yếu tố quan trọng nhất làm thay đổi quy mô dân số
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ bảy (1986-1990), Ấn Độ xác định mục tiêu mỗi gia đình có 2 con và đạt mức sinh thay thế vào năm 2000 Chính phủ kêu gọi tăng cường các nguồn tài chính cho việc khuyến khích những người chấp nhận KHHGĐ và cho chương trình Việc phối hợp KHHGĐ với các dịch vụ y tế, sức khỏe và bảo vệ bà mẹ trẻ em s tiếp tục đóng vai trò quan trọng
Chương trình phúc lợi gia đình đã đề ra một loạt biện pháp như: tăng tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ trên 20 tuổi; tăng cường địa vị xã hội cho phụ nữ; nâng cao hơn nữa tỷ lệ biết chữ trong toàn quốc; đảm bảo sống hơn nữa cho những người già cả; tăng cường bảo vệ và phát triển sức khỏe cho trẻ em; vận động các tổ chức tự nguyện đóng góp cho chương trình KHHGĐ;
15 vận động các nhà lãnh đạo tuyên truyền và ủng hộ cho chương trình KHHGĐ; đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cho chương trình; hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý chương trình DS - KHHGĐ
Trong những năm qua, chính sách dân số của Ấn Độ đã đạt đƣợc nhiều kết quả quan trọng nhƣ: giảm tỷ lệ sinh và tỷ lệ phát triển dân số Tỷ lệ sinh tổng cộng đã giảm từ 5,8 con bình quân trên một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (1960-1965) xuống 4,2 con trên một người mẹ năm 1985
Tuy nhiên, do Ấn Độ vẫn còn tập quán nặng nề trọng nam khinh nữ, dẫn đến tỷ lệ chết của trẻ em nữ rất cao, tuổi thọ bình quân của nữ thấp Phụ nữ Ấn Độ lấy chồng sớm, tuổi kết hôn trung bình của nữ giai đoạn 1951 -
1961 là 15,53 tuổi, giai đoạn 1961 - 1871 tăng lên 17,1 tuổi [2] Đối với Indonesia, là một trong số ít quốc gia đầu tiên thực hiện chương trình KHHGĐ ngay từ năm 1945 sau khi giành được độc lập Chương trình KHHGĐ cũng trải qua những bước thăng trầm và chia thành nhiều giai đoạn khác nhau
Từ năm 2007, chương trình KHHGĐ bước vào giai đoạn hồi sinh Để quản lý đƣợc sự gia tăng dân số và đẩy mạnh công tác KHHGĐ; Chính phủ Indonesia đã tăng cường cam kết và đẩy mạnh sự quản lý, sửa đổi lại cơ chế tập trung, củng cố lại bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, thiết lập các công ty mạnh, xây dựng các chính sách mới, ban hành Luật Phát triển dân số và gia đình dân số năm 2009 (thay cho Luật Dân số và phát triển gia đình thịnh vƣợng năm 1992)
Chính phủ đã thực thi nhiều chiến lƣợc Cụ thể là: Làm hài hoà các chính sách liên quan đến DS - KHHGĐ Tăng cường sự tham gia tích cực và quyền lực của các đối tác chiến lược và của cộng đồng với các Chương trình dân số và KHHGĐ Phục hồi sự quản lý Chương trình DS - KHHGĐ Nâng
16 cao năng lực xây dựng chính sách Cải thiện phúc lợi KHHGĐ, làm sôi động các chương trình và tăng kinh phí cho KHHGĐ [2]
1.2.2 Khái quát những chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam
Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác DS - KHHGĐ:
Nghị quyết TW 4 khoá VII của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, Đảng ta nêu rõ:
- Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội
- Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình làvận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đƣa dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đến tận người dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hoá gia đình
- Đầu tƣ cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tƣ mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế
- Huy động lực lƣợng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạchhoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu quả và đến tận người dân
- Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình theo chương trình
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN PHONG ĐIỀN
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên của huyện Phong Điền
Phong Điền là một huyện của thành phố Cần Thơ đƣợc thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02/01/2004 của Chính phủ
Phong Điền có diện tích tự nhiên 12.598 ha, với 104.945 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Tân Thới, Giai Xuân, Mỹ Khánh, Trường Long và thị trấn Phong Điền
+ Phía Đông giáp với quận Cái Răng và quận Ninh Kiều - TP Cần Thơ + Phía Tây giáp với huyện Châu Thành A tỉnh Hậu Giang
+ Phía Bắc giáp với quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ - TP Cần Thơ
+ Phía Nam giáp với quận Cái Răng và tỉnh Hậu Giang
Huyện Phong Điền có một vị trí rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa bằng đường thủy và nuôi trồng thủy sản, hệ thống sông ngòi chằng chịt nằm dọc theo sông Cái Răng - Phong Điền và trên tỉnh lộ 923, cách thành phố Cần Thơ 19km là chỗ giao lưu hàng hóa nông sản tập trung của 2 chợ nổi Phong Điền và Cái Răng để đi các tỉnh miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh
Phong Điền có các điều kiện thời tiết khí hậu đặc trƣng của vùng châu thổ sông Cửu Long, phân biệt hai mùa mƣa - nắng rõ rệt Mùa nắng bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng
11 Nhiệt độ trung bình trong năm 27,5 0 C, nhiệt độ cao nhất 35,7 0 C, thấp nhất
20 0 C.Lƣợng mƣa hàng năm đạt 1.339,7mm, cao nhất vào tháng 9 khoảng 336,7 mm.Ẩm độ trung bình cả năm 81,43 %, thấp nhất vào tháng 2 khoảng
73,25%, cao nhất vào tháng 9 khoảng 86,27% Nhìn chung, thời tiết khí hậu của Phong Điền thuộc loại mƣa thuận gió hòa, thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, tạo cảnh quan môi trường theo hướng kết hợp nông nghiệp với du lịch sinh thái.
2.1.1.3 Cơ cấu đất đai của huyện:
Cơ cấu sử dụng đất của huyện Phong Điền đƣợc nêu trên bảng 2.1 Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Phong Điền (2016)
TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
2 Đất trồng cây ăn trái 6.357 60,27
II Đất phi nông nghiệp 1.979 15,8
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phong Điền, năm 2016 Đất canh tác nông nghiệp ở huyện Phong Điền rất màu mỡ, cùng hệ thống sông ngòi dày đặc với tuyến chính là nhánh r từ sông Cần Thơ nằm cặp tuyến lộ vòng cung chạy dài 15km vào trung tâm huyện, đây cũng là trục giao thông chính hiện nay
Hàng năm vào mùa nước lũ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 hệ thống sông này mang theo hàng ngàn mét khối phù sa bồi đắp cho đất nông nghiệp Lượng nước tưới cũng luôn đảm bảo cho sản xuất kể cả vào các tháng mùa hạn
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Phong Điền
2.1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Tình hình dân số và lao động của huyện Phong Điền năm 2016 đƣợc nêu trên bảng 2.2
Bảng 2.2 Dân số và lao động huyện Phong Điền (2016)
TT Xã, thị trấn Dân số
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phong Điền, năm 2016
Phong Điền là huyện ven đô nên mật độ dân số khá cao, ở mức 837 người/km 2 Bình quân mỗi hộ có 6 khẩu và 3 lao động là một trong những thế mạnh về nguồn nhân lực của địa phương trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay
2.1.2.2 Đặc điểm phát triển văn hóa, y tế, giáo dục của huyện:
Là huyện giáp ranh với Quận Ninh Kiều - Trung tâm của thành phố Cần Thơ nên lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước phát triển vượt bậc; an sinh xã hội đƣợc đảm bảo
Tuy nhiên, với đặc thù của huyện nông thôn, phần lớn lao động chƣa qua đào tạo, thiếu việc làm, thu nhập không ổn định; mỗi trạm y tế xã đều có bác sỹ nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân; cơ sở vật chất văn hoá, thông tin, giáo dục còn hạn chế; vệ sinh môi trường nông thôn chưa được chú trọng để bảo vệ sức khoẻ người dân, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch trên 85%; sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng chuyên canh hàng hóa
2.1.2.3 Đặc điểm phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đƣợc quan tâm đầu tƣ xây dựng, nâng cấp tương đối đồng bộ đáp ứng được yêu cầu sản xuất và dân sinh, đặc biệt là các công trình phúc lợi như đường, cầu giao thông nông thôn
Trong 5 năm qua, trên địa bàn huyện đã đầu tƣ xây dựng đƣợc 330 km giao thông, hầu hết các tuyến lộ đƣợc trồng hoa tạo cảnh quan khang trang, sạch s , thuận lợi cho người dân trong sản xuất và sinh hoạt, bộ mặt nông thôn của huyện ngày càng khởi sắc hơn
Trong 3 năm, từ năm 2014 - 2016, số vốn đầu tƣ cho xây dựng cơ bản và giao thông nông thôn chiếm khoảng 45% tổng số chi ngân sách của huyện (67,5 tỷ đồng) Tuy nhiên, trong điều kiện ngân sách nhà nước dành cho lĩnh vực này còn hạn hẹp, ngoài huy động nội lực, huyện đã linh hoạt thực hiện phương thức "đổi đất lấy công trình" để kêu gọi các nhà đầu tư Nhờ đó, hàng loạt các công trình cầu, đường, trường, trạm, các khu thương mại, cụm dân cư vượt lũ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, bước đầu phát huy hiệu quả tốt
Cùng với các công trình xây dựng cơ bản, lĩnh vực xây dựng giao thông nông thôn cũng là điểm mạnh của huyện Phong Điền, hệ thống giao thông cơ bản đã tạo thế liên hoàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá của người dân trong hai mùa mưa, nắng và làm thay đổi đáng kể diện mạo nông thôn
2.1.2.4 Đặc điểm phát triển các ngành kinh tế của huyện:
Giá trị sản xuất và sơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu của huyện Phong Điền trong 3 năm gần đây đƣợc nêu trên bảng 2.3
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu GTSX của huyện Phong Điền
TT Chỉ tiêu ĐVT 2014 2015 2016 Tốc độ
I Giá trị sản xuất tỷ đồng 2.425 3.211 4.161 130,99
1 Nông lâm thủy sản tỷ đồng 637 1.092 1.772 166,78
2 Công nghiệp-xây dựng tỷ đồng 726 698 570 88,61
3 Thương mại-Dịch vụ tỷ đồng 1.062 1.421 1.819 130,87
II Cơ cấu giá trị SX % 100 100 100
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phong Điền
Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 33,5 triệu đ/người/năm.Với mục tiêu phát triển mô hình kinh tế - xã hội huyện Phong Điền đến năm 2020 theo hướng lấy nông nghiệp làm cơ sở; thương mại, dịch vụ, du lịch làm bước đột phá; xây dựng kết cấu hạ tầng; phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng và lợi thế, phấn đấu đến năm 2020 Phong Điền trở thành đô thị sinh thái văn minh, hiện đại; phát triển kinh tế gắn liền với xây dựng nông thôn
28 mới, giữ gìn tôn tạo cảnh quan môi trường sinh thái và phát huy truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc
Huyện đang tập trung thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao thu nhập đời sống nhân dân nhƣ: Triển khai hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2017 - 2020, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng phát triển vùng sản xuất cây ăn trái chuyên canh, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái gắn với thực hiện Đề án giảm nghèo bền vững trên địa bàn; tập trung quy hoạch cụm công nghiệp để thu hút các doanh nghiệp đầu tƣ vào lĩnh vực chế biến nông sản, nhất là trái cây, nhằm hỗ trợ sức tiêu thụ cho các loại nông sản chủ lực trên địa bàn và giải quyết lao động tại chỗ ở địa phương.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu:
Luận văn chọn các điểm nghiên cứu sau đây:
- Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền
- Chọn 3 xã để làm điểm nghiên cứu điển hình, gồm:
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu:
2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp:
Các số liệu và thông tin thứ cấp đƣợc thu thập tại các ơ quan Thống kê, các Phòng, Ban thuộc UBND huyện, Trung tâm DS - KHHGĐ của huyện Phong Điền
Các số liệu và thông tin thứ cấp còn đƣợc tổng hợp từ các báo cáo, tạp chí, thông tin chuyên ngành về vấn đề cần nghiên cứu
2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp:
Số liệu thứ cấp đƣợc thu thập qua khảo sát trực tiếp tại các điểm nghiên cứu theo phiếu phỏng vấn và bảng hỏi chuẩn bị sẵn
Các thông tin thu thập từ các phiếu phỏng vấn và bảng hỏi s dùng để phân tích đánh giá thực trạng kết quả hoạt động, chất lƣợng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ trên địa bàn
Tiến hành chọn 100 người để phỏng vấn trực tiếp, bao gồm:
- Cán bộ: 40 người, gồm: 06 người thuộc Trung tâm DS - KHHGĐ (Thông tư 05/2008/BYT ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Bộ Y tế về Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS - KHHGĐ ở địa phương cấp huyện); 03 cán bộ chuyên trách cấp xã và 31 người là cộng tác viên dân số các xã
- Người dân của xã: mỗi xã chọn 20 người dân, tổng số có 60 người dân tại xã đƣợc phỏng vấn
+ Phương pháp chọn mẫu: Ngẫu nhiên đơn giản
Căn cứ vào danh dách quản lý hộ của Cộng tác viên, tiến hành đến từng hộ để khảo sát theo bộ câu hỏi đã soạn sẵn, hộ nào vắng hoặc không đồng ý trả lời phỏng vấn thì sang hộ kế tiếp cho đến khi đủ số lƣợng mẫu cần khảo sát
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu:
- Phương pháp thống kê mô tả:
Sử dụng một số chỉ tiêu tổng hợp báo gồm số tương đối, số tuyệt đối để mô tả và phân tích thực trạng hoạt động của Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền
So sánh các chỉ tiêu đo lường về số lượng và chất lượng của công tác
DS giai đoạn 2014 - 2016 của huyện Phong Điền
- Phương pháp phân tích SWOT:
Ma trận SWOT đƣợc sử dụng để phân tích đánh giá tình hình quản lý nhà nước về công tác DS - KHHGĐ huyện PĐ nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và sự kết hợp hài hòa giữa các môi trường bên trong với bên ngoài, từ đó đƣa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác của Trung tâm
Môi trường bên trong Môi trường bên ngoài
Cơ hội (Opportunities) Thách thức (Threats) Điểm mạnh (Strengths) Kết hợp S - O Kết hợp S - T Điểm yếu (Weaknesses) Kết hợp W - O Kết hợp W - T
- Phương pháp chuyên gia: Trực tiếp tham khảo, ghi nhận ý kiến của lãnh đạo UBND huyện Phong Điền; Lãnh đạo Chi cục Dân số - KHHGĐ về khó khăn và phương hướng để hoàn thiện công tác dân số của Trung tâm
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu của luận văn:
- Chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế xã hội huyện Phong Điền nhƣ:
+ Diện tích đất tự nhiên;
+ Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện
- Chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động DS - KHHGĐ:
+ Dân số trung bình của huyện PĐ,
+ Dân số trung bình trong các xã của huyện,
+ Số trẻ sinh ra (2014 - 2016) của huyện,
+ Số trẻ sinh ra (2014 - 2016) trong các xã của huyện,
+ Tỷ số giới tính khi sinh,
+ Tỷ lệ người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại
- Chỉ tiêu về kết quả công tác tổ chức quản lý công tác DS - KHHGĐ:
+ Trình độ học vấn của cán bộ làm công tác dân số,
+ Số lần tuyên truyền, tập huấn,
+ Số lƣợng các loại hình truyền thông,
+ Số người tham gia các buổi truyền thông
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DS - KHHGĐ TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN
3.1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý
Công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ của huyện Phong Điền đƣợc giao cho Trung tâm DS - KHHGĐ huyện
Hệ thống tổ chức bộ máy của Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền được tổ chức theo hướng dẫn của Thông tư 05/2008/BYT ngày 14 tháng
5 năm 2008 của Bộ Y tế về Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS - KHHGĐ ở địa phương cấp huyện, cụ thể như sau:
Vị trí và chức năng của Trung tâm:
+ Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục DS - KHHGĐ TP Cần thơ, có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật, truyền thông giáo dục về DS - KHHGĐ trên địa bàn huyện
+ Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền chịu sự quản lý toàn diện của Chi cục DS - KHHGĐ thành phố Cần Thơ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật về dịch vụ KHHGĐ, truyền thông giáo dục của các Trung tâm liên quan ở cấp tỉnh và chịu sự quản lý nhà nước theo địa bàn của
Uỷ ban nhân dân huyện Phong Điền
+ Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền có tƣ cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu và có tài khoản riêng
Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm:
+ Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về DS - KHHGĐ và truyền thông giáo dục về DS - KHHGĐ trên cơ
33 sở kế hoạch của Chi cục DS - KHHGĐ thuộc Sở Y tế và tình hình thực tế trên địa bàn huyện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật, cung cấp dịch vụ về DS - KHHGĐ theo phân cấp và theo quy định của pháp luật
+ Triển khai, phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông, giáo dục, vận động, phổ biến các sản phẩm truyền thông về DS - KHHGĐ theo phân cấp và theo quy định của pháp luật
+ Hướng dẫn, kiểm tra và giám sát chuyên môn các hoạt động về DS - KHHGĐ của trạm y tế xã và cộng tác viên DS - KHHGĐ khu vực
+ Quản lý và triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia về DS - KHHGĐ, các dự án khác đƣợc Chi cục DS - KHHGĐ phân công
+ Tổ chức tập huấn, bồi dƣỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã và cộng tác viên DS - KHHGĐ khu vực
+ Tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu và tiến bộ khoa học, kỹ thuật về lĩnh vực DS - KHHGĐ/SKSS
+ Quản lý cán bộ, viên chức, chế độ chính sách, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức và quản lý tài chính, tài sản của Trung tâm theo quy định của pháp luật; quản lý cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã và cộng tác viên DS - KHHGĐ khu vực
+ Thực hiện các chế độ thống kê, báo cáo theo quy định hiện hành + Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chi cục trưởng Chi cục
DS - KHHGĐ và Uỷ ban nhân dân huyện giao
Cơ cấu tổ chức và biên chế của Trung tâm:
+ Giám đốc và các Phó Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục DS -
KHHGĐ và quy định của pháp luật (về chuyên môn không nhất thiết phải có chuyên môn y tế) Giám đốc Trung tâm DS - KHHGĐ huyện chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng Chi cục DS - KHHGĐ và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Trung tâm; Phó Giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công
Trung tâm có 2 ban chuyên môn nhƣ sau:
+ Ban Hành chính tổng hợp;
+ Ban Truyền thông và dịch vụ DS - KHHGĐ
Biên chế của Trung tâm DS - KHHGĐ huyện nằm trong tổng số biên chế sự nghiệp của thành phố do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ quyết gồm có 6 người (không kể bảo vệ, lái xe và tạp vụ làm việc theo hợp đồng) Viên chức không nhất thiết đều phải có chuyên môn y tế
+ Ngân sách sự nghiệp y tế, DS - KHHGĐ
+ Ngân sách Chương trình Mục tiêu Quốc gia DS - KHHGĐ
+ Viện trợ và các nguồn kinh phí hợp pháp khác
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Trung tâm DS - KHHGĐ huyện Phong Điền được mô tả hình dưới đây
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm DS - KHHGĐ Phong Điền Đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại huyện và xã, thị trấn bố trí đủ theo cơ số biên chế đƣợc giao, cụ thể:
- Cấp huyện: có 07 CBVC (06 biên chế và 01 hợp đồng bảo vệ)
- Cấp xã: có 07 cán bộ phụ trách Dân số - KHHGĐ tại Trạm Y tế
Cán bộ dân số xã (Cán bộ chuyên trách)
Công tác viên dân số ở tổ, cụm dân cƣ
1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr 4th Qtr
Ban hành chính tổng hợp Ban truyền thông và dịch vụ
Viên chức Dịch vụ Dân số
- Đội ngũ cộng tác viên Dân số - KHHGĐ tại cơ sở: 184 CTV dân số bố trí tại 184 địa bàn dân cư (Thị trấn Phong Điền: 20; Nhơn Ái: 26; Trường Long: 34; Nhơn Nghĩa: 31; Mỹ Khánh: 20; Tân Thới: 26; Giai Xuân: 27)
Do bộ máy làm công tác dân số đã hai lần thay đổi, phải sắp xếp lại theo yêu cầu chung, từ đó công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) cũng bị tác động theo chiều hướng tiêu cực, dẫn đến một bộ phận cán bộ đảm nhận công tác này thiếu an tâm trong công tác
3.1.2 Các chương trình, kế hoạch về công tác DS - KHHGĐ tại huyện Phong Điền
Theo chức năng nhiệm vụ đƣợc phân công, hiện tại Trung tâm DS- KHHGĐ huyện Phong Điền đang triển khai các chương trình, kế hoạch công tác chính sau đây:
3.1.2.1 Công các truyền thông, tuyên truyền, giáo dục về DS-KHH GĐ
Trung tâm DS - KHHGĐ huyện phối hợp với các qơ quan liên quan nhƣ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của huyện, các ban ngành liên quan triền khai truyền thông bằng nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, đài truyền thanh, băng ron, khẩu hiệu, tờ rơi, tờ bướm
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ NN VỀ DS-
3.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực cho công tác DS-KHHGĐ
Nguồn nhân lực luôn luôn là yếu tố quyết định đến chất lƣợng công tác của mọi hoạt động và các tổ chức, trong đó có công tác DS-KHH GĐ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số có vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác dân số ở địa phương, là lực lượng nòng cốt tuyên truyền, vận động người dân tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân số Do đó, đòi hỏi cán bộ dân số phải am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ, phải có lòng yêu nghề thì mới có thể gắn bó và hết lòng vì công việc
Tình hình nguồn nhân lực làm công tác DS-KHH GĐ trên địa bàn huyện Phong Điền đƣợc nêu trên bảng 3.12
Bảng 3.12 Thông tin về trình độ, hoàn cảnh kinh tế, số năm công tác và sự yêu thích công việc của CBDS
TT Chỉ tiêu ĐVT Số lượng Tỷ lệ
Số CB làm CT DS-KHH GĐ Phiếu 40 100
Cao đẳng, đại học Người 3 7,5
2 Hoàn cảnh kinh tế: Người
Khá giả Người 10 25 Đủ ăn Người 27 67,5
3 Số năm công tác: năm
4 Yêu thích công tác DS: Người
Không thích nhưng vẫn làm Người 17 42,5
Nguồn: Tổng hợp t kết quả điều tra
Qua bảng trên ta thấy, hầu hết CBDS đã tốt nghiệp cấp III, chiếm 57,5%, nhƣ vậy trình độ còn khá thấp so với sự phát triển chung của thành phố; hoàn cảnh kinh tế đủ ăn chiếm 67,5%; số năm công tác đa số nằm trong khoản thời gian
56 từ 5 đến 10 năm, chiếm 47,5% và sự yêu thích công việc chiếm 42,5% với lý do đa số là không thích nhƣng vẫn làm
Qua khảo sát và tiếp xúc trực tiếp, hầu hết các CTV đều kiêm nhiệm nhiều công việc như: CTV của chương trình HIV/ASID, trẻ em,… nhưng do
Bộ tài chính có thông tƣ chỉ chi thù lao cho cộng tác viên không kiêm nhiệm, nên có trường hợp chỉ 1 người làm việc nhưng phải lấy tên của người thân, trong gia đình để khai báo và hợp thức thù lao, thực tế chỉ có một người thực hiện nhiều công việc Nhƣng dù lý do gì thì sự gắn bó của CBDS cần đƣợc trân trọng
Họ là những người theo dõi sát sao các đối tượng trong mọi độ tuổi, mọi giai đoạn phát triển của con người như sinh, lão, bệnh, tử Cụ thể là từ thai nghén thì có chương trình Sàng lọc trước sinh - Sơ sinh và Mất cân bằng giới tính khi sinh; đến giai đoạn trưởng thành thì có chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên - thanh niên, Tiền hôn nhân; đến giai đoạn trong độ tuổi sinh đẻ thì có chương trình Không sinh con thứ 3 trở lên; và các dịch vụ về SKSS-KHHGĐ; giai đoạn cao tuổi thì có chương trình Chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng và đến khi qua đời, cán bộ dân số phải cập nhật để báo giảm dân số
Tuy nhiên trình độ và kỹ năng công tác còn nhiều hạn chế, nhất là công tác tham mưu, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chính sách về dân số - KHHGĐ
3.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác DS - KHHGĐ Đƣợc sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Trung tâm có trụ sở riêng tọa lạc tại trung tâm thị trấn Phong Điền, đầy đủ trang thiết bị nhƣ máy vi tính, bàn, ghế, phòng họp, phòng làm việc, riêng phòng làm việc của giám đốc có máy điều hòa, có nhà để xe, khoảng sân rộng rãi, hàng rào bảo vệ
Trong hoạt động tại Trung tâm, mọi vật dụng, văn phòng phẩm, điện, nước được từng cán bộ luôn có ý thức tiết kiệm đến mức tối đa, bên cạnh đó, 67,5% CBDS có tình trạng kinh tế đủ ăn nên trong cuộc sống gia đình cán bộ dân số còn gặp không ít khó khăn vì hầu hết thu nhập chính từ lương (bình quân 4 triệu/người/tháng), phải chật vật, khéo léo cân đối để trang trải cho hoạt động và cuộc sống bình thường, eo hẹp; ngoài ra, nhiều cán bộ phải làm thêm công việc khác ngoài giờ để có thêm thu nhập
Mặc dù mỗi trạm y tế xã đều đƣợc trang bị 01 máy vi tính nhƣng công việc tại trạm rất nhiều, máy móc hay trục trặc, kính phí duy tu, sửa chữa hạn chế nên CBDS xã gặp không ít khó khăn khi nhập dữ liệu thông tin để chuyển về Trung tâm DS, phần mền xử lý dữ liệu này do Tổng cục DS cấp, thống nhất từ địa phương đến trung ương
3.2.3 Công tác tuyên truyền, giáo dục cho công tác DS - KHHGĐ
Lãnh đạo các cấp đều xác định công tác dân số là công tác xã hội, do đó để công tác này thành công, biện pháp chính là tuyên truyền Nhờ có công tác tuyên truyền mà những khẩu hiệu, pháp lệnh dân số được người dân biết đến và nhiệt tình hưởng ứng hơn
Công tác tuyên truyền được triển khai đến người dân bằng nhiều hình thức phong phú, dễ hiểu và phù hợp với nhiều nhóm đối tƣợng Trong đó, chú trọng loại hình tư vấn với những người có uy tín trong cộng đồng; đối thoại trực tiếp với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên, các gia đình sinh con một bề Góp phần vào sự thành công của công tác tuyên truyền phải kể đến những nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, những cộng tác viên, cán bộ y tế cơ sở
Lợi thế của người làm công tác tuyên truyền dân số đó là chính những cộng tác viên dân số, cán bộ y tế là những người sống ở ngay trong cộng đồng khu dân cƣ, họ có thể hiểu rõ nhu cầu, họ có thời gian gần gũi với dân nên
58 mọi lúc, mọi nơi có thể tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn về sức khỏe cho người dân hiệu quả nhất; các cộng tác viên dân số có nhiệm vụ tuyên truyền, cung cấp các kiến thức về nâng cao chất lượng cho người dân một cách toàn diện hơn Với cách làm truyền thông trực tiếp, bền bỉ, "mƣa dầm, thấm lâu", giúp người dân hiểu các chính sách về dân số
Tuy nhiên, cái khó của người làm công tác truyền thông dân số là làm thế nào để hiểu đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng, phong tục tập quán, nếp sinh hoạt của người dân; cách chọn chủ đề tuyên truyền và thời gian thích hợp để tiếp cận đúng lúc vì đa số người dân huyện PĐ làm nghề nông, làm vườn và phải đúng nơi, đúng người Khi người dân đã thấm nhuần, họ s chủ động và tự nguyện thực hiện Mặc dù công tác truyền thông đã đạt đƣợc hiệu quả nhất định, nhƣng vẫn chƣa thật sự đi vào chiều sâu, chƣa quan tâm triển khai đƣợc nhiều chiến dịch truyền thông dân số tới những khu vực khó đi lại, phải sử dụng ghe, xuồng để tiếp cận
Với đối tƣợng vị thành niên, nam giới, chƣa có đƣợc nhiều nội dung tƣ vấn phong phú; người cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản chưa được đặt đúng vị trí trong công tác truyền thông, vì thế họ chƣa đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và tài liệu tƣ vấn về SKSS/KHHGĐ Thiếu kiến thức hiểu biết về các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QLNN VỀ DS - KHH GĐ TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN
3.3.1 Những thành công đạt được:
Các cấp lãnh đạo thành phố Cần Thơ luôn xác định công tác dân số là một trong những vấn đề quan trọng trọng sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hướng đến phát triển thành phố hiện đại sáng, xanh, sạch, đẹp, nên hết sức chú trọng và quan tâm
Huyện Phong Điền là huyện nông thôn mới, Trung tâm dân số đƣợc trang bị trụ sở khang trang, trang thiết bị khá đầy đủ, số lƣợng đội ngũ cán bộ đủ theo chỉ tiêu, có tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật các chính sách về dân số, các kiến thức mới về KHHGĐ Các năm qua đều hoàn thành và vƣợt chỉ tiêu đề ra
3.3.2 Những tồn tại, yếu kém:
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được nhà nước hết sức chú trọng, coi đó là một trong những quốc sách hàng đầu trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội Đất nước càng phát triển vấn đề chất lượng cuộc sống con người càng được chú trọng Nhận thức, chuyển đổi hành vi ngày càng được nâng cao, người dân quan tâm hơn đến chất lượng con người, nhưng cũng từ sự tiến bộ của khoa học, công nghệ về y tế mà mức sinh và vấn đề mất cân bằng giới tính luôn có nguy cơ cao và tiềm ẩn (những người giàu muốn sinh con thứ ba trở lên và nhờ máy móc, công nghệ để sàng lọc, lựa chọn giới tính thai nhi)
Mặc dù đƣợc sự quan tâm rất sát sao của cấp ủy Đảng, có sự phối hợp giữa các ban ngành trong công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ nhưng sự phối hợp này chƣa thực sự nhiệt tình và hiệu quả Đặc biệt là trong sự phối hợp, tổ chức thực hiện theo chiều ngang giữa các cơ quan, ban ngành Thêm vào đó, sự tổ chức quản lý theo chiều dọc cũng có một số bất cập Tại một số
62 xã, các cấp Đảng, chính quyền chƣa chỉ đạo sát sao, chƣa thực sự đi vào tập trung và quyết liệt đối với công tác DS - KHHGĐ nên vẫn có một số cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách về DS - KHHGĐ Đội ngũ làm công tác quản lý DS - KHHGĐ của thành phố nói chung và ở huyện PĐ nói riêng còn yếu và không ổn định thường xuyên có sự biến động, có một số cán bộ làm công tác dân số (đa phần là đội ngũ cộng tác viên dân số tại xã) vi phạm chính sách dân số, làm ảnh hưởng dư luận và vấn đề quản lý dân số (có 23,3% CBDS sinh con thứ 3 trở lên)
Các cán bộ làm công tác dân số tại một số xã chƣa thực sự tâm huyết với nghề, còn quá thụ động, làm cho có, chƣa thật sự yêu nghề, còn nhiều công việc khác chi phối (kiêm nhiệm, hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn) nên còn dựa dẫm vào sự chỉ đạo của cấp trên, không nhanh nhạy cập nhật, báo cáo về tình hình thực tế tại cơ sở lên cấp trên, chưa thường xuyên vãng gia, tiếp xúc với người dân Kỹ năng thuyết trình, thái độ phục vụ còn hạn chế
Trong công tác đào tạo cán bộ còn tập trung quá nhiều vào vấn đề giảm mức sinh, giảm tốc độ gia tăng dân số, không sinh con thứ ba mà chƣa chú trọng đi sâu về các vấn đề chất lƣợng dân số, ồn định cơ cấu dân số, phân bố dân cư, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên, người cao tuổi…
Sau khi thực hiện chủ trương giải thể, sắp xếp lại bộ máy, đưa cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ về trạm y tế xã quản lý, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số có nhiều biến động nên hoạt động DS - KHHGĐ ở cơ sở còn nhiều hạn chế Mặt khác, lực lƣợng này còn phải chịu sự điều phối chuyên môn chung của trạm y tế nhƣ trực, cấp phát thuốc, bán thuốc, phục vụ tiêm chủng cho nên hiệu quả công việc chuyên môn chƣa cao, anh chị em chƣa yên tâm say mê với công việc (1 cổ mà 2,3 tròng)
Kinh phí đầu tư liên tục bị cắt giảm, gây ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề đạt đƣợc chỉ tiêu giao Tuy vậy, một số xã còn sử dụng nguồn kinh phí
63 đƣợc giao không hiệu quả, gây lãng phí Trang thiết bị xuống cấp, chƣa đƣợc đầu tƣ duy tu, bảo dƣỡng kịp thời
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém:
- Trong Pháp lệnh Dân số không quy định cụ thể về số con nên cũng có người hiểu sai là "được sinh con thoải mái"
- Quan điểm “trọng nam khinh nữ” vẫn âm thầm tồn tại trong dân, trong đó coi nam giới là quan trọng hơn phụ nữ; tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, phải có con trai để nối dõi dòng tộc, nối dõi đã ngấm vào tâm khảm nhiều người và cứ thế tư tưởng trọng nam, khinh nữ ngày càng có chiều hướng gia tăng, lo ngại hơn, tình trạng này lại đến từ những nơi có đời sống kinh tế phát triển, gia đình khá giả, trình độ học vấn cao, cơ hội tiếp cận sinh con trai ngày càng dễ dàng nhờ vào tiến bộ của khoa học, việc thực thi luật pháp trong lựa chọn giới tính thai nhi chƣa nghiêm
Mặc dù công tác dân số trong thời gian qua đã rất chú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục để dần loại bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ; hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn đến việc gia tăng các hoạt động bắt cóc, buôn bán phụ nữ, buôn bán trẻ em gái, tệ nạn mại dâm tuy nhiên ảnh hưởng vẫn còn rất nặng nề đến việc thực hiện các mục tiêu dân số
Với tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh nhƣ hiện nay, các chuyên gia dự báo sau khoảng hai thập kỷ nữa Việt Nam thừa khoảng 12% nam giới, tương đương với 2,3 - 4,3 triệu nam giới; huyện Phong Điền không nằm ngoài dự báo trên Do đó, việc giảm thiểu chênh lệch giới tính khi sinh là không thể chậm trễ; quan trọng nhất là công tác tuyên truyền, vận động, đƣa giáo dục về giới và bình đẳng giới vào chương trình chính thức cho học sinh, sinh viên, tạo ra nếp nghĩ văn minh cho những công dân tương lai
Nếu nhƣ tâm lý mong muốn có con trai là điều kiện “cần” thì việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong y học lại là điều kiện “đủ” dẫn
64 đến thực trạng MCBGTKS Nói cách khác, chỉ khi có sự kết hợp hai điều kiện này mới xảy ra tình trạng MCBGTKS cao Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, các dịch vụ phá thai là một phần nội dung của chương trình sức khỏe sinh sản được tiếp cận rộng rãi, có chi phí thấp nên hầu hết mọi người đều có thể chi trả đƣợc cũng là nhân tố “hỗ trợ” khá lớn để kết thúc việc lựa chọn giới tính thai nhi trước khi sinh
Theo kết quả điều tra của đề tài “Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Cần Thơ” cho thấy: 85% phụ nữ mang thai đã biết giới tính của con mình trước khi sinh, trong đó 99% biết qua siêu âm, 83% biết khi tuổi thai từ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QLNN VỀ DS-KHH GĐ TẠI HUYỆN PĐ
3.4.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp các ngành:
Công tác DS - KHHGĐ là vấn đề chiến lƣợc, vừa cấp bách vừa lâu dài, nếu không đƣợc quan tâm đến nơi đến chốn thì dù sản xuất và kinh tế có phát triển, nhƣng tỷ lệ tăng dân số quá nhanh thì bình quân thu nhập vẫn thấp, đời sống mọi mặt của xã hội vẫn không đƣợc cải thiện Vì vậy, vấn đề dân số không chỉ là công việc của một gia đình, một địa phương mà đã trở thành vấn đề của toàn xã hội Để hoàn thiện công tác DS - KHHGĐ trên địa bàn huyện
Phong Điền ngày càng phát huy hiệu quả trong tình hình mới, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và thực hiện đồng bộ các giải pháp:
- Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện tốt các quan điểm, nội dung cơ bản của Nghị quyết 47, Kết luận số 119 của Bộ Chính trị về thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
- Kiên quyết thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng hãy sinh đủ hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt
- Cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
- Ttăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác DS - KHHGĐ Các cấp ủy Đảng chỉ đạo các ngành, các cấp kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ chính trị hằng năm gắn với kiểm điểm tình hình thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
- Đồng thời xây dựng chương trình khắc phục yếu kém, bất cập, khắc phục tình trạng sinh nhiều con
- Tổ chức thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác
- Đổi mới phương pháp, nội dung tuyên truyền, vận động sâu sát, cụ thể, phù hợp với từng đối tƣợng
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, KHHGĐ cho vị thành niên, thanh niên trong và ngoài nhà trường
- Duy trì và phát triển các mô hình, điển hình tiên tiến trong việc thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
- Quan tâm và khắc phục tình trạng y tế hóa công tác dân số
- Đẩy mạnh thực hiện các quy định hương ước, quy ước của tổ, cụm dân cƣ về thực hiện chính sách DS - KHHGĐ Cụ thể nhƣ:
+ Luôn lồng ghép công tác dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tham gia, tham dự, chỉ đạo trực tiếp trong các buổi hội, họp Đó là kim chỉ nam, là đầu tàu để thúc đẩy sự vận hành nhịp nhàng của các ngành có liên quan Đồng thời, lưu ý mời các đối tượng tham dự các buổi hội, họp, tập huấn phải có uy tín trong cộng đồng để họ có sức lan tỏa, thuyết phục người khác thực hiện tốt chủ trương, chính sách về DS - KHHGĐ vì thói quen (93,3%) thích nghe thông tin từ người khác của người dân địa phương
+ Tăng cường công tác lãnh, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dân số thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, kế hoạch hành động để chỉ đạo các ngành liên quan phối kết hợp chặt ch cùng với Trung tâm DS - KHHGĐ của huyện
+Tiếp tục nâng cao kiến thức, chuyên môn kỹ năng truyền thông và tƣ vấn cho đội ngũ làm công tác tuyên truyền viên dân số Cần nghiên cứu, tìm
70 ra những mô hình, giải pháp truyền thông, các dịch vụ SKSS/KHHGĐ phù hợp hơn để chất lƣợng dân số càng đƣợc nâng cao.
+ Nêu cao vai trò của Mặt trận tổ quốc và đoàn thể trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia tìm hiểu và thực hiện tốt chính sách dân số, đặc biệt là vai trò của Hội LHPN
+ Phân công lãnh đạo chủ chốt phụ trách và trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, biểu dương kịp thời, phắc phục hạn chế và xử lý nghiêm vi phạm
+ Đưa giáo dục về giới và bình đẳng giới vào chương trình chính thức vào học đường nhằm tạo ra nếp nghĩ văn minh cho những công dân tương lai, góp phần giảm thiểu chênh lệch giới tính khi sinh là không thể chậm trễ
3.4.2 Bảo đảm tổ chức, bộ máy làm công tác Dân số:
- “Kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy làm công tác dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản, bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác này” là một trong những quan điểm trong chiến lƣợc DS - KHHGĐ Đội ngũ này là thành tố tác động trực tiếp đến việc chuyển đổi hành vi của người dân, góp phần ổn định quy mô và nâng cao chất lƣợng dân số
- Hiện nay, cán bộ dân số xã thuộc biên chế của Trung tâm y tế dự phòng huyện Phong Điền, tức là Trung tâm Y tế dự phòng trả lương và quản lý số lƣợng, còn thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thì do Trung tâm dân số điều hành, nơi làm việc thì tại UBND xã, cũng phải tuân thủ sự điều hành của lãnh đạo UBND xã (1 cổ, 3 tròng) Điều này đôi lúc có những khó khăn cho CBDS Ở một số địa phương khác thì cán bộ dân số thuộc biên chế của Trung tâm Dân số Trung tâm vừa trực tiếp quản lý, điều hành và trả lương
Mô hình nào cũng có những thuận lợi và hạn chế khác nhau, nhƣng cũng có những ý kiến, dự thảo là chuyển đổi thành một mô hình cho thống nhất cả nước; đôi khi còn có dư luận s giải thể ngành dân số, điều này phần nào làm dao động tư tưởng, không yên tâm công tác của cán bộ dân số
- Giữ vững, ổn định mạng lưới cộng tác viên dân số đến tận tổ dân cư để đƣa những thông tin và cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận từng người dân Để có được một mạng lưới cộng tác viên dân số cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay; trước hết các cấp ủy Đảng, chính quyền cần phải quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để xây dựng đội ngũ cộng tác viên dân số cơ sở có năng lực, lòng nhiệt tình trong công tác, đặc biệt, nhận thức đầy đủ hơn vai trò của lực ƣợng cộng tác viên cơ sở
Cần có chế độ bồi dưỡng cả về chuyên môn và nghiệp vụ lẫn đường lối chủ trương của Đảng về công tác DS - KHHGĐ Có chế độ phụ cấp đảm bảo cho hoạt động này Hơn hết mỗi bản thân cộng tác viên dân số cần phải học hỏi, trau dồi kiến thức, thường xuyên xuống các hộ gia đình để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con để kịp thời tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chính sách về DS - KHHGĐ, cập nhật thông tin số liệu dân cƣ đầy đủ, kịp thời Qua đó, góp phần ổn định quy mô dân số, nâng cao chất lƣợng dân số trong xã trong thời gian tới
3.4.3 Tăng cường công tác tuyên truyền chuyển đổi hành vi:
KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, công tác quản lý nhà nước về DS KHH gia đình của huyện Phong Điền TP Cần Thơ đã đạt đƣợc những thành công quan trọng, đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hoàn thành chương trình xây dựng nong thôn mới trên địa bàn toàn huyện, góp phần phát triển huyện Phong Điền theo hướng bền vững
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về DS-KHH GĐ cũng còn nhiều bất cập cần nghiên cứu khắc phục nhƣ: còn hiện tƣợng chƣa nhận thức đầy đủ, toàn diện về công tác Dân số - KHHGĐ, thiếu quyết tâm trong việc lãnh chỉ đạo hoặc có quan tâm nhƣng thiếu sáng tạo trong việc đề ra các giải pháp của quá trình thực hiện; công tác kiểm tra, đôn đốc đôi đôi khi bị buông lơi, chỉ đạo chƣa kịp thời; bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ yếu về nghiệp vụ, đội ngũ Cộng tác viên tuy rất nhiệt tình nhƣng số lƣợng luôn biến động, trình độ hạn chế; kinh phí hỗ trợ thấp
Nghiên cứu của Luận văn cũng cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ trên địa bàn như: chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đội ngũ cán bộ dân số; trình độ và ý thức của người dân; cơ sở vật chất phục vụ công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Để nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về DS KHH gia đình của huyện Phong Điền TP Cần Thơ, cần áp dụng một hệ thống giải pháp đồng bộ như: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc triển khai các biện pháo KHH GĐ; Đẩy mạnh công tác truyền thông; Kiện toàn hệ thống bộ máy làm công tác DS – KHHGĐ; Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực làm công tác DS-KHH GĐ
KHUYẾN NGHỊ: 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đối với Tổng cục DS - KHHGĐ và Ủy ban nhân dân các cấp: Đầu tƣ kinh phí cho công tác DS - KHHGĐ, nhất là hỗ trờ thù lao cho cộng tác viên, bởi họ là những cánh tay nối dài của ngành dân số, họ là những người “đi tận ngõ, gõ tận nhà, rà từng đối tƣợng”; hiện nay kinh phí này còn hạn chế, ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả công tác DS - KHHGĐ của địa phương
- Đối với Chi cục DS - KHHGĐ thành phố: tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ dân số cho đội ngũ CBPT và CTV DS - KHHGĐ; cung cấp tài liệu và tờ rơi nhiều hơn nữa, để nâng cao chất lƣợng công tác truyền thông
- Đối với Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể: tăng cường công tác truyền thông, vận động về DS - KHHGĐ, nhằm nâng cao vai trò của đoàn thể đối với các tầng lớp nhân dân Đặc biệt quan tâm vận động nam giới chia sẻ với phụ nữ trong việc thực hiện KHHGĐ
- Đối với Trung tâm DS - KHHGĐ quận: phối hợp với các đơn vị y tế và các ban ngành, đoàn thể tổ chức các buổi truyền thông để cung cấp những kiến thức về SKSS - KHHGĐ, làm mẹ an toàn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, mất cân bằng giới tính khi sinh,… đến các đối tượng tương ứng, nhất là những nơi xa trung tâm huyện, ít có điều kiện tiếp cận những dịch vụ chăm sóc SKSS - KHHGĐ
- Đối với CBPT và CTV DS - KHHGĐ: tăng cường truyền thông trực tiếp những nội dung về DS - KHHGĐ, chăm sóc SKSS, trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tiếp cận và thuyết phục phù hợp với từng đối tƣợng
Tốc độ tăng dân số tuy đã giảm nhƣng chƣa bền vững Chất lƣợng dân số ở mức trung bình Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn: tốc độ già hóa dân số nhanh; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục tăng cao; chăm sóc sức khỏe sinh sản ở vùng nông thôn còn nhiều hạn chế, sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên rất đáng lo ngại; sự bất bình đẳng giới vẫn chƣa
75 đƣợc giải quyết một cách triệt để… Về cơ cấu dân số, mặc dù Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhƣng chất lƣợng nguồn nhân lực, chất lƣợng dân số còn hạn chế Cùng với đó, do thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già tại Việt Nam rất nhanh nên để thích ứng với vấn đề già hóa dân số phải xây dựng hệ thống lão khoa trên toàn quốc; xây dựng các mô hình chăm sóc tại gia đình và cộng đồng; kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác người cao tuổi trong cả nước Trong tiến trình CNH - HĐH đang diễn ra mạnh m thì Dân số, lao động, đất đai ở nông thôn có xu hướng biến động và giảm mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Huyện Phong Điền không nằm ngoài những cơ hội và thách thức nêu trên
Vì vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về Dân số - KHHGĐ với những giải pháp nêu trên s giúp các nhà lãnh đạo huyện Phong Điền nói riêng và lãnh đạo các cấp cơ sở thuộc huyện nói chung có những chiến lƣợc phù hợp để thích ứng và phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng, y tế, giáo dục, trật tự, an toàn xã hội… một cách bền vững
1 Ban Chấp hành Trung ƣơng, Kết luận số 119-KL/TW ngày 04 tháng 01 năm 2016 về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết số 47-NQ/TW của bộ chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
2 Bộ Chính trị, Nghị quyết số 47-NQ/TW, ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ
Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
3 Bộ Y tế, Chỉ thị 04/CT-BYT ngày 15 tháng 3 năm 2016 về việc tăng cường giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tinh khi sinh
4 Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thành phố Cần Thơ, Báo cáo công tác năm 2015 và kế hoạch công tác năm 2016
5 Chính phủ, Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế
6 Hoàng Thị Phương Thúy (2015), Quản lý nhà nước về dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
7 Mối quan hệ giữa mặt trận và các thành viên trong hệ thống chính trị
8 Niên giám thống kê huyện Phong Điền
9 Nguyễn Văn Nành, Thực trạng công tác truyền thông về dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn quận Cái Răng năm 2016
10 Nguyễn Thanh Phong (2013), Đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động về công tác DS - KHHGĐ ở xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn, An Giang
12 Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2013/QĐ-TTG ngày 14 tháng 11 năm 2011 về việc phê duyệt chiến lược dân số và sức kh e sinh sản Việt Nam giao đoạn 2011-2020
13 Thủ Tướng Chính phủ, Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm
2016 về phê duyệt Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016-2025
14 Sở Y tế thành phố Cần Thơ, Kế hoạch số 1490/KH-SYT ngày 11 tháng 7 năm 2012 về Chương trình hành động truyền thông chuyển đổi hành vi về Dân số - kế hoạch hóa gia đình thành phố Cần Thơ giao đoạn 2011 -
15 Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2012), Quản lý nhà nước về DS - KHHGĐ
16 Tổng cục DS-KHHGĐ, Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015 Phương hướng, nhiệm vụ giao đoạn 2016-2020
17 ThS Đinh Thái Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế Chủ trương chính sách Dân số - KHHGĐ t sau đổi mới
18 Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Phong Điền, Báo cáo công tác quý I/2017 và Báo cáo công tác năm 2014, 2015, 2016
19 Thông tƣ 05/2008TT-BYT của Bộ Y tế ngày 14 tháng 5 năm 2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy dân số - kế hoạch hóa gia đình ở địa phương
20 Th.S Phạm Lê Hồng Nhung, Hướng dẫn thực hành SPSS cơ bản