1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai

121 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 15,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân trong ngành nông nghiệp, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp là một đòi hỏi t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN SỸ MINH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Đồng Nai, ngày 19 tháng 12 năm 2016

Học viên thực hiện

Nguyễn Sỹ Minh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian 2 năm học ở Trường, em đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ luôn hỗ trợ em trong công tác hiện hữu và trong tương lai

Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn

TS Bùi Thị Minh Nguyệt đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Anh, Chị, Em trong Cục thống kê tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng nông nghiệp, Chi cục thống kê huyện Trảng Bom, Lãnh đạo các xã và bà con nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình

Sau cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh tôi, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực hiện

Nguyễn Sỹ Minh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Mục tiêu tổng quát 3

Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 5

1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp 5

1.1.1 Nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế 5

1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 8

1.1.3 Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 12

1.1.4 Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 19

1.1.5 Lý luận chung về nguồn lực và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp 24

1.1.6 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp 28

1.2 Cơ sở thực tiển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực 28

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 29

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 35

Trang 5

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 39

2.1 Đặc điểm chung của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 39

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Trảng Bom 39

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Trảng Bom 43

2.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Trảng Bom 50

2.1.4 Ảnh hưởng của điều kiện cơ bản đến SXNN của huyện 51

2.2 Phương pháp nghiên cứu 52

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 52

2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 53

2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 53

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55

3.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông nghiệp huyện Trảng Bom giai đoạn 2011 – 2015 55

3.1.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Trảng Bom 55

3.1.2 Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Trảng Bom 57

3.1.3 Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần trong nông nghiệp 73

3.2 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 77

3.2.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp tại huyện Trảng Bom 77

3.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng đất đai trong nông nghiệp tại huyện Trảng Bom 81 3.2.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn trong nông nghiệp tại huyện Trảng Bom 3.3 Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Trảng Bom

Trang 6

3.3.2 Những khó khăn, vướng mắc cần giải quyết 87

3.3.3 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc 88

3.4 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới 90

3.4.1 Quan điểm chỉ đạo của huyện về chuyển dịch cơ cấu KTNN thời gian tới 90

3.4.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới 91

3.4.3 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp huyện Trảng Bom trong những năm tới 94

3.5 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp 96

3.5.1 Tổ chức quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp 96

3.5.2 Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp 98

3.5.3 Đảm bảo nguồn vốn để đầy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNN 100

3.5.4 Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, tăng cường khuyến nông 3.5.5 Đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp 104

3.5.6 Tổ chức hệ thống cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp 105

3.5.7 Đổi mới và vận dụng linh hoạt cơ chế chính sách kinh tế liên quan để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng phát triển nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lự 108

KẾT LUẬN: 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp nhiều loại sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của nền kinh tế, cung cấp nguồn nhân lực và tạo nên tích lũy ban đầu cho sự phát triển của đất nước Ở nước ta, “tam nông” xuất hiện từ rất xa xưa, từng bước kết thành hệ thống có cấu trúc ngày càng hợp lý và giữ vai trò kinh tế - xã hội quan trọng

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tất yếu khách quan do nông nghiệp có một vị trí quan trọng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

sẽ có tác động rất mạnh đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Bản thân trong ngành nông nghiệp, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan

Huyện Trảng Bom là một huyện của tỉnh Đồng Nai, huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 323,70 km2

(trong đó đất nông nghiệp là 26.445ha, chiếm trên 80% diện tích đất tự nhiên của huyện) Dân số là 275.388 người (trong đó 60% dân số sống ở nông thôn và hầu hết hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp) với phần lớn người dân sống bằng nghề nông nên đời sống còn khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp của huyện đã có những chuyển biến tích cực, nhiều vùng đất trước đây chưa được khai thác, hoặc khai thác chưa có hiệu quả nay đã được sử dụng tương đối hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực của huyện thì tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý Một trong những nguyên nhân chính là do người nông dân vẫn chưa phát huy hết được hiệu quả từ việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp như nguồn vốn, đất đai, lao động, khoa học công nghệ

Trang 8

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện phải chuyển dịch như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay là một vấn đề đáng qua tâm Việc nhìn lại một cách khái quát nhất tình hình nông nghiệp, nông thôn,

từ đó có cách tiếp cận đúng đắn, có luận cứ khoa học, hệ thống hóa lôgíc để phân tích, luận giải các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với từng thời kỳ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn đồng thời đưa ra những định hướng cho nông nghiệp, nông thôn phát triển trong tương lai - tất cả những việc đó là nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc

Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực là việc làm rất cần thiết để kinh tế địa phương phát triển trong

tình hình hiện nay Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài: ‘‘ tr n v ả p p

t u ển dị ơ ấu kinh tế nông nghiệp t eo ướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn l trên ịa bàn huyện rản om t n ồn n ’’

được tác giả lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở đánh giá thực trạng kinh tế nông nghiệp

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện nhằm đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, - tỉnh Đồng Nai

Trang 9

+ Đề xuất được một số giải pháp góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp tại huyện Trảng Bom – tỉnh Đồng Nai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Về mặt không gian: Nghiên cứu tại địa bàn Huyện Trảng Bom, Tỉnh

Đồng nai

- Về mặt thời gian: Nghiên cứu từ năm 2011 - 2015

- Về mặt nội dung: Tập trung vào vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên 3 nội dung: Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành,

cơ cấu vùng Trong đó, luận văn tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành trong nông nghiệp của huyện Trảng Bom bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ và lâm nghiệp gắn với sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: Nguồn vốn, lao động, đất đai, khoa học kỹ thuật

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Nghiên cứu thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Trảng Bom giai đoạn 2011 – 2015 Đánh giá những thành công, tồn tại và nguyên nhân trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp tại huyện

- Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng các nguồn lực tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Trang 10

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp trên địa bàn Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai

5 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp

1.1.1 Nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai

để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu sản xuất chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.[5]

Các quan điểm về ngành nông nghiệp:

- Quan niệm nông nghiệp theo nghĩa rộng: là tổ hợp các ngành gắn liền

với quá trình sinh học gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp

- Quan niệm nông nghiệp theo nghĩa hẹp: bao gồm trồng trọt và chăn

nuôi Trong trồng trọt được phân ra trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả… Ngành chăn nuôi gồm có chăn nuôi gia súc, gia cầm…

1.1.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp đã có từ xa xưa và được xem là cái nôi của nền văn minh lúa nước Đến nay, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với tỷ trọng 21% GDP và hơn 56% lao động xã hội đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp đang từng bước chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn [5]

Vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện ở một số điểm sau:

- Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm thiết yếu cho con người (lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp) mà không một ngành nào có thể thay thế được

Trang 12

- Nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, góp phần đáng kể vào tích luỹ ban đầu cho sự nghiệp phát triển đất nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển Tích luỹ trong nông nghiệp được thực hiện trực tiếp thông qua thuế sử dụng đất nông nghiệp[5] Nguồn thu này tuy không lớn nhưng ổn định và là nguồn thu chủ yếu có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của địa phương trong thời kỳ công nghiệp hoá

- Nông nghiệp có ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là ngành công nghiệp Sự phát triển ổn định, vững chắc của nông nghiệp

có ý nghĩa quyết định đối với ngành công nghiệp, dịch vụ và toàn nền kinh tế quốc dân Việc giải quyết đủ lương thực cho nhu cầu trong nước và dư thừa

để xuất khẩu được coi là nền tảng quan trọng nhất cho sự ổn định nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngoài lương thực và thực phẩm, nông nghiệp còn cung cấp nhiều loại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến nông sản Sự phát triển của công nghiệp chế biến, ở mức độ rất lớn phụ thuộc vào quy mô và tốc độ của sản xuất nông nghiệp Tính phụ thuộc này sẽ càng tăng lên khi nhu cầu sản xuất và xuất khẩu nông sản với kỹ thuật cao tăng lên[5]

- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân

- Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện để chuyển các yếu tố sản xuất sang khu vực phi nông nghiệp Nông nghiệp, nông thôn là nguồn cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội phát triển Quá trình phát triển kinh tế

ở hầu hết các nước đều gắn liền với sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta đòi hỏi nguồn lao động không ngừng được bổ sung từ khu vực nông nghiệp

1.1.1.3 Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là:

Trang 13

- Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu vì nó có vai trò quyết định (trực tiếp hay gián tiếp) tạo ra các loại nông sản phẩm Không có ruộng đất thì về

cơ bản không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp[5]

Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt vì khác với các loại tư liệu sản xuất khác, nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng hợp lý thì ruộng đất chẳng những không bị hao mòn, chất lượng không giảm đi qua quá trình sử dụng mà còn tốt hơn, tức là độ phì nhiêu, độ màu mỡ ngày càng tăng lên

Tính chất đặc biệt của ruộng đất còn thể hiện ở chỗ ruộng đất vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Là đối tượng lao động khi ruộng đất chịu sự tác động trực tiếp của con người thông qua các biện pháp canh tác; là tư liệu lao động khi con người thông qua ruộng đất tác động lên cây trồng, cung cấp các yếu tố dinh dưỡng để cây trồng sinh trưởng và phát triển

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống: Trong

nông nghiệp đối tượng sản xuất là những cơ thể sống, đó là những cây trồng, vật nuôi, phát sinh, tồn tại và sinh trưởng, phát triển theo các quy luật sinh học Do đó trong quá trình sản xuất, chúng luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp

của con người và của tự nhiên để sinh trưởng và phát triển

- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ: Trong sản xuất nông nghiệp

tính thời vụ được thể hiện rất rõ nét, đặc biệt là trong ngành trồng trọt Nhân

tố cơ bản quyết định tính thời vụ của sản xuất là quy luật sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi

- Sản xuất nông nghiệp thường có chu kỳ dài và phần lớn tiến hành ngoài trời: Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng sản xuất trong nông nghiệp

đòi hỏi quá trình sinh trưởng và phát triển dài, hoạt động sản xuất gắn với tự nhiên trên không gian ruộng đất rộng lớn Vì vậy, lao động và tư liệu lao động luôn luôn bị di động và thay đổi theo thời gian và không gian

Trang 14

- Sản xuất nông nghiệp chịu sự tác động và ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nước,…

Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông nghiệp Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

- Sản xuất nông nghiệp ở nước ta phổ biến là sản xuất nhỏ, cơ cấu nông nghiệp nước ta đang chuyển dịch theo yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Trong nông nghiệp nước ta, bình quân ruộng đất theo đầu người ít, sức lao động nông nghiệp nhiều lại phân bố không đồng đều giữa các miền và các vùng

- Sản xuất nông nghiệp của nước ta chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, ẩm, có chế độ gió mùa, hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt, đồng thời tùy theo vĩ tuyến và độ cao của từng vùng mà một số nơi còn có khí hậu ôn đới Tài nguyên khí hậu ấy, một mặt tạo điều kiện thuận lợi là: Có thể phát triển nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi, xây dựng cơ cấu cây trồng, công thức luân canh, trồng xen, trồng gối, sử dụng không gian nhiều tầng, có khả năng tăng vụ và rải vụ sản xuất quanh năm, bốn mùa có thu hoạch Mặt khác, khí hậu nước ta cũng gây ra những khó khăn phức tạp cho sản xuất nông nghiệp như: bão lụt, hạn hán, gió mùa đông bắc, gió tây, gió lào, sương muối,… gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng

1.1.2 Cơ ấu k n tế nôn n ệp

1.1.2.1 Khái niệm

Để hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trước hết cần làm

rõ khái niệm cơ cấu, cơ cấu kinh tế

- Khái niệm cơ cấu: Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng,

cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững

chắc giữa các bộ phận của nó [19]

Trang 15

- Khái niệm cơ cấu kinh tế: là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng

với những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội

nhất định

- Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp: là tổng thể các yếu tố hợp

thành nền nông nghiệp theo những quan hệ nhất định cùng với sự tác động qua lại lẫn nhau gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể (điều kiện tự nhiên, trình độ công nghệ, trình độ phân công lao động, trình độ tổ chức

quản lý,…) nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu đã định

Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan, lịch sử, xã hội và luôn gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội… chuyển dịch từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp dưới tác động của quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hình thành, biến đổi gắn liền với sự phát triển của cơ chế thị trường, từ kinh tế tự nhiên dần dần chuyển thành kinh tế hàng hóa, quá trình này tác động và thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển đa dạng và năng động theo hướng tiên tiến

1.1.2.2 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Dựa vào bản chất của cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã nêu thì cơ cấu kinh

tế nông nghiệp gồm các phần:

- Cơ ấu k n tế nộ bộ n n nôn n ệp: Được thể hiện ở

những mối quan hệ, tỷ lệ giữa các phân ngành trong ngành nông nghiệp như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… Trong quá trình phát triển, tương quan giữa các phân ngành trong cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp sẽ có những chuyển biến quan trọng theo hướng đa dạng hoá sản xuất Đó chính là sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động

xã hội trong sản xuất nông nghiệp[5]

Cơ sở của cơ cấu ngành là sự phân công lao động xã hội; phân công

Trang 16

dạng Tiền đề của sự phân công lao động trong nông nghiệp là năng suất lao động nông nghiệp Trước hết, năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực phải đạt tới một giới hạn nhất định, đảm bảo đủ lương thực cần thiết cho xã hội Đây là cơ sở quan trọng cho sự phân công giữa những người sản xuất lương thực với những người chăn nuôi và các ngành nghề khác trong nông nghiệp

- Cơ ấu t n p ần k n tế: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế

khác nhau trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng là một tất yếu khách quan trên con đường đi lên của đất nước Các thành phần kinh

tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có

vốn đầu tư nước ngoài

- Cơ ấu k n tế vùn lãn t ổ: Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ

phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian, địa lý Trong nông nghiệp, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ dựa trên điều kiện riêng, đặc thù về tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng trong phạm vi quốc gia hay các địa phương Việc phân vùng kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ không đồng nghĩa với phân chia địa giới hành chính và là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định và thực thi chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng vùng Mục đích của phân vùng là nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, khắc phục mặt hạn chế của từng vùng trong tổng thể chung của cả nước, tạo ra

sự liên kết bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau giữa các vùng Quan trọng hơn là

mở ra hướng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa đặc trưng của mỗi vùng với khối lượng lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, thuận lợi cho việc

Trang 17

chế biến, vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất mới, sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả cao

Ngoài các cách tiếp cận nói trên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn được xem xét dưới các góc độ khác như lao động, thị trường, sản phẩm dưới hình thái hiện vật và giá trị, trình độ xã hội hoá, trình độ phân công, hiệp tác trong nước và quốc tế…

1.1.2.3 Tiêu chuẩn và ý nghĩa của cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý

Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng của mỗi nước là khác nhau tuy nhiên tất cả đều hướng đến một cơ cấu kinh tế hợp lý[11]

Tiêu chuẩn chung nhất để xem xét một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là cơ cấu đó phải tạo ra sự tăng trưởng, phát triển ổn định và bền vững cho nông thôn từ đó góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân, bao gồm các vấn đề sau:

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý phải phản ánh đầy đủ, chính xác các quy luật khách quan, phải lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm thước

đo cuối cùng

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý phải tận dụng triệt để các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực,… của cả nước, của ngành và của từng địa phương

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là phải tạo điều kiện thúc đẩy phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế và các thành phần kinh tế

Việc xác định một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là xác định tỷ trọng của các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế trong nông nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi ngành, mỗi vùng và mỗi thành phần kinh tế để tạo cơ cấu kinh tế nông nghiệp sao cho có sự hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, nhằm khai thác các nguồn lực sẵn có một cách tối

ưu nhất nhưng vẫn đảm bảo về nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái Từ

Trang 18

đó góp phần đạt mục tiêu của ngành, của vùng, của nền kinh tế và tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển

1.1.3 Lý luận về u ển dị ơ ấu k n tế nôn n ệp

1.1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Nông nghiệp là một hệ thống phức tạp gồm nhiều bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau Những bộ phận này được coi như là các phần tử trong một cấu trúc có sự quan hệ mật thiết mà sự thay đổi của phần tử này hay sự biến đổi của một yếu tố làm cho phần tử này thay đổi thì cũng làm cho các yếu tố khác của phần tử khác thay đổi và kéo theo đó là những biến đổi của cấu trúc Làm thay đổi các phần tử bên trong một cấu trúc chính là làm thay đổi cơ cấu hay là chuyển dịch cơ cấu[5]

Như vậy, có thể hiểu u ển dị ơ ấu k n tế nôn n ệp là

quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ trạng thái này tới trạng thái khác tối ưu hơn thông qua sự quản

lý, điều khiển của con người theo đúng quy luật khách quan

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo ra hệ thống kinh tế nông nghiệp hợp lý cho phép khai thác tối ưu các nguồn lực (vốn, tài nguyên, lao động, kỹ thuật…), đảm bảo sự phát triển cân đối, ổn định, bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội

Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý tạo điều kiện để ngành nông nghiệp nhanh chóng thích ứng với yêu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần duy trì

có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 19

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

1.1.3.2 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp: Chuyển

dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp một cách khoa học và hợp lý là giảm tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi, thủy sản Tiếp tục chuyển mạnh một phần diện tích đất trũng, bãi bồi sang đào ao nuôi cá, lập vườn để có giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Từng bước tăng tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp, xác định hợp

lý cơ cấu đàn lợn, đàn gia cầm, đàn bò Thực hiện phương thức chăn nuôi kết hợp chế biến, tiêu thụ sản phẩm để có hiệu quả kinh tế Từng bước phát triển thuỷ sản trở thành thế mạnh, kết hợp nuôi thả những giống cá có hiệu quả kinh tế cao với việc phát triển hệ thống tiêu thụ, đưa giá trị thu nhập ở khu vực này tăng cao hàng năm[5]

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng: Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo vùng thể hiện sự tái phân công lao động theo vùng lãnh thổ Dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế

- xã hội của mỗi vùng mà hình thành các vùng kinh tế Các vùng kinh tế này có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung là dựa vào những lợi thế đó để khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng nhằm tạo ra sự phát triển

Xác định cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ tạo cơ sở để khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn những tiềm năng về tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất hiện có của từng vùng Điều này quyết định tốc độ phát triển kinh

tế hàng hoá ở nông thôn mỗi vùng cũng như cả nước Khi có biến đổi lớn trong vùng kinh tế về kết cấu hạ tầng và tình hình kinh tế - xã hội như hệ

Trang 20

đặc biệt là sự xuất hiện của những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học, nhu cầu mới của thị trường… sẽ xuất hiện những ngành sản xuất - kinh doanh mới có hiệu quả kinh tế cao hơn

- Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Trong nền kinh tế thị

trường luôn tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau Chính sự đa dạng hoá sở hữu đã quyết định sự tồn tại của các thành phần kinh tế Sự khác nhau giữa các thành phần kinh tế thể hiện ở trình độ xã hội hoá, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, phương thức phân phối sản phẩm và các mối quan hệ về lợi ích Mỗi thành phần kinh tế có bản chất và những đặc điểm riêng Lợi ích của các thành phần kinh tế vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn và có mối quan hệ với nhau, cùng tồn tại với nhau trong một nền kinh tế Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã trở thành tất yếu trong đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới Do đó, phải tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp ở nước ta được thực hiện theo hướng đảm bảo để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; kinh

tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lao động: Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo lao động là sự tái phân công lao động dựa vào các lợi thế trong quá trình phát triển sản xuất Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động nhằm tạo ra đủ việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập

và đời sống cho người lao động, phát huy năng lực của lao động, đóng góp hiệu quả hơn cho khu vực, cho vùng, cho đất nước, cho sự phát triển

và ổn định kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động được thực

Trang 21

hiện trên cơ sở kế hoạch, chiến lược qui hoạch đội ngũ cán bộ, công nhân, nông dân… theo một cơ cấu hợp lý để từ đó phát huy được thế mạnh về lao động

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo đất đai: Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với đặc điểm tự nhiên sinh thái của vùng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất Sản xuất nông nghiệp bao gồm cây trồng, vật nuôi nên việc áp dụng các phương thức sản xuất nông lâm nghiệp với các mô hình canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng như trồng loại cây nào phù hợp với đặc điểm thời tiết, đất đai, loại đất… hay biết kết hợp các loại cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái vùng, địa điểm canh tác thì sẽ đem lại năng suất cao hơn, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích sẽ cao hơn, từ đó hiệu quả

sử dụng đất sẽ được nâng cao Do vậy cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã được chuyển dịch theo xu hướng nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

vì thế tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp nước ta từng bước

được nâng cao, cơ sở vất chất kỹ thuật của nông nghiệp ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng to lớn của nền nông nghiệp nhiệt đới phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội

Xu hướng chung hiện nay là phải tăng tỷ trọng công nghệ sản xuất và quản lý hiện đại kết hợp với khai thác lợi thế của công nghệ truyền thống

1.1.3.3 Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với tăng trưởng: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng

hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy, có thể hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp Nguồn gốc của tăng trưởng

Trang 22

đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao động và công nghệ Mặt khác, để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tái sản xuất mở rộng

và tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác, các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng Tuy nhiên, mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo tiền đề để chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ sở bố trí lại một cách hợp lý các nguồn lực được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp giữa các ngành, các lĩnh vực

Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển nông nghiệp bền vững: Phát triển nông nghiệp bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của

mọi quốc gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Phát triển nông nghiệp bền vững có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm

cả bốn mục tiêu cơ bản là: Tăng trưởng kinh tế - tăng về quy mô số lượng, thay đổi về cơ cấu kinh tế - thay đổi về chất lượng, tiến bộ về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao ở cả bốn mục tiêu này thì nền nông nghiệp mới được xem là phát triển bền vững

Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học coi chuyển dịch cơ cấu kinh

tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế [19] Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức nghèo đói Đây là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó Mặt khác, sự tăng trưởng

Trang 23

nhanh chóng của nền kinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đẳng

về kinh tế, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn và bất ổn định Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, để bảo đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường: Phát triển nông nghiệp toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao và

bền vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường Chỉ có như vậy mới khắc phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nước ta hiện nay Sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản xuất sản phẩm nào,

số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại ra sao phải do thị trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm của người sản xuất quyết định

Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với hiệu quả kinh tế và

xã hội: Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu đảm bảo đạt hiệu quả

kinh tế và xã hội cao Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất chỉ có thể tồn tại được khi sản phẩm có khả năng cạnh tranh, hay nói cách khác sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không phải bao giờ cũng thống nhất với hiệu quả xã hội Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ tính đến hiệu quả về mặt kinh tế mà còn

Trang 24

phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội, phải được đo lường bằng các chỉ tiêu tổng hợp, cả về kinh tế và xã hội

Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

phải phù hợp với xu hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực Yêu cầu trên còn là cơ sở để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý trong giai đoạn hiện nay

Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với công bằng xã hội:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH trong thế kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng kinh

tế nhanh, vững chắc và toàn diện mà còn phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng

Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị

Bảy là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp giữa truyền thống

và hiện đại: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta

hiện nay, một mặt phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm

cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp lúa nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi, giống cây đặc sản… Mặt khác, phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp, nông thôn

Tám là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn mục đích tăng trưởng kinh tế với phân công lại lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ ở

khu vực này: Để đảm bảo sự phát triển nông thôn bền vững, ổn định thì cơ

Trang 25

cấu lao động nông thôn phải được điều chỉnh hợp lý Cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động nông nghiệp là phương hướng lâu dài của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta Thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ thúc đẩy phân công lại lao động xã hội bên trong lãnh thổ mà còn thúc đẩy quá trình tham gia vào hợp tác lao động quốc tế tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ đó mà kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế

Chín là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với quy hoạch, chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và

của cả nước: Nông nghiệp trên địa bàn huyện là một bộ phận của nền

nông nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung của tỉnh, của vùng và cả nước Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn phải gắn kết với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và của cả nước

về mục tiêu, phương hướng và giải pháp

Mười là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn: Xu hướng

và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn Mối tương quan xuất phát từ thực tế ở nước ta và kinh nghiệm của các nước: Công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra điều kiện vật chất, vừa thu hút lao động dư thừa của khu vực này trong quá trình CNH, HĐH

1.1.4 C ếu tố t ộn ến u ển dị ơ ấu k n tế nôn n ệp

- Điều kiện tự nhiên: Theo FAO, các yếu tố tự nhiên có vai trò quan

trọng trong việc hình thành các hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành các cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên một vùng lãnh thổ gồm có: Khí hậu, nguồn nước, đất

Trang 26

Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn và đối tượng khai thác là sinh vật nuôi trồng gắn liền với vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, chế độ thuỷ văn, ánh sáng, hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên… Đây

là các yếu tố tiền đề cực kỳ quan trọng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Vấn đề căn bản là lựa chọn được cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu nghề nghiệp để huy động và khai thác có hiệu quả nhất những lợi thế so sánh về tự nhiên, tránh và hạn chế rủi ro cũng như những tác động bất lợi của tự nhiên để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế thị trường

Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải bố trí được cơ cấu cây trồng, vật nuôi tương thích với điều kiện thổ nhưỡng, chế độ thuỷ văn, ánh sáng, khí hậu, phải tôn trọng các quy luật tự nhiên để đảm bảo năng suất cây trồng, vật nuôi cao nhất, đảm bảo mức sinh lời lớn với chi phí thấp, qua đó đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất

Ngày nay, mặc dù khoa học – công nghệ đã phát triển đến trình độ rất cao, con người đã tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và thích ứng với điều kiện tự nhiên, nhưng để có một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lí, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nhất thiết phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái Đồng thời khuyến khích‎ sự sáng tạo của con người nhằm tranh thủ tốt nhất những lợi thế của tự nhiên để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế

nông nghiệp nói riêng đạt hiệu quả cao nhất

- Yếu tố thị trường: Thông qua quan hệ cung-cầu, giá cả thị trường

đối với sản phẩm nông nghiệp, yếu tố này chi phối rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Bởi vì, trong kinh tế thị trường những sản phẩm nào có lợi nhuận cao, thị trường ổn định thì các doanh nghiệp, hộ

gia đình, hợp tác xã sẽ đầu tư vốn để phát triển

Trang 27

Thông qua những chức năng như điều tiết và kích thích sản xuất, thông tin tín hiệu cho người sản xuất và quản lý, thị trường tác động mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp Bởi vì, mục đích của người kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, nếu có thị trường ổn định để tiêu thụ hàng hoá, giá cả có thể chấp nhận được thì đó là căn cứ, là tiếng gọi đối với nhà đầu tư kinh doanh nông nghiệp Quy mô, cơ cấu và động thái của thị trường chi phối rất lớn và có thể nói

là yếu tố quyết định đối với người sản xuất - kinh doanh, chi phối quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Trong nền kinh tế thị trường, cả 3 vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai đều do thị trường quyết định Thị trường không chỉ quyết định về số lượng mà còn về chất lượng, cơ cấu, mẫu mã sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Thị trường tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của cơ sở kinh tế, đến xu hướng phân công lao động, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để làm định hướng chuyển dịch Thị trường có vai trò là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là điều kiện thúc đẩy thị trường nông nghiệp phát triển Tuy nhiên, nếu để thị trường phát triển tự phát sẽ dẫn đến mất cân đối, do đó cần phải có sự quản lý của Nhà nước để điều tiết thị trường

- Vốn đầu tư: Vốn đầu tư cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối

với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Có vốn mới giải quyết được vấn đề tăng cường cơ sở kỹ thuật, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn lao động Vì vậy, để tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả phải tăng cường đầu tư vốn cho phát triển sản xuất và

Trang 28

kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn cũng như các yếu tố kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội liên quan khác

- Trình độ, kỹ năng của người lao động, tập quán canh tác, ngành nghề truyền thống: Trình độ, kỹ năng của người lao động, tập quán canh

tác, ngành nghề truyền thống cũng chi phối mạnh mẽ đến bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu sản phẩm ở mỗi vùng, mỗi địa phương Các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cũng tác động tích cực tới việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH tất yếu phải phát triển lực lượng sản xuất, trong đó lực lượng lao động là nhân tố hàng đầu Chỉ có đội ngũ lao động với chất lượng cao,

cơ cấu hợp lý mới có khả năng tiếp thu được khoa học công nghệ, nhất là công nghệ tin học, sinh học để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Các yếu tố của kết cấu hạ tầng

kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, bưu chính - viễn thông… là điều kiện, là tiền đề cho sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tất cả các yếu tố đó đều tác động trực tiếp và

mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

độ tổ chức và quản lý kinh doanh của người nông dân cũng ảnh hưởng rất

lớn tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế là biểu hiện của đường lối, chính sách phát triển kinh

tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đúng đắn, hợp lý mang tính khách quan, khoa học và tính lịch sử xã hội, nhưng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu sự tác động chi phối, định

Trang 29

hướng của đường lối phát triển kinh tế của Đảng và thể chế của Nhà nước Nhà nước tạo động lực và hành lang pháp lý điều tiết sản xuất, kinh doanh qua hệ thống luật pháp và chính sách Nhà nước còn can thiệp vào thu hút,

sử dụng vốn đầu tư để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

có hiệu quả theo mục tiêu, phương hướng chung của đất nước

Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách phát triển kinh tế của tỉnh như chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; chính sách chuyển giao khoa học và công nghệ; chính sách khuyến khích phát triển các mặt hàng mũi nhọn trong nông nghiệp…

- Yếu tố quốc tế: Trong điều kiện nền kinh tế mở, mỗi biến động về

chính trị, quân sự, biến động về tài chính, tiền tệ, thị trường quốc tế… cũng gây ảnh hưởng nhất định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp trong nước và trên địa bàn

Các biến động về tài chính, tiền tệ, giá cả, thị trường quốc tế ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Bởi lẽ, quy

mô, cơ cấu, động thái tăng, giảm của thị trường thế giới đều tác động mạnh mẽ đến tốc độ và cơ cấu nông sản xuất khẩu của nước ta

Nhìn chung, xu thế chính trị - xã hội của khu vực và thế giới, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng quốc tế hóa lực lượng sản xuất, hình thành các cam kết của đất nước đối với khu vực

và thế giới, tạo sự phát triển đan xen nhau, khai thác thế mạnh của nhau, hợp tác cùng phát triển trong sản xuất và trao đổi hàng hóa, dịch

vụ đều tác động đến sự hợp tác và phân công lại lao động trong nông nghiệp, tác động mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương

- Sự phát triển của khoa học – công nghệ: Sự phát triển của khoa

Trang 30

nghiệp Tiến bộ khoa học - công nghệ được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp cho phép tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng và năng suất cao hơn Những thành tựu và kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn cũng tác động tích cực đến việc nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức kinh tế cho nông dân trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Sự phát triển của khoa học - công nghệ là yếu tố tác động mạnh mẽ

và trở thành động lực trực tiếp đột phá cho sự hình thành và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp Sự phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học

- công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần tăng nhanh năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, trong quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ phải đảm bảo đồng bộ, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ lao động và sự tiếp cận của nền kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định

Các yếu tố cơ bản nêu trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, khi xác định cơ cấu và chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phải tìm ra những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến quá trình này để trên

cơ sở đó có các biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp

1.1.5 Lý luận chung về nguồn l c và hiệu quả sử dụng các nguồn l c trong nông nghiệp

1.1.5.1 Khái niệm về nguồn lực:

Nguồn lực (Resouree) là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển xã hội của một vùng hay quốc gia Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực phát triển do các tác giả trình bày dưới các cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản chúng đều thống nhất ở những điểm sau[5]

- Nguồn lực phát triển là tổng thể các yếu tố kinh tế, phi kinh tế cả trong nước và nước ngoài đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, cải

Trang 31

biến xã hội theo hướng tiến bộ của một vùng hay quốc gia

- Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và các yếu tố phi vật thể khác, bao gồm cả trong nước

và nước ngoài có khả năng khai thác, sử dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững

1.1.5.2 Phân loại các nguồn lực phát triển:

- Tiếp cận theo tính chất của nguồn lực phát triển, thì người ta chia nguồn lực phát triển thành hai loại sau:

+ Các nguồn lực vật chất: Nhóm này bao gồm các nguồn lực như: nguồn

lực lao động; nguồn lực khoa học - công nghệ; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vốn, Đây là các nguồn lực đầu vào trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mong muốn Nhưng mức độ tham gia của các nguồn lực phụ thuộc trước hết vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tính chất của từng loại sản phẩm và hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát triển; cơ chế quản lý và hệ thống chính sách của nhà nước

+ Các nguồn lực phi vật chất: Nhóm này bao gồm rất nhiều yếu tố tác động đến tăng trưởng và phát triển, có thể nêu một số yếu tố cơ bản như: cơ chế quản lý và hệ thống chính sách, đặc điểm tôn giáo, truyền thống, dân tộc, tính cộng đồng

- Tiếp cận theo khu vực hành chính quốc gia, nước ta chia các nguồn lực phát triển thành hai loại là nguồn lực trong nước và nước ngoài Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nguồn lực nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi quốc gia Nhưng nguồn lực nước ngoài chỉ bao gồm các nguồn lực vật chất và kinh nghiệm quản lý Các nguồn lực trong nước bao gồm các nguồn lực vật chất và các nguồn lực phi vật chất Nguồn lực trong nước nhiều hay ít, mạnh hay yếu phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mỗi vùng, mỗi địa phương

Trang 32

1.1.5.3 Nội dung các nguồn lực trong nông nghiệp:

 Nguồn l c vốn:

Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp (theo Kay R.D và Edwards W.H thuộc ĐH Texas và Iowa Hoa Kỳ) Đó là số tiền dùng để thuê hoặc mua ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị, nông cụ và tiền mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc…)

 Nguồn l c khoa học và công nghệ:

Trong nông nghiệp, nông thôn, khoa học kỹ thuật đã có những tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học Từ

đó hàng loạt giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn được đưa vào sản xuất Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề cho sự chuyển dịch CCKT, trong đó có CCKT nông thôn Khoa học và công nghệ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển

từ tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang chiều sâu

Trang 33

1.1.5.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp

 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp:

- Năng suất cây trồng, được tính bằng tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra

trên một đơn vị diện tích (thường là 1ha) trong 1 vụ [5]

- Năng suất ruộng đất, chỉ tiêu này được tính dưới 2 hình thức

+ Hình thức hiện vật: Được tính bằng tổng khối lượng nông sản (cùng loại) trên một đơn vị diện tích canh tác trong 1 năm Chỉ tiêu này dùng để so sánh việc sử dụng ruộng đất theo từng loại cây trồng vật nuôi

+ Hình thức giá trị: Được tính bằng tổng giá trị sản lượng hay tổng thu nhập trên một diện tích canh tác trong một năm Đây là chỉ tiêu tổng hợp về sức sản xuất của đất

- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên một diện tích gieo trồng (hoặc một

đơn vị diện tích canh tác

 Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp

- Số lượng lao động đảm nhận canh tác 1 ha canh tác Số ngày công lao

động đầu tư cho 1 ha canh tác

- Năng suất lao động nông nghiệp, được đo bằng số sản phẩm, dịch vụ do

1 lao động nông nghiệp tạo ra trong một thời gian (thường là 1 năm) Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất về lao động nông nghiệp Nó phản ánh tính hiệu quả

và trình độ của một nền nông nghiệp;

 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong nông nghiệp

- Hiệu quả sử dụng vốn cố định (hoặc vốn lưu động), chỉ tiêu này được

tính bằng cách chia doanh thu cho vốn cố định (hoặc vốn lưu động)

- Vòng quay vốn, được tính bằng cách chia doanh thu cho tổng vốn đầu tư

- Doanh lợi vốn trong sản xuất nông nghiệp (hay là tỷ suất lợi nhuận của

vốn đầu tư), được tính bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng vốn đầu tư Nếu phân tích trong phạm vi nông hộ, người ta thường dùng chỉ tiêu “tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư” Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia thu nhập của

Trang 34

nông hộ cho tổng vốn đầu tư (trong đó không tính chi phí cơ hội về lao động gia đình)

Do khó khăn trong việc thu thập số liệu về vốn trong nông nghiệp nên luận văn chủ yếu phân tích về nguồn lực đất đai và lao động trong nông nghiệp

1.1.6 Chuyển dị ơ ấu kinh tế nông nghiệp t eo ướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn l c trong nông nghiệp

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất nông nghiệp Khi xem xét từng yếu tố nguồn lực, xu hướng vận động về số lượng

và chất lượng của từng yếu tố nguồn lực theo các chiều hướng khác nhau Nhưng khi sử dụng cần kết hợp các yếu tố nguồn lực một cách hài hoà, hợp

lý Tỷ lệ tham gia của mỗi yếu tố nguồn lực vào quá trình sản xuất từng loại nông sản tuỳ thuộc vào tính chất của quy trình kỹ thuật và tiến bộ công nghệ Điều đó có nghĩa là tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà quyết định những tỷ lệ về số lượng và chất lượng của mỗi yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất

Việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các yếu tố nguồn lực của sản xuất nông nghiệp là tất yếu khách quan đòi hỏi các cơ sở nông nghiệp phải coi trọng việc bảo vệ và phát triển hợp lý, đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa các yếu tố nguồn lực Trong nông nghiệp nước ta kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại là lực lượng chủ yếu sản xuất và cung cấp nguồn nông sản cho nền kinh tế quốc dân Cần thiết phải đào tạo và bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật và quản lý cho các chủ hộ nông dân, chủ trang trại và lực lượng lao động nông nghiệp để họ thực làm chủ về sản xuất và kết quả tài chính Đồng thời phải củng cố, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn, nhằm nhanh chóng phát huy có hiệu quả trong quá trình sử dụng các yếu tố nguồn lực của nông nghiệp

1.2 Cơ sở thực tiển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Trang 35

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện khá sớm ở nhiều nước trên thế giới Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp ở một số nước có thể rất hữu ích cho Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay

Dưới đây là kinh nghiệm trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực ở một số quốc gia

- Thái Lan: Thái Lan vốn là nước độc canh cây lúa nước đã vươn lên

với tốc độ tăng trưởng nhanh gắn với đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp Thái Lan chủ trương ưu tiên đặc biệt cho việc chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang đa dạng cây con trong nông nghiệp để thúc đẩy nhanh nền kinh tế

quốc dân

Cụ thể, Thái Lan đã chú trọng mở mang đất đai, đầu tư sang sản xuất cây ngũ cốc, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, đánh cá, hoa, cây cảnh Tỷ trong nông nghiệp trong GDP giảm từ 50,1% năm 1951 xuống còn 14,2% năm 1990 Giá trị gạo trong tổng giá trị xuất khẩu từ 45% năm 1950 giảm xuống còn 4,4% năm 1992 Thái Lan cũng đã giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp từ 40,9% xuống còn 25% Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cũng giảm từ 83,8% xuống còn 74,4% Thời kỳ từ năm 1987 đến 1996, mức tăng trung bình của nông nghiệp là 3,4% Cũng trong thời gian ấy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 40% xuống còn 12% và tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động cả nước giảm xuống còn 60% Đặc điểm của nông nghiệp Thái Lan hiện nay là nông nghiệp sản xuất hàng hóa hướng ngoại Việc chuyển sang các mặt hàng xuất khẩu đã làm thay đổi bản chất của nông nghiệp từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn

Điều quan trọng là Thái Lan ứng dụng nhanh các thành quả khoa học - công nghệ (KHCN) sinh học, hóa học, thủy lợi cũng như CNH nhanh ngành

Trang 36

nghiệp có sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thế giới do chất lượng cao, giá thành thấp Chính phủ Thái Lan chủ động phát triển nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích nông dân trồng các loại cây có giá trị xuất khẩu lớn, xây dựng các công trình thủy lợi, trợ giá cho sản xuất nông nghiệp thông qua việc giảm giá phân bón, thuốc trừ sâu, giảm thuế nhập khẩu máy móc, công cụ, các thiết bị nông nghiệp và thông qua thị trường xuất khẩu để nâng giá nông sản

- Indonesia: Với hơn 200 triệu dân và 70% dân cư sống ở nông thôn,

ngành nông nghiệp Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Indonesia được quan tâm sâu sắc, trong đó chính sách phát triển nông nghiệp tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm vì mục tiêu an toàn lương thực, thực phẩm và đề

cao vai trò khu vực nông thôn

Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chính phủ nước này đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng như đường

sá, công trình thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản… đều được trợ giá ở mức độ khác nhau Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục được mở rộng, chú trọng phát triển những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nước và

tư nhân Trong khu vực Đông Nam á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách phát triển kinh tế trang trại Nhờ đó, Indonesia trở thành nước xuất khẩu ca cao, cà phê, chè hàng đầu thế giới Chính phủ nước này luôn cố gắng duy trì

sự cần bằng tương đối giữa nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch vụ đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

- Nhật Bản: Nhật Bản nằm trên một quần đảo ở phía đông Châu Á,

70% diện tích đất đai là đồi núi, có nhiều núi lửa, trong đó có một số núi lửa

Trang 37

đang hoạt động Đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt bằng nhiều con sông ngắn, chảy xiết Thời tiết khí hậu có bốn mùa rõ rệt Nhìn chung đất đai, khí hậu, thời tiết

không thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Sau chiến tranh thế giới thứ II, kinh tế Nhật Bản lâm vào suy thoái, thiếu lương thực trầm trọng Chính lúc đó, Nhật Bản đề ra chương trình mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và chính sách cải cách kinh tế nông thôn

Về lương thực: Chính phủ Nhật Bản chủ trương cải tạo 1,55 triệu ha đất và định cư cho 1 triệu hộ nông dân trong 5 năm

Về cải cách ruộng đất: Bắt buộc các điền chủ có diện tích đất lớn hơn theo quy định phải bán cho nông dân để nông dân có đất sản xuất

Chính phủ ban hành các chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp: chính sách ổn định giá cả, tự do lưu thông hàng hóa, tăng cường công tác khuyến nông do Nhà nước đầu tư, hoàn thiện quy trình sản xuất nông nghiệp, cải thiện điều kiện sống

Từ năm 1947, Chính Phủ Nhật Bản ban hành một số đạo luật nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển cao hơn: Luật Tài trợ cho nông dân trong trường hợp gặp thiên tai, luật Tăng cường màu mỡ của đất, luật Đất đai nông nghiệp Do đó, từ năm 1949 lương thực đã có bước phát triển khá Năm

1951, thu nhập của hộ nông dân cao hơn hộ công nhân thành phố 30% Năm

1956, lại kém hơn 10% Trước tình hình đó, Nhật Bản lại đề ra mục tiêu:

“Phát triển những đặc sản nông nghiệp đáp ứng cho từng khu vực riêng” Do vậy, Nhật Bản lại tiến hành chuyển dịch CCKT nông nghiệp cho phù hợp Năm 1975, Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, lấy an ninh lương thực làm mục tiêu chính Đến năm 1979, sản xuất gạo dư thừa, có gạo bán trên thị trường nội địa 6 triệu tấn Các nông sản hàng hóa khác có sản lượng tăng khá (rau, quả, sữa, thịt ) Tất cả những thành tựu trên là

do chuyển đổi CCKT nông nghiệp và thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp, CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn đem lại

Trang 38

Từ năm 1990, Nhật Bản chủ trương chuyển 830.000 ha lúa sang sản xuất các cây con khác có hiệu quả hơn Hiện nay, Nhật trở thành nước nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới, với khối lượng nông sản nhập khẩu hàng năm là gần 20 triệu tấn ngô; 5,5 triệu tấn lúa mì; 5 triệu tấn đậu tương; gần 2 triệu tấn đường; trên 700 nghìn tấn thịt và hàng triệu tấn rau quả

Nhật Bản đang nghiên cứu thực thi đường lối mới phát triển nông nghiệp, trên cơ sở củng cố sản xuất nông nghiệp trong nước và xuất khẩu sản xuất nông nghiệp ra nước ngoài Ở trong nước, Nhật tập trung vào sản xuất một số loại nông sản có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít đất và lao động, thực hiện nông nghiệp sinh thái, phát triển nông nghiệp du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp để tăng thu nhập cho nông dân Mặt khác, Nhật tích cực thực thi đường lối xuất khẩu vốn, công nghệ, thiết bị, vật tư nông nghiệp ra nước ngoài theo hướng chú trọng các nước đang phát triển, có đất đai và lao động rẻ để sản xuất ra các loại nông sản nhập khẩu vào Nhật Bản và xuất khẩu sang các nước thứ ba

Quá trình điều chỉnh CCKT nông nghiệp của Nhật Bản là nhờ sự nhạy bén nắm bắt các quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường trong mỗi thời kỳ

nhất định

- Trung Quốc: Trung Quốc là nước có rất nhiều điểm giống nước ta về

tính chất của sản xuất nông nghiệp, bước chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, có định hướng của Nhà nước Những bài học thành công trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn là

những kinh nghiệm cho nước ta trong giai đoạn hiện nay

Nếu bỏ qua sai lầm trong những năm 1956 - 1978 thì ở Trung Quốc từ

1979 đến nay nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp đã có những bước tiến bộ vượt bậc Thu nhập bình quân thực tế của nông dân tăng gấp đôi thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp

Dấu hiệu đặc trưng của HĐH nông thôn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp là quá trình chuyển hướng phát triển nông

Trang 39

nghiệp và phát triển nông thôn ngoài nông nghiệp Vấn đề khó khăn nhất là phải thu xếp cho một lực lượng lớn lao động ở nông thôn có công ăn việc làm Để giải quyết vấn đề quan trọng này Trung Quốc đã có chủ trương:

Một là, điều chỉnh quyền sử dụng ruộng đất Nội dung của điều chỉnh

ruộng đất là thay đổi định hướng quan hệ ruộng đất và cơ cấu sử dụng ruộng đất

Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80, Trung Quốc đã thực hiện việc chia và chuyển giao ruộng đất tập thể cho hộ nông dân sử dụng Đầu năm 1990, 90% đất canh tác được chia cho 96% hộ nông dân Để ruộng đất được sử dụng có hiệu quả, Nhà nước đã xây dựng chế độ chuyển dịch đất đai, có hoàn lại quyền sử dụng Bắt đầu từ 1987, việc chuyển dịch quyền sử dụng đất đai của Nhà nước và đất tập thể phi nông nghiệp, đất bãi, ven rừng đã được thực hiện Nhà nước có nhiều văn bản “quy định tạm thời về việc giao nhượng quyền sử dụng đất của Nhà nước, ở thành thị và nông thôn” (năm 1990), “luật quản lý đất đai và bất động sản thành phố” (năm 1994), “quy chế về việc bảo vệ đất nông nghiệp cơ bản” (năm 1994) Nhờ chính sách giao quyền sử dụng cho nông dân mà nông nghiệp Trung Quốc phát triển vượt bậc Năm 1994, sản lượng ngũ cốc vượt mức 435 triệu tấn Bình quân lương thực 390kg/người Nhờ giải quyết được vấn đề lương thực mà Trung Quốc đã chuyển sang “phát triển kinh tế đa ngành” ở nông thôn Chính sách này đã được công bố vào tháng 4 năm 1981 với chủ trương thu hút nhân lực vào sản xuất ra sản phẩm không gắn với nghề nông, nhằm tận dụng mọi nguồn lực hiện có ở nông thôn, khai thác hết nguồn lao động phụ Từ năm 1979 đến 1991 bình quân hàng năm giá trị trồng trọt tăng 4,6%; nghề rừng tăng 5%; chăn nuôi tăng 10,9%; các ngành nghề khác tăng 13%

Hai là, phát triển xí nghiệp Hương trấn Năm 1984, ở nông thôn Trung

Quốc đã xuất hiện công nghiệp Hương trấn Khái niệm “xí nghiệp Hương trấn” là tên gọi các doanh nghiệp của các công xã, đội sản xuất trước đây, cũng như những doanh nghiệp mới bước đầu thành lập ở các vùng nông thôn

Trang 40

lượng sản phẩm ở nông thôn và chiếm 1/3 tổng sản phẩm xã hội của cả nước

Tỷ lệ sản phẩm năm 1993 chiếm 60% tổng sản lượng công nghiệp cả nước

Xí nghiệp Hương trấn do nông dân góp vốn xây dựng, tích lũy, từng bước phát triển, cung ứng nguyên liệu và mua bán sản phẩm chủ yếu thông qua thị trường, lao động thuê mướn rộng rãi trên thị trường lao động, tự hạch toán không lệ thuộc ngân sách Nhà nước

Thành công của công nghiệp Hương trấn là phát triển công nghiệp địa phương, tạo động lực để chuyển nông thôn thuần túy nông nghiệp sang nông thôn có CCKT nông - công - dịch vụ, góp phần đô thị hóa nông thôn, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, dịch vụ trên địa bàn nông thôn, phân hóa mật độ công nghiệp tập trung ở thành thị gây ô nhiễm môi trường

Những hạn chế của xí nghiệp Hương Trấn là phân tán đầu tư, chiếm nhiều đất đai Khác với nông nghiệp, công nghiệp đòi hỏi tập trung để tiết kiệm đất đai canh tác, đầu tư kết cấu hạ tầng, có lợi cho phân công hợp tác, phổ biến kỹ thuật, điều hòa tư liệu sản xuất, tiền vốn, do không có khả năng đầu tư công nghiệp hiện đại nên sản phẩm phần lớn kém chất lượng, khó cạnh tranh thị trường, dẫn đến khó tiêu thụ

Ba là, xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội ở nông thôn: Ngoài nông

nghiệp, công nghiệp Hương trấn, hệ thống dịch vụ ở nông thôn đã hình thành như một ngành độc lập Hệ thống dịch vụ ra đời trước hết đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa theo mô hình kinh tế hộ Hệ thống dịch vụ này có thể làm

cầu nối giữa hộ gia đình và thị trường

- Các nước Châu Á khác: Ở các nước Châu Á, cơ cấu nông nghiệp và

nông thôn theo thành phần kinh tế chủ yếu tồn tại theo hai hình thức kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân cá thể, còn kinh tế Nhà nước không có hoặc không đáng kể Dù hình thức nào thì quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác vẫn thuộc về các hộ gia đình, còn hợp tác xã (HTX) hay tổ hợp tác chỉ làm chức năng dịch vụ đầu vào và đầu ra cho kinh tế hộ, trong đó vai trò

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w