Tuy nhiên, phát triển cây tiêu còn mang tính manh mún, phân tán, chưa theo quy hoạch; người trồng tiêu chưa tiếp cận đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với sản xuất và tiêu th
Tính cấp thiết của đề tài
Xuân Lộc là huyện nông thôn, miền núi của tỉnh Đồng Nai với diện tích tự nhiên là 72.719,48 ha, chiếm 12,4% diện tích toàn tỉnh Huyện Xuân Lộc có
15 đơn vị hành chính, trong đó có 14 xã và 01 thị trấn với 91 khu, ấp được chia thành 1.238 tổ nhân dân, dân số trên 228 ngàn người, chiếm 9,0% dân số tỉnh Đồng Nai
Trong 20 năm xây dựng và phát triển vừa qua, kinh tế huyện Xuân Lộc đã thay đổi đáng kể, tăng trưởng GDP với tốc độ cao, đạt bình quân 12,3% / năm, trong đó giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân 16,61%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp với tỷ trọng các khu vực là: 40,1% - 25,9% - 34%
Sản xuất nông, lâm nghiệp được phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn kết với việc xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao đời sống của nông dân và dân cư trên địa bàn Điều kiện tự nhiên của huyện Xuân Lộc có khí hậu pha và đất nâu đỏ trên đá bazan (25 ngàn ha) rất thích hợp để phát triển các loại cây công nghiệp dài, ngắn ngày, cây thực phẩm, cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, trong đó có hồ tiêu Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn huyện đến năm 2011 là 19.618 ha, trong đó diện tích cây cà phê là 1.105 ha; cây Cao su là 3.900 ha; cây Điều là 13.256 ha; Cây Tiêu là 1.246 ha
Cây Tiêu là một trong 04 cây công nghiệp lâu năm cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao của huyện Xuân Lộc, chiếm tỷ trọng 29,46% trong tổng giá trị cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn huyện Xuân Lộc, sản lượng trung bình đạt 3.226 tấn/năm Những năm gần đây diện tích trồng Hồ tiêu trong nhân dân không ngừng tăng do mang lại thu nhập cao hơn so với các cây trồng khác như Cao su, Cà phê, Điều trên cùng đơn vị ha diện tích đất canh tác
Tuy nhiên, phát triển cây tiêu còn mang tính manh mún, phân tán, chưa theo quy hoạch; người trồng tiêu chưa tiếp cận đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với sản xuất và tiêu thụ hồ tiêu đã triển khai trên địa bàn; thu nhập của nông dân chưa tương xứng với công sức bỏ ra và chưa hưởng lợi đầy đủ lợi ích tạo ra trong toàn bộ chuỗi giá trị hồ tiêu trên địa bàn huyện
Trong tiêu thụ, nông dân thường bán sản phẩm dưới dạng hồ tiêu tươi cho người thu gom ngay sau khi thu hoạch khi cần tiền gấp, giá bán thấp nên thu nhập không cao Đại bộ phận nông dân phải bán sản phẩm tươi ngay sau thu hoạch cho thương lái, một bộ phận nhỏ hộ nông dân tự vận chuyển và bán hồ tiêu trực tiếp cho Doanh nghiệp thương mại trên địa bàn huyện với giá cao hơn và được thanh toán ngay tiền và một bộ phận tự phơi, sấy khô để bảo quản và bán ra vào các thời điểm có giá cao hơn Để phát triển được cây hồ tiêu theo lợi thế tự nhiên ở huyện Xuân Lộc, UBND tỉnh Đồng Nai và UBND huyện Xuân Lộc cần có chính sách tốt hơn, phù hợp hơn để hỗ trợ có hiệu quả nông dân trong sản xuất tiêu nhằm góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao mức thu nhập và giảm nghèo trên địa bàn huyện, làm tiền đề thúc đẩy các ngành dịch vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển, tăng thu ngân sách cho nhà nước
Với vị trí là cán bộ phụ trách nông nghiệp thuộc UBND huyện Xuân Lộc, trước tình hình bức thiết trên đây tôi chọn đề tài “Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình với hy vọng kết quả nghiên cứu luận văn sẽ tạo căn cứ để kiến nghị với UBND huyện Xuân Lộc một số chính sách, giải pháp hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ hồ tiêu trong những năm tới nhằm nâng cao thu nhập của người sản xuất và tạo ra sự phát triển bền vững hồ tiêu những năm tới.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ Hồ tiêu của nông dân trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ Tiêu;
- Đánh giá thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2009 – 2011; xác định những bất cập, hạn chế trong triển khai và khả năng hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện;
- Kiến nghị các nội dung hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất,tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Chọn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai làm địa bàn nghiên cứu do huyện Xuân Lộc là nơi tác giả đề tài sinh sống và công tác, tác giả sẽ thuận lợi trong quá trình khảo sát, điều tra để thu tập số liệu thứ cấp và sơ cấp để phục vụ nghiên cứu đề tài Đồng thời huyện Xuân Lộc là huyện nông thôn miền núi, có tốc độ phát triển nông nghiệp cao, tỷ lệ % đóng góp vào GDP của huyện khá cao.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
+ Tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có dưới các hình thức đề tài, bài viết khoa học; các văn bản chính sách và báo cáo tổng kết về chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản nói chung và Hồ tiêu nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam
+ Kế thừa các báo cáo Kinh tế - Xã hội huyện Xuân Lộc để đánh giá kết quả sản xuất Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai trong 03 năm 2009-2011
+ Sử dụng các báo cáo đánh giá tình hình triển khai chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai trong 3 năm 2009-2011
+ Sử dụng các văn bản về chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ
Hồ tiêu của tỉnh Đồng Nai (Quyết định số 2419/QĐ-UBND ngày 26/9/2011 của UBND tỉnh Đồng Nai); Các văn bản triển khai chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu của UBND huyện Xuân Lộc, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Xuân Lộc.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
+ Điều tra trực tiếp 130 hộ nông dân sản xuất Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc qua bảng câu hỏi, trong đó có 60 hộ được hưởng chính sách hỗ trợ (30 hộ hưởng chính sách hỗ trợ trồng mới, 30 hộ hưởng chính sách hỗ trợ thâm canh) và 70 hộ không được hưởng chính sách để làm đối chứng; Chia thành 4 nhóm hộ theo tiêu chí giàu nghèo: Nhóm hộ nghèo, Nhóm hộ trung bình, Nhóm hộ khá, Nhóm hộ giàu để phân tích, đánh giá
+ Phỏng vấn, trao đổi với 10 cá nhân là thương lái thu mua gom (bao gồm cả thương lái chuyên nghiệp và thương lái thời vụ) tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện.
Phương pháp chuyên gia
+ Thảo luận với một số cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện về chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu đã triển khai trên địa bàn huyện và định hướng giải pháp hoàn thiện chính sách (Cán bộ phụ trách trồng trọt-Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Xuân Lộc);
+ Khảo cứu ý kiến cán bộ, nhân viên trực tiếp triển khai chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc để nắm được thực trạng của công tác triển khai chính sách (Cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Xuân Lộc; Cán bộ phụ trách Nông nghiệp các xã và đại diện người đứng đầu UBND các xã thuộc 4 vùng quy hoạch phát triển Hồ Tiêu: Xã Xuân Bắc, xã Xuân Thọ, xã Xuân Trường, xã Suối Cao, xã Suối Cát, xã Xuân Hiệp, xã Lang Minh và Thị trấn Gia Ray).
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và đánh giá chính sách hỗ trợ
- Sử dụng Microsoft Office Excel để xử lý các số liệu thu thập được
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích chi phí, giá thành sản xuất và hiệu quả của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu;
- Sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích để đánh giá lợi ích của hộ nông dân trước và sau khi được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước;
- Sử dụng phương pháp so sánh và đo lường phản ứng của hộ nông dân để đánh giá ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu, cụ thể: i) So sánh ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trong trường hợp có hỗ trợ và không hỗ trợ; ii) So sánh mức hỗ trợ (giá trị của chính sách hỗ trợ) với kết quả sản xuất của nông dân trong trường hợp được hưởng chính sách hỗ trợ; iii) Phân tích phản ứng của hộ nông dân về nội dung của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu.
Chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
- Chi phí sản xuất 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ trồng mới so với chi phí sản xuất 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Chi phí sản xuất 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ thâm canh so với chi phí sản xuất 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Gía thành sản xuất 01 kg tiêu của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ trồng mới so với gía thành sản xuất 01 kg tiêu chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Gía thành sản xuất 01 kg tiêu của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ thâm canh so với gía thành sản xuất 01 kg tiêu chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Thu nhập bình quân 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ trồng mới so với Thu nhập bình quân 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Thu nhập bình quân 01 ha của nhóm hộ nông dân được hưởng chính sách hỗ trợ thâm canh so với Thu nhập bình quân 01 ha chính nhóm hộ đó trước khi được hưởng chính sách hỗ trợ;
- Thu nhập tăng thêm bình quân 01 ha của nhóm hộ nông dân sau khi được hưởng chính sách hỗ trợ trồng mới;
- Thu nhập tăng thêm bình quân 01 ha của nhóm hộ nông dân sau khi được hưởng chính sách hỗ trợ thâm canh.
Nội dung chính của luận văn
i Một số vấn đề về cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu ii Nội dung và thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai iii Kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ Hồ tiêu trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (huyện Xuân Lộc, Đồng Nai)
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT, TIÊU THỤ NÔNG SẢN
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn tác giả đã khảo cứu một số tài liệu nghiên cứu về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã được công bố trong thời gian qua và thu được kết quả như sau: i) Nghiên cứu của Dự án thương mại Đa biên giai đoạn 2 đã chỉ ra rằng
“Trong khi phải dỡ bỏ nhiều trợ cấp trái với qui định của WTO đối với nông nghiệp, Việt Nam đang tự kìm hãm cơ hội tận dụng những chính sách hỗ trợ cho ngành này mà WTO cho phép” Theo đó, hiện nay hầu hết chính sách hỗ trợ trong nước đều thuộc Hộp xanh lá cây và xanh da trời (không thuộc nhóm bị cấm) nên vẫn có thể tiếp tục duy trì song song với việc chuyển dần một số biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp Hổ phách (bị cấm) sang hai loại trên
Tổng mức hỗ trợ gộp (AMS) hiện nay chiếm khoảng 3,4% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp, là mức thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu được phép theo qui định WTO là 10% giá trị sản lượng Nhiều chính sách không bị cấm nhưng chưa được sử dụng như trợ cấp điều chỉnh cơ cấu và trợ cấp để rút các nguồn lực ra khỏi sản xuất nông nghiệp, chi trả trực tiếp cho người sản xuất thay vì hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động xuất khẩu 1 Điểm quan trọng mà nghiên cứu này đã chỉ ra là, Việt Nam còn nhiều cơ hội sử dụng các biện pháp thuộc Hộp xanh lá cây (gồm các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước không gây bóp méo thương mại) và Hộp xanh da trời (bao gồm các biện pháp đầu tư phát triển trong ngành
1 Tham khảo báo cáo “Các chính sách thương mại trong nông nghiệp và các nghĩa vụ WTO về nông nghiệp của Việt Nam”, Antonio Cordella, MUTRAP, 2007 nông nghiệp, được phép áp dụng) để triển khai các biện pháp hỗ trợ sản xuất trong nước theo mục tiêu mà Chính phủ lựa chọn
Trước đây, Việt Nam đã dành phần lớn các khoản chi tiêu ngân sách để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thuộc Hộp xanh lá cây, đó là các khoản đầu tư vào xây dựng, phát triển hạ tầng thuỷ lợi; một phần nhỏ cho khuyến nông; hỗ trợ phát triển vùng và dự trữ lương thực quốc gia; hỗ trợ xóa đói giảm nghèo và những hộ trợ khác, nhưng vẫn chưa vượt quá mức cho phép đối với các biện pháp hỗ trợ gộp, với tổng hỗ trợ gộp (AMS) chưa vượt quá 10% giá trị sản lượng nông nghiệp hàng năm
Nhóm các biện pháp hỗ trợ thuộc “Hộp Xanh lá cây” bao gồm rất nhiều biện pháp hỗ trợ được phép sử dụng như đã nói trên mà Việt Nam cần và có thể tiếp tục áp dụng 2 Như vậy, Việt Nam vẫn có thể tiếp tục chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó có cam kết WTO ii) Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế và quy định của WTO” của Ths Huỳnh Thị Liên Hoa (2011) đã khẳng định 2 : Việc thực hiện các cam kết của WTO theo hướng cắt giảm thuế loại bỏ hàng rào phi thuế và cắt giảm các khoản trợ cấp cho nông nghiệp sẽ ảnh hưởng đến thương mại và cung cầu một số ngành hàng nông sản của Việt Nam, tạo cơ hội cho hàng hoá của các nước xuất khẩu nông sản thâm nhập thị trường Việt Nam với giá rẻ hơn, chất lượng cao, mẫu mã đẹp gây sức ép cạnh tranh lên các ngành hàng nông sản nội địa Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và các giải pháp thực hiện hỗ trợ cho nông nghiệp trong nước một cách hợp lý vừa đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, vừa đảm bảo không sai với các quy định
2 Ths Huỳnh Thị Liên Hoa, Đề tài khoa học cấp bộ “ Nghiên cứu các giải pháp, chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế và quy định của WTO; Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Hà Nội 2011 đã nghiệm thu của quốc tế và WTO là hết sức cần thiết và cấp bách
Việc hỗ trợ không phải chỉ là tạo ra những rào cản ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào trong nước, hoặc trợ cấp dưới mọi hình thức cho sản xuất nông nghiệp mà quan trọng hơn là những phương thức bảo hộ đó phải đạt được mục tiêu phân bổ nguồn lực hợp lý hướng tới nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế Điều này cũng có nghĩa là không nên hỗ trợ cho những ngành sản xuất yếu kém, không có khả năng phát triển và không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường iii) Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ, Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2010 về: “Nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất chính sách bù đắp thu nhập cho những hộ sản xuất lúa trong vùng lúa chuyên canh nhằm đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia”; Chủ nhiệm TS Phạm Bảo Dương đã chỉ rằng: Thể chế và chính sách là một trong những nhân tố tác động có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất lúa Một chính sách tốt, phù hợp có thể kích thích sản xuất lúa phát triển, đảm bảo được an ninh lương thực và ngược lại Nguyên tắc là, các khoản hỗ trợ cho người trồng lúa có thể chuyển giao trực tiếp đến tay họ
Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quá trình cung cấp các hỗ trợ đó là các khoản hỗ trợ của Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu thông qua các doanh nghiệp thu mua kinh doanh nông sản, nên khi Chính phủ muốn hỗ trợ nông dân thường phải dựa vào hệ thống doanh nghiệp làm trung gian và người nông dân chỉ là đối tượng thụ hưởng gián tiếp Tuy nhiên, hình thức này bị cấm trong WTO, đây là điều rất cần phải lưu ý trong quá trình nghiên cứu áp dụng các biện pháp hỗ trợ cho nông nghiệp Việt Nam vì về lâu dài hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân vẫn rất cần và phải triển khai trong thực tế, lý do vì nông dân vẫn là người nghèo và chịu thiệt thòi nhất trong xã hội phát triển như hiện nay Nếu được xây dựng và thực hiện một cách hợp lí thì chính sách hỗ trợ không những không vi phạm các cam kết với WTO mà còn có thể giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu khác về xã hội và nhân văn, vì hiện tại Việt Nam vẫn có tới gần 80% dân số đang trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Báo cáo còn chỉ ra rằng, cần hỗ trợ vốn để người sản xuất ứng dụng KH&CN mới vào sản xuất lúa, từ đó người sản xuất lúa được hưởng lợi về: Các dịch vụ khuyến nông, dịch vụ chuyển giao KH&CN, kết quả sẽ phục vụ cho việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng lúa gạo, từ đó gia tăng khả năng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao với quy trình canh tác mới, đây là biện pháp gián tiếp giúp nông dân trồng lúa ở các vùng chuyên canh nâng cao thu nhập Biện pháp hỗ trợ này không vi phạm các quy định về hỗ trợ trong nước của Hiệp định Nông nghiệp Biện pháp này hiện đã và đang được Việt Nam áp dụng mạnh mẽ nhằm tạo điều kiện cho nông dân trong sản xuất đặc biệt là về kiến thức, kĩ thuật, kĩ năng để nâng cao năng suất, sản lượng và qua đó nâng cao được thu nhập cho người sản xuất Tuy nhiên, chính sách này cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của chính sách, mang lại lợi ích nhiều hơn và thiết thực hơn cho người nông dân nói chung
Báo cáo nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ người sản xuất lúa gạo cần tập trung phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại vùng quy hoạch trồng lúa, đây là biện pháp gián tiếp bù đắp thu nhập cho người sản xuất lúa tốt nhất, thông qua việc Nhà nước đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi, các loại hạ tầng phục vụ làm khô lúa trên đồng ruộng, hạ tầng sơ chế và kho cất giữ sản phẩm… những hạ tầng này sẽ giúp nông dân sản xuất lúa giảm chi phí, giảm thiệt hại, từ đó cải thiện thu nhập cho họ, giúp họ phát triển sản xuất lúa bền vững lâu dài Ngoài ra chính sách này hỗ trợ có thể giúp nông dân hình thành các trung tâm mua bán lúa gạo để tạo ra mạng lưới lưu thông lúa gạo với chi phí thấp nhất iv) Báo cáo kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học để đề xuất chính sách bù đắp thu nhập cho những hộ sản xuất lúa trong vùng lúa chuyên canh nhằm đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia”, Chủ nhiệm TS Phạm Bảo Dương: “Ngoài một số hình thức bị cấm, các hình thức trợ cấp còn lại là rất đa dạng theo quy định của WTO có thể vận dụng cho thực tế của Việt Nam Vấn đề là chọn loại nào, hỗ trợ "gốc" để tạo ra tính bền vững hay hỗ trợ "ngọn" chỉ tạo ra lợi ích thời điểm (tình thế) không mang tính lâu dài thì cần suy tính để áp dụng có lợi nhất cho nông dân Bên cạnh đó cần xác định, chính sách áp dụng cho ai, mức độ là bao nhiêu, trong thời gian bao lâu để vừa thúc đẩy được sản xuất, không tạo ra sự ỉ lại và nâng cao được hiệu quả và sức cạnh tranh cho toàn ngành sản phẩm mà chính sách tác động” (Hội nông dân VN, 2008)
Từ khảo cứu các nghiên cứu trên, Luận văn cho rằng việc nghiên cứu cơ
Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm về chính sách, chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản 1.2.1.1 Khái niệm về chính sách
Cụm từ “Chính sách” đã được dùng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, chưa có định nghĩa tổng quát và đầy đủ về cụm từ này và do có nhiều cách tiếp cận và mức độ phản ánh của chính sách, tùy theo quy mô và phạm vi tác động của từng loại chính sách Trong bối cảnh đó, cách hiểu tổng quát là, chính sách là: “Quá trình tác động của một chủ thể vào khách thể nào đó để đạt tới mục tiêu mà chủ thể mong muốn”
Nhà kinh tế Franc Ellis cho rằng “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường” 3
Học giả Samuelson cho rằng “Ngay cả khi Chính phủ không đưa ra một chính sách cụ thể nào trong bối cảnh bất đắc dĩ nào đó để thực hiện mục đích nào đó, thì đó cũng là một cách tác động của chính sách” 4
Từ điển Tiếng Việt (1988) định nghĩa [1]: “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”
Nguyễn Như Ý giải nghĩa cụm từ “chính sách” trong Đại từ điển Tiếng Việt (1999) [2] là: “Các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị, xã hội”
Theo Jones (1984) thì chính sách luôn gồm các yếu tố bao gồm:
- Dự định: Là mong muốn của người làm (hoạch định) chính sách
- Mục tiêu: Dự định đã tuyên bố và cụ thể hóa thành đích cần đạt tới
- Đề xuất giải pháp: Cách thức tác động để nhằm đạt được mục tiêu
- Quyết định lựa chọn giải pháp: Các giải pháp chính sách cụ thể được lựa chọn để triển khai thực hiện
Theo Đinh Dũng Sỹ (2008) thì, khái niệm chính sách có mối tương quan rất mật thiết với chính trị và pháp luật, bao gồm các khía cạnh:
- Là sự cụ thể hóa đường lối chính trị của Nhà nước
- Là cơ sở để chế định pháp luật Pháp luật là cụ thể hóa chính sách
3 Franc Ellis (1995), Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 23
4 Paul Samuelson, Kinh tế học, Viện kinh tế học, Bộ Ngoại giao, tập I, trang 117
Theo PGS.TS Lê Chi Mai, “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định” Theo đó, chính sách do một hay nhiều cấp quản lý khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong thực tiễn một thời gian nhất định
TS Chu Tiến Quang định nghĩa: “chính sách là tập hợp các chủ trương, quan điểm, giải pháp, công cụ nhằm đạt những mục tiêu nhất định Quá trình hình thành chính sách có sự tác động của nhiều yếu tố, trước hết là sự nảy sinh một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó cần giải quyết Trên cơ sở thực tiễn hiện tại của vấn đề và mong muốn đạt tới một thực tiễn tốt hơn, Chính phủ đặt ra mục tiêu, đưa ra giải pháp và công cụ để thực hiện chủ trương đã định” 5
Trong cấu thành của chính sách có chủ thể chính sách và khách thể chính sách Chủ thể chính sách là các cơ quan ban hành và thực hiện chính sách gồm Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ngành Khách thể chính sách hay đối tượng điều chỉnh của chính sách là những cá nhân, tổ chức, Doanh nghiệp, hộ gia đình mà chính sách tác động vào Để triển khai một chính sách nào đó, chủ thể chính sách tác động đến khách thể bằng các biện pháp tạo sức hấp dẫn, tạo động lực trong các đối tượng nói trên nhằm khuyến khích họ làm theo mục tiêu, định hướng mà chủ thể chính sách đưa ra, từ đó đạt được kết quả mong đợi Trong trường hợp không khuyến khích thì chủ thể chính sách có thể đưa ra các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp làm giảm hoặc mất động lực của đối tượng điều chỉnh để các đối tượng này hạn chế hành vi theo mong muốn của chủ thể chính sách 6
5 TS Chu Tiến Quang, Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách Nông nghiệp, nông thôn, trang 6
6 TS Chu Tiến Quang, Giáo trình xây dựng và phân tích chính sách Nông nghiệp, nông thôn, trang 6
Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt đưa định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ Nó bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường” 7
Tóm lại: Trên cơ sở khảo cứu các kết quả nghiên cứu đề tài tổng hợp lại như sau: “Chính sách là một trong các công cụ của quản lý, là tập hợp các chủ trương, quan điểm, giải pháp, công cụ mà một chủ thể sử dụng để tác động lên khách thể (đối tượng điều chỉnh của chính sách) nhằm đạt tới mục tiêu nhất định Chính sách đề cập rất rộng các giải pháp tác động đối tượng của hệ thống kinh tế
- xã hội, có phạm vi rộng từ cấp độ vĩ mô đến vi mô” Có nhiều loại chính sách khác nhau tùy theo mục tiêu và đối tượng điều chỉnh, có thể là: kinh tế, xã hội, vĩ mô, vi mô, trong nước, ngoài nước
Quá trình hình thành và vận hành chính sách luôn liên quan đến ba nhóm yếu tố: chủ thể; khách thể; mục tiêu, đối tượng điều chỉnh, nội dung, công cụ, nguồn lực và bộ máy thực hiện các nội dung của chính sách để đạt tới mục tiêu đề ra hoặc một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó cần giải quyết
1.2.1.2 Khái niệm Chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản
Từ khái niệm về “chính sách” nêu trên thì: “Chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản” là tập hợp các giải pháp, công cụ mà Nhà nước được sử dụng để hỗ trợ quá trình sản xuất, tiêu thụ nông sản Mục đích của chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ nông sản là nâng cao năng lực của nông dân, người sản xuất , chế biến nông sản trong sản xuất, tiêu thụ; nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa nông sản và nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi đơn vị ha đất canh tác, cuối cùng là tăng thu nhập cho người nông dân
7 Từ điển Bách khoa toàn thư, http://www.vi.wikipedia.org/wiki
- Chủ thể của chính sách hỗ trợ là Nhà nước bao gồm Chính phủ, Chính quyền địa phương các cấp (tỉnh, huyện, xã);
- Đối tượng hưởng điều chỉnh (hưởng lợi) của chính sách: là nông dân, các tổ chức kinh tế trực tiếp tham gia vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản;
- Mục tiêu của chính sách hỗ trợ giảm khó khăn, cản trở và nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu thụ nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông sản, trên cơ sở đó nâng cao thu nhập và đời sống nông dân và cộng đồng của họ 8