DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Tình hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bảng 3.6 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chè Ô long tại Thành phố 58 Bảng 3.7 Hình thức chế biến chè Ô long
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cây chè là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hiện nay cây chè đã đƣợc trồng ở cả những nơi khá xa với nguyên sản của nó Trên thế giới, cây chè phân bố từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam và tập trung chủ yếu ở khu vực từ 16 vĩ độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam Chè là cây công nghiệp dài ngày, đƣợc trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu á nhƣ: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cafê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hoá, chữa được một số bệnh đường ruột Một giá trị đặc biệt của chè đƣợc phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ, điều này đã đƣợc các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống đƣợc chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm, qua việc giám sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước chè, vì vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng xung quanh không có chè Chính vì các đặc tính ƣu việt trên, chè đã trở thành một sản phẩm đồ uống phổ thông trên toàn thế giới Hiện nay, trên thế giới có 58 nước trồng chè, trong đó có 30 nước trồng chè chủ yếu, 115 nước sử dụng chè làm đồ uống, nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới ngày càng tăng Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập hàng năm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh Trung Du và
Miền núi Với ƣu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, thì cây chè đang đƣợc coi là một cây trồng mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực Tây Nguyên
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi sản xuất nông lâm nghiệp là chính Trong sản xuất nông nghiệp thì cây chè là một cây trồng truyền thống và đƣợc xác định là một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh Lâm Đồng Cây chè đã giải quyết việc làm ổn định cho hàng vạn lao động, đã góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo, giải quyết nguyên liệu cho các cơ sở chế biến của tỉnh, đồng thời đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Theo niên gián thống kê tỉnh Lâm Đồng năm 2015, tổng diện tích trồng chè của tỉnh Lâm Đồng là 23.209 ha, trong đó có 22.049ha chè cho thu hoạch, với năng suất bình quân 85 tạ chè búp tươi/ha, thu hoạch hàng năm khoảng 200.000 tấn/ năm Bảo Lộc là một trong những trọng điểm trồng chè của tỉnh, với diện tích là 12.182 ha Theo đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh tế sản phẩm nông nghiệp thì cây chè là cây cho thu nhập tương đối cao và ổn định so với các cây trồng khác… Tuy nhiên, so với tiềm năng của địa phương, thì việc sản xuất, chế biến, kinh doanh chè còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Bảo Lộc lần thứ IV đã chỉ rõ những yếu kém là: "Chậm phát hiện, thiếu giải pháp kiên quyết, đồng thời để giải quyết những khó khăn,vướng mắc trong chương trình trồng, chăm sóc, chế biến, tiêu thụ chè còn lúng túng và chậm cải tạo thay thế chè già cỗi ở vùng thấp và khắc phục yếu kém trong trồng, chăm sóc chè vùng cao" Vậy tại sao diện tích trồng chè chƣa đƣợc mở rộng nhƣ tiềm năng đất đai vốn có, tại sao năng suất, chất lƣợng và giá cả chè của Thành phố còn thấp so với tiềm năng thế mạnh của vùng Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính nhỏ lẻ thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính; việc sử dụng phân bón chƣa hiệu
3 quả; cơ cấu giống còn nghèo nàn chủ yếu là giống chè trồng bằng hạt với năng suất, chất lƣợng còn thấp
Trước những thực tế đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, thấy rõ đƣợc các tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh chè của vùng, vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long trên địa bàn Thành Phố Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng” để làm luận văn tốt nghiệp cao học tại trường đại học Lâm nghiệp, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp hy vọng sẽ góp phần giải quyết các vấn đề trên cho địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá đƣợc tình hình phát triển và hiệu quả sản xuất kinh doanh chè Ô long của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Bảo Lộc - tỉnh Lâm Đồng, qua đó đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long, nâng cao thu nhập và đời sống cho hộ nông dân, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của Thành phố theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ, tăng sản lƣợng hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long
- Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế sản xuất chè từ năm 2013 đến năm 2015 trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng
- Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hiệu quả sản xuất kinh doanh chè trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng
- Đề xuất đƣợc một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất kinh doanh của cây chè Ô long trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động sản xuất kinh doanh chè Ô long trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Tình hình phát triển và hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm chè Ô long
- Không gian nghiên cứu: Đề tài đƣợc thực hiện tại thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tập trung nghiên cứu tại 3 xã trọng điểm gồm: Công ty chè Tâm Châu , Xã Lộc Thanh, phường Lộc Phát
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu trong 3 năm từ 2013- 2015, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2016.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô Long
- Thực trạng phát triển và hiệu quả sản xuất kinh doanh chè Ô long tại Thành phố Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất kinh doanh chè Ôlong tại thành phố Bảo Lộc – tỉnh Lâm Đồng
- Đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long tại Thành Phố Bảo Lộc những năm tới.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm các phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh chè Ôlong
5 Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Lý luận về phát triển sản xuất kinh doanh
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Sản xuất: Sản xuất theo nghĩa chung nhất là quá trình kết hợp và biến đổi các yếu tố đầu vào theo những cách thức và trình tự thích hợp để làm ra các sản phẩm/dịch vụ ở đầu ra, sẵn sàng cung cấp ra thị trường
Sản xuất là một quá trình bắt đầu từ khâu chuẩn bị sản xuất, mua sắm vật tƣ, tổ chức sản xuất đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm; hay nói cách khác sản xuất là quá trình chế biến, khai thác, phục hồi giá trị một loại sản phẩm trên cơ sở sự kết hợp một cách hợp lý các yếu tố của sản xuất, phù hợp với nhu cầu thị trường
Có 2 phương thức sản xuất là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa cho thị trường
- Hoạt động sản xuất: là quá trình kết hợp tƣ liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, hoạt động sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó
- Kinh doanh: là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường
- Hoạt động sản xuất kinh doanh: là các hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế thị trường, gồm tổng thể nhưng phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động
7 kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ,…) trên cơ sở vận dụng quy luật của nền kinh tế thị trường nhằm đạt đƣợc mục tiêu sinh lời nhiều nhất
- Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lƣợng, đảm bảo hơn về chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng cao của con người Phát triển sản xuất bao gồm cả sự tăng trưởng về sản xuất và đồng thời hoàn chỉnh về mặt cơ cấu sản xuất kinh doanh
Như vậy, phát triển sản xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ là: (1) Đây là quá trình tăng quy mô về số lƣợng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; (2) Là quá trình nâng cao chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Cả 2 quá trình này đều nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người
1.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh có các đặc điểm sau:
- Do 1 chủ thể thực hiện, gọi là chủ thể kinh tế, chủ thể kinh tế có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
- Khác với hoạt động tự cấp tự túc, động cơ và mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải để tự sản tự tiêu mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận
- Hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải hướng tới thị trường Trong đó, các chủ thể kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là: quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp các yếu tố đầu vào, với khách hàng, với các đối thủ cạnh tranh và với Nhà nước Các mối quan hệ này giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển
- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải luôn nắm đƣợc thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường như các thông tin về số lượng, chất
8 lượng, giá cả sản phẩm, thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng, thông tin về kỹ thuật công nghệ, về chính sách kinh tế, pháp luật Nhà nước có liên quan đến sản phẩm sản xuất kinh doanh
- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố có vai trò quyết định rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, là cơ sở đánh giá tiềm lực của doanh nghiệp Không có vốn thì không thể có hoạt động sản xuất kinh doanh Chủ thể kinh tế sử dụng vốn để mua nguyên vật liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động,…
- Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn thúc đẩy mở rộng sản xuất và tiêu dùng xã hội, tạo điều kiện cho tích lũy vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, mở rộng quan hệ giao lưu hàng hóa, tạo ra sự phân công lao động xã hội và cân bằng cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế
- Mục đích chủ yếu và bao trùm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất kinh doanh
- Vốn sản xuất: Biểu hiện bằng tiền của các tƣ liệu sản xuất nhƣ máy móc, thiết bị, các phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật,… Vốn đối với quá trình phát triển sản xuất vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến sự tăng thêm sản lƣợng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, thực tế tăng sản lƣợng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác
- Lực lượng lao động: Là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và kỹ năng lao động Do đó, chất lƣợng lao động quyết định đến kết quả và hiệu quả quá trình phát triển sản xuất kinh doanh.
Lý luận về phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh chè Ôlong
- Đất đai: là yếu tố sản xuất quan trong đối với ngành nông nghiệp, đất đai là yếu tố đầu vào bị giới hạn về số lƣợng, vị trí cố định và chất lƣợng không đồng nhất, sử dụng đất đai còn chịu ảnh hưởng của sử dụng các yếu tố sản xuất khác nhƣ vốn, lao động,…
- Khoa học công nghệ: quyết định đến sự thay đổi năng suất lao đông và chất lướng sản phẩm, là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất
Ngoài ra còn các yếu tố khác nhƣ hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệuh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các chủ trương, chính sách cua Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển sản xuất,… cũng có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phát triển sản xuất
1.2 Lý luận về phát triển sản xuất kinh doanh
1.2.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Ô long
Chè Ô long là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người Sản phẩm chè Ô long hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn thức uống về chè Ô long Ngoài tác dụng giải khát chè còn có nhiều tác dụng khác nhƣ kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể,… Đối với nước ta sản phẩm chè Ô long không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì cây chè Ô long đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dƣ thừa nhất là ở các vùng nông thôn Nếu so sánh cây chè Ô long với các loại cây trồng khác thì cây chè Ô long có giá trị kinh
10 tế cao hơn hẳn, vì cây chè Ô long có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa Mặt khác chè Ô long là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực, nó là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy cây chè Ô long không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi
Nhƣ vậy, phát triển sản xuất chè Ô long đã và đang tạo ra một lƣợng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn Góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi cao và đồng bằng
1.2.2 Đặc điểm kinh tế của cây chè Ô long
1.2.2.1 Đặc điểm sản xuất chè Ô long
Cây chè Ô long có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản
Vì thế để phát triển cây chè Ô long đạt chất lƣợng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những kỹ thuật đầu tƣ hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra đƣợc những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tƣ sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây chè Ô Long là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè
Cây chè Ô long sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định trên các loại đất tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát
11 triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường Đất trồng chè của ta phần lớn là feralit vàng đỏ đƣợc phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ đƣợc phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ PH từ 4 đ ến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ V ì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dƣỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, một lƣợng vôi khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4
Chè Ô long sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt Chè Ô long trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng Chè Ô long trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít
Chất lượng chè ở vùng cao tốt nhưng về sinh trưởng thường kém hơn ở vùng thấp Hướng dốc có ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật chất trong chè Dogonatze (1969) nhận thấy rằng cường độ tích lũy tanin và vật chất hòa tan phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt Ở hướng dốc phía nam hàm lượng tanin và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hướng dốc phía bắc Ở độ vĩ càng cao sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp
1.2.2.2 Một số đặc điểm sản xuất sản phẩm chè Ô long
- Tính khu vực: Cây chè Ô long không phải là cây trồng ở đâu cũng có thể sống và cho chất lượng tốt Ở nước ta thì cây chè tập trung ở vùng núi phía Bắc và Trung Du, nói chung là tập trung ở những vùng cao và đƣợc trồng ở các nông
12 trường và do nông dân tự trồng hay trồng theo kiểu giao khoán của Tổng công ty chè Việt Nam Do đặc điểm này vấn đề đặt ra là việc bố trí địa điểm thu mua, phương thức thu mua, chế biến và vận chuyển phải phù hợp với đặc điểm này
- Tính tươi sống: Cây chè Ô long là một loài thực vật nên cũng rất dễ bị hỏng, kém chất lƣợng, tuỳ theo địa hình và khí hậu ở các nơi khác nhau mà cho chất lượng chè Ô long của chúng ta cũng khác nhau Vì vậy, khi thu mua cần lưu ý phân loại, tốt nhất là chế biến ngay sau khi thu hoạch là tốt nhất
Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long
1.3.1 Tình hình phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long trên thế giới
Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc sau đó phát triển ra các nước Đông Nam Á và phía Bắc Ấn độ rồi từ đó dang các nước Châu Phi và Châu Mỹ La tinh Sản phẩm chè bắt đầu đƣợc buôn bán trên thế giới vào thế kỷ XVII Khi đó các Công ty của Hà Lan, Anh mua chè từ Trung Quốc và Nhật Bản đƣa sang thị trường Châu Âu Lúc này thị trường chè còn hẹp, nhưng tại đây sản phẩm chè khẳng định vị trí của mình trên thị trường thế giới Hiện nay, chè được trồng đã được tại 58 nước trên khắp các châu lục, được phân bố từ 33 0 vĩ Bắc đến 49 0 vĩ Nam, trong đó khu vực trồng thích hợp nhất là 16 0 vĩ Nam đến 20 0 vĩ Bắc Về diện tích, châu á chiến 80% diện tích chè toàn thế giới, các nước có diện tích chè
25 lớn là: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Indonexia, Bawngladesh, Việt Nam Các nước tiêu thụ chè rất lớn, ở khắp các châu lục
Kinh nghiệm phát triển sản xuất chè của 1 số nước trên thế giới:
Chè hữu cơ Nhật Bản đƣợc trồng ở vùng núi cao thuộc Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka Sản xuất chè an toàn ở Nhật Bản chủ yếu dựa trên sự đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật nhƣ cơ giới hóa, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch bảo quản chế biến nhằm giảm thiểu dƣ lƣợng thuốc trừ sâu và phân bón trong sản phẩm chè ở mức thị trường cho phép Chính phủ Nhật Bản đã đầu tƣ một lƣợng kinh phí lớn khai thác sản phẩm chè hoàn toàn đáp ứng đƣợc yêu cầu VSATTP Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã giới thiệu một hệ thống tiêu chuẩn chè hữu cơ Nhật Bản và dùng nhãn hiệu nông sản hữu cơ cho chè hữu cơ Sản phẩm chè an toàn của Nhật Bản chủ yếu tiêu thụ trong nước Những người sản xuất mang sản phẩm đến Hiệp hội nông nghiệp chè của vùng để bán thông qua các hình thức đấu giá Tại các chợ có kho lạnh bảo quản chè làm dịch vụ bảo quản cho người mua và bán Hệ thống thiết bị tự động hóa trong bảo quản chè chỉ cần một người quản lý điều hành qua mạng máy vi tính, người gửi chè đến kho bảo quản chỉ cần đến lấy mã số lô hàng, các thiết bị sẽ tự động chuyển đúng lô hàng ra cửa kho
Sản xuất chè ở Nhật Bản chủ yếu đƣợc thực hiện bởi các công ty tƣ nhân, hộ nông dân Mỗi hộ sản xuất chè thường có khoảng 2 -3 ha, ngoài ra còn có các tổ chức khác là hợp tác xã sản xuất chè bao gồm khoảng 35 đến 40 hộ, diện tích khoảng 90 – 120 ha cùng với nhà máy chế biến, quản lý theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi Các hộ sản xuất và các hợp tác xã đều sản xuất ra chè bán thành phẩm sau đó tiêu thụ trên thị trường Các khuyến cáo về quy trình phòng chống sâu bệnh hại, chè được cung cấp cho người sản xuất dưới dạng các lịch phòng chống và các hướng dẫn cụ thể cho người nông dân về các tiêu chí chất
26 lƣợng chè bán thành phẩm Những quy trình này đều dựa trên số liệu điều tra, quan sát, dự báo và dự tính
Các hiệp hội nông nghiệp chè cũng đảm nhiệm việc phân tích chất lƣợng chè khi cần và trả lời theo đúng yêu cầu Phí dịch vụ mà Hiệp hội nông nghiệp thu khoảng 2% trên giá trị sản phẩm đƣợc dịch vụ cung cấp Ở Nhật Bản, Hiệp hội nông nghiệp chè kết hợp với các Viện nghiên cứu chè chịu trách nhiệm chỉ đạo và cung cấp các dịch vụ kỹ thuật sản xuất chè Hiệp hội chè gắn các thiết bị quan sát đồng ruộng tại các vị trí nhất định, hàng giờ các thiết bị tự động thu thập các chỉ số kỹ thuật, nhiệt độ, ẩm độ, hàm lƣợng NPK và báo cáo kết quả thu thập được về máy tính, máy tính sẽ xử lý và đưa ra các phương hướng sử dụng phân bón, nước tưới cũng như hàn lượng thuốc bảo vệ thực vật để khuyến cáo người trồng chè từ các thông số thu được
Người tiêu dùng Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến vấn đề dư lượng thuốc hóa học trong sản phẩm chè, nhƣng trên thực tế trong sản xuất chế biến chè an toàn sản xuất ở Nhật Bản không có dƣ lƣợng thuốc trừ sâu do quy trình canh tác và điều kiện sinh trưởng chè ở nước này một năm chỉ hái 3 - 4 đợt, khoảng cách đợt hái cách nhau khoảng 1 – 2 tháng, thuốc trừ sâu trong chè đã phân giải hết Lƣợng sản phẩm chè của Nhật Bản hiện chưa đáp ứng được nhu cầu nội địa Do vậy người trồng chè Nhật Bản không lo về thị trường tiêu thụ Từ kinh nghiệm sản xuất chè an toàn ở Nhật bản có thể rút ra bài học là, hầu hết các dịch vụ kỹ thuật và thị trường chè của Nhật Bản đều do Hiệp hội nông nghiệp chè đảm nhận, không để tình trạng nhiều cấp, ngành quản lý trồng chéo nhau gây ra kém hiệu quả
Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới Cho đến năm 2000, Trung Quốc có tổng diện tích trồng chè là 1.106.933 ha, tổng sản lƣợng là 683.324 tấn Trung Quốc đã phải trả giá đắt cho sản xuất sản phẩm chè không an toàn trong những năm 90 do sử dụng quá liều lƣợng thuốc BVTV, phân hóa học
27 và không quan tâm đến ngăn ngừa ô nhiễm của vùng sản xuất Các năm trở lại đây, Trung Quốc đang chuyển mạnh sang sản xuất chè an toàn Diện tích trồng chè an toàn của Trung Quốc đến sau năm 2000 đạt 6.700 ha, chủ yếu ở các tỉnh Giang Tây, An Huy, Triết Giang, …Tổng sản lƣợng chè an toàn đạt khoảng
4000 tấn, tổng giá trị sản xuất đạt khoảng 150 triệu tệ Trong đó, xuất khẩu sang các nước như Mỹ, Nhật Bản và châu Âu chiếm từ 3000-3500 tấn, tiêu thụ trong nội địa khoảng 500 tấn Các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm đƣợc Trung Quốc coi trọng trong xây dựng các vùng chè an toàn Bắt đầu từ nước, không khí, hàm lƣợng kim loại nặng trong đất và dƣ lƣợng thuốc trừ sâu trong sản phẩm chè Nhiều xí nghiệp sản xuất chè đã áp dụng chất lƣợng theo tiêu chuẩn HACCP, đảm bảo canh tác chè an toàn có hiệu quả và gia tăng sức cạnh tranh của chè trên thị trường nôi địa và xuất khẩu Để khuyến khích sản xuất, xuất khẩu chè an toàn, Trung Quốc đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè đảm bảo VSATTP và có các chính sách hỗ trợ nhƣ cho bù giá, vay vốn cho những năm đầu, giảm thuế Hướng ưu tiên lớn đối với sản xuất chè an toàn ở Trung Quốc trong hiện tại và tương lai phải đảm bảo VSATTP
Viện nghiên cứu Chè Hàng Châu đã xây dựng vùng sản xuất chè an toàn, bền vững bao gồm các bước sau: Chọn vùng quy hoạch; Xây dựng vùng chè sinh thái; Ban hành quy trình kỹ thuật quản lý vùng chè nhƣ: xây dựng tiêu chuẩn sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn IFOAM; làm giàu độ phì đất chè; phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại cho chè; Quản lý chất lƣợng trong vùng chè, ban hành “Bộ tiêu chuẩn vệ sinh chất lƣợng chè”; các điều kiện thực hiện bộ tiêu chuẩn
Một trong những địa phương có kinh nghiệm tốt về sản xuất chè an toàn là tỉnh Triết Giang Đây là tỉnh có diện tích và sản lƣợng chè lớn tại Trung Quốc, năm 1990 việc sản xuất chè an toàn đã đƣợc thực hiện ở tỉnh này Từ năm 1998 trở lại đây việc sản xuất chè an toàn mới đƣợc coi trọng Tỉnh Triết Giang đã thực hiện các bước trong sản xuất và chế biến chè an toàn đúng cách, đúng lộ
28 trình, rất bài bản phù hợp với sự phát triển chung của cả Tỉnh Họ đã thực hiện việc thống nhất trong tư tưởng nhận thức về sản xuất chè an toàn cho các ngành và người dân bằng việc mở các cuộc hội thảo, tọa đàm về cách trồng chè, ươm giống, bón phân, tưới nước, sử dụng thuốc BVTV và chất lượng chè Tỉnh đã ban hành những văn bản cấm sử dụng các loại thuốc trừ sâu có dƣ lƣợng cao, dung nhiều hình thức tuyên truyền hiệu quả khác nhau về chương trình phát triển cây chè Việc nâng cao ý thức chung về chất lƣợng sản phẩm chè an toàn, việc kiểm tra chất lƣợng vệ sinh ATTP cũng đƣợc coi trọng và đảm bảo thực hiện ngay từ các tuyến Thành Phố, thị xã Tỉnh đã đưa chương trình chủ động kiểm tra các mẫu chè của các hộ tham gia sản xuất Từ đó sản xuất chè búp ở Triết Giang đã có nhiều chuyển biến, làm cơ sở vững chắc cho uy tín chè sạch của Triết Giang trên thị trường nội địa và xuất khẩu Để tạo ra sản phẩm chè an toàn, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm và tích cực hợp tác, cùng với việc tổ chức lực lƣợng để chế định và ban hành tiêu chuẩn chè an toàn và chè hữu cơ cấp Tỉnh, đồng thời tuyên truyền và quán triệt sâu sắc đến từng người dân trồng chè, xúc tiến các địa phương trong tỉnh bắt đầu triển khai nhiều điểm sản xuất chè theo hướng sản phẩm an toàn Một số Thành Phố đã biết kết hợp xây dựng các quy trình tương ứng phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương Đồng thời với các bước tuyên truyền phổ biến về xây dựng các điểm sản xuất chè an toàn, tỉnh Triết Giang đã tích cực mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật về sản xuất chè an toàn Các lớp tập huấn kỹ thuật này đƣợc mở cho hàng ngàn hộ nông dân trong một năm Các khuyến cáo đƣợc truyền thông trên đài phát thanh truyền hình của tỉnh, in ấn và phát hành các tờ rơi tuyên truyền thông điệp tài liệu kỹ thuật Chương trình tập huấn được sự quan tâm rất lớn, không chỉ hướng dẫn về thu hoạch chè an toàn, tham gia trao đổi thông tin Bên cạnh đó xây dựng các mô hình trình diễn về sản xuất chè an toàn cấp tỉnh ở các Thành Phố Khai Hóa và An Các Đồng thời tỉnh Triết Giang cũng cho phát triển một loạt các xí nghiệp sản xuất
29 chè an toàn, đến năm 2001 toàn tỉnh có 50 xí nghiệp sản xuất sản phẩm chè an toàn với tổng diện tích khoảng 100 ha Cơ quan cấp chứng chỉ sản xuất chè an toàn của tỉnh đã cấp chứng giấy chứng nhận cho 46 cơ sở và có 4 cơ sở đƣợc cơ quan có thẩm quyển về chè hữu cơ quốc gia cấp giấy chứng nhận Hoạt động cuối cùng nhằm hỗ trợ cho sản xuất chè an toàn đó là tạo dựng thương hiệu Một loạt các nhãn hàng chè an toàn nổi tiếng đã ra đời nhƣ Thiên Đảo Ngọc Diệp, An Các Bạch Chè, Chư Hí Lục Kiếm cùng với đó là các danh hiệu cho các địa phương có thành tích nổi bật về sản xuất chè an toàn Việc xây dựng được các thương hiệu cho các sản phẩm chè này đã làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển của chè an toàn của tỉnh Triết Giang
1.3.2 Tình hình phát triển sản xuất kinh doanh chè Ô long ở Việt Nam
Việt Nam là 1 quốc gia nằm ờ khu vực Châu Á – Thái Bình dương, có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển Chè đƣợc trồng ở Việt Nam từ khá lâu, nhƣng nó chỉ thực sự đƣợc coi là 1 loại cây công nghiệp đƣa vào sản xuất đại trà, quy mô lớn từ khi các đồn điền của người Pháp xây dựng ở Việt Nam Ngành chè được coi là ngành sản xuất có mầm mống công nghiệp sớm nhất ở nước ta trong số các ngành chế biến cây công nghiệp dài ngày
- Tình hình sản xuất: Tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, trình độ sản xuất thấp còn khá phổ biến; nhận thức và ý thức trách nhiệm của số đông người sản xuất còn chưa cao
- Tình hình sử dụng đất: Tình hình sử dụng đất ở các vùng sản xuất chè diễn ra tương đối tốt Đối với sản xuất chè thì việc sử dụng đất cần phải chú ý ở khâu đầu tiên là đánh giá kiểm định đất, sau đó là khâu canh tác trên diện tích chè đã trồng, điều này thể hiện ở khâu bón phân và thuốc BVTV cho chè Qua các vụ sản xuất các nông hộ, công ty đều tiến hành ghi chép, lưu trữ trong hồ sơ về tình hình sử dụng đất và các biện pháp chống xói mòn đất Cũng do là sản
Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, Học viên đã khảo cứu các công trình khoa học có liên quan sau:
+ Công trình “Nghiên cứu tình hình áp dụng VietGAP đối với sản phẩm chè ở Việt Nam năm 2010” đây là cơ sở lý luận về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trên cây chè; đánh giá thực trạng thuận lợi, tiềm năng và những hạn
33 chế của hoạt động sản xuất chè ở Việt Nam mà đặc biệt là sản xuất chè theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, truy nguyên nguồn gốc xuất xứ và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển sản xuất chè Việt Nam trong một số năm tới
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp về “ Kinh tế sản xuất: Trường hợp cây chè OLong ” của Thái Tường Dân, trường Đại học nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 đã đề cập các vấn đề lý luận và thực tiễn , đánh giá hiệu quả trường hợp cây chè ÔLong
+ Công trình nghiên cứu khoa học về “Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng Chè Bảo Lộc” của Vũ Hồng Phương Thảo, Nguyễn Khoa Khôi và Cao Thanh Trúc tham gia giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học EUREKA lần thứ 13 năm 2011 đã đề cập các nội dung về: khái niệm, các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng chè và bộ tiêu chuẩn GlobalG.A.P áp dụng cho ngành chè Nghiên cứu này đã đƣa ra đánh giá về những điểm mạnh và yếu trong chuỗi cung ứng chè và xác định những vấn đề cần hoàn thiện để phát triển thành công chuỗi cung ứng chè ở Bảo Lộc, trong đó có nội dung giải pháp quản lí chất lƣợng nguyên liệu đầu vào và tạo mối liên kết chặt với các hộ trồng chè thông qua việc đặt hàng nguồn nguyên liệu có cam kết chất lượng từ người nông dân Thực hiện quy trình quản lí chất lƣợng theo tiêu chuẩn ISO, HACCP để chứng minh thành phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo chất lƣợng nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng có chất lƣợng cao để mở rộng thâm nhập các thị trường khó tính, có yêu cầu cao về tiêu chuẩn an toàn
Khảo cứu luận văn này đã giúp học viên mở rộng tư duy và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về giải pháp phát triển sản xuất chè tại Thành Phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng