TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn sang công nghiệp yêu cầu áp dụng máy móc để thay thế lao động thủ công Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm nông nghiệp Cơ giới hóa nông nghiệp không chỉ giảm tổn thất sau thu hoạch mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, phù hợp với Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của cơ giới hóa nông nghiệp (CGHNN), giúp giảm bớt lao động nặng nhọc và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn thiếu bền vững, khi CGH chỉ tập trung vào một số khâu nhất định và chưa đồng bộ, dẫn đến tổn thất sau thu hoạch vẫn còn cao Hơn nữa, ngành cơ khí trong nước chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp huyện Long Thành đang khẳng định vai trò quan trọng, nhưng phát triển còn tự phát, gây khó khăn cho người dân trong sản xuất Những hạn chế trong cơ cấu ngành nông nghiệp cần được giải quyết để xây dựng và phát triển nông thôn mới (NTM) tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Do đó, tôi chọn đề tài này để nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
“Giải pháp phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu chung
Dựa trên nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển cơ giới hóa nông nghiệp trong sản xuất lúa, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa tại huyện Long Thành trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận thực tiễn về phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa
- Đánh giá đƣợc thực trạng phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Long Thành
- Chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cơ giới hóa trong SX Lúa trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất đƣợc giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển cơ giới hóa trong SX lúa ở Huyện Long Thành, huyên Đồng Nai
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp phát triển cơ giới hóa nông nghiệp, tập trung vào lĩnh vực trồng lúa tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu tình hình phát triển cơ giới hóa trong trồng lúa
- Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp thu thập từ năm 2013 đến năm 2015
- Tình hình ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở huyện Long Thành
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa
- Thực trạng, những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cơ giới hóa trong SX lúa trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Long Thành.
Nội dung nghiên cứu
- Tình hình ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở huyện Long Thành
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa
- Thực trạng, những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cơ giới hóa trong SX lúa trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Long Thành.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG PHÁT TRIỂN CƠ GIỚI HÓA
1.1.1 Khái niệm cơ giới hóa:
Cơ giới hóa nông nghiệp là quá trình chuyển đổi từ công cụ thô sơ sang công cụ cơ giới, thay thế sức lao động của con người và gia súc bằng máy móc, cũng như chuyển đổi lao động thủ công thành lao động cơ giới Điều này đồng nghĩa với việc thay thế các phương pháp sản xuất lạc hậu bằng những phương pháp khoa học hơn, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp.
Quá trình cơ giới hóa nông nghiệp đƣợc tiến hành qua các giai đoạn sau:
Cơ giới hóa bộ phận chủ yếu được áp dụng cho những công việc nặng nhọc, tốn nhiều sức lao động và dễ thực hiện Giai đoạn này đặc trưng bởi việc sử dụng các máy móc đơn lẻ.
Cơ giới hóa tổng hợp là việc áp dụng liên tục các hệ thống máy móc trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất Giai đoạn này đặc trưng bởi sự phát triển của hệ thống máy trong nông nghiệp, bao gồm các máy móc bổ sung cho nhau, hoàn thành liên tiếp tất cả các công đoạn lao động sản xuất sản phẩm tại địa phương và từng vùng.
Tự động hóa là giai đoạn nâng cao của cơ giới hóa, sử dụng hệ thống máy móc tự động để thực hiện liên tục tất cả các quy trình sản xuất từ khâu chuẩn bị đến hoàn thiện sản phẩm Giai đoạn này đặc trưng bởi sự kết hợp giữa lao động chân tay và lao động trí óc, trong đó con người đóng vai trò giám sát và điều chỉnh quá trình sản xuất nông nghiệp.
Cơ giới hóa trong sản xuất lúa là việc áp dụng máy móc và công nghệ tiên tiến vào các công đoạn như làm đất, tưới tiêu, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch và sau thu hoạch Các công đoạn làm đất, gieo cấy và thu hoạch thường đòi hỏi nhiều công sức lao động hơn Mục tiêu của cơ giới hóa là thay thế một phần hoặc toàn bộ sức lao động của con người và súc vật, từ đó nâng cao năng suất lao động và giảm cường độ lao động trong sản xuất lúa.
Quá trình cơ giới hóa trong sản xuất lúa bắt đầu từ việc cơ giới hóa từng bộ phận riêng lẻ, sau đó tiến tới cơ giới hóa tổng hợp và cuối cùng là tự động hóa.
Làm đất là quá trình sử dụng công cụ và máy móc để tác động vào đất thông qua các công đoạn như cày, bừa và làm phẳng mặt ruộng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng (Nguyễn Thị Ngọc và Phan Hòa, 2011).
Làm đất lúa là quá trình tác động vào đất đai để tạo ra môi trường tối ưu cho sự phát triển của cây lúa, đặc biệt trong giai đoạn nảy mầm và bám rễ Việc này có ảnh hưởng quyết định đến năng suất lúa, vì vậy cần tuân thủ kỹ thuật nông học và thực hiện đúng thời vụ.
Máy làm đất là thiết bị giúp phá vỡ và làm tơi nhuyễn lớp đất trồng đến độ sâu nhất định, phục vụ cho việc canh tác các loại cây trồng Việc sử dụng máy làm đất không chỉ nâng cao độ phì nhiêu của đất mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hạt giống cũng như cây trồng.
Cơ giới hóa khâu làm đất trong nông nghiệp, đặc biệt là canh tác lúa, là việc áp dụng máy móc công nghiệp có công suất cao để thay thế các công cụ lao động thô sơ và sức kéo của con người cũng như gia súc.
Gieo cấy là quá trình canh tác truyền thống bao gồm nhiều công đoạn quan trọng Ở miền Bắc, quá trình này bao gồm xử lý ngâm ủ thóc giống, gieo mạ dược, chăm sóc mạ, nhổ mạ và cấy Trong khi đó, ở miền Nam, gieo cấy chủ yếu diễn ra qua các bước xử lý ngâm ủ thóc giống và gieo vãi.
Cơ giới hóa khâu gieo cấy lúa là việc áp dụng các công cụ và máy móc công nghiệp, như giàn sạ hàng và máy cấy, để thay thế lao động thủ công Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng giàn sạ hàng trong quá trình gieo cấy lúa, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
+ Giàn sạ hàng: là dụng cụ chuyên dụng để đƣa hạt mạ giống xuống đất
Thu hoạch lúa là giai đoạn cuối cùng trong quá trình canh tác lúa, bao gồm việc thu hạt thóc từ đồng lúa Theo Nguyễn Hữu Hiệt (2011), thu hoạch lúa có thể hiểu theo nghĩa hẹp với các công đoạn như cắt gặt, thu gom, tách hạt, làm sạch và vận chuyển; hoặc theo nghĩa rộng, bao gồm thêm cả phơi sấy Hiện nay, phương pháp thu hoạch lúa ở nước ta được phân loại thành hai loại: phương pháp thu hoạch nhiều giai đoạn và phương pháp thu hoạch một giai đoạn.
Phương pháp thu hoạch lúa bao gồm nhiều giai đoạn như gặt, gom, đập và làm sạch Trong các giai đoạn này, người nông dân có thể sử dụng hoàn toàn sức lao động thủ công hoặc kết hợp một phần bằng máy móc để nâng cao hiệu quả thu hoạch.
Phương pháp thu hoạch lúa 1 giai đoạn sử dụng máy thu hoạch liên hợp, thực hiện các bước cắt, gom, vận chuyển lúa, đập hạt, làm sạch và đóng bao một cách liên tục.
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CƠ GIỚI HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cơ giới hóa trong sản xuất lúa:
Việc thực hiện cơ giới hóa lúa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Điều kiện tự nhiên: bao gồm khí hậu, thời tiết, đặc biệt là diện tích và địa hình ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng máy móc:
Khí hậu thủy văn có tác động lớn đến năng suất và chất lượng cây lúa, cũng như khả năng sử dụng máy móc trong sản xuất Trong mùa mưa, đồng ruộng thường bị ngập úng, gây khó khăn cho việc canh tác bằng máy Khi làm đất, mưa có thể khiến máy không hoạt động do đất lầy, trong khi thời tiết khô hạn làm đất cứng, giảm hiệu suất máy Đối với gieo sạ bằng giàn sạ hàng, nước ngập sẽ làm hỏng mạ gieo, dẫn đến giảm năng suất Trong khâu thu hoạch, máy gặt đập liên hợp yêu cầu ruộng không quá 15 cm độ lầy, và mưa sẽ làm sa lầy máy, đồng thời khiến cây lúa bị đổ, ảnh hưởng đến chất lượng gặt và gây tổn thất lúa.
Điều kiện diện tích và địa hình ảnh hưởng lớn đến khả năng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp Những ruộng có diện tích nhỏ lẻ và địa hình không bằng phẳng sẽ gặp khó khăn khi đưa máy móc vào sản xuất Ngược lại, các vùng đồng bằng với địa hình bằng phẳng và diện tích ruộng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa.
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Điều kiện phong tục tập quán và phương thức sản xuất có tác động lớn đến việc sử dụng máy móc trong nông nghiệp, vì phần lớn nông dân vẫn giữ tư tưởng sản xuất tiểu nông, chủ yếu dựa vào công cụ thô sơ và sức lao động.
Thu nhập thấp của nông dân ảnh hưởng đến khả năng mua sắm máy móc và công cụ sản xuất, dẫn đến việc tích lũy vốn hạn chế Do đó, việc đầu tư vào máy móc hiện đại để nâng cao sản xuất còn gặp nhiều khó khăn Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hỗ trợ tài chính từ các cấp, ngành liên quan.
Chi phí dịch vụ cơ giới hóa là khoản tiền mà người nông dân cần chi trả cho nhà cung cấp dịch vụ này.
Chi phí dịch vụ cơ giới hóa ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ nông dân Nếu chi phí dịch vụ cơ giới hóa thấp hơn chi phí thuê lao động thủ công, người dân sẽ có xu hướng thuê dịch vụ cơ giới hóa nhiều hơn Ngược lại, khi chi phí thuê dịch vụ cơ giới hóa cao, họ sẽ tìm kiếm lao động thủ công và giảm bớt việc sử dụng dịch vụ cơ giới hóa.
Nguồn lao động trong nông nghiệp và nông thôn hiện tại vẫn dồi dào, nhưng điều này gây khó khăn cho việc áp dụng máy móc vào sản xuất Tuy nhiên, với xu hướng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra nhanh chóng, nguồn lao động trong nông nghiệp sẽ giảm mạnh trong tương lai gần Do đó, việc cơ giới hóa và đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Trình độ và nhận thức của người nông dân đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cơ giới hóa sản xuất lúa Để chuyển từ sản xuất tiểu nông sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nông dân cần thay đổi tư duy và nâng cao trình độ của mình Sự thay đổi này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình cơ giới hóa hiệu quả hơn trong ngành sản xuất lúa.
Chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp Đầu tư vào máy móc và phương tiện cơ giới cần nguồn vốn lớn, trong khi đó, nông dân thường gặp khó khăn về tài chính Nếu được khuyến khích và hỗ trợ, việc ứng dụng cơ giới hóa sẽ diễn ra nhanh chóng, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa Ngược lại, thiếu chính sách hỗ trợ sẽ làm chậm tiến trình này, thậm chí cản trở sự phát triển của ngành nông nghiệp.
1.2.2 Một số chủ trương chính sách về phát triển cơ giới hóa trong việc sản xuất lúa: Đất nước ta đang trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa để đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lƣợng nông sản phẩm phục vụ đời sống nhân dân và hướng tới xuất khẩu, Đảng Nhà nước ta có nhiều chủ trương để khuyến khích việc ứng dụng máy móc vào sản xuất Trong các văn bản, nghị quyết của Đảng đã thể hiện rõ điều này Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã có nhiều văn bản thể hiện cụ thể hóa chủ trương khuyến khích áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất:
Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 và Quyết định số 2213 ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng nhà ở khu vực nông thôn Theo báo cáo của Bộ Công Thương vào ngày 26/7/2011, gói hỗ trợ này đã giúp 1.011.000 hộ gia đình và cá nhân, với tổng dư nợ cho vay theo Quyết định 497 đạt 739 tỷ đồng, trong đó 656,4 tỷ đồng được sử dụng cho máy móc và thiết bị nông nghiệp Đối với Quyết định 2213, tính đến 31/12/2010, tổng dư nợ cho vay đạt 1.560,14 tỷ đồng, trong đó 374,45 tỷ đồng dành cho nhóm vật tư nông nghiệp, với thời gian giải ngân từ 01/01/2010 đến 31/12/2010.
Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ đặt ra nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia thông qua việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ trong toàn bộ quy trình từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản và chế biến Đặc biệt, trong lĩnh vực trồng lúa, mục tiêu là tăng cường cơ giới hóa sau thu hoạch nhằm giảm thiểu thất thoát, với kế hoạch đến năm 2020 đạt tỷ lệ thu hoạch bằng máy là 50%, trong đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long đạt 80%, chủ yếu sử dụng máy gặt đập liên hợp có tính năng kỹ thuật cao.
Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã thiết lập chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản và thủy sản Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Thông tư số 62/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/10/2010 quy định danh mục máy móc, thiết bị được hưởng chính sách này Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã có Thông tư số 03/2011/TT-NHNN ngày 08/3/2011 hướng dẫn thực hiện Quyết định 63/2010/QĐ-TTg, có hiệu lực từ 01/05/2011 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 65/2011/TT-BTC ngày 16/5/2011 về hỗ trợ lãi suất vay vốn liên quan đến chính sách này Đến nay, Bộ Nông nghiệp đã công bố danh sách các tổ chức, cá nhân sản xuất máy móc, thiết bị giảm tổn thất sau thu hoạch qua ba đợt, với nhiều loại máy móc như máy sấy nông sản, máy gặt lúa, và thiết bị nuôi trồng hải sản (Nguyễn Chí Công, 2011).
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG CƠ GIỚI HÓA TRONG VIỆC SẢN XUẤT LÚA
1.3.1 Kinh nghiệm ứng dụng phát triển CGH trong sản xuất lúa ở một số nước trong khu vực:
Trong thế kỷ 20, nông nghiệp Mỹ đã trải qua quá trình công nghiệp hóa toàn diện và đạt trình độ hàng đầu thế giới Khoa học và công nghệ đã đóng vai trò quan trọng, tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ về cả sản lượng lẫn chất lượng trong lĩnh vực nông nghiệp.
Công nghiệp hoá đã làm thay đổi cơ bản hệ thống sản xuất nông nghiệp Mỹ, nâng cao năng suất sinh học và lao động nhờ vào sự phát triển của giống cây trồng, vật nuôi và công nghệ sinh học Các giống cây trồng mới như ngô, lúa nước, đỗ tương, bông, mía và rau quả có năng suất cao và chất lượng tốt đã được tạo ra, cùng với các giống vật nuôi như bò thịt, lợn thịt và gà công nghiệp Về vật tư kỹ thuật, công nghệ hoá chất đã sản xuất một lượng lớn phân bón và hóa chất trừ sâu bệnh, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Sản lượng phân bón của Mỹ đã tăng từ 5,547 triệu tấn năm 1910 lên 36,5 triệu tấn vào năm 1990, với lượng phân bón trên đơn vị diện tích tăng gấp ba lần từ những năm 60 đến 90.
Công nghiệp Mỹ đã sản xuất một lượng lớn động lực và máy móc thiết bị nông nghiệp, bao gồm động cơ và máy kéo, nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
Từ đầu thế kỷ 20, Mỹ đã tiên phong trong việc sản xuất hàng loạt máy kéo phục vụ nông nghiệp, trở thành quốc gia dẫn đầu về số lượng máy móc nông nghiệp Trong những năm 50-60, máy kéo Mỹ chiếm khoảng 50% tổng số máy kéo toàn cầu Hiện nay, mặc dù nhiều quốc gia đã gia tăng trang bị máy kéo cho nông nghiệp, máy kéo của Mỹ vẫn chiếm gần 20% tổng số máy kéo trên thế giới.
Công nghệ sản xuất nông nghiệp tại các trang trại Mỹ hiện đã trải qua quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá cao, bao gồm cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá và hoá học hoá Tất cả các khâu sản xuất và chế biến nông sản chủ yếu đã được cơ giới hoá hoàn toàn, trong khi công nghệ tin học và tự động hoá ngày càng được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp.
Công nghiệp hoá nông nghiệp trong các trang trại hiện nay chuyển từ bề rộng sang bề sâu, tập trung vào thâm canh cao nhằm giảm chi phí năng lượng và vật tư kỹ thuật Việc áp dụng công nghệ làm đất tối thiểu trên diện tích 45-50 triệu hecta không chỉ giúp giảm chi phí nhiên liệu mà còn bảo vệ đất, chống xói mòn Ngoài ra, kỹ thuật tưới tiêu tiết kiệm nước cho cây trồng cũng được ứng dụng rộng rãi, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nền nông nghiệp công nghiệp hoá của Mỹ đã đạt được thành tựu nổi bật với năng suất cây trồng và gia súc cao, nhờ vào kỹ thuật thâm canh và giảm đầu tư lao động sống, đồng thời tăng cường đầu tư vào lao động kỹ thuật và máy móc Kết quả là khối lượng nông sản hàng hoá dồi dào, với năng suất đạt mức cao nhất thế giới, gấp 2-3 lần so với bình quân toàn cầu Cụ thể, năng suất lúa nước trên 1,3 triệu hecta đạt 6,674 tấn/hecta, cao hơn 1,6 lần so với trung bình thế giới, trong khi lúa mì đạt 2,53 tấn/hecta trên diện tích 25 triệu hecta Năng suất lao động nông nghiệp Mỹ dẫn đầu thế giới nhờ chi phí lao động thấp và hiệu quả sản xuất cao, với chi phí lao động cho sản xuất 1 tạ ngô chỉ 0,12 giờ, 1 tạ lúa nước 0,30 giờ, 1 tạ thịt 0,88 giờ, và 1 tạ sữa 0,66 giờ.
Sản lƣợng nông sản của các trang trại Mỹ trong 30 năm gần đây tăng nhanh Sản lƣợng hạt ngũ cốc tăng từ 176,5 triệu tấn lên 354 triệu tấn (thời gian 1961-
Từ năm 2005, sản lượng ngô của Mỹ đã tăng từ 103 triệu tấn lên 254 triệu tấn, trong khi sản lượng trái cây tăng từ 8,7 triệu tấn lên 23,35 triệu tấn Sản lượng thịt cũng ghi nhận sự tăng trưởng từ 19,6 triệu tấn lên 32,4 triệu tấn, và sản lượng sữa từ 56,9 triệu tấn lên 69,85 triệu tấn Đặc biệt, ngô và đỗ tương của các trang trại Mỹ chiếm hơn 50% tổng sản lượng ngô toàn cầu, trong khi sản lượng thịt và sữa của Mỹ đóng góp khoảng 16-17% vào tổng sản lượng thế giới.
Do ảnh hưởng mạnh mẽ của công nghiệp hóa, các trang trại Mỹ đã sản xuất một lượng nông sản hàng hóa lớn, đặc biệt là hạt ngũ cốc, góp phần vào dự trữ lương thực toàn cầu Mỹ hiện đang sở hữu trữ lượng ngô hạt rất lớn, khẳng định vị thế hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp.
128 triệu tấn chiếm 87% khối lƣợng ngô dự trữ của thế giới
Kinh nghiệm từ nền kinh tế trang trại Mỹ cho thấy rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất có khả năng áp dụng công nghệ cao như công nghệ sinh học, cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học hóa và tự động hóa Những công nghệ này giúp thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi, đồng thời cải thiện năng suất lao động nông nghiệp Kết quả là tạo ra lượng nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao với giá thành thấp, cho thấy kinh tế trang trại phù hợp với xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp.
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản đã chuyển mình từ một quốc gia nông nghiệp tự cấp tự túc, sản xuất manh mún lạc hậu, thành một cường quốc kinh tế lớn trên thế giới với nền nông nghiệp và công nghiệp hiện đại Thành công này có sự đóng góp quan trọng từ nông nghiệp và ứng dụng công nghệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
Chính phủ Nhật Bản hiểu rõ rủi ro cao trong đầu tư vào khoa học công nghệ, vì vậy họ luôn chú trọng đến chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ mới trong nông nghiệp Đầu tư của Nhật Bản cho nghiên cứu và phát triển đã tăng đáng kể qua các năm, từ 2,7% GDP vào năm 1992 lên 6,9% GDP vào năm 1996 Để thúc đẩy nhanh chóng việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, Nhật Bản thực hiện chính sách đầu tư công nghệ theo mô hình hai tầng.
- Nhập công nghệ cao để tăng năng lực quốc gia
- Tạo công nghệ thấp để giái quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp
Chính phủ Nhật Bản đã giảm thuế cho các chi phí nghiên cứu và thí nghiệm, đồng thời miễn thuế cho các công nghệ cơ bản Họ cũng thực hiện cơ chế hợp tác hai chiều giữa các công ty tư nhân và trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ thông qua ủy thác nghiên cứu và cung cấp kinh phí Kết quả nghiên cứu sẽ thuộc quyền sở hữu của công ty trong vòng 7 năm.
Chính phủ Nhật Bản không chỉ đầu tư cho nghiên cứu mà còn chú trọng vào việc trang bị máy móc phục vụ nông nghiệp Từ năm 1971, Nhật Bản đã có 582.000 máy gặt và 84.000 máy gặt đập liên hợp, đến năm 1994, số lượng máy gặt tăng lên 1.200.000 và máy gặt đập liên hợp lên 1.150.000 Sự cơ giới hóa này đã giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa.
Nhật Bản không chỉ tập trung vào phát triển mạng lưới công nghiệp mà còn chú trọng đến mạng lưới dịch vụ, bao gồm dịch vụ vốn, bảo hiểm, cung cấp vật tư kỹ thuật và máy móc cho nông nghiệp Ngoài ra, các dịch vụ sửa chữa máy móc, giao thông vận tải nông thôn và thu mua nông sản để phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu cũng được phát triển mạnh mẽ (Bùi Văn Phương, 2006).
1.3.2 Kinh nghiệm ứng dụng phát triển CGH trong sản xuất lúa ở nước ta
1.3.2.1 Kinh nghiệm tỉnh Thái Bình:
Một số đặc điểm cơ bản của huyện Long Thành
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên: 43.101,02 ha diện tích tự nhiên
Mật độ dân số bình quân 1800 người/km2, đứng thứ 3 trong số các huyện của tỉnh Đồng Nai
Long Thành là huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm ở phía Nam với diện tích 431,01 km² Huyện này cách Thành phố Hồ Chí Minh 60 km, Biên Hòa 33 km, Vũng Tàu 60 km và Bình Dương khoảng 40 km.
- Phía đông giáp huyện Trảng Bom, huyện Thống Nhất và huyện Cẩm Mỹ
- Phía tây giáp huyện Nhơn Trạch và Thành phố Hồ Chí Minh
- Phía nam giáp huyên Bà Rịa - Vũng Tàu
- Phía bắc giáp thành phố Biên Hoà
Huyện Long Thành có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, dẫn đến các dòng chảy mặt đổ về sông Đồng Nai Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, với vùng đồng bằng có độ cao phổ biến từ 2 - 5 m, cùng một số khu vực thấp trũng ven sông tại các xã An Phước và Tam An Địa hình bằng phẳng giúp Long Thành có hơn 60% diện tích đất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp tập trung, dồn điền đổi thửa và áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất.
Long Thành có hệ thống sông ngòi hạn chế, chủ yếu là sông Đồng Nai, cùng với một số kênh mương nhỏ, dẫn đến nguồn nước không phong phú Để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, huyện đã chú trọng đầu tư và nâng cấp hệ thống trạm bơm và kênh mương trong những năm qua Chương trình “kiên cố hoá kênh mương” đã được triển khai hiệu quả, với nhiều công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu Hiện tại, huyện có tổng cộng 05 trạm bơm phục vụ cho việc tưới tiêu.
Hệ thống kênh mương có tổng chiều dài là 175 km, trong đó có 75 km kênh loại I,
Huyện có 50 km kênh loại II và 50 km kênh loại III, cùng với hệ thống hồ chứa nước tại xã Lộc An đang hoàn thành, phục vụ tưới tiêu Nguồn nước này sẽ được khai thác để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt toàn huyện, bao gồm cả các hoạt động đô thị.
Hệ thống thuỷ văn và thủy lợi hiện tại đã đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nhưng sự biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan như hạn hán, mưa bão bất thường đang gây thiệt hại Do đó, cần tiếp tục đầu tư và hoàn thiện hệ thống thủy lợi và đê điều để đảm bảo phục vụ sản xuất và phòng chống thiên tai hiệu quả trong bối cảnh mới.
Khí hậu Long Thành thuộc loại nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau, chiếm khoảng 5-6 tháng, trong khi mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, kéo dài khoảng 6-7 tháng Thời điểm kết thúc mùa mưa thường dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12 Nhiệt độ trung bình hàng năm tại Long Thành dao động từ 25,7 đến 26,7 độ C, với sự chênh lệch nhiệt độ giữa các năm không đáng kể Chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 4,2 độ C.
Nhiệt độ trung bình trong mùa khô dao động từ 25,4 đến 26,7 độ C, với sự chênh lệch giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 4,8 độ C Trong khi đó, mùa mưa có nhiệt độ trung bình từ 26 đến 26,8 độ C, chỉ có mức dao động nhỏ khoảng 0,8 độ C so với mùa khô.
* Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện đạt 43.101,02 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 23.716,1 ha, chiếm 59,2% Diện tích đất trồng cây hàng năm lên tới 18.500 ha, tương đương 99% tổng diện tích nông nghiệp Lúa vẫn là cây trồng chính, với diện tích gieo cấy năm 2014 đạt 16.151 ha, chiếm 94,45% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm Diện tích đất trồng cây lâu năm chỉ đạt 221,1 ha, chiếm 1%.
% Ngoài ra, diện tích nuôi trồng thuỷ sản: 3.007,9 ha, chiếm 10,3% đất nông nghiệp (Cục thống kê Đồng Nai, 2015)
Diện tích đất nông nghiệp và đất trồng lúa tại huyện Long Thành đã liên tục giảm trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay, theo bảng 2.1.
Năm 2015, sự phát triển của các cụm khu công nghiệp và đất chuyên dùng đã ảnh hưởng đến an ninh lương thực tại huyên Để đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất cây trồng Việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất lúa là một giải pháp quan trọng Đồng thời, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp đã có sự tăng nhẹ nhờ vào chính sách phát triển cây ăn quả và cây lâm nghiệp tại vùng núi, giúp tăng độ che phủ rừng và ngăn chặn tình trạng sói mòn.
(a) (b) Đồ thị 2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Long Thành năm 2013 - 2015
Bảng 2.1 Diện tích đất nông nghiệp của Long Thành giai đoạn 2013 - 2015 ĐVT: ha S
TT Chỉ tiêu 2013 2014 2015 So sánh
2 Đất trồng cây hàng năm 19,780 19,100 18,500 100,07 98,19 99,13
5 Đất trồng cây hàng năm khác 2.365 2.308 2.297 97,59 99,52 99,55
6 Đất trồng cây lâu năm 253 237 221 103,28 100 101,63
8 Đất nuôi trồng thủy sản 3.087 3,021 3.007 98,60 100,16 99,38
Nguồn: Cục thống kê Đồng Nai,2012
Từ năm 2013 đến năm 2015, dân số toàn huyên vẫn liên tục tăng với tốc độ khá nhanh, từ 1.018.144 người (2013) lên 1.038.229 người (2015), tốc độ tăng dân số bình quân 0,98 %/ năm
Bảng 2.2 Dân số huyện Long Thành giai đoạn 2013 – 2015
Nguồn: Cục thống kê Đồng Nai, 2015
Giai đoạn 2013 - 2015, dân số huyện Long Thành chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, chiếm trên 74% tổng dân số Tuy nhiên, xu hướng chuyển dịch từ nông thôn ra thành thị ngày càng rõ rệt, với tỷ lệ dân số nông thôn giảm và tỷ lệ dân số thành thị tăng Sự chuyển dịch này mang lại cả thuận lợi và thách thức cho sản xuất nông nghiệp tại Long Thành Một mặt, việc giảm lao động nông nghiệp tạo điều kiện cho việc dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất Mặt khác, tỷ lệ lao động nông thôn giảm sẽ gây khó khăn cho việc đảm bảo nguồn nhân lực trong mùa vụ cao điểm.
Theo bảng 2.3, số lượng lao động tại Long Thành đã tăng liên tục từ năm 2013 đến 2015 Đặc biệt, cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, với tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, trong khi tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và xây dựng lại tăng lên.
47,97 % (2015), tốc độ giảm 4,02 %/năm Lao động ngành công nghiệp – xây dựng tăng 19,09% (2013) lên 31,82 % (2015), tốc độ tăng 5,26 %/năm; ngành dịch vụ tăng từ 18,09% (2013) lên 20,21 % (2015), tốc độ tăng 6,4 %/năm
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ đang dẫn đến sự giảm mạnh lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản Do đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp trở nên cấp bách nhằm nâng cao năng suất lao động.
(a) (b) Đồ thị 2.2 Tỷ lệ lao động trong các ngành ở Long Thành giai đoạn 2013 - 2015
Bảng 2.3 Lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế của Long Thành giai đoạn 2013 – 2015 ĐVT: người
TT Khu vực kinh tế
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 So sánh (%)
Số lƣợng Cơ cấu Số lƣợng Cơ cấu Số lƣợng Cơ cấu 10/09 09/08 BQ
2 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 309.308 52,83 302.506 51,32 284.558 47,97 97,80 94,07 95,92
3 Công nghiệp và xây dựng 170.312 19,09 175.727 29.81 188.714 31,82 103,18 107,39 105,26
Nguồn: Cục thống kê Đồng Nai, 2015
Long Thành hiện là một trong những huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất tỉnh, với mức tăng trưởng 28,86% vào năm 2015, cao nhất từ trước đến nay Trong giai đoạn 2013-2015, tốc độ tăng trưởng bình quân của huyện đạt 27,6% Ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản có tốc độ tăng trưởng thấp nhất, chỉ đạt 10,5% mỗi năm, trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ lại có mức tăng trưởng cao nhất, lên tới 32,1% mỗi năm.
Từ năm 2013 đến 2015, tất cả các ngành kinh tế của Long Thành đều ghi nhận sự tăng trưởng liên tục, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm từ 13,94% xuống 10,45%, trong khi ngành công nghiệp tăng từ 61,74% lên 66,11% Sự phát triển này được thúc đẩy bởi vị trí địa lý thuận lợi trong vùng kinh tế trọng điểm, môi trường kinh doanh thuận lợi và sự cải thiện trong giao thông Ngoài ra, nhiều dự án đầu tư phát triển khu công nghiệp cũng đóng góp vào sự gia tăng nhanh chóng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
(a) (b) Đồ thị 2.3: Cơ cấu kinh tế huyên Long Thành năm 2013 - 2015
Bảng 2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh huyên Long Thành giai đoạn 2013 – 2015
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 So sánh (%)
Một số chỉ tiêu BQ
Giá trị SX/ khẩu (tr.đ) 21,68 - 27,19 - 34,64 - 125,4 127,4 126,4
Giá trị SX /hộ ( trđ) 76,3 - 95,46 - 122,57 - 125,14 128,39 126,76
Giá trị SX NN/hộ (tr.đ) 10,63 - 11,87 - 12,87 - 111,69 107,90 109,77
Nguồn: Cục thống kê Đồng Nai, 2015
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Việc lựa chọn điểm nghiên cứu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đánh giá tác động và phát triển giải pháp ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp tại Long Thành Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào ba xã: Long An, Tam An và một xã khác.
An Phước là một trong những xã nổi bật trong công tác dồn điền đổi thửa và có tỷ lệ hộ nông dân ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp cao nhất tại Long Thành Chúng tôi đã chọn 2 ấp tại mỗi xã để tiến hành điều tra và phỏng vấn nông dân, nhằm phân tích tình hình ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa.
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Việc thu thập số liệu thứ cấp được thực hiện thông qua các nguồn tài liệu đã công bố, bao gồm sách báo, tạp chí, luận văn, bài viết và tài liệu từ các trang mạng internet liên quan, cũng như niên giám thống kê và báo cáo của địa bàn nghiên cứu.
Để thu thập số liệu sơ cấp, chúng tôi tiến hành chọn điểm nghiên cứu và thực hiện điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân sản xuất lúa Mục tiêu là thu thập thông tin về tình hình ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa của các hộ nông dân.
Chúng tôi tiến hành điều tra 95 hộ sản xuất lúa tại huyện Long Thành, với sự phân bổ hợp lý do hạn chế về thời gian và nguồn tài chính.
An điều tra 35 hộ, xã Tam An 30 hộ và xã An Phước 30 hộ
Sơ đồ 2.1: Phân bổ mẫu điều tra theo các cấp ở huyện Long Thành
+ Tình hình cơ bản của các hộ gia đình (số nhân khẩu, số lao động, diện tích đất nông nghiệp của hộ, diện tích trồng lúa, số thửa ruộng )
Hiện nay, việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa đã đạt được những tiến bộ đáng kể, với diện tích đất trồng lúa được cơ giới hóa trong các khâu làm đất, gieo sạ bằng giàn sạ hàng và thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp Tuy nhiên, hộ nông dân vẫn gặp nhiều thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng cơ giới hóa, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa đã tạo ra những tác động đáng kể đối với hộ nông dân, bao gồm sự thay đổi trong mức đầu tư trước và sau khi áp dụng công nghệ này Trước khi cơ giới hóa, mức đầu tư của nông dân thường thấp, nhưng sau khi áp dụng, họ đã tăng cường đầu tư vào máy móc và thiết bị Hơn nữa, thu nhập của hộ nông dân cũng có sự cải thiện rõ rệt sau khi ứng dụng cơ giới hóa, cho thấy hiệu quả kinh tế tích cực từ việc hiện đại hóa quy trình sản xuất lúa.
Mẫu điều tra tại huyên Long
Việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa đã mang lại kết quả và hiệu quả rõ rệt cho 15 hộ nông dân Để hiểu rõ hơn về những lợi ích này, cần thực hiện các cuộc phỏng vấn với những câu hỏi mở, nhằm thu thập nhận xét và kiến nghị từ nông dân Những giải pháp này sẽ giúp đẩy mạnh việc áp dụng cơ giới hóa trong thời gian tới, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lúa.
Tiến hành điều tra thử và phỏng vấn một số hộ dân dựa trên nội dung phiếu điều tra đã xây dựng nhằm đánh giá và chỉnh sửa thông tin mà các hộ có thể cung cấp, từ đó hoàn thiện phiếu điều tra cho phù hợp.
Sau khi hoàn thiện phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành điều tra trên diện rộng bằng cách phỏng vấn trực tiếp tại các hộ gia đình được lựa chọn, đồng thời kết hợp phỏng vấn trong các cuộc hội nghị và tập huấn liên quan đến vấn đề cơ giới hóa.
Mục tiêu Câu hỏi nghiên cứu Nguồn tài liệu
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa
- Khái niệm cơ giới hóa trong sản xuất lúa?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa?
- Thực trạng ứng dụng cơ giới hóa ở trong nước và ngoài nước như thế nào?
- Đã có những công trình nghiên cứu nào liên quan đến việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp?
Các Nghị quyết, quyết định, chiến lƣợc, kế hoạch phát triển kinh tế của Chính phủ
Sách, báo, tạp chí, Internet ……
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
(2) Đánh giá thực trạng tình hình ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở Long
Thực trạng ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở Long Thành nhƣ thế nào?
- Tác dụng của việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở Long Thành nhƣ thế nào?
- Các báo cáo tổng kết của ngành nông nghiệp Long Thành, báo cáo tổng kết mô hình,
- Số liệu thu thập qua điều tra các hộ nông dân Điều tra Phỏng vấn Quan sát
(3) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh ứng dụng cơ giới
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở Long Thành
Thu thập thông tin từ các hộ nông dân
- Phỏng vấn trực tiếp, quan sát
(4) Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở
Long Thành trong thời gian tới
- Đã có những giải pháp nào? Cần đề xuất thêm giải pháp nào để đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa ở Long Thành
Thu thập các giải pháp mà các cơ quan chức năng và các hộ nông dân đã thực
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chủ yếu là phương pháp phân tổ thống kê theo từng nội dung nghiên cứu của đề tài
- Xử lý tài liệu thứ cấp: Tổng hợp đối chiếu, so sánh để chọn ra những thông tin phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài
Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và xử lý các số liệu sơ cấp đã được điều tra và thu thập nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Phương pháp so sánh trong phân tích kinh tế giúp đối chiếu các chỉ tiêu và hiện tượng đã được lượng hoá có tính chất tương tự, từ đó xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu Phương pháp này cho phép đánh giá sự phát triển hay yếu kém, hiệu quả hay không hiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp tối ưu cho từng trường hợp cụ thể Dựa trên số liệu tổng hợp và các chỉ tiêu, phân tích so sánh các số tuyệt đối và số bình quân giúp nhận diện sự phát triển của hiện tượng qua các mốc thời gian và không gian, đặc biệt trong việc đánh giá tác động của máy làm đất, giàn sạ hàng và máy gặt đập liên hợp vào sản xuất lúa ở Long Thành giai đoạn 2013 – 2015.
Phương pháp thống kê kinh tế được áp dụng để hệ thống hóa và phân tích tài liệu cùng với thông tin số liệu từ các hộ về tình hình thu nhập Bài viết cũng đánh giá quan điểm của các hộ về kết quả và tác động của việc ứng dụng các phương tiện cơ giới hóa vào sản xuất lúa.
Thống kê mô tả là phương pháp quan trọng để đánh giá và mô tả phạm vi chương trình, đồng thời phân tích các đặc trưng của các hộ gia đình được khảo sát Phương pháp này cũng giúp xác định các chỉ tiêu cần thiết để đánh giá hiệu quả của chương trình.
2.2.5 Phương pháp chọn mẫu : Điều tra chọn mẫu có nghĩa là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và tính chất của cả tổng thể đó Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện đƣợc cho tổng thể chung
2.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất
- Đất đai bình quân một hộ
- Vốn sản xuất bình quân một hộ
- Cơ cấu vốn sản xuất
- Lao động bình quân một hộ
- Tỷ lệ vốn/ha: + Số máy làm đất/ha
- Chi phí cho cơ giới hoá
+ Số máy/ người lao động; + Giá trị máy/ người lao động
+ Số máy/ hộ; + Giá trị tài sản máy móc thiết bị/ sản lƣợng lúa
2.2.5.2 Các chỉ tiêu phản ánh chi phí, kết quả, hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu phản ánh chi phí
+ Chi phí thuê làm đất thủ công/ ha
+ Chi phí thuê gieo cấy/ ha
+ Chi phí thuê thu hoạch/ha
+ Chi phí cho hoạt động làm dịch vụ
Chỉ tiêu kết quả, hiệu quả:
+ Tỷ lệ diện tích đƣợc cơ giới hóa: = Diện tích đất đƣợc cơ giới hóa/ Tổng diện tích đất canh tác
+ Tỷ lệ số thửa ruộng đƣợc cơ giới hóa = Số thửa ruộng đƣợc cơ giới hóa/ Tổng số thửa ruộng