ĐỖ TRƯỜNG GIANG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN SẢN XUẤT LÚA HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG CAO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã Số: 6062
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN SẢN XUẤT LÚA HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG CAO
Cơ sở lý luận lý luận về cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao
1.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và khái niệm cơ bản về “cánh đồng mẫu lớn” sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao
1.1.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô và giá trị sản phẩm hàng hóa, nhưng phổ biến vẫn còn là sản xuất nhỏ lẻ, mang mún, khối lượng sản xuất hàng hoá chưa nhiều, sức cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu
Ruộng đất bình quân theo đầu người thấp, trong khi sản xuất nông nghiệp còn sử dụng sức lao động nông nghiệp nhiều, nhưng kỹ thuật và tay nghề chưa cao Ruộng đất nhỏ lẻ manh mún gây ra nhiều hạn chế: chí phí sản xuất tăng, sử dụng nhiều lao động, đi lại khó khăn, lãng phí đất cho bờ vùng bờ thửa, khó áp dụng công nghệ và máy móc vào sản xuất, khó tổ chức hệ thống thủy lợi, tăng chi phí thu mua sản phẩm Từ góc độ xã hội thì có thể thấy manh mún ruộng đất làm tăng chi phí giao dịch, khó chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành khác, cơ giới hóa chậm chạp, khó áp dụng công nghệ mới, khó quy hoạch vùng sản xuất thương mại và quy hoạch sử dụng đất Đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý và nông dân phải có những giải pháp tổ chức sản xuất để sử dụng đầy đủ và hợp lý các yếu tố sản xuất
Yêu cầu của thị trường nông sản đang đối nghịch với sản xuất nhỏ lẻ, manh mún Cùng với sự phát triển kinh tế đời sống của người dân ngày một nâng cao thì yêu cầu tiêu dùng nông phẩm trong nước cũng ngày càng cao, sản phẩm phải ngon, sạch, có nguồn gốc xuất sứ và giá phải rẻ Đối với xuất khẩu thì yêu cầu đó còn phải cao hơn nữa và phải phù hợp với các điều kiện, tiêu chuẩn của nước nhập khẩu Do đó với tình trạng sản xuất quy mô nhỏ lẻ, manh mún, thói quen sản xuất tùy tiện của các hộ nông dân riêng lẻ thì sẽ không thể đáp ứng yêu cầu trên
1.1.3.2 Khái niệm cơ bản về “cánh đồng mẫu lớn’’:
Cánh đồng mẫu lớn là khái niệm ở Việt Nam ban đầu được hiểu là làm mẫu những cánh đồng lớn nếu nhân rộng gọi là xây dựng những cánh đồng lớn (Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến, 2012) Việc xây dựng những cánh đồng lớn thực chất đã được thực hiện ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ, từ hợp tác hóa đến nay Trong thời kỳ hợp tác hóa, việc xây dựng những cánh đồng lớn có cùng quy trình sản xuất, do HTX quản lý và làm ăn tập thể, hay mô hình do nông lâm trường quốc doanh quản lý, đã đạt hiệu quả không cao Trong thời kỳ đổi mới, cũng đã có nhiều mô hình xây dựng cánh đồng lớn tương đối thành công, như mô hình mía đường Lam Sơn ở Thanh Hóa, mô hình các sản phẩm chỉ dẫn địa lý ở một số nơi…Nhưng những mô hình này khó nhân rộng, khó phát triển do thiếu khung thể chế tầm vĩ mô đảm bảo ổn định về quy hoạch, liên kết nông dân và doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm
Một tiếp cận nữa để xây dựng những cánh đồng lớn, nhiều địa phương xây dựng đã thực hiện dồn điền đổi thửa Dồn điền đổi thửa là một giải pháp cho những vấn đề nảy sinh từ sự manh mún của ruộng đất Dồn điền đổi thửa là quá trình những người sở hữu đất trao đổi những mảnh đất để nhận lại mảnh khác tương đương về giá trị hoặc diện tích nhưng ít hơn về số lượng mảnh đất và diện tích từng mảnh lớn hơn Tuy vậy, dồn điền đổi thửa chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn”, đặc biệt là ở
Việt Nam, nhu cầu của người dân trong sản xuất nông nghiệp không đồng nhất, trong khi ruộng đồng manh mún và chia cắt Đỗ Kim Chung (2012), lại khái niệm, cánh đồng mẫu lớn là một cánh đồng trồng một hay vài loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường
Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ về liên kết bốn nhà (nay được thay thế bằng Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, xây dựng cánh đồng lớn) cũng là một tiếp cận thúc đẩy sự hình thành những liên kết nông dân doanh nghiệp để có những cánh đồng sản xuất lớn Theo Quyết định 62 thì khái niệm Cánh đồng lớn là cách thức tổ chức sản xuất trên cơ sở hợp tác, liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp, tổ chức đại diện của nông dân trong sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản trên cùng địa bàn, có quy mô ruộng đất lớn, với mục đích tạo ra sản lượng nông sản hàng hóa tập trung, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân và các đối tác tham gia
Vậy cánh đồng lớn mà chúng ta đang kì vọng xây dựng là gì, hiện nay có nhiều cách hiểu và chưa thống nhất, theo chúng tôi: “Là những cánh đồng có thể một hoặc nhiều chủ, nhưng có cùng qui trình, cùng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định”
1.1.1.2 Khái niệm về lúa hàng hóa chất lượng cao:
Philip Kotler (1997) nhận định: Hàng hoá là những thứ có thể thoả mãn được mong muốn hay nhu cầu, yêu cầu và được cung cấp cho thị trường nhằm mục đích thoả mãn người tiêu dùng Hàng hoá là tất cả những cái gì có thể thoả mãn được mong muốn hay nhu cầu và được cung ứng cho thị trường nhằm mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng
Hàng hoá là sản phẩm của lao động Trong nền sản xuất hàng hoá, trước hết nhà sản xuất phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng là công việc cần thiết và sau đó tạo ra những thứ hàng hoá thích hợp để đáp ứng nhu cầu đó Hàng hoá ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả dịch vụ, địa điểm, tổ chức, các loại hình hoạt động và ý tưởng Hàng hoá có hai thuộc tính là “giá trị sử dụng” và “giá trị”
- Giá trị sử dụng (GTSD) là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
- Giá trị của hàng hoá là hao phí lao động để tạo ra hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá, là cơ sở chung của sự trao đổi, giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ giữa những người SXHH
Bản chất của sản xuất hàng hoá (SXHH): SXHH là kiểu tổ chức sản xuất, trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà là nhu cầu của xã hội thông qua trao đổi mua bán
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công ấy càng cao thì SXHH càng phát triển, đời sống người dân ngày càng tăng lên, làm cho quá trình trao đổi hàng hoá diễn ra mạnh mẽ hơn, SXHH phát triển ngày càng đa dạng hơn Điều kiện ra đời và tồn tại của SXHH cần có 2 điều kiện là phải có sự phân công lao động xã hội để hình thành chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất Đây là hai điều kiện cần và đủ của SXHH So với sản xuất tự cung tự cấp, thì SXHH có những ưu thế hơn hẳn
Theo V.I.Lênin, SXHH chính là cách tổ chức kinh tế xã hội, trong đó
Sản phẩm đều do những người sản xuất cá thể, riêng lẻ, sản phẩm nhất định, thành thử muốn thoả mãn các nhu cầu của xã hội thì cần phải có mua bán sản phẩm Do đó sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị trường
Nền SXHH có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất hợp lý, thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế, nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với chủng loại phong phú và có chất lượng cao
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn ở Việt Nam
1.2.1.1 Tại các tỉnh phía Nam:
Ngày 26/3/2011 tại Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phát động phong trào xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” trong sản xuất lúa tại các tỉnh Nam Bộ Chủ trương này đã được các địa phương, doanh nghiệp, nông dân hưởng ứng tích cực, bước đầu thu được kết quả quan trọng
Mô hình xuất phát từ rất nhiều điểm trình diễn tại hầu hết các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long với nhiều hình thức, nội dung đa dạng và phong phú, các cánh đồng canh tác áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật
Sự phát triển cánh đồng liên kết ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều nơi đã áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa với nhiều tên gọi và quy mô khác nhau tại hầu hết các tỉnh, thành Một số mô hình tiêu biểu như sau:
+ Tại tỉnh Long An: Chương trình lúa chất lượng cao: Vụ đông xuân 2010-2011, đã triển khai thực hiện 1.000 ha
+ Tại tỉnh Đồng Tháp: Mô hình cánh đồng theo hướng hiện đại: Đã xây dựng và triển khai thực hiện mô hình cánh đồng sản xuất theo hướng hiện đại từ năm 2008 và kết quả đến năm 2011 đã có 10 mô hình với diện tích 1.519 ha với 1.190 hộ tham gia Các hộ tham gia các mô hình được hướng dẫn ghi chép quá trình sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng VietGAP
+ Tại tỉnh An Giang: Triển khai xây dựng vùng nguyên liệu với quy mô 1.000 ha với hình thức liên kết là doanh nghiệp cung cấp đầu vào cho nông dân, hỗ trợ sấy lúa cho nông dân và lưu kho trong 1 tháng không tính chi phí lưu kho Phối hợp với doanh nghiệp triển khai xây dựng vùng nguyên liệu xuất khẩu lúa gạo với quy mô 1.400 ha với hình thức liên kết là doanh nghiệp cung cấp phân bón cho nông dân và sẽ thu mua lúa cho nông dân sau khi thu hoạch với giá cao hơn thị trường nếu lúa đạt chất lượng theo yêu cầu
+ Tại tỉnh Cần Thơ: Xây dựng và triển khai 05 nhóm nông dân tham gia mô hình “Cộng đồng sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học giảm thiểu nguy cơ thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa theo hướng GAP” bằng nguồn tài trợ của FAO Thành lập 04 nhóm nông dân liên kết sản xuất lúa theo hướng GAP, trung bình 25-30 người/nhóm, với diê ̣n tích 20-30 ha/nhóm Xây dựng “Mô hình cô ̣ng đồng quản lý di ̣ch ha ̣i lúa trên cánh đồng mô ̣t loại giố ng” với mục đích xây dựng mô hình sản xuất khép kín, áp dụng các tiến bô ̣ kỹ thuật mới đồng bộ ngay từ khâu làm đất đến thu hoạch, vừa giảm giá thành vừa nâng cao chất lượng hạt lúa theo hướng an toàn, tăng thu nhập cho nông dân, qui mô mỗi nhóm từ 25-30 nông dân, với diê ̣n tích 30-50 ha/nhóm
+ Tại tỉnh Hậu Giang: Thực hiện mô hình cánh đồng “3 giảm 3 tăng”,
“1 phải 5 giảm”: thực hiện 9 điểm với 270 lượt người dự, diện tích từ 30 - 40 ha/điểm; đồng thời triển khai thực hiê ̣n 01 mô hình Công nghê ̣ sinh thái với diện tích 30 ha cho 30 nông dân
+ Tại tỉnh Tây Ninh: Triển khai thực hiện mô hình Liên kết 4 nhà thâm canh lúa hiệu quả và bền vững theo hướng VietGAP Năm 2010, đã triển khai thực hiện mô hình liên kết “4 nhà” thâm canh lúa theo hướng hiệu quả, bền vững với quy mô 593 ha với 455 hộ nông dân
Nhìn chung các mô hình đều mang lại hiệu quả thiết thực đối với người trồng lúa, nông dân dùng giống xác nhận, biết cách quản lý dịch hại hiệu quả, không sử dụng thuốc BVTV bừa bãi, bón phân đúng nhu cầu của cây lúa, không bón thừa đạm, chất lượng gạo tăng lên qua việc áp dụng thuốc BVTV theo phương pháp “4 đúng”, giảm thiểu lượng thuốc BVTV lưu tồn trong hạt gạo là tiền đề để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa Để việc xây dựng vùng nguyên liệu lúa, sản xuất lúa có ghi chép sổ tay theo hướng GAP được trở thành phong trào mạnh mẽ trong sản xuất vừa góp phần gia tăng năng suất và chất lượng, vừa tạo được vùng nguyên liệu lúa hàng hóa chất lượng cao
1.2.1.1 Tại các tỉnh phía Bắc:
Hưởng ứng lễ phát động về phong trào xây dựng “Cánh đỗng mẫu lớn và “ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo hướng VietGAP” các tỉnh ở phía bắc đã xây dựng và triển khai cánh đồng mẫu theo hướng giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân, có sự liên kết của doanh nghiệp với hộ nông dân và tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất:
+ Tại tỉnh Thanh Hóa: Triển khai khoảng 300 ha sản xuất lúa các giống lúa chất lượng cao Mô hình đã thu hút được các doanh nghiệp trong việc cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm cho các hộ nông dân
Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với các huyện lựa chọn được 11 xã ở 7 huyện để triên khai xây dựng mô hình Đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức hội nghị triển khai tới các huyện, xã thống nhất phương án và giải pháp thực hiện, xây dựng hướng dẫn về kỹ thuật, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị có liên quan Tổ chức tập huấn cho 3.715 nông dân về kỹ thuật thâm canh lúa áp dụng VietGAP; Các xã, HTX được lựa chọn đã thành lập Ban chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt Tổng số mô hình được triển khai là 12 mô hình với quy mô đạt 565 ha (8 mô hình áp dụng kỹ thuật sạ hàng, 2 mô hình cấy và 2 mô hình hỗn hợp) Mô hình thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp trong việc cung ứng vật tư phục vụ sản xuất; tỉnh, huyện có cơ chế chính sách hỗ trợ trong việc triển khai và thực hiện mô hình như: hỗ trợ mua máy làm đất để cơ giới hóa, hỗ trợ sản xuất lúa chất lượng, hỗ trợ mua công cụ sạ hàng và hỗ trợ 1 phần kinh phí cho các xã xây dựng mô hình “cánh đồng mẫu lớn”
+ Tại Thành phố Hà Nội: Thực hiện chương trình số 02/CTr-TU ngày 31/10/2008 của Thành ủy Hà Nội đã phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ rau toàn, Chương trình sản xuất lúa hàng hóa chất lương cao, Đề án phát triển một số cây ăn quả giá trị kinh tế cao, Đề án phát triển hoa cây cảnh Nội dung trọng tâm của đề án là xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung Theo đó quy định vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao quy mô từ 100 ha trở lên, vùng sản xuất rau an toàn, chè an toàn, hoa cây cảnh quy mô 30 ha trở lên, vùng sản xuất cây ăn quả quy mô 50 ha trở lên Vùng sản xuất hàng hóa tập trung được hỗ trợ đào tạo, tập huấn, thăm quan trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài thành phố, hỗ trợ giống, vật tư thiết yếu, xúc tiến thương mại, hợp tác 4 nhà, chứng nhận đủ điều kiện sản xuất an toàn, chứng nhận VietGAP, hỗ trợ tem nhãn hàng hóa, cơ giới hóa Nếu so sánh với "Cánh đồng mẫu lớn" ở các tỉnh phía Nam thì Hà Nội đã có một số tiêu chí, nhất là tiêu chí về quy mô, tổng diện tích thực hiện mô hình trong vụ đông xuân 2011-2012 đạt 3.500 ha
1.2.2 Xây dựng cánh đồng mẫu lớn ở nước ngoài:
Tiếp cận về cánh đồng lớn trên thế giới thường được thực hiện bắt đầu bằng xác định các tiêu chí mà thị trường yêu cầu hoặc chính phủ áp đặt như về chất lượng sản phẩm, môi trường, kĩ thuật canh tác, kế hoạch sản xuất, hệ thống quản trị để làm cơ sở xây dựng hành động tập thể của liên kết ngang và liên kết dọc Những cánh đồng lớn có thể ở một khu vực, vùng nhỏ, hoặc cả một lưu vực cho một sản phẩm chuyên môn hóa cao
Trường hợp tổ chức nông dân nhỏ trồng rau của NorminVeggies ở
Phillipines Đây là tổ chức của nông dân thành lập với mong muốn là nơi nông dân có thể cất lên tiếng nói của mình, là nơi chia sẻ mối quan tâm, cơ hội cũng như hiểu rõ hơn về ngành sản xuất rau để có cơ hội gia tăng thu nhập và cũng là nơi đại diện để đối thoại với chính phủ và những tổ chức khác Normin Veggies là tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ cho các thành viên là những nông dân độc lập, nông dân nhỏ, các quỹ phát triển, các trang trại, người cung cấp đầu vào và cung cấp dịch vụ, đơn vị thuộc chính quyền địa phương Để kết nối với thị trường, NorminVeggies lập ra các nhóm làm thương mại cho từng sản phẩm (tổng cộng có 12 nhóm) Nhóm này bao gồm khoảng từ 5-10 người, đứng đầu là một nông dân giỏi, có trách nhiệm lập kế hoạch marketing cho sản phẩm của khoảng 18 nông dân độc lập và 60 nông dân nhỏ Sự gắn kết của nông dân thể hiện ở cam kết cung cấp sản phẩm và thỏa thuận về khối lượng cung cấp, kế hoạch phân phối, tuân thủ theo chất lượng chung, thực hành sản xuất, quản lý thu hoạch và sau thu hoạch Nhóm này bản thân nó đã là một tổ chức có mục tiêu hướng đến thị trường và là hệ thống quản lý trong đó yêu cầu thành viên bảo vệ uy tín của nhóm trên thị trường Nhóm là chiến lược giúp nông dân phản ứng nhanh nhạy với thị trường và tiếp cận với thị trường có giá trị cao hơn Những nhóm được tổ chức như này mang lại lợi ích như (1) đạt tính kinh tế theo quy mô và khả năng cung cấp sản phẩm với số lượng lớn và chi phí giao dịch nhỏ hơn; (2) tiếp cận thị trường tốt;
(3) giao dịch với nhà cung cấp dịch vụ; (4) liên kết có hiệu quả với chính phủ và tổ chức tư nhân