Đặc biệt là phải phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NTM; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về “Nông nghiệp, nông dân,
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN NGÃI
Đồng Nai, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành Luận văn này, Tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các tổ chức, cá nhân
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến ban Giám hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, khoa đào tạo sau Đại học, và các Thầy, Cô giáo đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua Đặc biệt là rất biết ơn Thầy PGS.TS Nguyễn văn Ngãi đã tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin cảm ơn đến BCĐ xây dựng NTM huyện tân phú; Đảng ủy, UBND các xã Nam cát Tiên, Phú lập, Phú Lộc, Núi Tượng, Tà Lài và bà con nông dân đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tân phú, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đặng Thanh Sơn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1/-Tính cấp thiết của đề tài 1
2/-Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3/- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4/- Nội dung nghiên cứu 4
5/- Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG I 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Các khái niệm 5
1.1.2 Lý thuyết nhận thức - hành vi 7
1.1.3 Các quan điểm về phát triển nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn ở Việt Nam 12
1.1.4 Nội dung và vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM 19
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 32
1.2 Cơ sở thực tiễn 35
1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới 35
1.2.2 Kinh nghiệm PTNT và xây dựng NTM ở Việt Nam 40
CHƯƠNG II 48
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 48
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Đặc điểm tình hình huyện Tân Phú 48
2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Tân Phú 48
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 53
2.2 Phương pháp nghiên cứu 57
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 57
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 57
Trang 52.2.3 Phương pháp xử lý số liệu & phân tích số liệu 58
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 63
CHƯƠNG III 64
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64
3.1 Tình hình xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai 64
3.1.1 Kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015 64
3.1.2 Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai 70
3.2 Tình hình xây dựng NTM tại 06 xã nghiên cứu ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai 72
3.2.1 Khái quát chung về 06 xã nghiên cứu 72
3.2.2 Kết quả thực hiện các chương trình phát triển sản suất tại 06 xã nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2015 76
3.2.3 Kết quả thực hiện 19 tiêu chí xây dựng NTM tại 06 xã nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2015 77
3.2.4 Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM tại 06 xã nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2015 78
3.3 Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại 06 xã nghiên cứu 80
3.3.1 Đánh giá sự hưởng ứng và tham gia của người dân về chương trình NTM 80
3.3.2 Đánh giá sự tham gia họp, thảo luận của người dân trong xây dựng NTM 81
3.3.3 Đánh giá sự tham gia đóng góp vốn của người dân trong xây dựng NTM 82
3.3.4 Đánh giá sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng NTM 85
3.3.5 Đánh giá sự tham gia bảo vệ môi trường trong xây dựng NTM 86 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại địa bàn nghiên cứu 87
3.4.1 Kiểm định chất lượng thang đo 87
3.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 88
3.4.3 Phân tích hồi quy bội 92
3.5 Giải pháp để phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú 96
3.5.1 Một số kết quả dạt được, hạn chế, nguyên nhân trong việc phát huy vai trò của dân tham gia xây dựng NTM 96
3.5.2 Đề xuất các giải pháp để phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú 100
Trang 63.5.2.1 Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế, nâng
cao thu nhập người dân nông thôn 100
3.5.2.2 Tăng cường thu hút sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 101
3.5.2.3 Nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM 102
3.5.2.4 Thực hiện tốt công tác vận động, tuyên truyền về chương trình xây dựng NTM 103
3.5.2.5 Nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở trong xây dựng NTM 104
3.5.2.6 Hoàn thiện và thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa BCĐ cấp xã với ban phát triển ấp 104
3.5.2.7 Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong xây dựng NTM 105
3.5.2.8 Thu hút các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tham xây dựng NTM 105
3.6 Kiến nghị 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Phú 52
2 Bảng 3.1: Mức độ đạt tiêu chí của huyện Tân Phú so với tỉnh Đồng Nai đến năm 2015 69
3 Bảng 3.2: Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM huyện
4 Bảng 3.3: Kết quả thực hiện các chương trình phát triển sản
suất tại 06 xã nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2015 77
5 Bảng 3.4: Mức độ đạt chỉ tiêu và tiêu chí năm 2015 của 06 xã
6 Bảng 3.5: Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM tại Xã
7 Bảng 3.6: Kết qủa huy động nguồn vốn xây dựng NTM tại 02
8 Bảng 3.7: Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM tại 02
9 Bảng 3.8: Sự hưởng ứng và tham gia của người dân về chương
10 Bảng 3.9: Sự tham gia họp, thảo luận trong xây dựng NTM 82
11 Bảng 3.10: Giá trị đóng góp (tiền, ngày công ) làm đường giao
thông nông thôn của người dân tại 6 xã 84
12 Bảng 3.11: Giá trị đóng góp (tiền mặt) hạ thế điện nông thôn
13 Bảng 3.12: Giá trị đóng góp ngày công làm thủy lợi, giao
14 Bảng 3.13: Sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng
15 Bảng 3.14: Tổng hợp kết quả phân tích Cronback Alpha 88
16 Bảng 3.15: Kiểm định KMO và kiểm định Bartlett
17 Bảng 3.16: Mức độ giải thích của các biến quan sát
18 Bảng 3.17: Ma trận nhân tố xoay (lần 1)
Trang 921 Bảng 3.20: Kiểm định hệ số hồi quy (Model Summary) 95
Trang 104 Hình1.4: Tiến trình phát huy nội lực cộng đồng 30
5 Hình 1.5: Nhà nước hỗ trợ người dân phát huy vai trò chủ thể 31
8
Hình 3.2: Kết quả huy động nguồn vốn xây dựng NTM huyện
Trang 11MỞ ĐẦU
1/-Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu rõ vai trò chủ thể của người dân tham gia xây dựng NTM là
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân đóng góp, dân kiểm tra, dân hưởng lợi và quản lý sử dụng” Giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; Trước hết phải phát huy vai trò của người dân ở nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng cao trình độ, có đời sống vật chất tinh thần ngày càng cao; Chú trọng tạo điều kiện các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, hộ nghèo vươn lên có cuộc sống tốt hơn, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Để nông nghiệp – nông thôn phát triển bền vững cần chú trọng đến việc nâng cao năng lực người dân ở nông thôn Đặc biệt là phải phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NTM; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đến nay đã khẳng định rằng: Vai trò của người dân quyết định sự thành công trong xây dựng nông thôn mới; Nghị quyết có thực sự đi vào cuộc sống và hiện thực hay không là do sự quyết định đúng đắn của người dân Chính vì lẽ đó, Chính phủ đã ban hành quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 Nội dung chương trình gắn liền với người dân ở nông thôn, nguồn lực thực hiện lớn, vì vậy việc thực hiện chương trình phải dựa vào nội lực và do người dân ở nông thôn làm chủ Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT ngày 13/4/2011 của xác định, một trong những nguyên tắc thực hiện chương trình là “Phát huy vai trò chủ thể của người dân ở nông thôn là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban
Trang 12hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện”
Tỉnh Đồng Nai nói chung, huyện Tân Phú nói riêng thực hiện kế hoạch
số 97-KH/TU của tỉnh Ủy ngày 29/12/2008 về việc thực hiện Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 của ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Tập trung huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để xây dựng tỉnh Đồng Nai đạt chuẩn NTM theo hướng bốn có “Có đời sống kinh tế được cải thiện; Có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; Có đời sống văn hóa tốt;
Có an ninh, trật tự được đảm bảo, môi trường sinh thái phát triển bền vững” Huyện Tân Phú là huyện Nông Nghiệp, Nông Thôn miền núi của tỉnh Đồng Nai; với diện tích đất nông nghiệp là 70.749,72 ha, chiếm 91% Nông nghiệp được coi là một ngành kinh tế quan trọng của huyện, với hơn 80% dân số sống ở nông thôn; có 17 xã thực hiện xây dựng NTM trên tổng số 18 xã, thị trấn
Năm 2010 thực hiện chương trình xây dựng NTM, huyện đề ra mục tiêu đến năm 2015 có 4/17 xã đạt tiêu chuẩn NTM, đạt tỷ lệ 23,5%, đến năm 2018 có 15/17 xã đạt tiêu chuẩn NTM, đạt tỷ lệ 88,2%, đến năm 2020 có 17/17(100%) xã đạt tiêu chuẩn NTM Để đảm bảo nguồn vốn thực hiện chương trình thì cần có
sự tham gia, tự nguyện đóng góp của nhân dân, vì nguồn ngân sách còn hạn hẹp Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người dân đồng thuận, tự nguyện tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng NTM Làm được điều đó, đòi hỏi các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương cần phải phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM là yếu tố then chốt
Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào về vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM, để làm cơ sở đề xuất giải pháp phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM Vì vậy đề tài Nghiên cứu: “Giải pháp
Trang 13phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai”, được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu khách quan trong thực tiễn xây dựng NTM tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
2/-Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM;
đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM
(2) Đánh giá thực trạng vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM
ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
(3) Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
(4 ) Đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
3/- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò chủ thể của người dân; nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân; và đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Trang 14Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu số liệu thực trạng trong 5 năm (2011 – 2015)
4/- Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM
Thực trạng vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Một số giải pháp phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
5/- Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 15CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm xây dựng nông thôn
Xây dựng nông thôn là quá trình tổng hợp các hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường gắn với gắn với hành vi của người dân nông thôn với đặc điểm cộng đồng, người dân cùng nhau tham gia các hoạt động phát triển kinh
tế, xã hội và bảo vệ môi trường Do vậy, phát triển nông thôn thường mang tính từng bước lâu dài, không ngắn hạn, mang tính bền vững, kế thừa qua thời gian
Tính kinh tế, xã hội và môi trường trong xây dựng nông thôn phản ánh một chuỗi hành động liên tục và tác động qua lại mang tính kinh tế, xã hội và môi trường giữa các chủ thể trong nông thôn với nhau và với các chủ thể ngoài khu vực nông thôn Tính kinh tế phản ánh sự thịnh vượng không ngừng của nông thôn; Tính văn hóa xã hội thể hiện sự phát triển các mối quan hệ xã hội liên quan giữa con người và cộng đồng trong phát triển; Tính môi trường thể hiện sự bảo vệ, duy trì và tạo cảnh quan thiên nhiên của từng vùng với những đặc trưng riêng về sinh thái và vật thể; Tính cộng đồng thể hiện sự tham gia của nhiều hộ gia đình ở nông thôn vào các hoạt động kinh tế, xã hội
và môi trường diễn ra trên địa bàn [ 15 ]
1.1.1.2 Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là chương trình xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
Trang 16chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;
an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.[6]
1.1.1.3 Đặc trưng nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao; Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; An ninh tốt, quản lý dân chủ; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao….[1]
1.1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM cần phát huy vai trò chủ thể của người dân ở cộng đồng nông thôn là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện
Thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
Trang 17Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; thực hiện cuộc vận động “Toàn dân xây dựng NTM” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.[6]
1.1.1.5 Vai trò Chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và đồ án quy hoạch NTM cấp xã; tham gia lập kế hoạch thực hiện chương trình (ấp, xã)
Tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong ấp và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương
Quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của ấp, xã
Trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của xã ,ấp theo kế hoạch hàng năm
Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý vá giám sát các công trình xây dựng của xã, ấp
Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.[6]
1.1.2 Lý thuyết nhận thức - hành vi
1.1.2.1 Khái niệm về nhận thức
Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Trang 18ta trong quá trình này
Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu
Như vậy lý thuyết nhận thức – hành vi là một phần của quá trình phát triển lý thuyết hành vi và trị liệu, gần đây lại được xây dựng trên lý thuyết học hỏi xã hội Nó cũng phát triển vượt qua khỏi hình thức về trị liệu của lý thuyết trị liệu thực tế (Glasser- 1965) được các tác giả như Beck (1989) và Ellis (1962) đưa ra Lý thuyết nhận thức- hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ ràng là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai
Trang 19và lý giải sai Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại môi trường
1.1.2.3 Quan điểm Sheldon về trị liệu hành vi – nhận thức cho cá nhân
Đánh giá gần đây của Sheldon về trị liệu hành vi đã đưa ra những đóng góp về mặt nhận thức Theo ông một thành tố quan trọng trong trị liệu hành vi chính là việc lựa chọn các yếu tố tăng cường, thúc đẩy để củng cố hành vi Các yếu tố này cần được quan sát, khái quát hóa và mô hình hóa (học hỏi qua trải nghiệm), điều này đòi hỏi chúng ta hành động dựa trên nhận thức của chúng ta về thế giới về cuộc sống Sheldon cũng chỉ ra việc học hỏi thông qua việc lập mô hình là nhận thức, điều này có nghĩa là chúng ta tự suy nghĩ về bản thân trong các tình huống mà chúng ta đang quan sát, chỉ ra được chúng
ta hành động ra sao Trong thực tế, việc thúc đẩy cách nghĩ như trên là rất hữu ích
Theo ông, lượng giá là một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận hành vi - nhận thức Một chuổi hình thức lượng giá phù hợp sẽ gồm những nội dung sau: Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau; Đưa ra những ví dụ về ai bị tác động và tác động như thế nào; Tìm kiếm những hình thức khởi đầu của các vấn đề, chúng biến đổi ra sao và tác động đến chúng ở những vấn đề gì?; Xác định những khía cạnh khác nhau của các vấn đề và chúng phù hợp với nhau ra sao?; Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi; Xác định những mô hình tư duy và những cảm xúc có trước, trong
và sau những biến cố về hành vi của vấn đề; Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ
1.1.2.4 Bản chất của thuyết nhận thức - hành vi
Sơ lược về Thuyết hành vi: S -> R -> B (S là tác nhân kích thích, R là phản ứng, B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự
Trang 20thay đổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có một S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần sẽ có một R có xu hướng lặp đi lặp lại
do chúng ta được học hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là
do chúng ta tự học mà có và môi trường là yếu tố quyết định hành vi (Ví dụ:
Do công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới chưa sâu rộng…nên người dân chưa tích cực tham gia…) Các mô hình trị liệu hành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội
Nội dung của thuyết nhận thức - hành vi cho rằng chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng
ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
* Mô hình: S -> C -> R -> B
Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi
Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R
Ví dụ: Tâm lý của người dân khi nghe Ủy ban nhân dân xã thông báo người dân tham gia đóng góp (30%) tiền làm đường giao thông nông thôn, người thì lo lắng không có tiền để đóng góp, người thì ý kiến tiền đóng góp
Trang 21nhiều quá, người thì thấy việc làm đường giao thông nông thôn là rất cần thiết
và ủng hộ => xuất phát từ nhận thức về tác nhân kích thích Ủy ban nhân dân
xã
* Quan điểm về nhận thức và hành vi:
Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns
có lý thuyết về tư duy méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm
cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví dụ: Người dân chưa hiểu rõ và thấy được việc tham gia xây dựng nông thôn mới là rất cần thiết cho gia đình
họ và xã hội, cho nên người dân chưa người sẵn lòng tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới)
Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức (
Ví dụ: Việc phát huy vai trò chủ thể của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới đảm bảo theo phương châm: “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra giám sát, dân hưởng lợi”, từ đó người dân sẽ sẵn lòng tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới) Lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh
mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ
và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ
đã trải nghiệm Như vậy, thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ
Trang 22(khác với thuyết hành vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập
xã hội coi trọng yếu tố thói quen hay học tập)
1.1.3 Các quan điểm về phát triển nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn ở Việt Nam
1.1.3.1 Đặc điểm của người dân nông thôn
Người nông dân sống phụ thuộc vào thiên nhiên; họ sống cố định một chỗ, với một mái nhà, mảnh vườn của mình trong làng (xóm)
Trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc vào thiên nhiên như trời, đất, nắng, mưa… nên họ rất tôn trọng, hòa thuận với thiên nhiên và phụ thuộc vào nó
Trong quan hệ ứng xử, từ gia đình đến làng (xóm) đều theo nguyên tắc trọng tình (duy tình) Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môi trường thuận lợi để người nông dân tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Lối sống trọng tình cảm sẽ tất yếu đẩy cái "lý" (luật pháp) xuống hàng thứ hai Với nhu cầu sống hòa thuận trên cơ
sở cái gốc là tình cảm, sự tôn trọng và cư xử bình đẳng giữa con người với nhau trong làng (xóm), rất coi trọng tập tục, hương ước…làng (xóm) Lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ là những đặc điểm tích cực, nhưng mặt trái của nó là đặc điểm tâm lý áp đặt, tùy tiện, tâm lý "hòa cả làng", coi
thường phép nước (pháp luật): “phép vua thua lệ làng”
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên, mang tính thời vụ rất cao Vì vậy, người nông dân phải dựa vào nhau để chống chọi lại với thiên tai, liên kết lại với nhau, hỗ trợ nhau sản xuất, nên tính cộng đồng l à n g ( x ó m ) là một đặc điểm đặc trưng trong văn hóa làng (xóm) Việt Nam Làng ( x ó m ) Việt Nam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (hương ước) tạo nên một sự liên kết, bền vững của làng (xóm) và tạo nên
Trang 23tâm lý bè phái, địa phương, ích kỷ Hương ước của làng (xóm) chính là hệ thống giá trị, chuẩn mực của làng (xóm), nó quy định cách ứng xử, lối sống của cá nhân trong làng, tạo nên sự đồng nhất (trước hết là trong dòng họ); mặt tích cực là làm cho mọi người luôn đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; mặt trái của tính đồng nhất là ý thức về cá nhân bị thủ tiêu
Sự đồng nhất (giống nhau) dẫn đến người nông dân Việt Nam hiện
nay nhiều khi có thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông: “Cha chung không ai khóc” Từ đó, họ có tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn cho ai hơn mình, để cho tất cả mọi người đồng nhất như nhau
Đời sống kinh tế hiện nay của người nông dân vẫn còn khó khăn, nhưng họ sẵn sàng tuân theo các hủ tục, nghi lễ nặng nề, tốn kém trong cưới xin, ma chay, hội lễ… Những hủ tục này gây nên sự tốn kém rất lớn cho cá nhân cũng như cộng đồng, dẫn đến sự nghèo k h ó của nhiều gia đình nông dân Đây là một khó khăn nhất trong quá trình xây dựng NTM hiện nay
1.1.3.2 Các quan điểm về phát triển nông thôn
Hiện nay chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Tùy vào cách tiếp cận của vấn đề nghiên cứu mà có cái nhìn
về nông thôn khác nhau Khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và quá trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia
trên thế giới
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, dưới gốc độ quản lý có thể hiểu: Nông thôn là vùng tập hợp dân cư sinh sống, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác Quan điểm quản lý nhà nước, Bộ NN&PTNT giải thích: nông thôn
Trang 24là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã
Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm cải thiện cuộc sống của
cư dân nông thôn (Michael Dower, 2004) Với ý nghĩa này, Phát triển nông thôn là phải xuất phát từ người dân, phải dựa trên nền tảng cộng đồng dân cư, dựa trên lợi ích, sự tham gia của người dân sinh sống ở khu vực nông thôn đó Cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững; sự phát triển đó phải sự dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn, giữ gìn
và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Việt nam Bởi vì, cộng đồng dân cư hiểu
rõ phong tục, tập quán, điều kiện đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực,
kỹ năng, kiến thức và năng lực của người dân, những khó khăn và thuận lợi
về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường….ở nơi mình sinh sống Một cộng đồng dân cư càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại và giữ họ không di chuyển đi nơi khác
Theo Kretzmann và McKnight (1993) phát triển nông thôn phải dựa
vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) Phát
triển nông thôn phải bắt đầu từ việc khơi dậy và phát huy những điểm mạnh, năng lực vốn có và thành công của cộng đồng làm điểm bắt đầu của sự thay đổi, từ đó xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho cộng đồng với các kế hoạch phát triển cộng đồng cụ thể, phù hợp với các nguồn lực sẳn có Phát triển vận động từ bên trong ra, dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài, liên kết nguồn lực bên trong với môi trường bên ngoài Nội lực của cộng đồng gồm 5 nguồn lực chính: con người, tài chính, cơ sở vật chất - hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và vốn xã hội
Trang 25Ở Việt Nam, theo các quan điểm đã nêu và trên cơ sở các chiến lược
phát triển kinh tế của đất nước, có thể khái niệm: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và
có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”[17] Quá trình này,
trước hết cần phát huy vai trò của người dân và nội lực ở cộng đồng nông thôn
1.1.3.3 Nội dung chủ yếu về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo ra một nông thôn: “ Có đời sống kinh tế được cải thiện; Có kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội đồng bộ; Có đời sống văn hóa tốt; Có an ninh, trật tự được đảm bảo, môi trường sinh thái phát triển bền vững” Nội dung cơ bản của xây dựng NTM bao gồm:
* Về phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế nông thôn là đẩy mạnh sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ, và phải kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp với công nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ trong phát triển sản xuất Trong đó, sản xuất nông nghiệp hàng hoá là quan trọng và là điều kiện cơ bản để ổn định đời sống cho người dân ở nông thôn Phát triển kinh tế nông thôn phải đảm bảo tạo điều kiện vật chất, năng lực của cộng động dân cư nông thôn để phát triển văn hóa,
xã hội và các lĩnh vực khác ở nông thôn
Sản xuất hàng hóa là điều kiện để tăng thu nhập cho người dân nông thôn
và đồng thời là điều kiện để phát triển đời sống văn hóa, xã hội nông thôn Tuy nhiên sản xuất hàng hóa ở các vùng nông thôn là không giống nhau, mà phải theo lợi thế tự nhiên của từng vùng sinh thái, có thể là sản xuất nông nghiệp hàng hóa hoặc có thể là sản xuất hàng hóa phi nông nghiệp nhưng phải đảm bảo môi trường Cụ thể, những vùng nông thôn có lợi thế về nông
Trang 26nghiệp thì tập trung phát triển loại hình kinh tế: tổ hợp tác, trang trại, hợp tác
xã, hợp tác xã trang trại….tập trung với quy mô lớn, sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỷ thuật cao, bảo vệ môi trường, sản xuất hàng hóa sản phẩm nông nghiệp chất lượng; liên kết sản xuất nông nghiệp các vùng có thế mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản để làm tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và gắn với thị trường tiêu thụ thông qua các chuỗi liên kết giá trị sản phẩm nông nghiệp Những vùng nông thôn có lợi thế về phát triển ngành nghề phi nông nghiệp (khai thác, chế biến…), thì phải gắn với duy trì và bảo vệ dựng môi trường sinh thái tự nhiên
Tóm lại, phát triển kinh tế là nội dung căn bản, là nền tảng của phát triển nông thôn và xây dựng NTM theo lợi thế từng vùng
* Về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn:
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn và còn là yếu tố tạo cơ hội nâng cao đời sống xã hội, văn hóa của người dân nông thôn
Xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Điện, đường giao thông (liên ấp, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thông), hệ thống thủy lợi, các công trình văn hoá, y tế, trường học các vấn đề an sinh xã hội khác Tuy nhiên cần phải xác định rõ thứ tự ưu tiên, quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng
* Phát triển văn hoá và nâng cao dân trí:
Phát triển văn hoá và nâng cao dân trí là vấn đề rất cần thiết trong xây dựng nông thôn mới Trước tiên là làm thay nhận thức, hành vi, tập quán, văn hóa, lối sống của người dân, cộng động ở nông thôn; nhằm giải phóng sức lao động, kích thích sáng tạo, tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập, có trình độ văn hoá, có lối sống văn minh hiện đại, có tinh thần hợp tác, tự giác
Trang 27chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong cộng đồng; đây là mục tiêu lâu dài của công cuộc PTNT ở mỗi quốc gia Xây dựng NTM không chỉ tạo ra các công trình văn hoá, phúc lợi công cộng hiện đại, mà phải xây dựng và duy trì cho được các phong trào văn hoá, an sinh xã hội tốt, phát triển dân trí mang tính cộng đồng cao; xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá - xã hội phải đồng bộ với phát triển các hoạt động văn hóa – xã hội
* Đảm bảo dân chủ, công bằng ở nông thôn:
Dân chủ, chủ công bằng ở cộng đồng nông thôn là vấn đề rất quan trọng quyết sự thành công trong xây dựng NTM Vai trò tham gia của người dân ở cộng đồng nông thôn trong xây dựng NTM yếu tố cơ bản nâng cao tính dân chủ và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội
Cộng đồng nông thôn được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện hoạt động xây dựng NTM ở địa phương ở với phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân đóng góp, dân kiểm tra, dân hưởng lợi
và quản lý sử dụng”
* Phát triển nguồn lực con người chất lượng cao:
Thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, yêu cầu cấp thiết là nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đòi hòi người dân ở nông thôn phải có tinh thần tự chủ, có trách nhiệm với cộng đồng, có trình độ, kiến thức khoa học công nghệ, sáng tạo, vượt khó, làm giàu chính đáng, sẵn lòng chia sẽ, giúp đỡ nhau và tham gia đóng góp công sức, góp tiền…để chung tay xây dựng NTM ở địa phương mình
* Bảo vệ môi trường và tài nguyên:
Trang 28Về lâu dài, nông thôn phải là nơi có cảnh quan và môi trường tự nhiên trong lành, là lá phổi xanh cho cả quốc gia trong CNH-HĐH.[14]
Vì vậy, giữ gìn và bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề mà cả thế giới quan tâm; để đảm bảo cho chất lượng cuộc sống tốt đẹp, thì môi trường được đảm bảo là yếu tố quan trọng hàng đầu của một quốc gia có nền kinh tế phát triển Nếu kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển các cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn, còn có thể tạo điều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái Mục tiêu hướng tới của chương trình xây dựng nông thôn mới nước ta hiện nay là : Phát triển kinh tế nông thôn phải gắn với bảo vệ môi trường và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đây là sáu nội dung cơ bản phải được thực hiện trong quá trình xây dựng NTM ở nước ta Tuy nhiên, đây là vấn đề khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Do vậy, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà lựa chọn ưu tiên để thực hiện mỗi nội dung cho phù hợp với điều kiện về nhân lực
và tài chính của từng địa phương trong quá trình xây dựng NTM
1.1.3.4 Chương trình xây dựng nông thôn ở Việt Nam
Để cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW Đảng khóa X về nội dung chương trình xây dựng NTM, Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia NTM tại Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 Đồng thời Thủ tướng ban hành Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 –
2020 (Quyết định 800) Chương trình gồm 11 lĩnh vực: Quy hoạch xây dựng NTM; Phát triển kinh tế xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức kinh tế xã hội ở nông thôn; Phát triển giáo dục đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hoá,
Trang 29thông tin và truyền thông ở nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
ở nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh trật tự xã hội ở nông thôn
Để tổ chức xây dựng NTM, Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch & Đầu tư,
Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT hướng dẫn thực hiện chương trình, trong đó xác định một trong những nguyên tắc xây dựng NTM
là phát huy vai trò chủ thể của người dân ở cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính người dân ở cộng đồng dân cư bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Phát huy vai trò tham gia của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM
1.1.4 Nội dung và vai trò của người dân tham gia xây dựng NTM 1.1.4.1 Phát huy vai trò của người dân trong PTNT
Phát huy vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng người dân như: xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước, nội quy,… Phát huy vai trò của trưởng thôn, trưởng làng, trưởng dòng họ
và các tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây dựng các mối quan hệ tốt trong thôn, xóm, bản, làng Phát huy tinh thần thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, phòng chống
và đấu tranh chống lại các tệ nạn xã hội; Đào tạo việc lập và thực hiện các
dự án phát triển, cũng như việc vận hành và bảo dưỡng các công trình cơ sở
hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ; Đào tạo quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Thành lập các tổ, nhóm quản
lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn
Trang 30quy mô nhỏ, hình thành các tổ nhóm tiết kiệm, tín dụng nông thôn [5]
Để phát huy vai trò của người dân trong xây dựng và PTNT, người dân cần được sự hỗ trợ từ các cán bộ thôn, ấp hay cán bộ phát triển nông thôn giúp họ nâng cao tính tự chủ, tự lực và đoàn kết thống nhất cao các quyết định xây dựng và PTNT Vai trò của cán bộ phát triển là giúp đỡ và tư vấn cho người dân nông thôn xác định các mục tiêu và xây dựng kế hoạch phát triển nông thôn hội tụ các tiêu chuẩn: có kiến thức về phát triển, có kỹ năng và am hiểu công tác xã hội, có sức khoẻ tốt và sẵn lòng tham gia công việc PTNT Vai trò người dân ở cộng đồng nông thôn đóng rất quan trọng trong các hoạt động PTNT Vì vậy, người dân cần đổi mới nhận thức, cách nghĩ PTNT
là hoạt động được khởi xướng và bắt đầu từ bên ngoài, do người ngoài làm
hộ, làm thay sang nhận thức, cách nghĩ năng động, chủ động hơn là mọi việc phải được bắt đầu và khởi xướng từ người dân, do dân đề xuất, bên ngoài chỉ
hỗ trợ và tư vấn khi cần thiết thì việc xây dựng phát triển nông thôn mới đem lại hiệu quả thiết thực và bền vững
\
Hình 1.1: Tam giác phối kết hợp 3 nguồn lực trong phát triển nông thôn
Như vậy, phát huy vai trò của người dân trong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nông dân là một lực lượng sản xuất, là lực lượng lớn gìn giữ, bảo lưu và phát triển nền văn hoá
1) Động lực của người dân trong cộng đồng nông
3) Sự thúc đẩy và hỗ trợ từ
bên ngoài 2) Ủng hộ của Nhà nước
và chính quyền địa
Trang 31dân tộc Với vai trò đó, nông dân là người trực tiếp tham gia, đồng thời là đối tượng trực tiếp thụ hưởng thành quả Phát huy vai trò của người dân là “một quá trình động”, các yếu tố quyết định quá trình đó không thể tách rời sự quản
lý của Nhà nước
1.1.4.2 Phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM
Vai trò của người dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được thể hiện là: (1) chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; (2) chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; (3) chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn; (4) chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá – xã hội, môi trường ở nông thôn; (5) là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự xã hội ở cơ sở
Xây dựng NTM là nhiệm vụ chiến lược, cần tập trung nỗ lực của Nhà nước và nhân dân, giải quyết những vấn đề cấp bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo Chính vì vậy, phát huy vai trò tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở nước ta hiện nay cần tập trung làm tốt một
hỗ trợ tín dụng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanh quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, như: giao
Trang 32thông, thuỷ lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hoá, chợ, bưu điện và nhà
ở dân cư nông thôn Tiếp tục thực hiện tốt chính xoá đói, giảm nghèo; tạo việc làm nhằm ổn định đời sống cho người dân ở nông thôn
Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở ở nông thôn; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng NTM; nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức địa phương; tăng cường hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền cơ sở Củng cố, đổi mới hình thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là tổ chức Hội Nông dân; tạo điều kiện thuận lợi để nông dân phát huy vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM
Ba là, đổi mới hoàn thiện chính sách đối với nông dân, bảo đảm lợi ích, phát huy dân chủ và mọi tiềm năng của nông dân trong xây dựng NTM Thực hiện có hiệu quả giữa chính sách kinh tế, chính sách xã hội, an sinh xã hội trong quá trình phát triển kinh tế Phát huy dân chủ ở cơ sở, giải quyết tốt những bức xúc trong nhân dân trong quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hoá, bảo đảm lợi ích cho người nông dân; sử dụng và phát huy tốt mọi tiềm năng của nông dân, như: nguồn nhân lực tại chỗ, ngành nghề đa dạng, kinh nghiệm trong sản xuất
Bốn là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề, nâng cao dân trí Nâng cao chất lượng đời sống văn hoá - xã hội ở nông thôn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức người dân tích cực tham gia xây dựng NTM Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo các bậc học, nhất là giáo dục phổ thông nhằm nâng cao trình
độ dân trí, trí thức hoá đội ngũ cán bộ cơ sở ở nông thôn Nâng cao chất lượng
và hiệu quả các thiết chế văn hoá; phê phán các hiện tượng tiêu cực trong xã hội; xây dựng đời sống văn hoá mới lành mạnh, bảo vệ thuần phong mĩ tục ở
Trang 33nông thôn Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, đồng thời bảo
vệ môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp, hiện đại ở nông thôn; giữ vững an ninh trật tự và an toàn xã hội
Xây dựng thành công NTM sẽ làm hiện đại bộ mặt nông thôn và nông dân chính là người được hưởng lợi đầu tiên Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm; xây dựng NTM, ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân cần phải chủ động phát huy vai trò tham gia của mình để xây dựng NTM phù hợp với thực tiễn ở địa phương Vì vậy, sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM là nhân tố quyết định và rất quan trọng; khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng NTM, vai trò của người dân được thể hiện: “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi và quản lý sử dụng” Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng là “lấy dân làm gốc” Các nội dung tham gia của người dân trong việc tham gia xây dựng NTM được hiểu:
Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về
những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, khảo sát thiết kế xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình thực hiện Người dân nắm được thông tin đầy đủ về nội dung các quy hoạch, các công trình mà họ tham gia như: mục đích quy hoạch, xây dựng công trình, quy mô công trình, sự tham gia đóng góp từ người dân, trách nhiệm và quyền lợi của người dân và cộng đồng được hưởng lợi
Dân bàn: sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến quy hoạch, đề
án, kế hoạch phát triển, giải pháp thực hiện các hoạt động của cộng đồng như: bàn luận về quy hoạch NTM, đề án xây dựng NTM, quy hoạch định hướng sản xuất, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi, các giải pháp thiết, tổ chức
Trang 34quản lý và khai thác các công trình, các mức đóng góp và định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, trong nội bộ cộng đồng dân
cư hưởng lợi
Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc,
công sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp
có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
Dân làm: là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt
động xây dựng NTM như: Người dân trực tiếp tham gia xây dựng công trình
cơ sở hạ tầng có quy mô nhỏ, những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình cơ sở hạ tầng, tham gia các hoạt động văn hoá, xã hội, khuyến nông, khuyến lâm, tín dụng tiết kiệm, phát triển sản xuất… tạo cơ hội có việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người dân
Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và
đánh giá của người dân để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình cơ sở hạ tầng xây dựng NTM Việc kiểm tra
có thể tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình như: Vốn đầu tư, kỹ thuật, tài chính Những công trình có sự tham gia giám sát của người dân được hưởng lợi sẽ tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình, tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân
Dân hưởng lợi và quản lý sử dụng: Các thành quả của các hoạt động
mà người dân đã tham gia; các công trình cơ sở hạ tầng xây dựng NTM sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một cộng đồng hưởng lợi lập ra để quản lý, sử dụng, duy tu và bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu sử dụng công trình Hưởng lợi của người dân
từ các hoạt động xây dựng NTM mang lại, gồm nhóm hưởng lợi trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các
Trang 35lợi ích từ các hoạt động như: Tiếp cận thông tin và khoa học kỹ thuật, tín dụng, thu nhập tăng, giao thông thuận tiện, đời sống vật chất tinh thần được cải thiện… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập
Hình 1.2: Nội dung phát huy vai trò của người dân tham gia xây dựng
Trang 36(1977), tham gia bao gồm sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẽ quyền lợi của chương trình phát triển cũng như trong đánh giá những chương trình này Paul (1987), sự tham gia của cộng đồng là một tiến trình chủ động qua đó người thụ hưởng hay nhóm thân chủ ảnh hưởng định hướng và sự thực hiện một dự án phát triển với quan điểm nâng cao chất lượng cuộc sống về thu nhập, tăng trưởng cá nhân, tự tin hoặc những giá trị khác mà họ mong ước
Từ các nhận định trên, tham gia không chỉ là một quyền cơ bản mà nó còn là một nhu cầu không thể thiếu được của con người để đáp ứng được khát vọng nhằm đạt được sự tự do và nhân phẩm lớn nhất có thể có với tư cách là một cá nhân và là thành viên của xã hội
Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng NTM là sự đóng góp một phần hoạt động của cộng đồng được hưởng lợi để tham gia quá trình PTNT tại địa phương và là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực cộng đồng và do người dân làm chủ trong xây dựng NTM Khi tham gia vào chương trình xây dựng NTM với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân ở cộng đồng nông thôn sẽ từng bước nâng cao kỷ năng, năng lực về quản lý nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài
Trong nông thôn, nông dân giữ vị trí là “chủ thể”, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của họ Hiện nay, cơ cấu ngành ở nông thôn chậm đổi mới Sự chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, trình độ hiểu biết của người dân nông thôn còn hạn chế họ chưa biết phát huy hết các tiềm năng của địa phương mình trong phát triển kinh tế nông thôn Khả năng áp dụng tiến bộ
Trang 37khoa học kỹ thuật vào sản xuấ còn hạn chế, vì vậy cần phải phát huy vai trò của người dân trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần vào xây dựng và PTNT
Sự đầu tư cho PTNT của nhà nước còn hạn chế Mặt khác, cơ sở hạ tầng nông thôn không đồng bộ nên chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư về khu vực nông thôn Chính vì vậy, sự tham gia đóng góp người dân để nâng cao cơ sở hạ tầng của địa phương và tạo môi trường thu hút sự đầu tư của các
tổ chức kinh tế, doanh nghiệp để phát triển địa phương là cần thiết
1.1.4.4 Hình thức và mức độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM
Trong chiến lược phát triển cộng đồng là "sự tham gia của người dân"
là một trong những yếu tố chủ yếu của phát triển Một là, sự tham gia của người dân là phương tiện hữu hiệu để tổ chức, huy động nguồn lực, tài nguyên, năng lực, sáng tạo của người dân vào các hoạt động phát triển Hai là, giúp cộng đồng xác định nhu cầu tiên khởi và thực hiện những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này
Sự tham gia của người dân mặc dù được xem là một yếu tố chủ yếu trong phát triển, vẫn bị chi phối bởi những điều kiện của bối cảnh diễn ra hoạt động phát triển Hơn nữa, mức độ tham gia khác nhau tùy theo tính chất của dự án phát triển Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào phát triển diễn
ra từ mức độ cao cho tới chỉ tham gia một cách hình thức
Mức độ tham gia khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực và bối cảnh văn hoá xã hội của đất nước hay cộng đồng Khả năng vận động người dân tham gia và năng lực tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định
* Hình thức tham gia:
Trang 38Người dân tham gia vào các chương trình dự án phát triển nghĩa là họ đang thực hiện dân chủ cơ sở qua các hình thức: Được quyền biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liên quan mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ; Được tham dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề của cộng đồng; Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề ưu tiên của cộng đồng; Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động mang tính lợi ích chung; Người dân tự lập kế hoạch, dự án và quản lý điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá các chương trình, dự án phát triển cộng đồng
Sự quyết định và tự quản của người dân được đánh giá ở mức độ cao; bởi
vì, nó thể hiện năng lực, quyền lực, vai trò làm chủ của người dân
* Mức độ tham gia: Có nhiều hình thức để người dân tham gia
Không có sự tham gia
Người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, chưa được hiểu rõ: người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được bàn bạc thảo luận
Tham gia mang tính hình thức: Người dân được gọi đến họp, bàn bạc, thảo luận, phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ, mọi việc cán bộ quyết theo ý mình
Tham gia ít
Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: người dân được biết và hiểu rõ những việc mà họ phải tham gia được thông báo của cán bộ, nhiệm vụ người dân là đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình
Người dân được hỏi ý kiến: các kế hoạch được cán bộ thiết kế và và xây dựng sẵn, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, sau đó cán
bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp rồi mới thực hiện
Tham gia thực sự
Trang 39Tự nguyện
và chủ động
3
Theo định hướng bên ngoài
2
Theo nghĩa
vụ hay bị bắt buộc
1
Được cung cấp thông tin
Thụ động
Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia quyết định: cán bộ đề xuất
ý tưởng, người dân chủ động tham gia ý kiến và cùng cán bộ trong các khâu lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện
Người dân khởi xướng và cùng cán bộ quyết định: người dân đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch và cùng cán bộ thảo luận quyết định chọn các phương án
và tổ chức thực hiện
Người dân khởi xướng, quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: người dân đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò hỗ trợ người dân thực hiện
Người dân tự lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết
Các mức độ tham gia này thể hiện phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" với phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi và quản lý sử dụng”
Trang 401.1.4.5 Nguyên tắc chung xây dựng NTM dựa vào cộng đồng
Xây dựng NTM dựa vào cộng đồng nông thôn là việc tăng cường nhận thức và nâng cao năng lực của người dân và cộng đồng ở địa phương, từ đó tạo ra động lực để họ có thể chủ động tự lực làm việc phát triển kinh tế, xã hội
và môi trường của bản thân theo hướng bền vững với sự hỗ trợ phù hợp, có hiệu quả của Nhà nước
Yếu kém Thức
tỉnh
Tự lực
Hình1.4: Tiến trình phát huy nội lực cộng đồng
Trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế, có thể thấy, xây dựng NTM dựa vào nội lực cộng đồng và do người dân làm chủ là cách tiếp cận phù hợp Theo cách tiếp cận này, xây dựng NTM đảm bảo đồng thời phát triển con người và tổ chức cộng đồng, phát triển kinh tế, xây dựng bộ mặt mới của địa phương